Giai đoạn này, miền Bắc có sự phân biệt giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân với sự ưu đãi khác nhau: các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nộp thuế lợi tức thuế TNDN ngày nay trong khi
Trang 1Chương 1
TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ KẾ TOÁN THUẾ
Mục tiêu học tập
Học xong chương này, người học sẽ có khả năng:
1 Hiểu khái niệm và đặc trưng của thuế
2 Hiểu vai trò của thuế đối với nền kinh tế
3 Hiểu khái quát về hệ thống thuế của Việt Nam
1.1 Tổng quan về thuế
1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của thuế
1.1.1.1 Nguồn gốc ra đời của thuế
Như chúng ta biết thì một quốc gia, một đất nước với bộ máy nhà nước của mình muốn tồn tại, vận hành và phát triển thì nhất định phải có một nền tài chính lành mạnh, phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ từ nền kinh tế quốc dân, trong đó quan trọng nhất có thể nói đến là thuế
Có thể nói, thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Vậy tại sao thuế ra đời là một tất yếu khách quan và gắn liền với sự
ra đời của Nhà nước? Qua việc phân tích một cách khái quát lịch sử ra đời và phát triển của
xã hội loài người, vấn đề sẽ được chứng minh
Vào thời kỳ công xã nguyên thuỷ, con người liên kết với nhau tự phát nhằm gia tăng sức mạnh đoàn kết, chống lại các nguy cơ đe doạ từ thiên nhiên (như: thiên tai, lũ lụt, hạn hán, thú dữ, ) để tồn tại; lúc này lương thực, thực phẩm, và của cải xã hội nói chung còn khá thiếu thốn so với nhu cầu của con người cho nên của cải chỉ đơn thuần được phân phối trong nội bộ các bộ lạc, thị lạc Thời kì này Nhà nước chưa ra đời, thuế chưa ra đời
Đến cuối thời kỳ công xã nguyên thuỷ, khi mà con người bắt đầu tích luỹ được nhiều kinh nghiệm thì cũng là lúc bắt đầu có sự phân công lao động Chính sự phân công lao động
đã dẫn đến việc hình thành những giai cấp khác nhau trong xã hội, kèm theo đó là sự đối kháng về quyền lợi giai cấp, và kết quả tất yếu là nảy sinh sự đấu tranh giai cấp, trong quá trình đó Nhà nước ra đời để giải quyết mâu thuẫn Và sau khi ra đời, để duy trì sự tồn tại và
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2• Xuất hiện phân công lao động
• Xuất hiện tiền
tệ
• Hình thành giai cấp, kéo theo sự
ra đời của Nhà nước
• Thuế ra đời, thu bằng hiện vật
Từ thời kỳ phong kiến, nhất là tư bản
• Thuế được huy động bằng hình thái giá trị
• Thuế gia tăng vai trò, ngoài đảm bảo chi tiêu Nhà nước, dần dần trở thành công cụ kinh tế
vậy Nhà nước đã tạo lập các nguồn thu, trong đó chủ yếu là huy động từ sự đóng góp của dân chúng dưới hình thức thuế, từ đó thuế ra đời Tuy vào thời kỳ này tiền tệ đã xuất hiện nhưng chưa thực sự phổ biến và phát triển nên thuế chủ yếu vẫn được thu bằng hiện vật và đơn giản thu chỉ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Vào thời kỳ phong kiến, nhất là thời kỳ tư bản, khi kinh tế hàng hoá – tiền tệ đã phát triển cao, thuế đã được huy động bằng hình thái giá trị thay vì thu bằng hiện vật như trước đây và lúc này ngoài việc đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước như vai trò khởi thuỷ của
nó, cùng với sự gia tăng vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế - xã hội, thuế dần dần trở thành một công cụ điều tiết kinh tế sắc bén đắc lực của Nhà nước
Như vậy, chúng ta thấy rõ ràng có một sự quan hệ khá chặt chẽ giữa sự ra đời và phát triển của thuế với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Có thể nói, thuế do Nhà nước tạo ra, sử dụng nhằm thực hiện các mục tiêu của Nhà nước Chính vì vậy mà các quốc gia khác nhau sẽ có sự khác biệt về chính sách thuế
1.1.1.2 Lịch sử phát triển của thuế
* Quá trình phát triển chung của thuế trên thế giới
Thực tế đã chứng minh, luôn có một sự gắn bó chặt chẽ giữa thuế và sự phát triển của
bộ máy Nhà nước Khi Nhà nước phát triển, thay đổi hình thái tổ chức cũng đồng thời, như một tất yếu khách quan, kéo theo sự cải biến của các hình thức thuế và của cả hệ thống thuế nói chung Và chúng ta có thể chia lịch sử phát triển của thuế căn cứ vào sự biến đổi các hình thức cũng như phương pháp thu thuế cụ thể như sau:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3- Giai đoạn 1 – thế giới cổ đại đến đầu thế kỷ XVI – đánh dấu sự hình thành các loại thuế sơ khai và lúc này Nhà nước chưa có một bộ máy thu thuế hoàn chỉnh
Thuế xuất hiện đầu tiên ở thời La Mã cổ đại, một đất nước nhỏ bé chỉ bao gồm một thành phố Rome với chi phí quản lý đất nước không đáng kể Chính vì vậy người dân đất nước này không phải nộp thuế, mọi khoản chi tiêu của chính phủ chủ yếu được lấy từ tiền cho thuê đất hoặc từ sự cống hiến của cải một cách tự nguyện của dân chúng Nhưng khi chiến tranh xảy ra, việc phát sinh quá nhiều các khoản chi tiêu cần thiết phục vụ cho chiến tranh đã khiến cho người dân thành Rome phải bắt đầu “làm quen” với việc nộp thuế
Nguồn thu chính của ngân sách La Mã từ thuế chủ yếu là từ thuế đất Ngoài ra, các loại bất động sản, vật nuôi, nô lệ và các loại tài sản có giá trị khác cũng thuộc diện nộp thuế
Về sau xuất hiện thêm một số các loại thuế khác như: thuế thu vào hoa quả, thuế thân
Trong suốt một thời gian dài, việc thu thuế ở La Mã được giao cho một số đại diện do Chính phủ uỷ quyền, chưa có bộ máy thu thuế hoàn chỉnh của Chính phủ Chính vì hoạt động thu thuế tách rời mà Chính phủ không thể kiểm soát được, dẫn đến tình trạng mua chuộc, đút lót, hoặc lạm dụng quyền lực Và kết quả đã gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế vào thế kỷ I trước công nguyên
Đến thời kỳ đế chế La Mã, một tổ chức tài chính độc lập của Chính phủ được thành lập nhằm thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát thu thuế Môi trường thuế dần trở nên minh bạch hơn, các hình thức thuế theo đó cũng trở nên phong phú hơn, bao gồm cả hệ thống thuế trực thu và gián thu Trong thời gian này, thuế được thu nộp bằng tiền; người dân bán lương thực, thực phẩm để lấy tiền nộp thuế, điều này đã góp phần kích thích và phát triển quan hệ hàng hoá – tiền tệ, làm cho quá trình phân công lao động xã hội càng sâu sắc hơn và thúc đẩy tiến trình đô thị hoá
Tuy nhiên, vào thời kỳ này tồn tại nhiều hình thức thuế không góp phần làm hưng thịnh tài chính cho đế quốc La Mã mà ngược lại còn đặt gánh nặng thuế khoá lên hai vai người nông dân nghèo khổ; đây chính là nguyên nhân quan trọng gây ra khủng hoảng tài chính và làm yếu kém nền kinh tế đất nước
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 4Vào khoảng thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII, do thiếu đội ngũ quan chức thu thuế chuyên nghiệp nên Chính phủ đã sử dụng các chủ thái ấp vào công tác này thông qua phương pháp đấu giá quyền thu thuế, tức là: số thuế được xác định và được nhượng lại ngay sau khi ai đó nhận được quyền thu thuế nếu trả mức cao nhất trong cuộc đấu giá, và tiền thuế ngay lập tức được chuyển vào quỹ của Chính phủ Sau đó các chủ thái ấp sẽ thực hiện “trọng trách quốc gia” của mình và nhận được một khoản hoa hồng Và điều này đã làm cho ngân sách quốc gia rơi vào tình trạng nghèo nàn như thời La Mã cổ đại
Để khắc phục tình trạng này, các quốc gia bắt đầu ban hành các văn bản luật giới hạn phần hoa hồng trả cho các chủ thái ấp, từ đó tổng số thuế thu vào ngân sách Chính phủ ngày càng tăng trong khi chi phí cho việc thu thuế thì giảm dần Có thể nói, chính việc chuyển các
tổ chức thu thuế vào trong hệ thống quản lý của Chính phủ đã làm cho việc thu thuế trở nên hợp lý và hiệu quả hơn Và vào đầu thế kỷ XVIII các nước phương Tây đã bắt đầu thiết lập
bộ máy hành chính của Chính phủ để tổ chức và kiểm soát chặt chẽ hơn việc thu thuế
Thời gian này, ở các nước châu Âu xuất hiện rất nhiều loại thuế khác nhau Thuế trực thu thường bao gồm: thuế thân, thuế đất, thuế đối với trang thiết bị quân đội, thuế mua ngựa, thuế tuyển mộ lính (nộp thuế để miễn trừ nghĩa vụ quân sự) Thuế gián thu thì chủ yếu từ thuế quan với mức thu từ 5% đến 25%
- Giai đoạn 3 – từ thế kỷ XIX đến nay – hình thành hệ thống thuế và bộ máy thu thuế hoàn chỉnh
Ở giai đoạn này, hầu hết các nước phát triển đã hình thành hệ thống thuế với các luật thuế và bộ máy thu thuế hoàn chỉnh Nhiều hình thức thuế mới tiên tiến cũng đã được nghiên cứu và đưa vào áp dụng trong thực tiễn, các loại thuế đã có trước đây thì dần được hoàn thiện hơn
Bộ máy thu thuế cũng ngày càng hoàn chỉnh và hình thành đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, không chỉ bao gồm các cơ quan quản lý thu nộp thuế mà ở nhiều quốc gia còn thành lập cả cảnh sát thuế, toà án thuế riêng biệt nhằm đảm bảo sự thống nhất trong việc xây dựng luật thuế, tổ chức thu thuế, kiểm tra thu nộp thuế và xử lý các vi phạm về thuế
Như vậy, cùng với việc mở rộng các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, các hình thức thuế cũng ngày càng phong phú hơn, công tác quản lý thuế cũng ngày càng được hoàn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 5thiện hơn Và thuế đã trở thành một công cụ quan trọng, có hiệu quả của Nhà nước để tác động điều tiết nền kinh tế - xã hội của đất nước
* Quá trình phát triển của thuế ở Việt Nam
Quá trình phát triển thuế ở Việt Nam có thể khái quát mấy giai đoạn như sau:
- Thời kỳ đầu dựng nước và thời kỳ Bắc thuộc (từ cuối thời kỳ Hùng Vương đến giữa thế kỷ X)
Nhà nước đầu tiên của người Việt là Nhà nước Văn Lang Thời kỳ này thuế được thu dưới hình thức hết sức sơ khai, đó là dân chúng phải cống nạp bằng hiện vật, chủ yếu là lương thực, thực phẩm, thú vật săn bắn
Đến thời kỳ Bắc thuộc, dưới sự thống trị khắc nghiệt của phong kiến phương Bắc, nước ta bao trùm nền kinh tế tự nhiên, kinh tế hàng hoá còn rất yếu Thời kỳ này hình thức thuế cùng tồn tại với hình thức tô, thuế là khoản đóng góp của mỗi người dân để giai cấp thống trị duy trì quyền lực công cộng Gánh nặng thuế là rất nặng nề vì dân chúng vừa phải chịu ách thống trị phong kiến phương Bắc vừa phải chịu sự thống trị của giai cấp phong kiến trong nước
- Thời kỳ phong kiến dân tộc (từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX)
Sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, nước ta bước vào một thời kỳ mời, thời
kỳ thống trị của phong kiến dân tộc Nhà nước phong kiến lúc này chủ yếu đánh thuế trực thu, điển hình là thuế thân và thuế điền
Thuế thân (còn gọi là thuế đinh): là khoản thuế đánh vào các nam đinh, có thể đánh căn cứ vào số ruộng đất mà nam đinh đó sở hữu (2 mẫu ruộng đóng 2 quan tiền/năm) hoặc đánh thuế đồng loạt đối với tất cả các nam đinh ở lứa tuổi nhất định (18 tuổi)
Thuế điền (còn gọi là thuế ruộng): là khoản thuế đánh vào ruộng công, tư và được nộp bằng hiện vật là thóc (lúa)
Chế độ phong kiến Việt Nam kéo dài 20 thế kỷ, thêm vào đó chế độ thuế khoá nặng
nề, hà khắc đã bòn rút hết giá trị thặng dư của người nông dân, chặn đứng quá trình tái sản xuất mở rộng, thậm chí gây khó khăn cho việc tái sản xuất giản đơn nên kinh tế Việt Nam trở nên trì trệ, lạc hậu, kém phát triển, để lại hậu quả lâu dài về sau
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6- Thời kỳ Pháp thuộc (1858 – 1945)
Cũng như thời kỳ trước, trong thời kỳ này, thuế trực thu chủ yếu là thuế thân và thuế điền (chiếm 50% thu ngân sách các xứ) Thuế thân đánh vào mọi người Việt Nam là nam giới tuổi từ 18 – 60 tuổi Thuế điền đánh vào sở hữu ruộng đất có chia theo hạng ruộng đất khác nhau (từ 1đ09/mẫu/năm <hạng 1> đến 0đ02/mẫu/năm <hạng 5 – đất hoang không thể trồng trọt>) Ngoài ra còn có một số loại thuế trực thu khác như: thuế môn bài, thuế tàu thuyền đi lại trên sông, thuế xe, thuế tài nguyên
Thuế gián thu gồm các loại chủ yếu: thuế rượu, thuế muối, thuế thuốc phiện và một
số loại khác như: thuế hải quan và thương chính, thuế tiêu thụ diêm, thuế lưu hành thuốc lá, thuế xuất khẩu gạo, thuế tiêu thụ thuốc nổ, thuế sòng bạc, thuế cư trú, thuế mái hiên, thuế cửa sổ
Nhìn chung, dưới thời kỳ Pháp thuộc, chế độ thuế khoá rất nặng nề dẫn đến kìm hãm nền kinh tế - xã hội, bần cùng hoá nhân dân
- Giai đoạn 1945 – 1954
Để tạo điều kiện cho nhân dân an tâm sản xuất sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã chủ trương giảm bớt sưu cao, thuế nặng và tiến hành bãi bỏ những loại thuế bất công và vô lý như: thuế thân, thuế muối, thuế rượu, thuế mái hiên, thuế cửa sổ và liên tiếp trong hai năm 1945, 1946 Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh đặt ra Sở thuế quan và thuế gián thu (27/SL), thành lập Nha thuế trực thu Việt Nam trực thuộc Bộ Tài chính
Đến năm 1951, hệ thống thuế của Việt Nam bao gồm các sắc thuế: thuế nông nghiệp, thuế công thương nghiệp, thuế hàng hoá, thuế xuất nhập khẩu, thuế sát sinh, thuế trước bạ; trong đó thuế nông nghiệp chiếm vai trò quan trọng nhất, chiếm trên 50% tổng thu từ thuế (được thu bằng hiện vật, thu theo biểu thuế luỹ tiến từ 6% - 45%)
Giai đoạn này, hệ thống thuế Việt Nam chưa thực sự hoàn chỉnh, còn chắp vá; vai trò của thuế không phát huy được ý nghĩa thực sự của nó Lúc này nguồn thu từ thuế chỉ đáp ứng một phần nhỏ chi tiêu của Nhà nước, đa phần còn lại được bù đắp bằng nguồn phát hành khiến cho giá trị đồng tiền trong lưu thông bị giảm sút mạnh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến
cả nền kinh tế và đời sống của dân cư
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7- Giai đoạn 1954 – 1975
Mặc dù sau chiến thắng Điện Biên Phủ (1954), nước ta kết thúc thắng lợi kháng chiến chống Pháp Tuy nhiên nước ta vẫn bị chia cắt, miền Bắc được giải phóng nhưng lại mang hậu quả nặng nề của chiến tranh, miền Nam chịu ách đô hộ của đế quốc Mỹ và chính quyền nguỵ Sài Gòn Chính vì vậy chính sách thuế ở hai miền có nhiều sự khác biệt
Ở miền Bắc, hệ thống thuế được chuyển từ hệ thống thuế tương đối sang hệ thống thuế với nhiều mức thuế suất (bao gồm cả thuế suất tỷ lệ và thuế suất luỹ tiến) Giai đoạn này, miền Bắc có sự phân biệt giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân với sự ưu đãi khác nhau: các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nộp thuế lợi tức (thuế TNDN ngày nay) trong khi đối với các doanh nghiệp quốc doanh, khoản nộp này không coi là nộp thuế mà là khoản thu quốc doanh (một khoản nộp trích từ lợi nhuận của doanh nghiệp)
Ở miền Nam, do tồn tại song song hai chế độ nên nguồn thu cũng có sự khác biệt Nguồn thu của chính quyền cách mạng chủ yếu là sự quyên góp của quần chúng nhân dân,
sự chi viện của Trung ương, thu chiến lợi phẩm và thu từ sản xuất tự túc (không phải thu thuế) Còn chính quyền nguỵ Sài Gòn chủ yếu thu từ viện trợ của Mỹ, khoản thu từ thuế chỉ chiếm khoảng 20% ngân sách hàng năm
- Giai đoạn từ sau năm 1975
Từ 1975 – 1980, ở miền Bắc hệ thống thuế không có nhiều sự thay đổi, cơ bản vẫn giữ nguyên như trước 1975, ở miền Nam tạm thời áp dụng một số loại thuế cũ có từ trước khi giải phóng, tuy nhiên bắt đầu có sự chỉnh sửa để đi đến thống nhất trong cả nước
Kể từ 1980, hệ thống thuế được thống nhất trên cả nước Tuy nhiên lúc này hệ thống thuế vẫn chưa thực sự hoàn thiện, chưa trở thành công cụ điều tiết vĩ mô thực thụ của Nhà nước Từ giữa những năm 80, nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Và tất nhiên hệ thống thuế Việt Nam cũng được Nhà nước chú trọng hoàn thiện qua nhiều đợt cải cách thuế để phù hợp hơn với từng thời kỳ Từ năm 1990, hệ thống thuế Việt Nam bắt đầu được cải cách với mục tiêu biến thuế trở thành công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước (giai đoạn cải cách thuế bước 1), chính vì vậy hệ thống thuế được hình thành với các luật và pháp lệnh thuế áp dụng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8đã có nhiều chuyển biến tích cực, các sắc thuế từng bước được hoàn thiện, bao quát được nhiều nguồn thu phát sinh trong nền kinh tế, đảm bảo nguồn thu tập trung, ổn định và ngày càng tăng vào ngân sách Nhà nước, tăng cường chế độ hạch toán kinh tế và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, góp phần thực hiện công bằng xã hội
1.1.2 Khái niệm thuế
Thuế là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Tuỳ thuộc vào bản chất của Nhà nước và cách thức mà Nhà nước sử dụng công cụ thuế mà quan điểm của các nhà kinh tế về thuế có sự khác biệt, mỗi quan điểm nhìn nhận mỗi khía cạnh khác nhau của thuế nên chưa phản ánh được đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này Và cho đến nay, trên thế giới vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế
Theo Adam Smith: “Các công dân của mỗi nước phải đóng góp cho Chính phủ theo
tỷ lệ khả năng của mỗi người, nghĩa là tỷ lệ với lợi tức mà họ được thụ hưởng do sự bảo vệ của Nhà nước” Quan điểm của Adam khẳng định thuế có tính chất bắt buộc đối với người
nộp thuế
David Ricardo cho rằng: “Thuế được cấu thành từ phần của Chính phủ lấy trong sản
phẩm đất đai và lao động trong nước và xét cho cùng thì thuế được lấy từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế” Như vậy, Ricacdo xác định nguồn thu thuế phát sinh từ nền kinh
tế quốc dân, và thuế đã điều tiết một phần thu nhập của người chịu thuế
Theo Karl Mark, thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, gắn liền với Nhà nước
và đảm bảo cho sự tồn tại của bộ máy Nhà nước, đó là “khoản đóng góp nghĩa vụ cần thiết
để nuôi dưỡng Nhà nước pháp quyền Thuế là nguồn sống đối với Nhà nước hành pháp Chính phủ mạnh và thuế cao là hai khái niệm đồng nhất”
Còn Friedrich Engels thì quan niệm về thuế đơn giản hơn rất nhiều Ông khẳng định:
“ để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó
là thuế” Như vậy, theo ông thì mọi Nhà nước đều sử dụng quyền lực để quy định nhân dân
đóng thuế cho Nhà nước
V Lênin cho rằng: “ thuế là cái Nhà nước thu của dân mà không bù lại”, khẳng
định tính không hoàn lại trực tiếp của thuế
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn Trong cuốn
Từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng: “Thuế
là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”
Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn Kinh tế học
của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell và Bruy như sau: “Thuế là một khoản chuyển giao bắt
buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hoá hoặc dịch vụ nào cả ”
Hai nhà kinh tế học người Mỹ khác, Paul.A.Samuelson và Nordhaus, cho rằng bên cạnh các loại nghĩa vụ mà người dân phải thực hiện đối với Nhà nước, cần phải hiểu rằng:
“Thuế là một công cụ cưỡng bức quan trọng Tất cả mọi người đều phải chịu theo Luật thuế
Sự thật là toàn bộ công dân tự mình đặt gánh nặng lên mình và mỗi công dân cũng được hưởng phần hàng công cộng do Chính phủ cung cấp”
Nhà kinh tế học Gaston Jeze thì đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển nhất, trong
cuốn Tài chính công, “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không
hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước”
Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta định nghĩa: “Thuế là hình thức phân phối
và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền
tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”
Trên góc độ người nộp thuế, “thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ
chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”
Trên góc độ kinh tế học, thuế được xem xét như là một biện pháp đặc biệt, theo đó,
Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10Ở nước ta đến nay cũng chưa có một định nghĩa thống nhất nào về thuế Theo từ điển
tiếng Việt (Trung tâm từ điển học, 1998), thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc
các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định
Từ các quan điểm trên có thể rút ra một số đặc trưng chung của thuế như sau:
- Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân trong xã hội
- Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được phát sinh một cách khách quan và
có ý nghĩa xã hội đặc biệt – việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước
- Xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định
Tóm lại, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là một khoản đóng
góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng
1.1.3 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường
Vai trò của một sự vật hay của một đối tượng nào đó là sự thể hiện công dụng vốn có của nó Thuế không những là một phạm trù kinh tế, mà còn là một phạm trù tài chính Do
đó, thuế không chỉ mang trong mình những thuộc tính chung vốn có của các quan hệ tài chính mà còn biểu hiện những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng riêng có bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính
1.1.3.1 Vai trò huy động nguồn lực tài chính
Đây là vai trò truyền thống, căn bản của thuế, tồn tại ngay từ khi thuế ra đời, đặc trưng cho tất cả dạng Nhà nước Về mặt lịch sử, vai trò này của thuế là vai trò đầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh thuế Nhờ có vai trò này mà quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành, đảm bảo cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước, đồng thời tạo tiền đề để Nhà nước thực hiện chức năng phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11Ta biết là trong nền kinh tế thị trường, nguồn lực xã hội tham gia vào nền kinh tế chủ yếu do luật thị trường huy động phân bổ và tham gia thực hiện phân phối các yếu tố đầu ra,
đó là sự phân phối mang tính chất kinh tế Tuy nhiên, nếu thị trường tự điều tiết thì nền kinh
tế sẽ tạo ra những khiếm khuyết và không phải lúc nào cũng đạt hiệu quả SXKD và đem lại thu nhập như mong muốn Chính vì vậy mà cần có sự can thiệp của Nhà nước vào sự điều tiết này, và một công cụ quan trọng đã được sử dụng là thuế Thuế với các đối tượng điều tiết khác nhau, với các mức thuế suất và chế độ ưu đãi khác nhau sẽ tác động mạnh mẽ đến cung cầu các loại nguyên, nhiên liệu, hàng hoá, dịch vụ khác nhau, điều chỉnh quá trình phân phối các yếu tố đầu vào của các lực lượng thị trường, điều chỉnh quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp Vậy là thuế đã trực tiếp tham gia vào phân phối thu nhập xã hội từ kết quả SXKD của nền kinh tế
Còn chức năng phân phối lại của thuế thể hiện ở chỗ: Nhà nước sử dụng tiền thuế thu được để chi tiêu cho các hoạt động chức năng của Nhà nước (hay nói cách khác là nuôi sống
bộ máy Nhà nước), chi tiêu sản xuất hàng hoá, dịch vụ công cộng phục vụ tiêu dùng chung cho toàn xã hội, hoặc để trợ cấp, thực hiện điều hoà thu nhập của xã hội
Từ sự phân tích trên cho thấy, vai trò huy động nguồn lực tài chính đã tạo ra những tiền đề khách quan cho sự điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế Nói cách khác, quá trình huy động tập trung nguồn lực thông qua thuế đã tự động làm xuất hiện vai trò điều tiết kinh tế của thuế
1.1.3.2 Vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô
Vai trò điều tiết kinh tế của thuế mặc dù có cơ sở từ vai trò huy động nguồn lực tài chính nhưng chỉ đến khi vai trò điều tiết kinh tế của Nhà nước được thực hiện thì vai trò này mới được nhận thức và sử dụng rộng rãi vào những năm đầu của thế kỷ XX
Khi Nhà nước tăng cường các chức năng kinh tế - xã hội của mình thì tốc độ chi tiêu công sẽ ngày càng lớn như một tất yếu và hệ quả là Nhà nước phải tăng cường nguồn lực tài chính, chủ yếu là từ thuế Nhu cầu lớn về tài chính sẽ dẫn đến việc tăng cường vai trò của thuế là cần thiết và cấp bách để có thể tác động một cách hiệu quả vào nền kinh tế quốc dân Chính trong quá trình đó, vai trò huy động nguồn lực tài chính và vai trò điều tiết kinh tế của
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12nào đó đã được lồng trước vào quá trình huy động tập trung nguồn lực tài chính Bằng cách
sử dụng thuế để kích thích hoặc kìm hãm tốc độ tăng trưởng, tăng cường hoặc làm yếu sự tích luỹ tư bản, mở rộng hoặc thu hẹp nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư, đẩy nhanh hoặc làm chậm lại chu kỳ khủng hoảng kinh tế, Nhà nước đã thực hiện điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội trên quy mô cả nước
Vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô được thực hiện thông qua việc Nhà nước quy định các hình thức thu thuế khác nhau phù hợp với các đối tượng nộp thuế và đánh đúng đối tượng chịu thuế kết hợp với việc sử dụng linh hoạt các chính sách ưu đãi thuế Từ đó, Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi đúng định hướng, đảm bảo được lợi ích xã hội Cụ thể:
+ Đối với sản xuất thì khả năng cung cấp trên thị trường phụ thuộc vào 2 yếu tố chính
là nhu cầu và giá cả hàng hoá, dịch vụ trên thị trường Nhu cầu của thị trường sẽ thông qua giá cả phát tín hiệu để các nhà sản xuất lựa chọn lĩnh vực đầu tư, khối lượng sản xuất, công nghệ sản xuất để đạt hiệu quả cao Vì vậy, với chính sách thuế tác động trực tiếp vào giá cả hàng hoá, dịch vụ Nhà nước có thể điều chỉnh ngành nghề hợp lý theo yêu cầu phát triển kinh tế trong từng giai đoạn, từng thời kỳ
+ Đối với tiêu dùng thì nhu cầu thị trường luôn luôn phụ thuộc vào khả năng thanh toán mà khả năng thanh toán lại phụ thuộc vào 02 yếu tố là thu nhập và giá cả Thuế có tác động làm giảm thu nhập của dân chúng (thuế trực thu tác động làm giảm trực tiếp, thuế gián thu lại tác động gián tiếp thông qua giá cả), từ đó làm giảm mức chi tiêu Như vậy là thuế có tác động góp phần làm tăng hoặc giảm số lượng và cơ cấu hàng hoá trên thị trường, từ đó tác động đến sản xuất, ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chúng ta có thể khái quát một số biểu hiện của chức năng điều tiết của thuế trên thực
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13chỉnh giảm chi phí, tạo điều kiện hạ giá bán sản phẩm; từ đó cân bằng lại quan hệ cung – cầu
và ổn định giá cả thị trường
Trong trường hợp nền kinh tế quá nóng, thuế có thể được tăng để hạn chế đầu tư tư nhân hoặc ngược lại, Nhà nước sẽ điều chỉnh giảm thuế để kích thích hoạt động đầu tư, kích thích tiêu dùng, góp phần làm phục hồi nhanh hơn một nền kinh tế đang phát triển trì trệ
Bên cạnh đó, việc áp dụng phân biệt các chính sách thuế giữa các ngành, lĩnh vực, khu vực, vùng lãnh thổ khác nhau có tác dụng phân bổ lại nguồn lực, tạo ưu thế tương đối cho những vùng, khu vực, ngành nghề cần ưu tiên phát triển từ đó duy trì hoặc lập lại trạng thái phát triển hài hòa, cân đối của toàn bộ nền kinh tế [4]
Như vậy, bằng cách điều tiết và kích thích, chức năng điều tiết kinh tế của thuế đã được thực hiện
Qua sự phân tích vừa rồi có thể thấy rằng hai vai trò này của thuế có quan hệ hữu cơ, tương hỗ lẫn nhau, không thể tách rời Bởi vì, khi Nhà nước dùng thuế để tập trung một phần GDP vào ngân sách Nhà nước thì tất yếu sẽ tác động đến các yếu tố của quá trình sản xuất, lúc này vai trò điều tiết của thuế tự nhiên được thực hiện, và ngược lại những thay đổi của nền kinh tế do tác động của chính sách thuế tác động trở lại đến vấn đề thu ngân sách thông qua chức năng phân phối và phân phối lại Có thể nói, vai trò huy động nguồn lực tài chính
là vai trò cơ sở, quy định sự tác động và sự phát triển của vai trò điều tiết Ngược lại, nhờ sự vận dụng đúng đắn vai trò điều tiết kinh tế đã làm cho vai trò huy động nguồn lực tài chính
có điều kiện phát triển Ý nghĩa của vai trò huy động nguồn lực tài chính càng tăng lên đã tạo ra những điều kiện khách quan để Nhà nước tác động một cách sâu rộng đến các quá trình kinh tế - xã hội Điều này tạo tiền đề tăng thêm thu nhập cho các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư, do đó mở rộng cơ sở thực hiện chức năng huy động nguồn lực tài chính
Đó là sự thống nhất biện chứng giữa các vai trò của thuế Sự thống nhất này cũng không loại trừ những mặt mâu thuẫn Sự tăng cường vai trò huy động nguồn lực tài chính làm cho mức thu nhập của Nhà nước tăng lên, đồng nghĩa với việc Nhà nước sẽ mở rộng khả năng của mình trong việc thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội Tuy nhiên, việc tăng cường quá mức vai trò huy động nguồn lực tài chính sẽ làm tăng gánh nặng về thuế, dẫn đến
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 14tính hai mặt của thuế, nó có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tế Do đó, tính hai mặt của sự tác động của thuế cần được tính toán kỹ lưỡng trong tiến trình hoạch định chính sách thuế ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau
1.1.4 Đặc điểm của thuế
- Sự ra đời và tồn tại của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của Nhà nước - pháp luật
Thuế là một thực thể pháp lý nhân định nhưng sự ra đời và tồn tại của nó không chỉ phụ thuộc vào ý chí con người mà còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định
Sự xuất hiện Nhà nước đòi hỏi cần phải có của cải vật chất cần thiết chi cho hoạt động thường xuyên của bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho Nhà nước tồn tại, duy trì quyền lực
và thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình Trong điều kiện có các giai cấp, tồn tại chế
độ tư hữu cùng với phạm vi hoạt động của Nhà nước ngày càng mở rộng thì chế độ đóng góp theo phương thức tự nguyện của dân cư trong chế độ cộng sản nguyên thủy không còn phù hợp nữa Ðể có được lượng của cải cần thiết, Nhà nước đã sử dụng quyền lực của mình ban hành pháp luật, ấn định bắt buộc các thể nhân và pháp nhân phải đóng góp cho Nhà nước một phần của cải mà họ làm ra và hình thành qũy tiền tệ tập trung của Nhà nước Ban đầu những của cải vật chất này được thu nộp dưới hình thức hiện vật, dần dần thuế được chuyển sang hình thức tiền tệ Ðồng thời với việc ấn định nghĩa vụ thu nộp của cải vật chất đối với dân cư, Nhà nước đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ đó bằng bộ máy cuỡng chế của Nhà nước
Sự xuất hiện sản phẩm thặng dư trong xã hội là cơ sở chủ yếu để thuế tồn tại và phát triển Như vậy, thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếu khách quan, thuế ra đời xuất phát
từ nhu cầu đáp ứng chức năng của Nhà nước và sự tồn tại của thuế không tách rời quyền lực Nhà nước
- Thuế do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành
Ở các quốc gia, do vai trò quan trọng của thuế đối với việc hình thành qũy ngân sách Nhà nước và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội nên thẩm quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ các Luật thuế đều thuộc cơ quan lập pháp Ðây là nguyên tắc sớm được
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15ghi nhận trong pháp luật của các nước Chẳng hạn ở nước Anh đạo Luật về dân quyền năm
1688 quy định: cấm mọi sự thu thuế để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước nếu không được Quốc hội chấp thuận ở Pháp, Quốc hội Pháp quy định: bất cứ một khoản thuế nào nếu không được Quốc hội chấp thuận thì không được áp dụng Hiến pháp của nước Cộng hòa Pháp năm 1791 quy định Quốc hội Pháp có quyền biểu quyết và định đoạt các Luật thuế Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các Luật thuế Tuy vậy, do yêu cầu điều chỉnh các quan hệ pháp luật về thuế, Quốc hội có thể giao cho Uớy ban Thường vụ Quốc hội quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ một số loại thuế thông qua hình thức ban hành Pháp lệnh hoặc Nghị quyết về thuế
- Thuế là khoản nộp mang tính nghĩa vụ bắt buộc của các pháp nhân và thể nhân đối với Nhà nước không mang tính đối giá hoàn trả trực tiếp
Thuế là nghĩa vụ thanh toán mà các thể nhân và pháp nhân khi có các dấu hiệu và điều kiện được quy định cụ thể trong Luật thuế thì phải thực hiện đối với Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước
- Thuế là công cụ phản ánh quan hệ phân phối lại của cải vật chất dưới hình thức giá trị giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội
Nhà nước thu thuế làm phát sinh quan hệ phân phối giữa Nhà nước với các thể nhân
và pháp nhân trong xã hội Ðối tượng của quan hệ phân phối này là của cải vật chất được biểu hiện dưới hình thức giá trị
Sự tồn tại và phát triển của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử, đặc điểm của phương thức sản xuất, kết cấu giai cấp là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến vai trò, nội dung, đặc điểm của thuế Do đó, cơ cấu và nội dung của cả hệ thống pháp luật thuế và từng Luật thuế phải được nghiên cứu, sửa đổi bổ sung, cải tiến và đổi mới kịp thời nhằm thích hợp với tình hình, nhiệm vụ của từng giai đoạn Ðồng thời phải tổ chức bộ máy phù hợp, đủ sức đảm bảo thực hiện các quy định pháp luật về thuế đã được Nhà nước ban hành trong từng thời kỳ
Hệ thống pháp luật thuế được coi là phù hợp không chỉ nhìn một cách phiến diện vào
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 16Nhà nước mà phải được phân tích một cách toàn diện, chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh
tế, với đời sống xã hội, không đối lập với quyền lợi và khả năng đóng góp của nhân dân
Ở nước ta trước cải cách chế độ thu ngân sách Nhà nước, Luật thuế chỉ áp dụng đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc thành phần kinh tế tập thể và cá thể Ðể thực hiện chế độ thu ngân sách Nhà nước phù hợp với cơ chế thị trường, phát huy vai trò của các hình thức thu ngân sách Nhà nước, cuộc cải cách chế độ thu ngân sách Nhà nước được thực hiện trên cơ sở Nghị quyết Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ IV năm 1989 Kết qủa của cuộc cải cách này đưa đến việc áp dụng thống nhất chế độ thu thuế đối với tất cả các thành phần kinh
tế, không phân biệt hình thức sở hữu, hình thức kinh doanh Từ đây thuế thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước và thuế chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nước
1.1.5 Các yếu tố cấu thành một sắc thuế
Luật thuế do Quốc hội ban hành, quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ Xem xét cấu tạo một Luật thuế là xem xét sự sắp xếp, bố trí các quy phạm pháp luật theo các nội dung điều chỉnh
Ở nước ta, các Pháp lệnh, Nghị quyết do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành chứa đựng các quy phạm pháp luật thuế, thực hiện chức năng điều chỉnh của Luật thuế nên cũng có cấu tạo tương tự Luật thuế
Thông thường, Luật thuế có cấu tạo gồm các bộ phận chủ yếu sau: tên gọi; những quy định chung; căn cứ tính thuế; đối tượng nộp thuế; chế độ kê khai, nộp thuế, thu thuế; chế độ miễn, giảm thuế; nghĩa vụ và trách nhiệm của đối tượng nộp thuế; chế độ xử lý vi phạm; khen thưởng và giải quyết khiếU nại về thuế
1.1.5.1 Tên gọi
Tên Luật thuế thường được xác định trên cơ sở tên gọi loại thuế được quy định Tên gọi của một Luật thuế được xác định theo đối tượng tính thuế hoặc nội dung và tính chất của các hoạt động làm phát sinh điều kiện pháp lý để áp dụng Ví dụ, thuế “giá trị gia tăng” cho
ta thấy loại thuế này chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ sau mỗi lần chúng được luân chuyển; thuế “thu nhập doanh nghiệp” đánh trên thu nhập của doanh nghiệp; thuế “tiêu thụ đặc biệt” đánh vào việc tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ đặc biệt được sản xuất hoặc nhập khẩu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 171.1.5.2 Đối tượng nộp thuế và đối tượng được miễn thuế
Yếu tố này xác định rõ tổ chức, cá nhân nào có nghĩa vụ phải kê khai và nộp loại thuế này hoặc tổ chức, cá nhân nào không phải kê khai và nộp loại thuế này (đối tượng được miễn nộp thuế) theo quy định của luật thuế
1.1.5.4 Mức thuế, thuế suất
Mức thuế, thuế suất là yếu tố quan trọng nhất của một sắc thuế, có thể nói, đó là “linh hồn” của một sắc thuế, phản ánh yêu cầu và mức độ động viên của Nhà nước trên một cơ sở tính thuế, đồng thời cũng là mối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế Có các loại mức thuế - thuế suất sau đây:
a Mức thuế cụ thể (tuyệt đối)
Mức thu thuế được ấn định bằng một mức tuyệt đối dựa trên cơ sở thuế Ví dụ, thuế môn bài quy định thu theo mức 3.000.000 đ/năm đối với cơ sở kinh doanh hạch toán độc lập
có mức vốn đăng ký trên 10 tỷ đồng, thu theo mức 1.000.000 đ/năm đối với cơ sở kinh doanh có vốn đăng ký dưới 2 tỷ đồng
c Thuế suất luỹ tiến
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18Thuế suất tăng dần theo sự tăng lên của cơ sở tính thuế (thường là thu nhập chịu thuế hoặc trị giá tài sản chịu thuế) Có hai loại thuế suất luỹ tiến: thuế suất luỹ tiến từng phần và thuế suất luỹ tiến toàn phần
- Thuế suất luỹ tiến từng phần: Biểu thuế gồm nhiều bậc, ứng với mỗi bậc là một mức thuế suất tương ứng, theo đó, thuế suất tăng dần theo từng bậc thuế Thuế được tính từng phần theo bậc thuế và mức thuế suất tương ứng của từng bậc, số thuế phải nộp là tổng số thuế tính cho từng bậc Ví dụ, biểu thuế luỹ tiến từng phần áp dụng đối với thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công trực tiếp theo quy định tại Luật Thuế TNCN Thuế suất luỹ tiến từng phần có ưu điểm là do thuế được đánh tăng dần theo mức tăng của thu nhập, tài sản, sát với khả năng đóng góp của đối tượng nộp thuế nên đáp ứng được mục tiêu công bằng xã hội theo chiều dọc, vì vậy, thường được sử dụng trong các sắc thuế thu nhập và thuế tài sản Tuy nhiên, loại thuế suất này có nhược điểm là kỹ thuật tính toán thuế phức tạp
- Thuế suất luỹ tiến toàn phần: Biểu thuế cũng gồm nhiều bậc, ứng với mỗi bậc là một mức thuế suất và thuế suất cũng tăng dần theo sự tăng của cơ sở tính thuế Khác với thuế suất luỹ tiến từng phần, số thuế phải nộp được tính bằng cách lấy toàn bộ cơ sở thuế áp dụng mức thuế suất tương ứng Ưu điểm của loại thuế suất này là việc tính toán xác định số thuế phải nộp đơn giản, nhanh chóng hơn so với thuế suất luỹ tiến từng phần Tuy nhiên, loại thuế suất này có nhược điểm là gây ra sự thay đổi có tính đột biến về tổng số thuế phải nộp của đối tượng nộp thuế, dẫn đến tình trạng bất hợp lý về mức thu nhập còn lại sau thuế giữa những người có mức cơ sở tính thuế ở hai bậc thuế liền kề, do đó không đáp ứng được mục tiêu công bằng xã hội Trong trường hợp này, giá trị cơ sở thuế giữa hai bậc thuế liền kề có
sự thay đổi không đáng kể nhưng đối tượng nộp thuế có cơ sở thuế ở bậc cao hơn phải tính thuế theo mức thuế suất tương ứng cao hơn cho toàn bộ cơ sở thuế nên đã dẫn đến số thuế phải nộp cao hơn nhiều so với bậc thuế liền kề thấp hơn Vì những lý do này, loại thuế suất này thực tế hiện nay ít có quốc gia nào áp dụng
d Biểu thuế
Biểu thuế là bảng tổng hợp các thuế suất hoặc mức thuế nhất định trong một sắc thuế
Ví dụ, biểu thuế XNK; biểu thuế TNCN; biểu thuế TTĐB
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 191.1.5.5 Chế độ miễn, giảm thuế
Miễn, giảm thuế là yếu tố ngoại lệ được quy định trong một số sắc thuế, theo đó, quy định cụ thế các trường hợp, đối tượng nộp thuế được phép miễn thuế hoặc giảm bớt nghĩa vụ thuế so với thông thường (vì một số lý do khách quan bất khả kháng như thiên tai, địch hoạ hoặc tai nạn bất ngờ, hoặc vì một số lý do nhằm thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước ) Trong mỗi loại thuế, chế độ cũng quy định về điều kiện, thủ tục, thẩm quyền xét miễn, giảm thuế
1.1.5.6 Trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế
Yếu tố này quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế trong quá trình thi hành luật thuế, ví dụ như, nghĩa vụ về đăng ký, kê khai, thu nộp thuế; nghĩa vụ về thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ; nghĩa vụ về khai báo, cung cấp các thông tin cần thiết cho việc tính và thu thuế Việc quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế một mặt, nhằm nâng cao ý thức tự giác chấp hành luật thuế, đưa việc thực thi luật thuế vào nề nếp, kỷ cương; mặt khác, là cơ sở pháp lý để xử lý các vi phạm về thuế, đảm bảo sự kiểm soát, quản lý của cơ quan thuế đối với quá trình chấp hành luật thuế được chặt chẽ, kịp thời
1.1.5.7 Thủ tục kê khai, thu nộp, quyết toán thuế
Quy định rõ hình thức thu nộp, thủ tục thu nộp, kê khai, quyết toán thuế, thời gian thu nộp nhằm đảm bảo sự minh bạch, rõ ràng của chính sách, tạo cơ sở pháp lý để xử lý các trường hợp vi phạm luật thuế
Ngoài các yếu tố cơ bản trên đây, trong các sắc thuế còn quy định rõ trách nhiệm quyền hạn của cơ quan thuế và các cơ quan liên quan trong quá trình thi hành luật thuế; các hình thức vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý vi phạm hành chính
Ở nước ta, các quy định liên quan đến quản lý thuế nêu trên, như về trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế, kê khai, thu nộp, quyết toán thuế, xử lý vi phạm… trước đây được quy định trong các Luật thuế Tuy nhiên, các quy định này đã được chuyển vào nội dung quy định của Luật quản lý thuế (Luật số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006) Kể từ ngày Luật Quản lý thuế có hiệu lực thi hành (01/7/2007) các nội dung về quản lý trong các Luật thuế hiện hành bị bãi bỏ và được thực hiện thống nhất theo quy định của Luật quản lý thuế
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 201.1.5.8 Chế độ miễn, giảm thuế
Chế độ giảm, miễn thuế thường được quy định thành một chương riêng trong Luật thuế nhằm thực hiện chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước
1.1.5.9 Chế độ xử lý vi phạm và khen thưởng
1.1.6 Phân loại thuế
Phân loại thuế là việc sắp xếp các loại thuế trong hệ thống pháp luật thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định
1.1.6.1 Căn cứ để phân loại thuế
Lợi ích của việc phân loại thuế là tạo ra một cách tiếp cận tổng hợp đối với cơ cấu thuế Căn cứ theo đặc điểm, công dụng, chức năng và vai trò của từng loại thuế đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội và tuỳ theo mục tiêu, yêu cầu của quản lý mà người ta có thể đưa ra các cách phân loại thuế khác nhau, từ đó nhằm sử dụng phát huy vai trò tích cực của từng công cụ thuế trong quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu
Tùy thuộc vào mục tiêu, yêu cầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội mà cơ cấu và nội dung các Luật thuế có khác nhau Cũng tùy thuộc vào cơ sở, mục đích phân định, thông thường thuế được phân loại theo các tiêu thức sau:
1.1.6.2 Phân loại theo tính chất hành chính
Cách phân loại này thường được sử dụng trong kế toán quốc gia, theo đó, dựa vào cách tổ chức quản lý thu và cấp ngân sách thụ hưởng chúng: thuế được phân thành hai loại: thuế nhà nước (quốc gia) và thuế địa phương
Ở Việt Nam, Nhà nước được xây dựng theo nguyên tắc tập trung - dân chủ: Trung ương thống nhất ban hành pháp luật, chính sách; các cấp chính quyền địa phương không được phép ban hành và quản lý thu các loại thuế riêng Tất cả các nguồn thu thuế do Nhà nước thống nhất quản lý và việc phân bổ nguồn lực cho các địa phương, phân chia các nguồn thu từ thuế trên địa bàn được thực hiện theo quy định của Luật NSNN Vì vậy, hiện hành ở nước ta không sử dụng cách phân loại này
1.1.6.3 Phân loại theo tính chất kinh tế
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21Theo cách này, thuế có thể được phân loại dựa theo 3 tiêu thức chủ yếu: theo các yếu
tố kinh tế bị đánh thuế; tác nhân kinh tế chịu thuế hoặc lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế
a) Nếu dựa theo yếu tố kinh tế bị đánh thuế, thuế được chia thành thuế đánh vào thu nhập, thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu nhập) và thuế đánh vào tài sản (thu nhập được tích luỹ)
b) Nếu dựa theo yếu tố và tác nhân kinh tế chịu thuế, có các loại: thuế đánh vào doanh nghiệp, thuế đánh vào hộ gia đình và thuế đánh vào sản phẩm
c) Nếu dựa theo lĩnh vực, thuế được phân chia theo các lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế, thí dụ: thuế đánh vào bảo hiểm, thuế đánh vào tiết kiệm, thuế đánh vào bất động sản
1.1.6.4 Phân loại dựa theo tính chất kỹ thuật
Cách phân loại này được dựa vào các tiêu thức kỹ thuật trong việc đánh thuế, mang tính cổ điển, được sử dụng nhiều nhất và thường là trung tâm của các cuộc tranh luận Theo cách này, thuế được phân thành các nhóm chủ yếu sau:
a) Thuế trực thu và thuế gián thu
- Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của các pháp nhân hoặc thể nhân Tính chất trực thu thể hiện ở chổ người nộp thuế theo quy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế Thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế, ví dụ như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân Do thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập, tài sản của tổ chức và cá nhân, có xem xét đến hoàn cảnh, điều kiện và khả năng đóng góp của người nộp thuế nên nó rất có tác dụng trong việc điều hoà thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư Đây cũng là ưu điểm nổi bật của thuế trực thu so với thuế gián thu Tuy nhiên, thuế trực thu lại có hạn chế lớn là dễ gây phản ứng từ phía người nộp thuế hoặc dễ xảy ra tình trạng trốn, lậu thuế nếu quy định mức thuế suất cao Hơn nữa, việc theo dõi, tính toán và thu thuế phức tạp, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với diện thu thuế rộng và phân tán Vì vậy, nếu không có biện pháp quản lý thu thuế hiệu quả dễ dẫn đến hạn chế tác dụng của loại thuế này trong việc tập trung số thu đầy đủ, kịp thời về cho ngân sách nhà nước
Ở nước ta thuộc loại thuế này gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22- Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế đối với người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tính chất gián thu thể hiện ở chổ người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau Thuế gián thu là một bộ phận cấu thành trong giá
cả hàng hoá, dịch vụ do chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là người phải chịu thuế
Ví dụ như: thuế GTGT, thuế XNK, thuế TTĐB Do điều tiết một cách gián tiếp vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ thông qua cơ chế giá nên với thuế gián thu, người chịu thuế (người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ) ít có cảm giác bị Nhà nước đánh thuế
Vì vậy, loại thuế này cũng ít gây ra những phản ứng từ phía người chịu thuế mỗi khi Chính phủ có chủ trương tăng thuế
Ưu điểm nổi bật của thuế gián thu là nó có khả năng đáp ứng nguồn thu kịp thời, ổn định cho ngân sách nhà nước Tuy nhiên, thuế gián thu cũng có những hạn chế nhất định, đó là: do thuế gián thu được tính trên giá cả hàng hoá, dịch vụ, không tính tới điều kiện, hoàn cảnh của đối tượng chịu thuế, vì vậy, không đảm bảo được sự công bằng xã hội, thậm chí còn mang tính luỹ thoái Có nghĩa là, bất kể người tiêu dùng là người giàu hay người nghèo, thu nhập cao hay thấp, nếu cùng tiêu dùng một lượng hàng hoá, dịch vụ như nhau thì cùng phải chịu một mức điều tiết thuế như nhau Số thuế này nếu so với thu nhập của người giàu
và người nghèo thì rõ ràng chúng mang tính luỹ thoái, người có thu nhập càng cao thì tỷ lệ giữa thuế gián thu so với tổng thu nhập càng thấp
Ngày nay, sự phân biệt giữa hai loại thuế này đôi khi chỉ mang tính chất tương đối vì ngày càng khó phân biệt ranh giới giữa hai loại thuế, tuy nhiên, vẫn cần thiết phải phân biệt hai loại thuế này vì trong thực tế, nhiều quốc gia vẫn còn hệ thống tổ chức hành chính dựa trên sự phân biệt giữa thuế trực thu và thuế gián thu Sự phân loại thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế
b) Thuế tỷ lệ, thuế luỹ tiến
Theo cách phân loại này, thuế tỷ lệ là loại thuế áp dụng một thuế suất như nhau đối với mọi đối tượng chịu thuế, còn thuế luỹ tiến là loại thuế áp dụng các thuế suất tăng dần đối với các nhóm đối tượng chịu thuế hoặc toàn bộ đối tượng chịu thuế Thông thường, đối với
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23các sắc thuế tiêu dùng thường áp dụng thuế suất tỷ lệ; đối với các sắc thuế thu nhập, thuế tài sản có thể áp dụng thuế suất luỹ tiến
c) Thuế theo mức riêng biệt và thuế tính theo giá trị
Theo cách này, được xếp vào loại thuế có mức riêng biệt (cũng có thể được dịch là thuế đặc biệt, quen được gọi là thuế tuyệt đối) nếu trong đó, mức thuế suất được xác định bằng mức tiền riêng biệt trên một đơn vị vật chất của đối tượng bị đánh thuế (trọng lượng, khối lượng, diện tích ), độc lập với giá trị tiền tệ của chúng Loại thuế này có lợi thế là rất đơn giản, không cần phải xác định giá trị của đối tượng bị đánh thuế nhưng lại có bất lợi là không thích ứng trong trường hợp tiền tệ bị mất giá Ở một số nước, loại thuế này thường được áp dụng dưới hình thức thuế rượu, thuế thuốc lá, thuế bia Ngược lại, thuế tính theo giá trị là loại thuế được tính toán bằng cách áp dụng một tỷ lệ (hoặc tỷ lệ phần trăm) trên căn
cứ tính thuế
Ưu điểm của loại thuế này là tính toán đơn giản, tiện lợi và được áp dụng chủ yếu đối với các loại thuế tiêu dùng như thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt Riêng thuế theo mức riêng biệt ở nước ta ít sử dụng
Ngoài các cách phân loại trên đây, trong thực tế ở một số nước còn có những cách phân loại khác, ví dụ như: thuế phân tích và thuế tổng hợp; thuế phân bổ và thuế định suất
1.1.7 Khái quát hệ thống thuế Việt Nam
Hệ thống thuế là tổng hợp các sắc thuế khác nhau có mối quan hệ thống nhất, biện chứng, phụ thuộc nhau, cùng hướng vào một mục tiêu chung nhằm thực hiện đường lối phát triển của Nhà nước phù hợp với từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển
Hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam bao gồm 9 sắc thuế và các loại phí, lệ phí
Bảng 1.1: Hệ thống thuế Việt Nam
Hệ thống thuế sau cải cách thuế bước 1
Hệ thống thuế sau cải cách thuế bước 2
Thuế GTGT Thuế xuất, nhập khấu Thuế TTĐB
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24THUẾ
TRỰC
THU
Thuế lợi tức Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
Thuế nông nghiệp Thuế vốn
Thuế chuyển quyền sử dụng đất Thuế nhà đất
Thuế tài nguyên Thuế môn bài
Thuế TNDN Thuế TNCN Thuế sử dụng đất nông nghiệp
Thuế chuyển quyền sử dụng đất Thuế nhà đất
Thuế tài nguyên Thuế môn bài
Bảng 1.2 Một số sắc thuế quan trọng trong hệ thống thuế Việt Nam
Thuế GTGT Thuế XNK Thuế TTĐB Thuế TNDN
Khái
niệm
Là một loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch
vụ phát sinh trong quá trình
từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
Là loại thuế trực thu tính trên trực tiếp trên trị giá các mặt hàng xuất, nhập khấu
Là loại thuế gián thu tính trên giá bán hàng hoá (là giá chưa có thuế TTĐB) của doanh nghiệp sản xuất, hoặc thu trên giá nhập khẩu và thuế
NK đối với doanh nghiệp nhập khẩu
Là loại thuế trực thu thu trên kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp
Đối Hàng hoá, dịch Hàng hoá xuất, Một số sản phẩm Cũng chính là
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25tượng
chịu thuế
vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh
và tiêu dùng ở Việt Nam
nhập khẩu của các tổ chức kinh
tế trong và ngoài nước; xuất, nhập qua biên giới Việt Nam
do doanh nghiệp sản xuất hoặc do doanh nghiệp nhập khẩu theo quy định của Luật thuế TTĐB; và một số dịch vụ
đối tượng nộp thuế
Đối
tượng
nộp thuế
Tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch
vụ chịu thuế ở Việt Nam và các
tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hoá chịu thuế GTGT
Mọi tổ chức, cá nhân xuất, nhập khẩu hàng hoá thuộc danh mục hàng hoá chịu thuế XNK
Tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, nhập khẩu hàng hoá, kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB
Tất cả các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập
Căn cứ
tính thuế
Giá tính thuế và thuế suất của hàng hoá, dịch
vụ
Giá tính thuế (Xuất khẩu: giá FOB, nhập khẩu: CIF), và thuế suất của hàng hoá
Giá tính thuế và thuế suất
TNCT trong kỳ tính thuế và thuế suất thuế TNDN
Phương
pháp tính
thuế
Có 2 phương pháp tính thuế:
phương pháp khấu trừ thuế và
Thuế XNK phải nộp = Giá tính thuế XNK x Thuế suất thuế
Thuế TTĐB phải nộp = Giá tính thuế TTĐB x Thuế suất thuế
Thuế TNDN phải nộp = TNCT x Thuế suất thuế TNDN
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26phương pháp tính trực tiếp trên GTGT
1.2 Tổng quan về kế toán thuế
1.2.1 Sự cần thiết của kế toán thuế
Ở bất kỳ một quốc gia nào cũng có quy định các sắc thuế khác nhau hình thành nên một hệ thống thuế của quốc gia đó nhằm huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Các doanh nghiệp và tổ chức tuỳ theo lĩnh vực hoạt động của mình mà có thể chịu sắc thuế này hoặc là sắc thuế khác Tuy nhiên, dù doanh nghiệp hay tổ chức chịu sắc thuế nào thì kế toán thuế vẫn phải vừa tuân thủ các qui định về kế toán, vừa phải tuân thủ những qui định của các luật thuế liên quan Điều này trên thực tế không phải lúc nào cũng đạt được sự thống nhất hoàn toàn giữa qui định về kế toán và qui định của các luật thuế, dẫn đến gây nên không ít khó khăn cho các doanh nghiệp, tổ chức trong quá trình thực hiện kế toán thuế ở đơn vị mình
1.2.2 Kế toán thuế hiện hành của Việt Nam
1.1.2.1 Nội dung kế toán thuế trong doanh nghiệp, tổ chức
Tương ứng với các sắc thuế và phí, lệ phí hiện hành trong hệ thống thuế của Việt Nam, kế toán thuế trong các doanh nghiệp và tổ chức bao gồm các nội dung về:
- Kế toán thuế tài nguyên
- Kế toán thuế nhà đất, tiền thuê đất
- Kế toán các loại thuế khác
- Kế toán phí và các khoản phải nộp khác
1.1.2.2 Nguyên tắc kế toán thuế trong doanh nghiệp, tổ chức
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27Như đã định nghĩa ở trên thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các cá nhân tổ chức vào NSNN theo qui định của pháp luật Đối với doanh nghiệp, tổ chức với tư cách là người chịu thuế và nộp thuế khi kế toán thuế cần tuân thủ các qui định sau:
(1) Tính, kê khai đúng và nộp đầy đủ các khoản thuế, phí, lệ phí, các khoản phải nộp khác cho Nhà nước theo quy định;
(2) Phản ánh kịp thời các khoản thuế phải nộp, đã nộp trên hệ thống bảng kê khai, sổ chi tiết và các sổ kế toán khác;
(3) Mở sổ chi tiết cho từng khoản thuế, phí, lệ phí phải nộp, đã nộp và còn phải nộp ngân sách;
(4) Doanh nghiệp nộp thuế bằng ngoại tệ phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá quy định để ghi sổ kế toán
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28Chương 2
THUẾ VÀ KẾ TOÁN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
Mục tiêu học tập
Khi nghiên cứu chương này, người học sẽ được cung cấp những kiến thức cơ bản sau:
Hiểu được thuế TNDN là gì? Thuế TNDN ban hành và có hiệu lực năm nào?
Tại sao gọi là thuế TNDN?
Ai là người nộp thuế? Ai là người chịu thuế? Ai là người khai thuế?
Tại sao nói thuế TNDN là thuế trực thu?
Thuế TNDN có đặc điểm, đặc trưng gì so với các sắc thuế khác?
Biết cách xác định thu nhập chịu thuế, thu nhập tính thuế đối với từng trường hợp cụ thể trong sản xuất, kinh doanh
Đối tượng nào chịu thuế, không chịu thuế TNDN?
Nắm được quy định và thủ tục, trình tự kê khai, nộp thuế?
Nắm được phương pháp xác định thuế TNDN phải nộp?
Nắm được cách kê khai thuế TNDN cho doanh nghiệp từ nhỏ đến lớn:
Luật số 32/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNDN
Nghị định 146/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 100/2016/NĐ-CP và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP liên quan đến luật thuế GTGT
Nghị định số 12/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và một số điều của các Nghị định về thuế
Thông tư 96/2015/TT-BTC hướng dẫn NĐ 12/2015 và sửa đổi một số điều trong NĐ
và TT về thuế
Nghị định 91/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều trong các Nghị định về thuế
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29 Thông tư 151/2014/TT-BTC hướng dẫn NĐ 91/2014
Thông tư 119/2014/TT-BTC sửa đổi, bổ sung về thuế
Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung các Luật về thuế
Nghị định số 218/2013/NĐ-CP quy định về thuế TNDN
Thông tư số 78/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành NĐ 218/2013
Luật QLT số 78/2006/QH11 và Luật số 21/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật QLT
Nghị định số 83/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật QLT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật QLT
Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán DN
Luật QLT số 38/2019/QH14
Và một số văn bản liên quan khác
Sơ lược lịch sử ra đời và phát triển của thuế TNDN
Thuế TNDN hay còn gọi là thuế thu nhập công ty, thuế công ty, thuế lợi tức từ lâu đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, nhìn chung đều xuất phát từ nhu cầu tăng chi của Nhà nước là chủ yếu, bên cạnh đó một phần là do xu hướng đòi hỏi sự bình đẳng của công dân trong khi thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước
Ở Việt Nam thuế TNDN ban đầu xuất hiện dưới hình thức là khoản trích nộp lợi nhuận áp dụng đối với khu vực kinh tế quốc doanh và là thuế lợi tức áp dụng đối với khu vực ngoài quốc doanh Từ giai đoạn 1990 - 1999 trong cơ chế đánh thuế bắt đầu có sự thay đổi, thuế lợi tức được áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế Đến giai đoạn 1999 - trước 2004, luật thuế TNDN được ban hành thay cho thuế lợi tức và cũng áp dụng thống nhất đối với mọi đối tượng kinh doanh trong nước với mức thuế suất phổ thông là 32%, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 25% Và càng ngày, trong xu thế hội nhập
và toàn cầu hoá, chính sách thuế TNDN của Việt Nam càng được hoàn thiện hơn để phù hợp hơn với thực tế phát triển và thông lệ quốc tế Hiện tại, luật thuế TNDN đã được sửa đổi, bổ sung áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, với mức thuế suất phổ thông là 20%
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 302.1.1 Những vấn đề chung
2.1.1.1 Khái niệm
Thuế TNDN là loại thuế trực thu, đánh trực tiếp vào thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế sau khi đã trừ đi các khoản chi phí liên quan trực tiếp đến việc tạo
ra thu nhập của doanh nghiệp
Thuế TNDN ra đời nhằm các mục đích tạo nguồn thu ổn định, vững chắc cho NSNN
để đảm bảo số chi cho Nhà nước, điều tiết thu nhập của các nhà đầu tư, từ đó góp phần đảm bảo công bằng xã hội, góp phần quản lý hoạt động đầu tư, kinh doanh phù hợp theo giai đoạn phát triển của đất nước thông qua việc quy định đối tượng nộp thuế, chịu thuế, đồng thời sử dụng hiệu quả công cụ thuế suất và các chính sách ưu đãi thuế TNDN
2.1.1.2 Đặc điểm
- Đặc điểm của thuế trực thu là tính chất luỹ tiến do việc đánh thuế có tính đến khả năng của người nộp, tuy nhiên thuế TNDN thường không sử dụng thuế suất luỹ tiến mà sử dụng thuế suất đồng nhất (flat tax rate) Mức thuế suất khác nhau có thể được áp dụng đối với các nhóm đối tượng hoặc một số loại thu nhập khác nhau vì mục tiêu chính sách
- Thuế TNDN đánh vào thu nhập của mỗi tổ chức, pháp nhân kinh doanh và thường được coi như là một loại thuế đánh vào vốn (tư bản), bởi vốn của một tổ chức được hình thành từ sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân sở hữu nó Trên giác độ kinh tế, thuế TNDN được xem như một loại thuế “thu trước” hoặc “thu gộp” của thuế thu nhập cá nhân Thông qua việc thu thuế TNDN, các chính phủ có thể giảm bớt được chi phí quản lý thu và hạn chế được nhiều rủi ro so với thu thuế thu nhập cá nhân
- Các chính sách khuyến khích, ưu đãi thuế vì các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hoặc tham gia giải quyết các vấn đề xã hội thường được lồng ghép, thiết kế trong quy định pháp luật về thuế TNDN Đặc biệt, các ưu đãi thuế TNDN để thu hút đầu tư vào các vùng khó khăn, khuyến khích phát triển các lĩnh vực theo định hướng, cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài thường được thể hiện trong chính sách thuế TNDN của nhiều nước
Những đặc điểm nêu trên đặt ra yêu cầu phải xem xét mối quan hệ giữa thuế TNDN
và thuế thu nhập cá nhân, giữa chính sách thuế với chính sách phát triển kinh tế cũng như các cam kết quốc tế về tự do hoá thương mại và bảo hộ đầu tư
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31- Thuế TNDN là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước
Phạm vi áp dụng của thuế TNDN rất rộng, gồm cá nhân, nhóm kinh doanh, hộ cá thể
và các tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có phát sinh lợi nhuận Nền kinh tế thị trường nước ta ngày càng phát triển và ổn định, tăng trưởng kinh tế được giữ vững ngày càng cao, các chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận thì khả năng huy động nguồn tài chính cho NSNN thông qua thuế TNDN ngày càng dồi dào
- Thuế TNDN là công cụ quan trọng góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo chiều hướng kế hoạch, chiến lược, phát triển toàn diện của Nhà nước Nhà nước ưu đãi, khuyến khích đối với các chủ thể đầu tư, kinh doanh vào những ngành, lĩnh vực và những vùng, miền mà Nhà nước có chiến lược ưu tiên phát triển trong từng giai đoạn nhất định
- Thuế TNDN còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc thực hiện chứng năng điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ phát triển kinh tế nhất định
- Thuế TNDN thu trên thu nhập của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi những chi phí để tạo ra thu nhập trong mỗi kỳ tính thuế, số thuế cao hay thấp tác động trực tiếp đến hiệu quả
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32các quy chế quản lý tài chính của mỗi doanh nghiệp, Vì vậy, thuế TNDN có ý nghĩa như một công cụ giúp doanh nghiệp tăng cường công tác quản lý nội bộ cũng như xác định chiến lược kinh doanh trong từng thời kỳ
Thuế TNDN là loại thuế có vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam, song để phát huy một cách có hiệu qủa vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp, chúng
ta cần phải xem xét nó dưới nhiều khía cạnh, kể cả những kinh nghiệm xử lý của nước ngoài
2.1.2 Người nộp thuế TNDN
1.1.2.1 Đối tượng chịu thuế
(1) Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật này (sau đây gọi là doanh nghiệp), bao gồm:
a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;
b) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi
là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam;
c) Tổ chức được thành lập theo Luật Hợp tác xã;
d) Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;
đ) Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập
(2) Doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam;
b) Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú đó;
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33c) Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam mà khoản thu nhập này không liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú;
d) Doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam
(3) Cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài là cơ sở sản xuất, kinh doanh mà thông qua cơ sở này, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam, bao gồm:
a) Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, phương tiện vận tải, mỏ dầu, mỏ khí, mỏ hoặc địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên khác tại Việt Nam;
b) Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp;
c) Cơ sở cung cấp dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công hoặc
tổ chức, cá nhân khác;
d) Đại lý cho doanh nghiệp nước ngoài;
đ) Đại diện tại Việt Nam trong trường hợp là đại diện có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc giao hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam
2.1.2.2 Đối tượng không thuộc diện chịu thuế
- Các tổ chức sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản; từ việc thực hiện dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp, cụ thể gồm: hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất
- Doanh nghiệp dành riêng cho lao động là người tàn tật, người sau cai nghiện, người nhiễm HIV
- Các tổ chức có thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng NCKH, phát triển công nghệ, sản phẩm đang trong thời kỳ sản xuất thử nghiệm, sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu áp dụng ở Việt Nam
- Các tổ chức dạy nghề dành riêng cho người dân tộc thiểu số, người tàn tật, trẻ em có
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 342.1.3 Căn cứ tính thuế - Phương pháp tính thuế
2.1.3.1 Căn cứ tính thuế
Để xác định được số thuế TNDN mà CSKD phải nộp vào NSNN trong kỳ tính thuế thì căn cứ vào thu nhập tính thuế trong kỳ và thuế suất thuế TNDN
a/Thu nhập tính thuế
Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ thu
nhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước theo quy định
Thu nhập tính thuế được xác định theo công thức sau:
Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác
Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế xác định như sau:
Thu nhập chịu thuế = Doanh thu + Chi phí được trừ +Các khoản thu nhập khác
Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bằng doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trừ chi phí được trừ của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó Doanh nghiệp có nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh áp dụng nhiều mức thuế suất khác nhau thì doanh nghiệp phải tính riêng thu nhập của từng hoạt động nhân với thuế suất tương ứng
Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản theo quy định của pháp luật phải hạch toán riêng để kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với mức thuế suất 22% (từ ngày 01/01/2016 áp dụng mức thuế suất 20%), không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (trừ phần thu nhập của doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư kinh doanh nhà ở xã hội để bán, cho thuê, cho thuê mua được
áp dụng thuế suất thuế TNDN 10% theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 19 Thông tư số 78/2014/TT-BTC)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35Doanh nghiệp trong kỳ tính thuế có các hoạt động chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia thực hiện dự án đầu tư (trừ dự
án thăm dò, khai thác khoáng sản) nếu bị lỗ thì số lỗ này được bù trừ với lãi của hoạt động sản xuất kinh doanh (bao gồm cả thu nhập khác quy định tại Điều 7 Thông tư số 78/2014/TT-BTC), sau khi bù trừ vẫn còn lỗ thì tiếp tục được chuyển sang các năm tiếp theo trong thời hạn chuyển lỗ theo quy định
Đối với số lỗ của hoạt động chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu
tư, chuyển nhượng quyền tham gia thực hiện dự án đầu tư (trừ dự án thăm dò, khai thác khoáng sản) của các năm 2013 trở về trước còn trong thời hạn chuyển lỗ thì doanh nghiệp phải chuyển vào thu nhập của hoạt động chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia thực hiện dự án đầu tư, nếu chuyển không hết thì được chuyển lỗ vào thu nhập của hoạt động sản xuất kinh doanh (bao gồm cả thu nhập khác)
từ năm 2014 trở đi
Trường hợp doanh nghiệp làm thủ tục giải thể doanh nghiệp, sau khi có quyết định giải thể nếu có chuyển nhượng bất động sản là tài sản cố định của doanh nghiệp thì thu nhập (lãi) từ chuyển nhượng bất động sản (nếu có) được bù trừ với lỗ từ hoạt động sản xuất kinh doanh (bao gồm cả số lỗ của các năm trước được chuyển sang theo quy định) vào kỳ tính thuế phát sinh hoạt động chuyển nhượng bất động sản
Trong đó:
* Doanh thu:
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định là toàn bộ tiền bán hàng hóa, tiền gia công, tiền cung cấp dịch vụ bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền
- Đối với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế là doanh thu chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng
Ví dụ: Doanh nghiệp A là đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế
Hóa đơn GTGT gồm các chỉ tiêu như sau:
Giá bán: 100.000 đồng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 36Giá thanh toán: 110.000 đồng
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là 100.000 đồng
- Đối với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng là doanh thu bao gồm cả thuế giá trị gia tăng
Ví dụ: Doanh nghiệp B là đối tượng nộp GTGT theo phương pháp trực tiếp trên giá trị
gia tăng Hóa đơn bán hàng chỉ ghi giá bán là 110.000 đồng (giá đã có thuế GTGT)
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là 110.000 đồng
- Trường hợp doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh dịch vụ mà khách hàng trả tiền trước cho nhiều năm thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được phân bổ cho số năm trả tiền trước hoặc được xác định theo doanh thu trả tiền một lần Trường hợp doanh nghiệp đang trong thời gian hưởng ưu đãi thuế việc xác định số thuế được ưu đãi phải căn cứ vào tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của số năm thu tiền trước chia (:) cho số năm thu tiền trước
Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định như sau:
- Đối với hoạt động bán hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa cho người mua
- Đối với hoạt động cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ hoặc hoàn thành từng phần việc cung ứng dịch vụ cho người mua trừ trường hợp nêu tại Khoản 3 Điều 5 Thông tư số 78/2014/TT-BTC , Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 119/2014/TT-BTC
- Đối với hoạt động vận tải hàng không là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch
vụ vận chuyển cho người mua
- Trường hợp khác theo quy định của pháp luật
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế trong một số trường hợp xác định như sau:
(1) Đối với hàng hóa, dịch vụ bán theo phương thức trả góp, trả chậm là tiền bán hàng hóa, dịch vụ trả tiền một lần, không bao gồm tiền lãi trả góp, tiền lãi trả chậm
(2) Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi (không bao gồm hàng hóa, dịch vụ sử dụng để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp) được xác định theo giá
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37bán của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương trên thị trường tại thời điểm trao đổi
Ví dụ: Doanh nghiệp A có chức năng sản xuất phụ tùng ôtô và lắp ráp ô tô Doanh
nghiệp A dùng sản phẩm lốp ôtô do doanh nghiệp sản xuất để trưng bày, giới thiệu sản phẩm hoặc dùng lốp ôtô để tiếp tục lắp ráp thành ôtô hoàn chỉnh thì trong trường hợp này sản phẩm lốp ôtô của doanh nghiệp không phải quy đổi để tính vào doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp
Ví dụ: Doanh nghiệp B là doanh nghiệp sản xuất máy tính Trong năm doanh nghiệp B
có xuất một số máy tính do chính doanh nghiệp sản xuất cho cán bộ công nhân viên để dùng làm việc tại doanh nghiệp thì các sản phẩm máy tính này không phải quy đổi để tính vào doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp
(3) Đối với hoạt động gia công hàng hóa là tiền thu về hoạt động gia công bao gồm cả tiền công, chi phí về nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và chi phí khác phục vụ cho việc gia công hàng hóa
(4) Đối với hàng hóa của các đơn vị giao đại lý, ký gửi và nhận đại lý, ký gửi theo hợp đồng đại lý, ký gửi bán đúng giá hưởng hoa hồng được xác định như sau:
- Doanh nghiệp giao hàng hóa cho các đại lý (kể cả đại lý bán hàng đa cấp), ký gửi là tổng số tiền bán hàng hóa
- Doanh nghiệp nhận làm đại lý, ký gửi bán hàng đúng giá quy định của doanh nghiệp giao đại lý, ký gửi là tiền hoa hồng được hưởng theo hợp đồng đại lý, ký gửi hàng hóa
(5) Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền bên thuê trả từng kỳ theo hợp đồng thuê Trường hợp bên thuê trả tiền trước cho nhiều năm thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được phân bổ cho số năm trả tiền trước hoặc được xác định theo doanh thu trả tiền một lần
Doanh nghiệp căn cứ điều kiện thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ thực tế và việc xác định chi phí, có thể lựa chọn một trong hai phương pháp xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế như sau:
- Là số tiền cho thuê tài sản của từng năm được xác định bằng (=) số tiền trả trước
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 38- Là toàn bộ số tiền cho thuê tài sản của số năm trả tiền trước
Trường hợp doanh nghiệp đang trong thời gian hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp lựa chọn phương pháp xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ số tiền thuê bên thuê trả trước cho nhiều năm thì việc xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp từng ưu đãi thuế căn cứ vào tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp của số năm trả tiền trước chia (:) số năm bên thuê trả tiền trước
(6) Đối với hoạt động kinh doanh sân gôn là tiền bán thẻ hội viên, bán vé chơi gôn và các khoản thu khác trong kỳ tính thuế được xác định như sau:
- Đối với hình thức bán vé, bán thẻ chơi gôn theo ngày, doanh thu kinh doanh sân gôn làm căn cứ xác định thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp là số tiền thu được từ bán vé, bán thẻ và các khoản thu khác phát sinh trong kỳ tính thuế
- Đối với hình thức bán vé, bán thẻ hội viên loại thẻ trả trước cho nhiều năm, doanh thu làm căn cứ xác định thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp của từng năm là số tiền bán thẻ và các khoản thu khác thực thu được chia cho số năm sử dụng thẻ hoặc xác định theo doanh thu trả tiền một lần
(7) Đối với hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
là thu từ lãi tiền gửi, thu từ lãi tiền cho vay, doanh thu về cho thuê tài chính phải thu phát sinh trong kỳ tính thuế được hạch toán vào doanh thu theo quy định hiện hành về cơ chế tài chính của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
(8) Đối với hoạt động vận tải là toàn bộ doanh thu vận chuyển hành khách, hàng hóa, hành lý phát sinh trong kỳ tính thuế
(9) Đối với hoạt động cung cấp điện, nước sạch là số tiền cung cấp điện, nước sạch ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là ngày xác nhận chỉ số công tơ điện và được ghi trên hóa đơn tính tiền điện, tiền nước sạch
Ví dụ: Hóa đơn tiền điện ghi chỉ số công tơ từ ngày 5/12 đến ngày 5/1 Doanh thu của
hóa đơn này được tính vào tháng 1
(10) Đối với lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ số tiền thu được do cung ứng dịch vụ bảo hiểm và hàng hóa, dịch vụ khác, kể cả phụ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39thu và phí thu thêm mà doanh nghiệp bảo hiểm được hưởng chưa có thuế giá trị gia tăng, bao gồm:
- Doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm:
Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm là số tiền phải thu về thu phí bảo hiểm gốc; thu phí nhận tái bảo hiểm; thu hoa hồng nhượng tái bảo hiểm; thu phí quản lý đơn bảo hiểm; thu phí về dịch vụ đại lý bao gồm giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn, xử lý hàng bồi thường 100% (không kể giám định
hộ giữa các doanh nghiệp thành viên hạch toán nội bộ trong cùng một doanh nghiệp bảo hiểm hạch toán độc lập) sau khi đã trừ đi các khoản phải chi để giảm thu như: hoàn phí bảo hiểm; giảm phí bảo hiểm; hoàn phí nhận tái bảo hiểm; giảm phí nhận tái bảo hiểm; hoàn hoa hồng nhượng tái bảo hiểm; giảm hoa hồng nhượng tái bảo hiểm
Trường hợp các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia đồng bảo hiểm, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế của từng bên là tiền thu phí bảo hiểm gốc được phân bổ theo tỷ lệ đồng bảo hiểm cho mỗi bên chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng
Đối với hợp đồng bảo hiểm thỏa thuận trả tiền theo từng kỳ thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là số tiền phải thu phát sinh trong từng kỳ
Trường hợp có thực hiện các nghiệp vụ thu hộ giữa các doanh nghiệp trực thuộc hoặc giữa doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc với trụ sở chính của doanh nghiệp bảo hiểm thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế không bao gồm phần doanh thu thu hộ
- Doanh thu hoạt động môi giới bảo hiểm: Các khoản thu hoa hồng môi giới bảo hiểm sau khi trừ các khoản hoa hồng môi giới bảo hiểm, giảm và hoàn hoa hồng môi giới bảo hiểm
(11) Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, giá trị hạng mục công trình hoặc giá trị khối lượng công trình xây dựng, lắp đặt nghiệm thu
- Trường hợp xây dựng, lắp đặt có bao thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị là số tiền từ hoạt động xây dựng, lắp đặt bao gồm cả giá trị nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị
- Trường hợp xây dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị là
số tiền từ hoạt động xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyên vật liệu, máy móc, thiết
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 40(12) Đối với hoạt động kinh doanh dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh:
- Trường hợp các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phân chia kết quả kinh doanh bằng doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ thì doanh thu tính thuế là doanh thu của từng bên được chia theo hợp đồng
- Trường hợp các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phân chia kết quả kinh doanh bằng sản phẩm thì doanh thu tính thuế là doanh thu của sản phẩm được chia cho từng bên theo hợp đồng
- Trường hợp các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phân chia kết quả kinh doanh bằng lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp thì doanh thu để xác định thu nhập trước thuế là số tiền bán hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng Các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phải cử ra một bên làm đại diện có trách nhiệm xuất hóa đơn, ghi nhận doanh thu, chi phí, xác định lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp chia cho từng bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh Mỗi bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh tự thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp của mình theo quy định hiện hành
- Trường hợp các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phân chia kết quả kinh doanh bằng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp thì doanh thu để xác định thu nhập chịu thuế là số tiền bán hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng Các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phải cử ra một bên làm đại diện có trách nhiệm xuất hóa đơn, ghi nhận doanh thu, chi phí và kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp thay cho các bên còn lại tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh
(13) Đối với hoạt động kinh doanh trò chơi có thưởng (casino, trò chơi điện tử có thưởng, kinh doanh có đặt cược) là số tiền thu từ hoạt động này bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt trừ số tiền đã trả thưởng cho khách
(14) Đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán là các khoản thu từ dịch vụ môi giới,
tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư, phát hành chứng chỉ quỹ, dịch vụ tổ chức thị trường và các dịch vụ chứng khoán khác theo quy định của pháp luật
(15) Đối với dịch vụ tài chính phái sinh là số tiền thu từ việc cung ứng các dịch vụ tài chính phái sinh thực hiện trong kỳ tính thuế
Trường Đại học Kinh tế Huế