1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TIN DÂN, DỰA VÀO DÂN. KẾ THỪA, VẬN DỤNG TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY.

35 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Tin Dân, Dựa Vào Dân. Kế Thừa, Vận Dụng Trong Sự Nghiệp Đổi Mới Của Nước Ta Hiện Nay
Trường học Khoa Lý Luận Chính Trị Môn Học
Chuyên ngành Triết Học, Chính Trị Học
Thể loại Tiểu luận cuối kỳ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 383,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………………5 1.Lý do chọn đề tài……………………………………………………………………...5 2.Mục đích nghiên cứu………………………………………………………………….6 3.Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………………………6 4.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu……………………………………………7 5.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn…………………………………………………………...7 NỘI DUNG……………………………………………………………………………….8 Chương 1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tin dân, dựa vào dân…………………………..8 1.1 Lý luận chủ nghĩa Mác Lênin về tin dân, dựa vào dân………………………………8 1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng “tin dân, dựa vào dân” của Hồ Chí Minh………………..16 1.2.1 Kế thừa tư tưởng “tin dân, dựa vào dân” trong truyền thống dân tộc……..…16 1.2.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại…………………………………………………..18 1.3 Đảng ta quán triệt quan điểm “Nước lấy dân làm gốc” trong quá trình đổi mới…….19 Chương 2. Vận dụng trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay………………..23 2.1 Những biểu hiện cụ thể của việc “tin dân, dựa vào dân” trong đời sống hiện nay…..23 2.2 Vai trò của quần chúng nhân dân…………………………………………………….23 2.3 Thực trạng về việc vận dụng trong sự nghiệp đổi mới của nước ta………………….25 2.4 Một số giải pháp thúc đẩy sự tham gia của nhân dân trong xây dựng chính quyền hiện nay………………………………………………………………………………………..31 KẾT LUẬN…………………….………………………………………………………..34 TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………...…35 4 MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài : Chúng ta biết rằng Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài, người cha vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới là tinh hoa của non sông đất nước Việt Nam. Người đã để lại cho Đảng, nhân dân ta, nhân loại một di sản tinh thần vô giá một hệ thống lý luận về nhiều mặt. Tư tưởng của Người là ngọn đèn soi sáng cho con đường cách mạng Việt Nam, không chỉ là giá trị lý luận thực tiễn đối với các giai đoạn cách mạng đã qua mà còn là giá trị trường tồn đối với các hành trình đi lên dân tộc. Tin dân, dựa vào dân, sống và đấu tranh vì dân là nguyên tắc tối cao trong tư duy và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh. Người khái quát sâu sắc rằng: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Có thể nói, mọi tư tưởng, mọi sáng tạo của Hồ Chí Minh đều xuất phát từ lòng yêu thương, kính trọng, tin tưởng ở nhân dân. Bởi vì, theo nguyên tắc đại đoàn kết Hồ Chí Minh lấy dân là gốc, là nền tảng, là chủ thể của đại đoàn kết, dân là nguồn sức mạnh vô tận của khối đại đoàn kết, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, dân cũng là chỗ dựa vững chắc của Đảng, của hệ thống chính trị. Sau 29 năm đổi mới, đất nước đạt được nhiều thành tựu to lớn như đã phát huy được tinh thần làm chủ của nhân dân, làm nhân dân tin tưởng vào đường lối chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước, những thành tựu đạt được là nhờ vào việc tập trung xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng trên cơ sở vận dụng tư tưởng lấy dân làm gốc của Hồ Chí Minh. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau công tác xây dựng khối đại đoàn kết vẫn gặp nhiều khó khăn, thử thách, đặc biệt trong việc tạo điều kiện cho nhân dân làm chủ chưa phát huy được hiệu quả cao hay công tác dân vận còn gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế. Chính vì vậy, trong di chúc, Hồ Chí Minh đã rất quan tâm phải thực hành dân chủ rộng rãi, trước hết trong Đảng, Người đã chỉ rõ “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Đó là 5 vấn đề gắn liền với chỉnh đốn Đảng. Vì vậy toàn Đảng, toàn dân phải biết vận dụng và phát triển hơn nữa quan điểm “tin dân, dựa vào dân” của chủ tịch Hồ Chí Minh, phát huy hơn nữa vai trò của quần chúng nhân dân, động viên quần chúng cùng nhau nỗ lực phấn đấu, xây dựng chặt chẽ hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân để lấy sức mạnh đó vượt qua những thử thách để đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam đi theo con đường xã hội “ dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh ”. Căn cứ vào ý nghĩa lý luận, thực tiễn trên nhóm chúng em chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tin dân, dựa vào dân. Kế thừa, vận dụng trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay” để cùng nhau hiểu thêm về vấn đề này. 2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 2.1 Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ nội dung về tư tưởng “tin dân, dựa vào dân” của Hồ Chí Minh, đánh giá thực trạng kế thừa, vận dụng trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. Từ đó đề xuất các phương pháp giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong thời gian tới. 2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Xác định cơ sở hình thành, nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về “tin dân, dựa vào dân”. Đánh giá thực trạng kế thừa, vận dụng trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. Đề xuất định hướng, giải pháp nhằm nâng cao khối đại đoàn kết của nước ta hiện nay. 3.Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh về tin dân, dựa vào dân. Kế thừa, vận dụng trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay. 6 4.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: 4.1 Cơ sở lý luận: Dựa vào việc tìm hiểu về quan điểm, tu tưởng Hồ Chí Minh về tin dân, dựa vào dân, kết hợp với vấn đề dân tộc. Kế thừa, vận dụng trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay. 4.2 Phương pháp nguyên cứu: Tiểu luận đã áp dụng hai phương pháp nghiên cứu chính đó là phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác Lênin và các quan điểm có giá trị phương pháp luận của Hồ Chí Minh. Phương pháp cụ thể: vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát, hệ thống hóa, phương pháp nghiên cứu lịch sử thuộc về phương pháp nghiên cứu lý thuyết, bên cạnh đó nhóm chúng em còn sử dụng phương pháp phân tích – tổng kết kinh nghiệm đối với việc nghiên cứu thực tiễn và ứng dụng. 5.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 5.1. Ý nghĩa lý luận Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần khái quát rõ hơn tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân; cung cấp nhận thức đúng đắn về quan niệm của Hồ Chí Minh về Nhân dân và vị trí, vai trò của Nhân dân cũng như việc đảm bảo thực hiện vị trí, vai trò đó trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam; từ đó giúp cho việc sử dụng lực lượng vô tận của Nhân dân, phát huy lực lượng của Nhân dân trong xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung, đổi mới đất nước hiện nay nói riêng. 5.2. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của luận án góp vào thực tiễn hoạt động của hệ thống chính trị trong việc đảm bảo và phát huy vai trò của Nhân dân ở sự nghiệp đổi mới hiện nay; là tài liệu phục vụ nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh. 7 NỘI DUNG Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TIN DÂN, DỰA VÀO DÂN 1.1 Lý luận chủ nghĩa Mác Lênin về tin dân, dựa vào dân. Theo chủ nghĩa MácLênin về vai trò của Nhân dân trong việc xây dựng đất nước, trong tư tưởng, trong thực tiễn hành động. Đề cao vai trò của Nhân dân, quyền lực của dân, luôn tin vào khả năng và sức mạnh của nhân dân. Theo quan điểm của MácLênin dân có giá trị khoa học, cách mạng và thực tiễn to lớn, là nền tảng trong công cuộc đổi mới, thay đổi và xây dựng nền dân chủ xã hội của đất nước. Theo quan điểm của Chủ nghĩa MácLênin, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử và quyết định sự phát triển của lịch sử. Vận dụng sáng tạo quan điểm Chủ nghĩa MácLênin về vai trò của nhân dân vào thực tiễn Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn đặc biệt nhấn mạnh vai trò của “lòng dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Theo Người, Đảng xác định chủ trương, mở ra đường lối lãnh đạo cách mạng, nhưng chính nhân dân và chỉ có nhân dân mới là người hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng mà Đảng đề ra. Sẽ không bao giờ có lực lượng cách mạng và phong trào cách mạng, nếu không có nhân dân. Theo Người, một trong những yếu tố quyết định sự thành công của cách mạng là sự đồng sức, đồng lòng của toàn dân, là sự đoàn kết “muôn người như một” dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, theo Người: “Sự đồng tâm của đồng bào đúc thành bức tường đồng xung quanh Tổ quốc”. Người khẳng định: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”. Thực tế lịch sử chứng minh “lòng dân” là cội nguồn sức mạnh của đất nước nói chung và sức mạnh quốc phòng nói riêng. Đối với mỗi chế độ xã hội, “lòng dân” là khái niệm chỉ trạng thái tinh thần, niềm tin, sự đồng lòng của người dân với chế độ xã hội và giai cấp nắm quyền lãnh đạo xã hội. Đây là yếu tố rất quan trọng có tính quyết định đến sức mạnh, sự hưng thịnh hay suy vong của mỗi triều đại, quốc gia, dân tộc. Sức mạnh “lòng dân” chính là sức mạnh của dân tộc. Lòng dân yên ổn thì đất nước vững vàng, phát triển. 8 “Thế trận lòng dân” được hiểu là tinh thần yêu nước, tình đoàn kết gắn bó, khát vọng độc lập tự do, ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất của cả dân tộc được hội tụ, kết tinh, nhân lên tạo thành nền tảng chính trị vững chắc, sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, sẵn sàng huy động nhằm thực hiện các mục tiêu của cách mạng. “Thế trận lòng dân” là loại hình thế trận đặc biệt, không thể hiện ra bằng hình hài cụ thể như thế trận quân sự, quốc phòng mà được thể hiện bằng sức mạnh nội sinh của quốc gia, dân tộc theo từng cấp độ khác nhau. “Lòng dân” và “thế trận lòng dân” là hai mặt của một vấn đề có mối quan hệ biện chứng. “Lòng dân” luôn tồn tại khách quan nhưng “lòng dân” có được quy tụ trở thành sức mạnh tổng hợp hay không còn tùy thuộc vào nỗ lực chủ quan của con người. Điều này đòi hỏi giai cấp nắm quyền lãnh đạo xã hội, trực tiếp là lực lượng chính trị đại diện phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp để định hướng, tập hợp, quy tụ “lòng dân” về một mối. Chỉ có như vậy “lòng dân” mới hội tụ trở thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia, dân tộc. Thực chất đó chính là vai trò của lực lượng nắm quyền lãnh đạo xã hội trong việc chuyển hóa “lòng dân” thành “thế trận lòng dân”. Khi được xây dựng vững chắc “thế trận lòng dân” sẽ tác động trở lại làm cho “lòng dân” phát triển hài hòa. Bài học sâu sắc nhất mà Đảng ta rút ra từ thực tiễn cách mạng là phải huy động, tập hợp được sức mạnh của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Đại hội VI của Đảng xác định: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”... Trong các kỳ Đại hội VII và Đại hội VIII, bài học “lấy dân làm gốc” tiếp tục được Đảng ta khẳng định. Văn kiện Đại hội IX, trong phần đánh giá quá trình đổi mới Đảng ta một lần nữa chỉ rõ: “đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân”. Đến Đại hội lần thứ XII, một trong năm bài học được Đảng ta đúc kết, đó là: “Đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm. Tuy chưa sử dụng thuật ngữ “thế trận lòng dân” nhưng tư tưởng, quan điểm phát huy sức mạnh “lòng dân” đã được Đảng ta nhất quán khẳng định trong đường lối quốc phòng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng ta khẳng định: “Sức mạnh của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới chính là sức mạnh tổng hợp. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, sức 9 mạnh của chế độ chính trị, sự trong sạch đội ngũ cán bộ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định”. Đến Đại hội X, Đảng ta lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “thế trận lòng dân”. Trong văn kiện Đại hội X, Đảng ta xác định: “Xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc Phát triển quan điểm “lấy dân làm gốc”, Đảng ta chủ trương: Xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, tại Nghị quyết Đại hội XI, Đảng ta chỉ rõ: “Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc”. Để tăng cường “thế trận lòng dân” đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng, văn kiện Đại hội XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền QPTD và nền ANND” Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, quan điểm của Đảng ta về xây dựng “lòng dân” và “thế trận lòng dân” được thể hiện sâu sắc hơn một bước. Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết về vấn đề này. Đặc biệt, trước tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên mắc bệnh quan liêu, xa dân, để củng cố “thế trận lòng dân”, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Quy định số 08, yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương phải nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, chống độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn của nhân dân. Khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng có tính cốt tử của “lòng dân” và “thế trận lòng dân. Cùng với khẳng định, nâng tầm “thế trận lòng dân” là một trong những sức mạnh nội sinh của dân tộc, văn kiện Đại hội XIII cũng nêu vấn đề này một cách rõ nét, toàn diện hơn, đó là: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh, xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền QPTD và nền ANND; xây dựng, củng cố vững chắc thế trận QPTD và thế trận ANND”. Điều này có nghĩa phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” phải gắn với tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh, đặt trong nền QPTD và nền ANND; xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân phải gắn bó chặt chẽ với xây dựng, củng cố thế trận QPTD. Mặt khác, văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: Củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của 10 Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó QĐND là nòng cốt. Đây là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta. Không phải đến bây giờ mà trong rất nhiều văn kiện Đảng ta đã khẳng định, xây dựng “thế trận lòng dân”, nền QPTD vững mạnh là nhiệm vụ không của riêng ai mà đó là sự nghiệp cách mạng, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, trong đó QĐND là nòng cốt. Việc xây dựng QĐNDmột đội quân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” với vai trò nòng cốt của “thế trận lòng dân”, của nền QPTD cũng chính là thể hiện tư tưởng, quan điểm. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo: “Phải biết dựa vào dân, lắng nghe dân, cái gì mà quần chúng nhân dân hoan nghênh, ủng hộ thì chúng ta phải quyết tâm làm và làm cho bằng được; ngược lại, cái gì nhân dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì chúng ta phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm” (5). Đặc biệt, trong bài: “Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới”, Tổng Bí thư nêu lại những bài học kinh nghiệm, trong đó khẳng định: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, luôn xác định dân là gốc, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân...”. Niềm tin của nhân dân chính là sức mạnh của Đảng, sức mạnh của “thế trận lòng dân”, của nền QPTD. “Dân” là một khái niệm mang tính lịch sử. Khái niệm “dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm mọi người Việt Nam, là “con dân nước việt”, “mỗi một con Rồng cháu Tiên”, không phân biệt “ già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo”, trong đó đông đảo nhất, chiếm tuyệt đại đa số là công dân và nông dân. Tin dân, dựa vào dân trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh là sự kế thừa và nâng cao tư tưởng chính trị truyền thống của dân tộc: “nước lấy dân làm gốc”, “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Tin dân, dựa vào dân trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh cũng là sự tiếp thu sâu sắc trong nhận thức, tình cảm và hành động theo nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lênin: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Tin dân, dựa vào dân, sống và đấu tranh vì dân là nguyên tắc tối cao trong tư duy và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh. Người khái quát sâu sắc rằng: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân

Trang 1

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ MÔN HỌC: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Điểm số:

TIÊU CHÍNỘI DUNG BỐ CỤC TRÌNH BÀY TỔNG ĐIỂM

Ký tên

2

Trang 3

BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ

3

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU………5

1 Lý do chọn đề tài……… 5

2 Mục đích nghiên cứu……….6

3 Đối tượng nghiên cứu………6

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu………7

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn……… 7

NỘI DUNG……….8

Chương 1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tin dân, dựa vào dân……… 8

1.1 Lý luận chủ nghĩa Mác Lênin về tin dân, dựa vào dân………8

1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng “tin dân, dựa vào dân” của Hồ Chí Minh……… 16

1.2.1 Kế thừa tư tưởng “tin dân, dựa vào dân” trong truyền thống dân tộc…… …16

1.2.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại……… 18

1.3 Đảng ta quán triệt quan điểm “Nước lấy dân làm gốc” trong quá trình đổi mới…….19

Chương 2 Vận dụng trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay……… 23

2.1 Những biểu hiện cụ thể của việc “tin dân, dựa vào dân” trong đời sống hiện nay… 23

2.2 Vai trò của quần chúng nhân dân……….23

2.3 Thực trạng về việc vận dụng trong sự nghiệp đổi mới của nước ta……….25

2.4 Một số giải pháp thúc đẩy sự tham gia của nhân dân trong xây dựng chính quyền hiện nay……… 31

KẾT LUẬN……….……… 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …35

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài :

Chúng ta biết rằng Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài, người cha vĩ đại của dân tộcViệt Nam, danh nhân văn hóa thế giới là tinh hoa của non sông đất nước Việt Nam.Người đã để lại cho Đảng, nhân dân ta, nhân loại một di sản tinh thần vô giá một hệ thống

lý luận về nhiều mặt Tư tưởng của Người là ngọn đèn soi sáng cho con đường cách mạngViệt Nam, không chỉ là giá trị lý luận thực tiễn đối với các giai đoạn cách mạng đã qua

mà còn là giá trị trường tồn đối với các hành trình đi lên dân tộc

Tin dân, dựa vào dân, sống và đấu tranh vì dân là nguyên tắc tối cao trong tư duy

và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh Người khái quát sâu sắc rằng: “Trong bầu trờikhông gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kếtcủa nhân dân” Có thể nói, mọi tư tưởng, mọi sáng tạo của Hồ Chí Minh đều xuất phát từlòng yêu thương, kính trọng, tin tưởng ở nhân dân Bởi vì, theo nguyên tắc đại đoàn kết

Hồ Chí Minh lấy dân là gốc, là nền tảng, là chủ thể của đại đoàn kết, dân là nguồn sứcmạnh vô tận của khối đại đoàn kết, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, dân cũng làchỗ dựa vững chắc của Đảng, của hệ thống chính trị

Sau 29 năm đổi mới, đất nước đạt được nhiều thành tựu to lớn như đã phát huy đượctinh thần làm chủ của nhân dân, làm nhân dân tin tưởng vào đường lối chủ trương của Đảng

và chính sách pháp luật của nhà nước, những thành tựu đạt được là nhờ vào việc tập trungxây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng trên cơ sở vận dụng tư tưởng lấy dân làm gốccủa Hồ Chí Minh Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau côngtác xây dựng khối đại đoàn kết vẫn gặp nhiều khó khăn, thử thách, đặc biệt trong việc tạođiều kiện cho nhân dân làm chủ chưa phát huy được hiệu quả cao hay công tác dân vận còngặp rất nhiều khó khăn và hạn chế Chính vì vậy, trong di chúc, Hồ Chí Minh đã rất quan tâmphải thực hành dân chủ rộng rãi, trước hết trong Đảng, Người đã chỉ rõ “Đảng ta là một Đảngcầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cầnkiệm, liêm chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng làngười lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” Đó là

Trang 6

vấn đề gắn liền với chỉnh đốn Đảng Vì vậy toàn Đảng, toàn dân phải biết vận dụng vàphát triển hơn nữa quan điểm “tin dân, dựa vào dân” của chủ tịch Hồ Chí Minh, phát huyhơn nữa vai trò của quần chúng nhân dân, động viên quần chúng cùng nhau nỗ lực phấnđấu, xây dựng chặt chẽ hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân để lấy sức mạnh đó vượt quanhững thử thách để đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam đi theo con đường xã hội “ dângiàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh ”.

Căn cứ vào ý nghĩa lý luận, thực tiễn trên nhóm chúng em chọn đề tài: “Tư tưởng

Hồ Chí Minh về tin dân, dựa vào dân Kế thừa, vận dụng trong sự nghiệp đổi mới củanước ta hiện nay” để cùng nhau hiểu thêm về vấn đề này

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

2.1 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ nội dung về tư tưởng “tin dân, dựa vàodân” của Hồ Chí Minh, đánh giá thực trạng kế thừa, vận dụng trong sự nghiệp đổi mới ởnước ta hiện nay Từ đó đề xuất các phương pháp giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trongviệc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Xác định cơ sở hình thành, nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về “tindân, dựa vào dân”

Đánh giá thực trạng kế thừa, vận dụng trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

Đề xuất định hướng, giải pháp nhằm nâng cao khối đại đoàn kết của nước ta hiệnnay

3 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh về tin dân, dựa vào dân Kế thừa, vậndụng trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay

Trang 7

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

4.1 Cơ sở lý luận:

Dựa vào việc tìm hiểu về quan điểm, tu tưởng Hồ Chí Minh về tin dân, dựa vào dân, kếthợp với vấn đề dân tộc Kế thừa, vận dụng trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay.4.2 Phương pháp nguyên cứu:

Tiểu luận đã áp dụng hai phương pháp nghiên cứu chính đó là phương pháp luận khoahọc của chủ nghĩa Mác- Lênin và các quan điểm có giá trị phương pháp luận của Hồ ChíMinh

Phương pháp cụ thể: vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát, hệthống hóa, phương pháp nghiên cứu lịch sử thuộc về phương pháp nghiên cứu lý thuyết,bên cạnh đó nhóm chúng em còn sử dụng phương pháp phân tích – tổng kết kinh nghiệmđối với việc nghiên cứu thực tiễn và ứng dụng

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

5.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần khái quát rõ hơn tư tưởng chính trị Hồ ChíMinh về Nhân dân; cung cấp nhận thức đúng đắn về quan niệm của Hồ Chí Minh vềNhân dân và vị trí, vai trò của Nhân dân cũng như việc đảm bảo thực hiện vị trí, vai trò đótrong sự nghiệp cách mạng Việt Nam; từ đó giúp cho việc sử dụng lực lượng vô tận củaNhân dân, phát huy lực lượng của Nhân dân trong xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung,đổi mới đất nước hiện nay nói riêng

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án góp vào thực tiễn hoạt động của hệ thống chính trịtrong việc đảm bảo và phát huy vai trò của Nhân dân ở sự nghiệp đổi mới hiện nay; là tàiliệu phục vụ nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 8

NỘI DUNG Chương 1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TIN DÂN, DỰA VÀO

DÂN 1.1 Lý luận chủ nghĩa Mác Lênin về tin dân, dựa vào dân.

Theo chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của Nhân dân trong việc xây dựng đất nước,trong tư tưởng, trong thực tiễn hành động Đề cao vai trò của Nhân dân, quyền lực củadân, luôn tin vào khả năng và sức mạnh của nhân dân Theo quan điểm của Mác-Lênindân có giá trị khoa học, cách mạng và thực tiễn to lớn, là nền tảng trong công cuộc đổimới, thay đổi và xây dựng nền dân chủ xã hội của đất nước

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạochân chính ra lịch sử và quyết định sự phát triển của lịch sử Vận dụng sáng tạo quan điểmChủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của nhân dân vào thực tiễn Việt Nam, trong suốt quá trìnhlãnh đạo cách mạng, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn đặc biệt nhấn mạnhvai trò của “lòng dân” Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp củaquần chúng nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Theo Người, Đảng xác định chủ trương,

mở ra đường lối lãnh đạo cách mạng, nhưng chính nhân dân và chỉ có nhân dân mới là ngườihiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng mà Đảng đề ra Sẽ không bao giờ có lực lượng cách mạng

và phong trào cách mạng, nếu không có nhân dân Theo Người, một trong những yếu tốquyết định sự thành công của cách mạng là sự đồng sức, đồng lòng của toàn dân, là sự đoànkết “muôn người như một” dưới sự lãnh đạo của Đảng Trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng

và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, theo Người: “Sự đồng tâm của đồng bào đúc thành bức tườngđồng xung quanh Tổ quốc” Người khẳng định: “Không quân đội nào, không khí giới nào cóthể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”

Thực tế lịch sử chứng minh “lòng dân” là cội nguồn sức mạnh của đất nước nói chung

và sức mạnh quốc phòng nói riêng Đối với mỗi chế độ xã hội, “lòng dân” là khái niệmchỉ trạng thái tinh thần, niềm tin, sự đồng lòng của người dân với chế độ xã hội và giaicấp nắm quyền lãnh đạo xã hội Đây là yếu tố rất quan trọng có tính quyết định đến sứcmạnh, sự hưng thịnh hay suy vong của mỗi triều đại, quốc gia, dân tộc Sức mạnh “lòngdân” chính là sức mạnh của dân tộc Lòng dân yên ổn thì đất nước vững vàng, phát triển

Trang 9

“Thế trận lòng dân” được hiểu là tinh thần yêu nước, tình đoàn kết gắn bó, khát vọng độclập tự do, ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất của cả dân tộc được hội tụ, kết tinh, nhânlên tạo thành nền tảng chính trị vững chắc, sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, sẵn sànghuy động nhằm thực hiện các mục tiêu của cách mạng “Thế trận lòng dân” là loại hìnhthế trận đặc biệt, không thể hiện ra bằng hình hài cụ thể như thế trận quân sự, quốc phòng

mà được thể hiện bằng sức mạnh nội sinh của quốc gia, dân tộc theo từng cấp độ khácnhau “Lòng dân” và “thế trận lòng dân” là hai mặt của một vấn đề có mối quan hệ biệnchứng “Lòng dân” luôn tồn tại khách quan nhưng “lòng dân” có được quy tụ trở thànhsức mạnh tổng hợp hay không còn tùy thuộc vào nỗ lực chủ quan của con người Điều nàyđòi hỏi giai cấp nắm quyền lãnh đạo xã hội, trực tiếp là lực lượng chính trị đại diện phảitiến hành đồng bộ nhiều giải pháp để định hướng, tập hợp, quy tụ “lòng dân” về một mối.Chỉ có như vậy “lòng dân” mới hội tụ trở thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia, dân tộc.Thực chất đó chính là vai trò của lực lượng nắm quyền lãnh đạo xã hội trong việc chuyểnhóa “lòng dân” thành “thế trận lòng dân” Khi được xây dựng vững chắc “thế trận lòngdân” sẽ tác động trở lại làm cho “lòng dân” phát triển hài hòa

Bài học sâu sắc nhất mà Đảng ta rút ra từ thực tiễn cách mạng là phải huy động, tậphợp được sức mạnh của đông đảo các tầng lớp nhân dân Đại hội VI của Đảng xác định:

“Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”

Trong các kỳ Đại hội VII và Đại hội VIII, bài học “lấy dân làm gốc” tiếp tục được Đảng

ta khẳng định Văn kiện Đại hội IX, trong phần đánh giá quá trình đổi mới Đảng ta mộtlần nữa chỉ rõ: “đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân” Đến Đại hội lầnthứ XII, một trong năm bài học được Đảng ta đúc kết, đó là: “Đổi mới phải luôn luônquán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vaitrò làm chủ, tinh thần trách nhiệm

Tuy chưa sử dụng thuật ngữ “thế trận lòng dân” nhưng tư tưởng, quan điểm phát huysức mạnh “lòng dân” đã được Đảng ta nhất quán khẳng định trong đường lối quốc phòng.Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trongtình hình mới, Đảng ta khẳng định: “Sức mạnh của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hìnhmới chính là sức mạnh tổng hợp Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, sức

Trang 10

mạnh của chế độ chính trị, sự trong sạch đội ngũ cán bộ và sức mạnh đại đoàn kết toàndân tộc là nhân tố quyết định” Đến Đại hội X, Đảng ta lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ

“thế trận lòng dân” Trong văn kiện Đại hội X, Đảng ta xác định: “Xây dựng “thế trậnlòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc

Phát triển quan điểm “lấy dân làm gốc”, Đảng ta chủ trương: Xây dựng “thế trận lòngdân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, tại Nghị quyết Đại hội XI,Đảng ta chỉ rõ: “Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xâydựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắctrong thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc” Để tăng cường “thế trận lòng dân” đáp ứng yêucầu mới của cách mạng, văn kiện Đại hội XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng “thếtrận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền QPTD và nền ANND” Trong nhiệm kỳĐại hội XII, quan điểm của Đảng ta về xây dựng “lòng dân” và “thế trận lòng dân” được thểhiện sâu sắc hơn một bước Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương ban hànhnhiều chỉ thị, nghị quyết về vấn đề này Đặc biệt, trước tình trạng một bộ phận cán bộ, đảngviên mắc bệnh quan liêu, xa dân, để củng cố “thế trận lòng dân”, Ban Chấp hành Trung ươngkhóa XII đã ban hành Quy định số 08, yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồngchí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương phải nghiêm khắc với bảnthân và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, chống độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xadân, vô cảm trước những khó khăn của nhân dân Khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng

có tính cốt tử của “lòng dân” và “thế trận lòng dân

Cùng với khẳng định, nâng tầm “thế trận lòng dân” là một trong những sức mạnh nội sinhcủa dân tộc, văn kiện Đại hội XIII cũng nêu vấn đề này một cách rõ nét, toàn diện hơn, đó là:

“Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh, xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòngdân” trong nền QPTD và nền ANND; xây dựng, củng cố vững chắc thế trận QPTD và thếtrận ANND” Điều này có nghĩa phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” phải gắn với tăngcường tiềm lực quốc phòng và an ninh, đặt trong nền QPTD và nền ANND; xây dựng, củng

cố “thế trận lòng dân phải gắn bó chặt chẽ với xây dựng, củng cố thế trận QPTD

Mặt khác, văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: "Củng cố quốc phòng, bảo vệvững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của

Trang 11

Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó QĐND là nòng cốt" Đây làquan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta Không phải đến bây giờ màtrong rất nhiều văn kiện Đảng ta đã khẳng định, xây dựng “thế trận lòng dân”, nền QPTDvững mạnh là nhiệm vụ không của riêng ai mà đó là sự nghiệp cách mạng, là trách nhiệmcủa toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, trong đó QĐND là nòng cốt.Việc xây dựng QĐND-một đội quân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” vớivai trò nòng cốt của “thế trận lòng dân”, của nền QPTD cũng chính là thể hiện tư tưởng,quan điểm.

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo: “Phải biết dựa vào dân, lắngnghe dân, cái gì mà quần chúng nhân dân hoan nghênh, ủng hộ thì chúng ta phải quyếttâm làm và làm cho bằng được; ngược lại, cái gì nhân dân không đồng tình, thậm chí cămghét, phản đối thì chúng ta phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các saiphạm” (5) Đặc biệt, trong bài: “Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưađất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới”, Tổng Bí thư nêu lại những bài học kinhnghiệm, trong đó khẳng định: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, luôn xácđịnh "dân là gốc", thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhândân ” Niềm tin của nhân dân chính là sức mạnh của Đảng, sức mạnh của “thế trận lòngdân”, của nền QPTD “Dân” là một khái niệm mang tính lịch sử Khái niệm “dân” trong

tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm mọi người Việt Nam, là “con dân nước việt”, “mỗi mộtcon Rồng cháu Tiên”, không phân biệt “ già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo”, trong đó đông đảonhất, chiếm tuyệt đại đa số là công dân và nông dân

Tin dân, dựa vào dân trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh là sự kế thừa vànâng cao tư tưởng chính trị truyền thống của dân tộc: “nước lấy dân làm gốc”, “chởthuyền là dân, lật thuyền cũng là dân” Tin dân, dựa vào dân trong tư tưởng đại đoàn kết

Hồ Chí Minh cũng là sự tiếp thu sâu sắc trong nhận thức, tình cảm và hành động theonguyên lý chủ nghĩa Mác – Lênin: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”

Tin dân, dựa vào dân, sống và đấu tranh vì dân là nguyên tắc tối cao trong tư duy vàhoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh Người khái quát sâu sắc rằng: “Trong bầu trời không

gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân

Trang 12

dân Có thể nói, mọi tư tưởng, mọi sáng tạo của Hồ Chí Minh đều xuất phát từ lòng yêuthương, kính trọng, tin tưởng ở nhân dân Bởi vì, theo nguyên tắc đại đoàn kết Hồ ChíMinh lấy dân là gốc, là nền tảng, là chủ thể của đại đoàn kết; dân là nguồn sức mạnh vôtận của khối đại đoàn kết, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng; dân cũng là chỗ dựavững chắc của Đảng, của hệ thống chính trị.

Qua hoạt động thực tiễn phong phú và sinh động của Hồ Chí Minh, càng thấy rõ tưtưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh là vấn đề chiến lược - đoàn kết chân thành, lâu dài, trongsáng, thủy chung, “thanh khiết từ lớn đến nhỏ” như lời nhận xét của Đại tướng VõNguyên Giáp: “Trong lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong suốtquá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi lực lượng củanhân dân, của dân tộc là lực lượng quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Chiến lượccủa Người là đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn dân tộc”

Tin dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của Nhân dân trong tư tưởng đại đoànkết Hồ Chí Minh là sự kế thừa và nâng cao tư tưởng chính trị truyền thống của dân tộc:

“Nước lấy dân làm gốc”, “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân” Đồng thời đó là sựtiếp thu sâu sắc trong nhận thức, tình cảm và hành động theo nguyên lý chủ nghĩa Mác -Lênin: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” Hồ Chí Minh coi đoàn kết là một chiếnlược, nhân tố cơ bản và là nhiệm vụ hàng đầu của đảng cách mạng Từ khi truyền bá chủnghĩa Mác Lênin về nước đến cuối đời, mọi suy nghĩ, hành động của Người xoay quanhnhững vấn đề cơ bản liên quan đến Nhân dân: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinhhạnh phúc, dân trí nâng cao, dân chủ thực hành; quan hệ của Nhân dân đối với hệ thốngchính trị, chế độ chính trị, sự nghiệp chính trị Chính Nhân dân là cơ sở, động lực, đồngthời cung cấp phương hướng để giải quyết những vấn đề mà cách mạng đang đặt ra.Theo Bác, điều đầu tiên khi xây dựng lực lượng đại đoàn kết dân tộc là phải: Tin vào dân,dựa vào dân Hồ Chí Minh cho rằng dân là gốc rễ, là nền tảng của khối đại đoàn kết Do đókhi trở thành người lãnh đạo, Bác đặt niềm tin tuyệt đối vào Nhân dân, ngay cả khi cáchmạng đang trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc, Người vẫn một lòng tin tưởng vào Nhân dân.Người tin rằng “có dân sẽ có tất cả”, “có dân việc gì cũng làm được” và Người thường độngviên, nhắc nhở “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt Lúc họ đã

Trang 13

hiểu thì việc khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”

Với kinh nghiệm hoạt động cách mạng phong phú, Bác nhận thấy rằng dân chúng taimắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làmđược Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”(2) Bác nói: Trong bầu trờikhông gì quý bằng Nhân dân, trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết củaNhân dân” Đặc biệt, Bác luôn nhắc lại câu ca dao của bà con Quảng Bình khi nói đến vai tròcủa nhân dân: “Dễ mười lần không dân cũng chịu Khó trăm lần dân liệu cũng xong”

Thứ hai, để đạt mục tiêu của đại đoàn kết thì nắm vững nguyên tắc: Phấn đấu vìquyền lợi của Nhân dân Trước khi cách mạng thành công, điều Bác luôn trăn trở, bănkhoăn là làm thế nào để đưa dân lên địa vị làm chủ chế độ chính trị? Làm thế nào để xâydựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân? Hồ Chí Minh không nhìn lên trời để tìmcách thức từ những đấng siêu nhiên, không nhìn vào kinh đô tráng lệ để trông cậy vươngquyền, không ỷ vào lực lượng bên ngoài nước để cầu mong cứu viện mà Người nhìnvào đời sống, mong ước của Nhân dân để tìm phương thức giải quyết vấn đề do chínhNhân dân đặt ra, phương thức đó chính là tập hợp, đoàn kết, phát huy vai trò, sức mạnhcủa Nhân dân Mặt trận phản đế ra đời ngày 18/11/1930, Hiến pháp năm 1946 ra đời ngaykhi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã minh chứng cho quan điểm phấnđấu vì quyền lợi của Nhân dân của Bác

Sau khi đã giành được độc lập rồi thì vấn đề quan trọng là hạnh phúc tự do củaNhân dân Với nhận thức đó, đi đôi với chỉ đạo kháng chiến, Hồ Chí Minh tập trung vàonhiệm vụ kiến quốc Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi

mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trịcủa tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”

Có thể thấy, quan điểm tin dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của Nhân dânkhông chỉ là động lực hình thành mà còn là điều kiện, nguyên tắc đảm bảo cho tư tưởngchính trị Hồ Chí Minh đúng đắn, đi vào thực tiễn, khẳng định trong thực tiễn Đây được xem

là nguyên tắc tối cao trong tư duy và hoạt động thực tiễn của Người Những thắng lợi củacách mạng Việt Nam trong hơn 90 năm qua đã chứng minh trên thực tế nguyên tắc tin vàodân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của Nhân dân là cội nguồn sức mạnh của Đảng

Trang 14

Trong điều kiện ngày nay, để hoàn thành nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, yêu cầu mỗicán bộ, đảng viên phải nhận thức đúng, đủ tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh,

từ đó vận dụng vào thực tiễn công tác của mình Luôn xác định mình là cầu nối giữa Đảngvới Nhân dân nên phải hướng về cơ sở, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của cơ sở, từ đó mới

tổ chức họ, hướng dẫn họ, đoàn kết họ, phát huy năng lực sáng tạo của họ, huy động đức, tàicủa họ vào xây dựng đường lối, chính sách, bảo vệ và xây dựng đất nước

Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nền tảng lý luận cơ bản đểĐảng Cộng sản Việt Nam xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc Vấn đề dân tộc cũngđược xem như vấn đề có vị trí chiến lược.Trong từng giai đoạn cách mạng, vấn đề này đượcnhận thức và giải quyết theo từng quan điểm cụ thể, phù hợp với tình hình thực tiễn

Thứ nhất, Đảng và Nhà nước ta dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin vềnhững đặc trưng cơ bản của dân tộc để làm cơ sở lý luận cho việc xây dựng chính sáchdân tộc Theo đó, dân tộc được hiểu là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của

xã hội loài người Dân tộc là cộng đồng người gắn liền với xã hội có Nhà nước, có giaicấp Là một khái niệm đa nghĩa, tuy nhiên xét về cơ bản, dân tộc được hiểu theo hainghĩa Theo nghĩa rộng, dân tộc – quốc gia (nation) là chỉ một cộng đồng chính trị - xãhội rộng lớn, gồm nhiều cộng đồng tộc người, được chỉ đạo bởi một Nhà nước, thiết lậptrên một lãnh thổ nhất định[1] Cộng đồng người cùng một ngôn ngữ, văn hoá, sắc tộc,nguồn gốc hoặc lịch sử và gắn liền với một quốc gia cụ thể nên còn gọi là quốc dân Vídụ: dân tộc Việt Nam, dân tộc Lào…Theo nghĩa hẹp, dân tộc (ethnic) là cộng đồng mangtính tộc người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệtbởi 3 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tínhbền vững qua hàng nghìn năm lịch sử Ví dụ: dân tộc Thái, dân tộc Khmer

Đồng thời, qua nghiên cứu và vận dụng lý luận về hai xu hướng khách quan trong

sự phát triển của dân tộc và quan hệ dân tộc cũng như Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩaMác - Lênin đã giúp cho Đảng ta có những quan điểm đúng đắn, phù hợp khi giải quyếtcác quan hệ dân

Thứ hai, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ và trách nhiệmcủa toàn hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta…Và vấn đề được đặt

Trang 15

ra là chúng ta phải biết quán triệt và vận dụng một cách đúng đắn, phù hợp những quanđiểm, đường lối của Đảng vào từng giai đoạn và hoàn cảnh lịch sử của từng dân tộc trongcộng đồng 54 dân Theo đó, Đảng ta khẳng định: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoànkết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên conđường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dântộc Việt Nam…”[2] Qua các kỳ Đại hội, Đảng ta luôn nhất quán trong chủ trương, đườnglối và giữ vững nguyên tắc thực hiện chính sách dân tộc Gần đây nhất, tại Đại hội Đạibiểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã nêu rõ “ Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lượctrong sự nghiệp cách mạng của nước ta Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, đảmbảo các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dântộc, giúp nhau cùng phát triển…”[3] Đồng thời, trên cơ sở thực tiễn về đặc điểm cơ bảncủa quá trình phát triển tộc người và hình thành dân tộc - quốc gia ở Việt Nam mà Đảng

ta đã lấy làm căn cứ để đề ra những chính sách dân tộc hiện nay

Một là, các dân tộc Việt Nam cư trú, sinh sống xen kẽ nhau và có sự chênh lệch khálớn về nhiều mặt Trong 54 dân tộc anh em, dân tộc Kinh lại chiếm đa số khoảng 86% dân số

cả nước và chủ yếu sinh sống tại các thành phố, vùng đồng bằng, trung du Trong khi đó, 53dân tộc còn lại chỉ chiếm khoảng 14% dân số cả nước và tập trung chủ yếu ở vùng núi, biêngiới, hải đảo, như: Tây Bắc, Tây Nguyên và một số tỉnh khu vực duyên hải miền Trung…Hai là, các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, gắn bó lâu đờitrong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước Những người anh hùng dân tộc như anhhùng Núp (dân tộc Ba Na) trong kháng chiến chống Pháp, đồng bào dân tộc Pa Cô anh dũngtrong kháng chiến chống Mỹ, đó là những tấm gương tiêu biểu của đồng bào dân tộc thiểu sốgóp phần vào thành công chung của cách mạng nước nhà Ba là, các dân tộc Việt Nam đều cómột bản sắc riêng tạo nên sự thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam Trong đó, thìbản sắc văn hóa của các dân tộc chính là yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam nóichung Bốn là, xuất phát từ những vấn đề thực tiễn đã và đang đặt ra hiện nay cũng chính là

cơ sở quan trọng để đề ra những chính sách dân tộc đúng đắn, phù hợp Có thể thấy, vừa qua,một số vụ bạo loạn xảy ra ở Tây Nguyên, Tây Bắc do các thế lực thù địch công kích, lợi dụngnhững sơ hở, thiếu sót của ta trong thực hiện các chính

Trang 16

sách dân tộc, tôn giáo nhằm âm mưu chia rẽ, phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc của ta.Điều này đòi hỏi Đảng, Nhà nước cũng như các cấp, các ngành cần có những giải phápmềm mỏng, phù hợp để thực hiện các chính sách dân tộc hiện nay cũng như trong giaiđoạn tiếp theo.

1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng “tin dân, dựa vào dân” của Hồ Chí Minh

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc vềnhững vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triểnsáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển cácgiá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinhthần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệpcách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi” Bao trùm toàn bộ tư tưởng của Hồ Chí Minh

là lòng yêu nước, thương dân với mong muốn là nước nhà được độc lập, nhân dân được

tự do, ấm no, hạnh phúc Đó chính là những nội dung quan trọng trong tư tưởng “tin dân,dựa vào dân” Tư tưởng “tin dân, dựa vào dân” của Hồ Chí Minh xuất phát từ thực tiễnlịch sử của cách mạng Việt Nam, cũng như các tư tưởng khác, nó không phải tự nhiên mà

có, không phải hình thành trong ngày một, ngày hai mà đó là một quá trình lâu dài tìm tòi,xác lập và có sự kế thừa, phát triển, hoàn thiện các tư tưởng trước đó, gắn liền với quátrình hoạt động cách mạng phong phú của Người Tư tưởng đó cũng là sự kế thừa tưtưởng tin dân, dựa vào dân trong truyền thống lịch sử của dân tộc, tiếp thu tư tưởng “Dĩdân vi bản” của Nho giáo, tư tưởng Tam dân của Tôn Trung Sơn, đặc biệt là tiếp thu quanđiểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chúng nhân dân và vai trò của quần chúng nhân dântrong lịch sử cộng với quá trình hoạt động thực tiễn phong phú của Người đã góp phầnhình thành nên tư tưởng của Hồ Chí Minh về “tin dân, dựa vào dân”

1.2.1 Kế thừa tư tưởng “tin dân, dựa vào dân” trong truyền thống dân tộc

Thứ nhất, kế thừa từ những giá trị truyền thống dân tộc Từ thực tiễn của nhu cầudựng nước và giữ nước, người Việt Nam ý thức được muốn đánh thắng được giặc ngoạixâm thì phải tập hợp được sức mạnh của toàn thể dân tộc Muốn vậy thì phải thương dân,yêu dân kính dân, phải “tin dân, dựa vào dân” Tư tưởng “tin dân, dựa vào dân” của ông

Trang 17

cha ta được hình thành trên cơ sở thực tiễn đó Tư tưởng chính trị “tin dân, dựa vào dân”trong lịch sử dân tộc ta có nội dung phong phú và sâu sắc, được thể hiện dưới nhiều hình thức

cụ thể khác nhau, phổ biến là trong văn thơ, những lời nói được lịch sử ghi lại và bằng cáchành động thực tiễn của các nhà tư tưởng từ chính trí tuệ, tư tưởng, tình cảm của những conngười ưu tú Nhân dân đã sản sinh ra họ, nuôi dưỡng họ và thực tiễn lịch sử đã tạo ra những

cơ hội lớn để họ thể hiện tài nẵng tâm huyết của mình phục vụ đất nước, dân tộc mình bằngnhững chiến công hiển hách: Phạt Tống, bình Chiêm, chống quân Mông Nguyên và ách đô hộcủa nhà Minh, Thanh Nhà nghiên cứu Lê Thị Oanh đã nhận xét: “Trên cơ sở hoạt động thựctiễn của mình những nhà tư tưởng tải ba, nhà quân sự lỗi lạc như: Lý Thường Kiệt, TrầnQuốc Tuấn, Nguyễn Trãi đã đúc rút nên những vấn đề mang tính quy luật trong dựng nước

và giữ nước, phát huy vai trò chỉ đạo thực tiễn, giải quyết kịp thời những đòi hỏi mà lịch sửđặt ra là phải dựa vào dân, sức mạnh của dân để bảo vệ đất nước Muốn vậy thì phải “khoanthư sức dân “phải” thực hành nhân nghĩa đối với dân” lo cho dân an cư lạc nghiệp sống hạnhphúc ấm no thì trong thời chiến mới có thể dựa vào kháng chiến thắng lợi Một nhà nướcđược sự ủng hộ của nhân dân thì không kẻ địch nào đánh thắng được và trường tồn mãi mãi.Ngược lại nếu không biết dựa vào dân thì sẽ suy tàn, diệt vong Thực tiễn đã chứng minh điều

đó Như vậy, tư tưởng “tin dân, dựa vào dân” ra đời trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm dựngnước và giữ nước của dân tộc Nó mang tính quy luật và có ý nghĩa phổ biến cho nhiều giaiđoạn lịch sử còn có giai cấp và đấu tranh giai cấp Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển các

tư tưởng tư tưởng này lên một tầm cao mới, đáp ứng được đòi hỏi của lịch sử Tư tưởng cơbản của Hồ Chí Minh về vấn đề này và trở thành quan điểm cơ bản trong đường lối của ĐảngCộng sản Việt Nam Thứ hai, ảnh hưởng từ tư tưởng “thân dân” của cụ Nguyễn Sinh Sắc.Tiếp sau 1 truyền thống dân tộc, truyền thống gia đình cũng là một nhân tố quan trọng giúpcho Hồ Chí Minh sớm hình thành tư tưởng coi trọng dân, hiểu dân, đánh giá cao vai trò củadân Cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh, là một người có tưtưởng yêu nước, thương dân Với quan niệm học để làm người chứ không phải học để làmquan, và lại trong thời kỳ đất nước ta bị thực dân pháp thống trị, làm quan là làm tay sai chogiặc, là đắc tội với đồng bào nên sau khi thi đỗ Phó bảng (năm 1901), cụ đã lần lửa ra làmquan nhiều năm Mãi đến năm 1906, cụ được

Ngày đăng: 28/08/2023, 16:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(1) Giáo trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh”, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh”
(2) Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch
Nhà XB: Nxb Vănhọc
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
(4) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Maxcơva, 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
(5) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002 (6) Ph.Ăngghen: “Chống Đuyrinh”, trong C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2002
(7) Về những cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, 31/10/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về những cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w