1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và kinh doanh mặt hàng thực phẩm tươi sống tại hà nội hiện nay 1

103 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đạo Đức Kinh Doanh Trong Sản Xuất Và Kinh Doanh Mặt Hàng Thực Phẩm Tươi Sống Tại Hà Nội Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Đạo Đức Kinh Doanh
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 10,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số yếu tố ảnh hưởng đến Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng thực phẩm tươi sống 18 1.5.1... Một số hậu quả để lại từ việc vi phạm đạo đức kinh doanh 55 CHƯƠNG 3: M

Trang 1

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU, BIỂU ĐỒ

CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG SẢN XUẤT VÀ

KINH DOANH MẶT HÀNG THỰC PHẨM TƯƠI SỐNG 3

1.1 Lý luận chung về Đạo đức kinh doanh 3

1.1.1 Khái niệm về Đạo đức 3

1.1.2 Các quan điểm về Đạo đức kinh doanh 5

1.1.3 Đối tượng điều chỉnh và phạm vi áp dụng của đạo đức kinh doanh 6

1.1.4 Vai trò của đạo đức kinh doanh 7

1.1.5 Nguyên tắc, chuẩn mực của đạo đức kinh doanh 9

1.2 Khái luận về thực phẩm tươi sống 12

1.2.1 Khái niệm thực phẩm tươi sống 12

1.2.2 Đặc điểm cơ bản của thực phẩm tươi sống 13

1.2.3 Vai trò của thực phẩm tươi sống 13

1.3 Các chủ thể tham gia vào quy trình sản xuất kinh doanh mặt hàng thực

1.4.3 Biểu hiện trong mối liên hệ với môi trường tự nhiên 17

1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và tiêu

thụ mặt hàng thực phẩm tươi sống 18

1.5.1 Nhóm yếu tố chủ quan 18

Trang 2

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC KINH DOANH TRONG SẢN

XUẤT VÀ KINH DOANH THỰC PHẨM TƯƠI SỐNG23

2.1 Khái quát đặc điểm thị trường Hà Nội 23

2.5 Một số hậu quả để lại từ việc vi phạm đạo đức kinh doanh 55

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC TRONG SẢN

XUẤT VÀ KINH DOANH CÁC MẶT HÀNG THỰC PHẨM TƯƠI, SỐNG TẠI HÀ NỘI 60

3.1 Giải pháp của Chính phủ nhằm hạn chế vi phạm đạo đức kinh doanh

trong sản xuất và kinh doanh mặt hàng thực phẩm tươi sống 60

3.1.1 Ban hành các quy định liên quan tới vấn đề đạo đức kinh doanh trong sản xuất

và tiêu thụ mặt hàng tươi sống 60

3.1.2 Chú trọng nghiên cứu và tìm ra nguồn giống cây con hiệu quả, năng suất, xây

dựng quy trình bảo quản, chế biến hợp lý, hiệu quả 62

3.1.3 Xây dựng và bước đầu triển khai đề án rau an toàn tiêu chuẩn VietGAP 63 3.1.4 Bước đầu xây dựng đươc các điểm bán rau sạch, rau an toàn 67

3.2 Giải pháp từ phía người dân 67

3.2.1 Xây dựng và nhân rộng mô hình kinh tế trang trại 67

3.2.2 Tích cực tham gia dự án rau an toàn và phát triển hệ thống điểm bán rau an

toàn và thịt sạch 69

Trang 3

3.4 Nhóm giải pháp tác động tới tổng cầu 74

3.4.1 Nâng cao nhận thức trong việc bảo vệ NTD 74

3.4.2 Một số kiến nghị Nhà nước và các cơ quan chức năng76

3.5 Đánh giá về chương trình bình ổn giá 78

Trang 4

Chữ cái viết tắt Xin đọc là

Trang 5

BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1: Tổng hợp số liệu về mức độ tiêu dùng của người sản xuất với các mặt

hàng họ sản xuất 26 Bảng 2.2: Tổng hợp kết quả điều tra về cách nhận biết sản phẩm sạch của 42

người tiêu dùng 42 Bảng 2.3 Đánh giá về chất lượng sản phẩm tươi sống của người tiêu dùng 43 Bảng 2.4: Đánh giá của người sản xuất về chất lượng sản phẩm mà họ đang sản

xuất 45 Bảng 2.5: Bảng tổng hợp đánh giá của người bán hàng về chất lượng sản phẩm

của họ 46 Bảng 2.6: Lợi ích từ việc sản xuất rau muống theo các cách khác nhau 48

Bảng 2.7: Thống kế số vụ ngộ độc thực phẩm giai đoạn 2002 – 2011 56

Bảng 2.8: Tổng hợp số lần bị ngộ độc thực phẩm của người tiêu dùng 56

Trang 6

BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Giá một số mặt hàng thực phẩm tháng 7/2010 và tháng 6 năm 2011 38 Biểu đồ 2.2: Chỉ số giá tiêu dùng 3/2011 – 3/2012 41 Biểu đồ 2.3: Biểu đồ đánh giá về chất lượng sản phẩm tươi, sống của người tiêu

dùng 43 Biểu đồ 2.4: Quan điểm của người sản xuất về mặt hàng mà họ sản xuất 45 Biểu đồ 2.5: Giản lược Mô hình quản trị thông tin trong quản trị kinh doanh 53 Biểu đồ 2.6: Phản ứng của người tiêu dùng trước hiện tượng vi phạm đạo đức kinh

doanh về sản xuất và tiêu thụ mặt hàng thực phẩm tươi, sống 54 Biểu đồ 2.7: Đánh giá mức độ ngộ độc thực phẩm của các đối tượng liên quan 57 Biểu đồ 3.1: Mối quan hệ “bốn nhà” trong sản xuất và kinh doanh mặt hàng thực

phẩm tươi sống 74

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam cũngngày càng được cải thiện, điều này thể hiện ở chất lượng bữa ăn hằng ngày, dịch vụ chămsóc y tế, giáo dục… Tuy nhiên, một thực tế nảy sinh đó là vấn đề “đầu độc hóa con người”chạy theo lợi nhuận của một số cá nhân tham gia vào hoạt động kinh doanh

Trong nền kinh tế hiện nay, với mỗi chủ thể kinh doanh nói chung, mục tiêu cuốicùng của mỗi người đó là tồn tại và phát triển Để đạt được điều đó thông thường cácchủ thể sẽ nghĩ ngay tới tối đa hóa nguồn thu để tạo ra nhiều lợi nhuận Với những suynghĩ đơn giản đó mà không ít người đó dựng mọi cách để kiếm lời thậm chí tới mức viphạm pháp luật, vi phạm đạo đức kinh doanh gây ảnh hưởng xấu tới môi trường xungquanh, tới con người và xã hội mà báo đài cũng như các phương tiện truyền thông đãđưa tin Có thể nhận thấy rõ ràng nhất trong cuộc sống hiện nay là những mặt hàng màchúng ta tiêu dùng hàng ngày như các sản phẩm tươi sống, năng lượng, … trong cảvấn đề chất lượng sản phẩm cũng như giá cả Biểu hiện thông qua việc chốn giỏ, ộpgiỏ đẩy giá lên cao hay như việc sản xuất và kinh doanh những sản phẩm không đảmbảo chất lượng, làm giả, có chứa những chất độc hại, … Những hành vi này khôngnhững ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của người dân mà con ảnh hưởng tới hiệu quả củacác chính sách kinh tế nhằm thúc đẩy nền kinh tế

Mặc dù thực trạng này đã diễn ra trong thời gian dài và các cơ quan chức năngcũng có những quy định, giải quyết nhưng lại chưa được đề cập đến nhiều trong cáccông trình nghiên cứu Trong khi đó tìm hiểu kỹ về vấn đề này sẽ giúp mọi người cócái nhìn chân thực hơn về vấn đề đạo đức của các chủ thể tham gia vào quá trình sảnxuất và tiêu thụ các mặt hàng thực phẩm tươi sống

Với tất cả những lý do trờn, nhúm chúng em lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Đạo

đức kinh doanh trong sản xuất và kinh doanh mặt hàng thực phẩm tươi sống tại

Hà Nội hiện nay” với mong muốn cung cấp cho mọi người một cái nhìn khái quát

nhất về thị trường thực phẩm tươi sống Hà Nội cũng như những nguy cơ tiềm ẩn từbài toán lợi nhuận trong kinh doanh các mặt hàng thực phẩm này Trên cơ sở đó, nhómnghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao đạo đức kinh doanh của các đốitượng liên quan

Trang 8

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tập trung phân tích, đánh giá thực trạng về Đạo đức kinh doanh trongviệc tiêu dùng sản phẩm tươi sống cũng như giải pháp của cỏc bờn liên quan Qua đó,nhóm cũng đề xuất những kiến nghị nhằm giải quyết vấn đề này

3 Đối tượng – phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề đạo đức kinh doanhcủa các cá nhân, hộ gia đình sản xuất, tiêu thụ các mặt hàng tiêu dùng mà tập trungnhất là mặt hàng thực phẩm tươi sống

- Phạm vi nghiên cứu: Nhóm tập trung nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội, đây là địabàn tập trung đông dân cư và vấn đề vi phạm đạo đức kinh doanh trong mặt hàng tiêudùng là rõ rệt nhất

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tài liệu

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp thống kê toán học

Trang 9

CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG SẢN XUẤT VÀ KINH

DOANH MẶT HÀNG THỰC PHẨM TƯƠI SỐNG 1.1 Lý luận chung về Đạo đức kinh doanh

1.1.1 Khái niệm về Đạo đức

Đạo đức kinh doanh là một phạm trù, một mặt biểu hiện của đạo đức Chính vì thế, sẽ

là thiếu sót nếu ta không đi tìm hiểu từ cái chung nhất đú chớnh là về vấn đề đạo đức khái niệm, đặc điểm cũng như vai trò của đạo đức

-Đạo đức là một phạm trù rất rộng đề cập tới con người và các quy tắc ứng xửtrong mối quan hệ giữa con người với con người trong các hoạt động sống Tùy theođặc điểm, kinh tế - chính trị - xã hội mà có những quan điểm khác nhau về Đạo đức

Từ lâu, con người đã nghiên cứu về vấn đề đạo đức và có những quan điểm riêng vềđạo đức Theo Khổng tử: Đạo đức là cách sống làm sao đỳng “luõn thường” Cũn Lóo

tử thì cho rằng Đạo đức là việc tu thân tới mức hiệp nhất với trời đất, an hoà với mọingười Ngoài ra, nhiều người cho rằng Đạo đức chính là Đức hạnh – là phẩm hạnh vốn

có của con người Với những quan điểm Duy tâm thì Đạo đức là do một năng lực siêunhiên tạo ra, một đấng tối cao dành cho mỗi người và bản thân con người không thểđiều khiển được

Từ góc độ khoa học, “Đạo đức là một bộ môn khoa học nghiên cứu về bản chất

tự nhiên của cỏi đỳng – cái sai và sự phân biệt khi lựa chọn giữa cỏi đỳng – cái sai,triết lý cỏi đỳng – cái sai, quy tắc hay chuẩn mực chi phối hành vi của các thành viêncủa một nghề nghiệp”,1 Là môn khoa học nghiên cứu về hành vi và cách ứng xửtrong mối quan hệ con người, đạo đức trở thành môn học có ý nghĩa thực tiễn rất lớntrong việc thiết lập, xây dựng và phát triển mối quan hệ con người trong xã hội

“Đạo đức là sự nghiên cứu về bản chất và nền tảng của đạo lý trong mối quan hệcon người trong đó đạo lý được hiểu là sự công bằng, chuẩn mực và quy tắc ứng xử” 2Mặc dù Đạo đức được hiểu dưới nhiều giác độ khác nhau nhưng về cơ bản “Đạođức là tập hợp những quan điểm của một xã hội, của một tầng lớp xã hội, của một tậphợp người nhất định về thế giới, về cách sống Nhờ đó con người điều chỉnh hành vicủa mình sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội.”3

1 Từ điển điện tử American Heritage Dictionary

2 Trích dẫn Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty , Trang 16

3 Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trang 10

* Đặc điểm của Đạo đức

Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc nhằmđiều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xãhội,với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai chúng được thực hiệnbởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội Dựa vào địnhnghĩa và những quan điểm của từng tầng lớp chính trị xã hội đạo đức chính là cơ sởđiều chỉnh hành vi của con người 1

Đạo đức là một phạm trù lịch sử, tại mỗi thời điểm lịch sử, tại mỗi nền kinh tế chính trị khác nhau thì đạo đức được hiểu khác nhau Trong xã hội có giai cấp thì cóđạo đức của giai cấp bóc lột, đạo đức giai cấp bị bóc lột Các quan điểm của mỗi giaicấp thì thường bảo vệ giai cấp mỡnh Đõy cũng chính là một trong những nguyên nhânnảy sinh mâu thuẫn, và việc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn

Phân loại Đạo đức: Việc phân loại Đạo đức thường rất khó thực hiện bởi luụn

cú sự chồng lẫn với mỗi mối quan hệ Một người trong gia đình có thể giữ nhiều vaitrò như là chồng/ vợ, ông/ bà, cha/mẹ, con, anh/chị, … nhưng ngoài xã hội thì lại giữđịa vị khác như là giám đốc một công ty, công nhân, bác sĩ và ở mỗi địa vị đú thỡ mốiquan hệ nảy sinh lại khác nhau và đạo đức lại biểu hiện khác nhau Chính vì thế, dựavào đặc điểm đó, theo quan điểm của cá nhân thì đạo đức được chia thành theo chủ thểhoặc theo mối quan hệ kinh tế - chính trị

 Theo mối quan hệ của chủ thể là con người: Trong gia đình có đạo đức hônnhân, đạo đức của con cái với cha mẹ quy định cái đạo làm con với cha mẹ, đạo đức

vợ chồng, đạo đức của cha mẹ với con cái, đạo đức anh chị em Trong mối quan hệ vớingười xung quanh thì cũng có đạo đức trong việc đối nhân xử thế Như vậy, đạo đứcmang bản chất xã hội, được quy định, đánh giá bởi dư luận xã hội, của những ngườixung quanh

 Xét trong từng lĩnh vực kinh tế - chính trị thì bao gồm đạo đức kinh tế và đạođức chính trị Nhìn chung không có một tiêu chí nào có thể phân loại rạch ròi từng loạibởi có sự đan xen trong từng loại cũng như từng cách phân loại Việc phân loại nhằmcho thấy đạo đức kinh doanh là một thành tố, một khía cạnh biểu hiện của Đạo đức

1.1.2 Các quan điểm về Đạo đức kinh doanh

1 Học viện chính trị Quốc gia, 2000, Giáo trình đạo đức học Hà Nội- NXB Chính trị Quốc gia, trang 816

Trang 11

Có rất nhiều quan điểm được đưa ra, nhưng trong số đó, quan điểm được coi làđặt viên gạch đầu tiên về vấn đề này đú chớnh là quan điểm của Aristole - trong tácphẩm "Chính Trị Luận" ụng đó chỉ ra những mối quan hệ kinh tế, thương mại và mậudịch dưới nhan đề "hộ gia đình" Trong đó, có nhiều phán xét về sự tham lam và việclạm dụng quá đáng sức lực con người để theo đuổi sự giàu có Ông cũng chỉ trích việccho vay nặng lãi vỡ nú liên quan đến lợi nhuận của bản thân tiền tệ hơn là từ quá trìnhtrao đổi mà trong đó đồng tiền chỉ là một phương tiện và đưa ra định nghĩa cổ điển về

sự công bằng: những người đồng đẳng phải được đối xử bình đẳng, sòng phẳng tronggiao dịch "tiền nào của nấy," và sự tưởng thưởng tương xứng với công lao Theo Giáo

sư James O'Toole của trường Đại học Tổng hợp Nam California cho rằng chính triếtgia thời Hy Lạp cổ đại này là người thực tế nhất và có "tâm hồn doanh nhân" nhấttrong lịch sử triết học của loài người và là người đã đưa ra những luận điểm có thể coi

là cơ sở của đạo đức kinh doanh thời hiện đại

Còn trong nền kinh tế hiện nay, đạo đức kinh doanh được hiểu dưới nhiều góc độkhác nhau Đối với việc bán hàng và quảng cáo thương hiệu, các nhà Doanh nhân nhậnđịnh Đạo đức kinh doanh là hành vi đầu tư vào tương lai Khi doanh nghiệp tạo tiếngtốt sẽ lôi kéo khách hàng Và đạo đức xây dựng trên cơ sở khơi dậy nét đẹp tiềm ẩntrong mỗi con người luôn được thị trường ủng hộ

Với Giáo sư tiến sĩ Koenraad Tommissen, người đã có kinh nghiệm trên 30 nămđiều hành, giảng dạy môn Tư vấn quản trị của chương trình Thạc Sĩ quản trị kinhdoanh MBA của United Business Institutes - UBI (Bỉ) và tư vấn cho các tập đoàn nổitiếng châu Âu và là Giám đốc công ty ESN tại Bruxen, Giám đốc công ty tư vấnAPSIS tại La Hulpe, chủ phòng tranh OPSIS, cho biết: “Đạo đức trong kinh doanh làvấn đề nền tảng của mọi giá trị, là phần không thể tách rời của mọi hoạt động, là kimchỉ nam, là yếu tố cơ bản tạo ra danh tiếng cho một công ty Đạo đức là nền tảng của

sự thành công và phát triển bền vững Ông nhấn mạnh: “Đạo đức được đặt ra và thểhiện khi có sự tương tác với các đối tác, qua cách cư xử với khách hàng, cơ quan chínhquyền, bỏo chớ… Cú những doanh nghiệp công bố rất nhiều các chuẩn mực về đạođức, nhưng nhân viên không biết hoặc không nhớ, điều này sẽ ảnh hưởng nghiêmtrọng đến hình ảnh công ty”1

1 Đạo đức trong kinh doanh, www.vnbrand.net

Trang 12

Theo tác giả, Đỗ Thị Phi Hoài, đạo đức kinh doanh được hiểu là “ một tập

hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn

và kiểm soát hành vi điều chỉnh của chủ thể kinh doanh” 2

Từ những phân tích ở trên, có thể khẳng định Đạo đức kinh doanh bao gồmcác dấu hiệu sau:

- Các quy định, chuẩn mực, nguyên tắc buộc chủ thể kinh doanh phải tuân thủ;

- Hướng dẫn hoạt động sản xuất và kinh doanh của chủ thể kinh doanh;

- Đánh giá, kiểm soát hành vi, hành động và điều chỉnh chủ thể kinh doanh;

- Giúp chủ thể kinh doanh bền vững

1.1.3 Đối tượng điều chỉnh và phạm vi áp dụng của đạo đức kinh doanh

a Đối tượng điều chỉnh của đạo đức kinh doanh là chủ thể hoạt động kinh doanh

Theo nghĩa rộng, chủ thể hoạt động kinh doanh gồm tất cả những ai là chủ thểcủa các quan hệ và hành vi kinh doanh:

- Tầng lớp doanh nhân làm nghề kinh doanh: Đạo đức kinh doanh điều chỉnhhành vi đạo đức của tất cả các thành viên trong các tổ chức kinh doanh (hộ gia đình,công ty, xí nghiệp, tập đoàn) như Ban giám đốc, các thành viên Hội đồng quản trị,công nhân viên chức Sự điều chỉnh này chủ yếu thông qua công tác lãnh đạo, quản lýtrong mỗi tổ chức đó Đạo đức kinh doanh được gọi là đạo đức nghề nghiệp của họ

- Khách hàng của doanh nhân: Khi là người mua hàng thì hành động cuả họ đềuxuất phát từ lợi ích kinh tế của bản thân, đều có tâm lý muốn mua rẻ và được phục vụchu đáo Tâm lý này khụng khỏc tâm lý thích "mua rẻ, bán đắt" của giới doanh nhân,

do vậy cũng cần phải có sự định hướng của đạo đức kinh doanh Tránh tình trạngkhách hàng lợi dụng vị thế "Thượng đế" để xâm phạm danh dự, nhân phẩm của doanhnhân, làm xói mòn các chuẩn mực đạo đức Khẩu hiệu "Bỏn cỏi thị trường cần chứkhông phải bỏn cỏi mỡnh cú" chưa hẳn đúng!!

b Phạm vi áp dụng của đạo đức kinh doanh

Đó là tất cả những thể chế xã hội, những tổ chức, những người liên quan, tácđộng đến hoạt động kinh doanh: thể chế chính trị, chính phủ, công đoàn, nhà cungứng, khách hàng, cổ đông, chủ doanh nghiệp, người làm cụng,…

1.1.4 Vai trò của đạo đức kinh doanh

2 TS.Đỗ Thị Phi Hoài , (2009), “Văn hóa Doanh Nghiệp”, NXB Học viện Tài Chính, 2009, Trang 163

Trang 13

Dựa vào khái niệm về đạo đức kinh doanh ta có thể thấy những vai trò nhất địnhảnh hưởng tới văn hóa của doanh nghiệp.

1.1.4.1 Đạo đức kinh doanh có thể điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh

Câu ngạn ngữ của Ấn Độ “gieo tư tưởng gặt hành vi, gieo hành vi gặt thói quen,gieo thói quen gặt tư cách, gieo tư cách gặt số phận”1 xét trong lĩnh vực kinh doanhmuốn nhấn mạnh tới số phận của một DN đôi khi không phải quyết định bởi bản thâncác sản phẩm – dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng mà chủ yếu bởi nguyên nhân sâu

xa là tư tưởng, triết lý kinh doanh của DN Mà triết lý kinh doanh hay tư tưởng của DNthường được biểu hiện ra bên ngoài bằng từng hành vi của từng chủ thể trong DN đó

1.1.4.2 Đạo đức kinh doanh góp phần vào chất lượng của doanh nghiệp

Thông thường khi nhắc tới chất lượng của DN, mọi người sẽ nghĩ ngay tới chấtlượng sản phẩm của DN Nhưng đó không phải là tất cả với một DN Chất lượng của

DN được thể hiện ở hiệu quả làm việc, sự lãnh đạo của bộ máy quản trị, sự tận tâm củanhân viên với công việc, sự trung thành của khách hàng và lợi ích về kinh tế lớn hơn,

… Nếu một DN được đánh giá là có chất lượng tốt thì những nhân tố ở phía trên đềuđạt được những thành tích cao ĐĐKD sẽ góp phần giúp cho DN đạt được những yếu

tố trên từ đó góp phần làm nên chất lượng của DN

Đạo đức kinh doanh làm gia tăng sự cam kết và tận tâm của nhân viên

Sự cam kết, tận tâm của nhân viên xuất phát từ việc các nhân viên tin rằng tươnglai của họ gắn liền với tương lai của DN và chính vì thế họ hi sinh cá nhân mình vàolợi ích của DN Đạo đức trong môi trường nhân viên thể hiện ở chế độ đãi ngộ hợp lý,

1 TS.Đỗ Thị Phi Hoài, (2009), “Văn hóa Doanh Nghiệp” , NXB Tài Chính, Trang 175

Trang 14

phù hợp với năng lực của nhân viên, được đảm bảo những điều kiện an toàn trong laođộng Trong một DN, nếu nhận được sự ủng hộ từ phía người lao động thì công việccủa DN sẽ đạt hiệu quả cao hơn thể hiện ở năng suất và chất lượng của từng công việc.

Từ đó thấy được vấn đề môi trường kinh doanh có đạo đức sẽ là yếu tố không nhỏ tạonên sự trung thành của nhân viên trong DN

1.1.4.3 Đạo đức kinh doanh góp phần làm hài lòng khách hàng

Một trong những tiêu chí khi các DN kinh doanh là làm gia tăng mức độ hài lòngvới khách hàng Mức độ hài lòng được thể hiện ở việc thỏa mãn những nhu cầu mà họđặt ra Với một DN có đạo đức kinh doanh tốt thể hiện ở việc khách hàng của họ cảmthấy được chăm sóc tốt hơn bằng các chính sách chăm sóc khách hàng, chế độ đãi ngộ

Từ đó, khách hàng muốn dùng tiếp mặt hàng của DN hoặc thậm chí có thể giới thiệuvới người xung quanh mua sản phẩm của DN Từ đó, DN có thể tăng doanh thu, tănglợi nhuận thu được Ngược lại, với DN có ĐĐKD không tốt thì xu hướng tất yếu là

DN sẽ dễ bị thị trường “tẩy chay” Cuộc sống càng phát triển, nhu cầu đòi hỏi củangười dân càng tăng cao, chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để tạo lòng tin với khách hàngcàng lớn “Một lần bất tín, vạn lần bất tin”, xây dựng thương hiệu trong lòng kháchhàng đó khú, giữ gìn và phát triển nó lại càng khó hơn Do vậy, hơn bao giờ hết, vaitrò của ĐĐKD càng được thể hiện rõ hơn

1.1.4.4 Đạo đức kinh doanh góp phần tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp

Theo một công trình nghiên cứu của 2 vị Giáo sư là John Kotter và JamesHeskett ở trường Đào tạo quản lý kinh tế thuộc Harvard, tác giả cuốn sách “Văn hóacông ty và chỉ số hoạt động hữu ớch”, đó nghiên cứu kết quả khác nhau ở các công tyvới truyền thống khác nhau Công trình nghiên cứu của họ cho thấy, trong vòng 11năm, những công ty "đạo đức cao" đó nõng được thu nhập của mình lên tới 682%(trong khi những công ty đối thủ thường thường bậc trung về chuẩn mực đạo đức chỉđạt được 36%) Giá trị cổ phiếu của những công ty "đạo đức cao" trên thị trườngchứng khoán tăng tới 901% (còn ở các đối thủ "kém tắm" hơn, chỉ số này chỉ là 74%).Lãi ròng của các công ty "đạo đức cao" ở Mỹ trong 11 năm đã tăng tới 756% (1%)1

1.1.4.5 Đạo đức kinh doanh góp phần vào sự vững mạnh của nền kinh tế

quốc gia

1 TS.Đỗ Thị Phi Hoài, (2009), “Văn hóa Doanh Nghiệp”, NXB Tài Chính, , Trang 183

Trang 15

Trong nền kinh tế chính trị, các thể chế đóng vai trò quan trọng vào việc kíchthích đầu tư cho các DN không chỉ trong nước cũng như nước ngoài Khi mà các chínhsách của Nhà nước phát huy tốt vai trò trong việc ngăn chặn tình trạng vi phạm ĐĐKDnhư độc quyền, thâu tóm, làm gian bán lận thì thị trường sẽ trở nên hiệu quả hơn Cácđồng vốn của DN sẽ được sử dụng tối đa tạo ra lợi nhuận cao hơn, các khoản chi trảcho người lao động cũng như các quỹ phúc lợi xã hội tăng Từ đó đời sống người laođộng được cải thiện Bên cạnh đó, lợi nhuận DN thu được cao thì khoản thu ngân sáchtăng làm cho bộ máy nền kinh tế - chính trị của một nước càng vững mạnh.

Như vậy, ĐĐKD có một vai trò vô cùng quan trọng tác động tới mọi mặt kinh tếcủa một DN Vai trò của ĐĐKD trong doanh nghiệp thể hiện xuyên suốt trong từng giaiđoạn của nền kinh tế Từng vai trò có tác động lẫn nhau Cụ thể: Đạo đức kinh doanh tốt

sẽ điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh doanh, biểu hiện qua chất lượng sản phẩm đượckiểm tra thường xuyên trước khi tung ra thị trường Chất lượng sản phẩm tốt và hình ảnhmột nhà quản trị luôn biết quan tâm tới xã hội sẽ tạo nên được lòng tin mà khách hàngdành cho từ đó làm tăng doanh thu cho doanh nghiệp và doanh thu tăng thì sẽ tạo công ănviệc làm cho người lao động và tham gia các hoạt động từ thiện, phát triển xã hội Từnhững hoạt động thể hiện đạo đức kinh doanh tốt sẽ xây dựng một lòng tin ở người laođộng từ đó có thể cống hiến hết mình Doanh nghiệp phát triển làm cho tăng nguồn thucho nhà nước cũng như góp phần giảm bớt gánh nặng xã hội từ đó nền kinh tế quốc giađược cải thiện Như vậy, đạo đức kinh doanh theo hướng tốt không những ảnh hưởng tớichỉ một doanh nghiệp đó mà còn ảnh hưởng tới các đối tượng liên quan và suy rộng ra tácđộng tới nền kinh tế Thông qua đó ta có thể nhận thấy tầm giá trị to lớn mà đạo đức kinhdoanh mang lại

1.1.5 Nguyên tắc, chuẩn mực của đạo đức kinh doanh

- Tuân thủ pháp luật và kinh doanh: Nghĩa vụ nộp các khoản thuế, bảo hiểm trợcấp xã hội cho người dân Không vi phạm các hành vi mà Nhà nước cấm như buônlậu, trốn thuế, …

- Cạnh tranh hợp pháp: Hoạt động của doanh nghiệp còn liên quan đến các công

ty khác trong và ngoài ngành, và đặc biệt ảnh hưởng tới những đối thủ cạnh tranh trựctiếp Cạnh tranh trong thương trường là không tránh khỏi và được coi là nhân tố thịtrường tích cực Điều này thúc đẩy các doanh nghiệp phải cố vượt lên trên đối thủ và

Trang 16

lên chính bản thân mình Đối với nhiều doanh nghiệp, cạnh tranh thành công thể hiệnbằng lợi nhuận, thị phần Lợi nhuận và thị phần càng cao càng tốt, vì thể họ mongmuốn đạt được bằng nhiều cách trong đó có cả các biện pháp cạnh tranh không lànhmạnh, không được các công ty trong ngành và xã hội chấp nhận và thậm chí phảiđương đầu với sự phán xét của hệ thống giá trị xã hội và pháp lý Khi đó, kết quả đạtđược về lợi nhuận và thị phần không còn mang ý nghĩa tích cực mà chỉ là những tínhtoán ích kỷ, thiển cận

- Kinh doanh trung thực: Không dùng các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm lời.Giữ lời hứa, giữ chữ tín trong kinh doanh Nhất quán trong nói và làm Trung thựctrong chấp hành luật pháp của nhà nước, không làm ăn phi pháp như trốn thuế, lậuthuế, không sản xuất và buôn bán những mặt hàng quốc cấm, thực hiện những dịch vụ

có hại cho thuần phong mỹ tục Trung thực trong giao tiếp với bạn hàng (giao dịch,đàm phán, ký kết) và người tiêu dùng: Không làm hàng giả, khuyến mại giả, quảngcáo sai sự thật, sử dụng trái phép những nhãn hiệu nổi tiếng, vi phạm bản quyền, phágiá theo lối ăn cướp Trung thực ngay với bản thân, không hối lộ, tham ô, thụt két,

"chiếm công vi tư" Tránh tình trạng hành vi gian dối để thâu tóm doanh nghiệp, cạnhtranh trên cơ sở những chính sách phù hợp, công bằng, hiệu quả, … Cạnh tranh đểcùng tồn tại và phát triển

- Bảo vệ quyền lợi của người sản xuất, tiêu dùng: Với người sản xuất, thực hiệnđúng hợp đồng, không dùng hình thức chốn giỏ, ộp giỏ trong thu mua nguyên liệu đầuvào Giải đáp mọi thắc mắc, phản ánh của NTD, quyền lợi của NTD được thể hiệnbằng việc được sử dụng các sản phẩm sạch, đảm bảo chất lượng Bên cạnh đó, trong

xã hội phát triển với những dịch vụ về internet thì việc bảo mật thông tin cá nhân cũngđang trở nên đáng lưu tâm hơn bao giờ hết

- Thực hiện khai báo kinh doanh: Cuối kỳ kinh doanh, DN phải lập báo cáo tàichính cho cỏc bờn liên quan như nhà đầu tư, cổ đông, chủ nợ và Nhà nước cơ quanthuế Đây là công cụ phản ánh mức độ hợp pháp, khả năng kinh doanh cũng như lòngtin mà cỏc bờn hữu quan dành cho DN DN cần thực hiện theo quy định pháp luật khaibáo doanh thu, chi phí cho tổng cục thuế và nộp thuế đầy đủ

- Tôn trọng hợp đồng đó kớ: Hợp đồng là một bản cam kết thực hiện có sự thỏathuận rõ ràng giữa doanh nghiệp với cỏc bờn liên quan Thực hiện đúng cam kết ghi

Trang 17

trên hợp đồng là một trong những yêu cầu thể hiện việc tôn trọng hợp đồng đã ký

- Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên: Sản xuất về mặt xã hội ngày nay

đã đặt ra hai vấn đề mà các nước đều đang cần phải giải quyết: nạn ô nhiễm môitrường và tình trạng cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên Trách nhiệm của doanh nghiệp làphải gắn liền công việc sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với công nghệ xử lý chất thải,với nghĩa vụ bảo vệ môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên Việc khai thác tàinguyên thiên nhiên cũng phải hợp lý để bảo vệ cân bằng sinh thái, trỏnh cỏc hiểm họa,thiên tai cho con người Bên cạnh những vấn đề ô nhiễm môi trường tự nhiên, vậtchất, vấn đề bảo vệ môi trường văn hóa – xã hội, phi vật thể cũng được chú trọng ởnhiều quốc gia Ngoài việc có thể làm thay đổi cảnh quan và môi trường tự nhiên, sựtồn tại và phát triển của doanh nghiệp tại địa phương còn có thể làm thay đổi nếp sống,nếp nghĩ và thói quen, tập tục địa phương Những giá trị truyền thống có thể biến mất,thay vào đó là những giá trị và thói quen mới Tác động của các biện pháp và hìnhthức quảng cáo tinh vi, đặc biệt thông qua phim ảnh, có thể dẫn đến những trảo lưutiêu dùng, làm xói mòn giá trị văn hóa và đạo đức truyền thống, làm thay đổi giá trịtinh thần và triết lý đạo đức xã hội, làm mất đi sự trong sáng và tinh tế của ngôn ngữ

Vì vậy, các quyết định kinh doanh không chỉ được xem xét về khía cạnh kinh tế, pháp

lý mà còn cần cân nhắc đến lợi ích của những người dân địa phương Xét cho cùng,cộng đồng xã hội chính là thị trường lâu dài của doanh nghiệp; do đó bảo vệ lợi íchcủa cộng đồng cũng là bảo vệ lợi ích lâu dài của chính doanh nghiệp

- Thực hiện trợ cấp lao động trong doanh nghiệp: Đạo đức kinh doanh trong DN,thể hiện những đãi ngộ giữa người quản lý với nhân viên của mình trong DN Ngoàivấn đề trả mức lương xứng đáng cũng cần phải nâng cao quyền lợi với nhân viên củamình “quyền được biết và được từ chối những công việc nguy hiểm hợp lý” Có đãingộ, trợ cấp hợp lý với mức độ nguy hiểm của công việc mà nhân viên đang làm Thểhiện khả năng dùng người của nhà lãnh đạo

- Tham gia cứu trợ xã hội: Vấn đề này liên quan mật thiết với khái niệm “trỏchnhiệm xã hội” (CSR – Corporate Social Responsibility) Cộng đồng xã hội là một đốitượng hữu quan đặc biệt Hoạt động của doanh nghiệp có thể gây ảnh hưởng đến môitrường tự nhiên – văn hóa – xã hội xung quanh nơi doanh nghiệp hoạt động và đến

Trang 18

môi trường sống của họ Khi cuộc sống và lợi ích của cộng đồng vì thế bị ảnh hưởng,

họ luôn quan tâm và đòi hỏi doanh nghiệp phải có ý thức và có trách nhiệm về sự bềnvững và lành mạnh của môi trường tự nhiên – kinh tế - văn hóa – xã hội tại cộng đồng

Để thực hiện điều đó, doanh nghiệp đòi hỏi phải thực hiện đầy đủ và tự nguyện cáctrách nhiệm xã hội của mình đây là hành vi thể hiện tính nhân văn trong DN, DN cóthể phát động phong trào trong DN để tăng tính tương thân tương ái với cộng đồng.Tạo nên thương hiệu tốt cho DN và là một khoản đầu tư khôn ngoan cho tương lai

Chuẩn mực đạo đức của một doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn nhất đó là việctuân thủ pháp luật kinh doanh Việc tuân thủ pháp luật kinh doanh đồng nghĩa với việcdoanh nghiệp đã tự giải quyết cho mình những chuẩn mực khác

Section I.1 Khái luận về thực phẩm tươi sống

(a) Khái niệm thực phẩm tươi sống

- Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả cáchoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh

bắt, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản, vận

chuyển, buôn bán thực phẩm1

- Nhưng nếu xét với loại thực phẩm tươi

sống thì không bao gồm quá trình chế biến sản

phẩm Điều này được định nghĩa rõ hơn trong

luật An toàn thực phẩm năm 2010 (Luật số

55/2010 QH12): “Thực phẩm tươi sống là thực

phẩm chưa qua chế biến bao gồm thịt, trứng, cá,

thuỷ hải sản, rau, củ, quả tươi và các thực phẩm khác chưa qua chế biến2”

(b) Đặc điểm cơ bản của thực

phẩm tươi sống

- Đặc điểm chủ yếu của thực

phẩm tươi sống là chưa qua chế biến;

Trang 19

- Giữ nguyên những đặc tính tự nhiên của nó, khi chúng được sơ chế hay trongquá trình lưu kho hoặc vận chuyển sẽ mất dần lượng vitamin với rau quả, và diễn raquá trình phân hủy

- Cung cấp cho cơ thể những vitamin thiết yếu và các enzyme mà khi nấu ở nhiệt

độ cao nó sẽ bị tiêu hủy

(c) Vai trò của thực phẩm tươi sống

Thực phẩm tươi sống có vai trò đặc biệt

quan trọng đối với cuộc sống con người bởi nó

là loại thực phẩm cần thiết làm thỏa mãn nhu cầu

sinh lý cho mỗi cá nhân

- Thực phẩm tươi sống bổ sung các chất

dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất cần thiết

cho cơ thể phát triển bình thường Dựa vào tháp

cân đối dinh dưỡng, ta dễ dàng nhận ra thực

phẩm tươi, sống như thịt, rau, hoa quả chiếm tỷ

lệ lớn trong hệ thống của tháp Trong các sản

phẩm hoa quả cung cấp cho con người nhiều

vitamin cần thiết như Vitamin C, E, A, B1, … những Vitamin có vai trò quan trọngtrong cơ thể, làm tăng khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng, bổ mắt thỡ cú vitamin E,vitamin D chống còi xương, … Trong khi đó các sản phẩm từ thịt, cá lại cung cấp mộtlượng lớn protein cho cơ thể, giải phóng năng lượng Giúp cho việc vận động được dễdàng

- Giúp cơ thể tăng cường khả năng miễn dịch, phòng chống bệnh tật

Thực phẩm tươi sống, đặc biệt rau quả là

nguồn cung cấp các vitamin và khoáng chất rất

cần thiết cho sự duy trì, phát triển đối với cơ thể

con người Các dưỡng chất trong rau quả có tác

dụng tăng cường hệ miễn dịch để phòng chống

lại một số bệnh như tim mạch, huyết áp, đột

quỵ Chẳng hạn, cam, chanh và bưởi là loại

quả giàu vitamin C và chất chống ụxy hoỏ, đồng

Trang 20

thời có tác dụng làm giảm huyết áp, giảm choles-terol trong máu, hạn chế sự phát triểncủa một số tế bào ác tính gây ung thư Rau quả rất giàu chất xơ, vì thế có lợi cho việctiờu hoỏ, ngăn ngừa táo bón Một số loại quả như cà chua, bí đỏ, cà rốt, đu đủ, rau dềnđỏ rất tốt cho thị lực Đặc biệt, cà chua có tác dụng hữu hiệu trong việc ngăn ngừaung thư tiền liệt tuyến ở nam giới.

Công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Hà Lan trong năm 2006 - 2007 cho thấy,các loại rau quả như súp lơ xanh, rau cải xanh có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh ungthư bởi các loại rau này có chứa chất chống lại gốc tự do gây ung thư và ngăn chặn sựrối loạn húc-mụn gây bệnh ung thư vú ở nữ giới

- Thực phẩm tươi sống là phương thuốc thần kì cho nhan sắc: Thực phẩm tươigiúp cơ thể sẽ được tăng cường năng lượng, giải phóng được chất độc tồn tại trong cơthể và tất nhiên số lượng cân nặng cũng sẽ giảm đi đáng kể Rau quả giàu dưỡng chấtnhưng lại chứa ít calo nên không làm tăng cân, vì thế giữ cho cơ thể gọn gàng cân đối.Bạn sẽ cảm thấy no nhanh hơn khi ăn nhiều rau quả, vì thế sẽ hạn chế được ăn thịt vàcác chất đường bột gây béo phì Vitamin C có trong các loại rau quả sẽ làm cho làn datươi sáng, hồng hào và mịn màng

1.2 Các chủ thể tham gia vào quy trình sản xuất kinh doanh mặt hàng thực phẩm tươi sống

Kinh doanh hay hoạt động Kinh doanh được hiểu là : "Việc thực hiện liên tụcmột, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụsản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi"1 Trong đó,sản xuất, kinh doanh là quy trình liên tục và thay phiên không ngừng Trong nền kinh

tế thị trường thì sản xuất và kinh doanh có mối quan hệ hữu cơ với nhau Bất cứ mộtlĩnh vực, ngành nghề kinh doanh nào đều liên quan tới ba quá trình sản xuất kinhdoanh và tiêu dùng, gắn liền với ba chủ thể là người sản xuất, người bán hàng vàngười tiêu dùng

1.3.1 Người sản xuất

Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thươngmại Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: “sản xuất cái gì?, sản xuấtnhư thế nào?,sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử

1 Theo khoản 2 , Điều 4 Luật Doanh Nghiệp 2005

Trang 21

dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm2?”.

Các đối tượng liên quan tới sản xuất: là tư liệu sản xuất, người lao động (ngườisản xuất), người quản lý Theo đó, người sản xuất là người sử dụng những tư liệu sảnxuất (nguyên vật liệu đầu vào, khoa học công nghệ …) nhằm tạo ra sản phẩm Sảnphẩm này có thể được tiêu dùng ngay hoặc là nguyên liệu đầu vào cho quá trình sảnxuất tiếp theo

Đặc điểm người sản xuất:

 Người sản xuất là người trực tiếp tạo ra sản phẩm bằng việc tác động vào các tưliệu sản xuất

 Người sản xuất có thể là người sở hữu tư liệu sản xuất (trực tiếp sản xuất kinhdoanh, chủ doanh nghiệp) hoặc không (người làm thuê, công nhân)

1.3.2 Người bán hàng

Định nghĩa: Người bán hàng là một mắt xích quan trọng trong quá trình kinhdoanh nhằm mang lại lợi nhuận thong qua hành vi, cử chỉ, thái độ ứng xử, khả nănggiao tiếp với khách hàng để tác động đến hành vi mua hàng của khách hàng.1

Nếu như người sản xuất phải bỏ ra công sức đề tạo ra sản phẩm, người tiêu dùng

bỏ ra tiền và tài chính để có thỏa mãn nhu cầu thì người bán hàng hay người kinhdoanh chủ yếu phụ thuộc vào khả năng “buụn khộo, bỏn tài” của mình Nhưng đâycũng là đối tượng được hưởng nhiều lợi ích nhất trong tổng giá trị quá trình sản xuấtkinh doanh Con đường từ tay người sản xuất tới người tiêu dùng dài hay ngắn, đắt hay

rẻ đều phụ thuộc vào việc có bao nhiêu người trung gian buôn bán Thông thường quátrình tiêu thụ có thể bao gồm 2 hình thức: Một là, trực tiếp từ nơi sản xuất tới tayNTD, có nghĩa là người sản xuất đồng thời là người bán hàng Hai là, trong quá trìnhtiêu thụ sẽ qua các trung gian là người bán buôn, mua đi bán lại Đây là con đường

“gian truân, vất vả” và nảy sinh nhiều vấn đề vi phạm ĐĐKD nhất

1.3.3 Người tiêu dùng

Tiêu dùng là hành vi nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người thông quatrao đổi hàng hóa

Hành vi tiêu dùng có vai trò thúc đẩy nền kinh tế phát triền, phân phối lại các

2 Từ điển bách khoa Wikipedia

1 Thái Trí Dũng, “Tâm lý học quản trị kinh doanh”, NXB Thống Kê

Trang 22

nguồn lực trong xã hội Hiện nay, việc tiêu dùng có thể được thực hiện trực tiếp hoặcgián tiếp thông qua các phương tiện điện tử, thông tin đại chúng.

Người tiêu dùng là một cá nhân hay một tổ chức thực hiện hành vi tiêu dùng

Là chủ thể tham gia vào quá trình trao đổi hàng hóa

1.3 Các mặt biểu hiện của đạo đức kinh doanh trong sản xuất và tiêu thụ thực

phẩm tươi sống

1.3.1 Chất lượng sản phẩm thực phẩm tươi sống

a Biểu hiện qua vệ sinh an toàn thực phẩm

Vệ sinh an toàn thực phẩm – một cụm từ rất đỗi quen thuộc với mỗi người vàtưởng chừng như ai cũng biết, ai cũng hiểu rõ nó là cái gì? Nhưng khi nhóm nghiêncứu tiến hành phỏng vấn người bán hàng về quan niệm an toàn thực phẩm thì đa sốngười bán hàng đều cho rằng an toàn thực phẩm là làm sao cho người tiêu dùng không

bị ngộ độc Cách hiểu này không hẳn là sai mà nó chưa thực sự chính xác, nó mới chỉ

đề cập đến mặt nổi của vấn đề đó là không bị ngộ độc mà chưa nói lên được bản chất.Khái niệm này đã được chỉ rõ trong Luật An toàn thực phẩm:

“An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tínhmạng con người.”1 Hay, “Vệ sinh an toàn thực phẩm là các điều kiện và biện pháp cầnthiết để bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng của con người.”2… Việc các chủ thẻ tham gia thị trường mặt hàng thực phẩm tươi sống làm tốt điều này tức

là họ góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng – đây là một chẩn mực đánh giá đạo đứckinh doanh

b Biểu hiện qua chất lượng thực phẩm tươi sống

Không chỉ biểu hiện qua vệ sinh an toàn thực phẩm mà chất lượng của sản phẩmtươi sống còn thể hiện ở việc sản phẩm cung cấp cho khách hàng đúng chủng loại, mẫu

mã, theo đúng với mong muốn của khách hàng, không cung cấp hàng giả hàng nhái Vìthế, đảm bảo chất lượng sản phẩm là một trong những biểu hiện của đạo đức kinh doanhtrong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng thực phẩm tươi sống

Thực trạng biểu hiện của yếu tố này trên thị trường thường không giống như

ta mong đợi Mải chạy theo bài toán lợi nhuận của mỡnh, cỏc chủ thể tham giavào kinh doanh thực phẩm tươi sống không ngần ngại trong việc cung cấp hàng

1 Trích luật an toàn thực phẩm năm 2010

2 Trích pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm số: 12/2003/PL-UBTVQH11

Trang 23

giả, hàng kém chất lượng cho người tiêu dùng mà không cần quan tâm tới tác hạicủa hành vi đó đến cộng đống ra sao.Vấn đề này sẽ được nhóm nghiên cứu làm rõhơn trong những phần sau.

1.3.2 Giá cả thực phẩm tươi sống

Giá cả là mặt biểu hiện được đo bằng tiền của giá trị sản phẩm, mà ở đó sảnlượng đạt mức độ cân bằng giữa nhu cầu và sự đáp ứng sản phẩm nhằm thỏa mãn nhucầu của đó Mức độ mong muốn về giá trị của sản phẩm càng cao thì giá của sản phẩm

đó càng cao Tuy nhiên, không phải bao giờ giá cả cũng phản ánh đúng quan điểm trên

và thường là người tiêu dùng bị đánh lừa về chất lượng mà họ kì vọng có được từ sảnphẩm và chấp nhận mua với giá cao, hay còn gọi là bị "hớ" bởi khoản chi phí mà họ bỏ

ra quá "đắt" so với giá trị lợi ích mà họ có được

Điều này cũng là một phần biểu hiện của việc vi phạm đạo đức kinh doanh

1.3.3 Biểu hiện trong mối liên hệ với môi trường tự nhiên

Như đã phân tích trong phần lý luân về đạo đưc, bảo vệ môi trường và tài nguyênthiên nhiên là một chuẩn mưc của ĐĐKD nói chung và ĐĐKD trong lĩnh vực sản xuất

và tiêu thụ mặt hàng thực phẩm tươi sống nói riêng

Việc tỏc đụng đến môi trường tự nhiên để tạo ra của cải, giá trị mà không tiếnhành cải tạo tự nhiên đã để lại nhiều hậu quả khôn lương Xét trong đề tài nghiên cứuthì biểu hiện của đạo đức kinh doanh là việc con người tác động vào môi trường tựnhiên nhưng có tham gia cải tạo, sử dụng các sản phẩm bảo vệ thực vật thân thiện vớimôi trường, canh tác hợp lý, tuân thủ các chuẩn mực trong sản xuất kinh doanh,… Tuynhiên, trên thực tế thì vấn đề bảo vệ môi trường vẫn chưa được quan tâm một cáchđúng mức Thể hiện ở việc người dân sử dụng tràn lan các lợi thuốc bảo vệ thực vật,phân sống… làm ô nhiễm môi trường nước, đất,… việc canh tác không hợp lý, khôngđúng kỹ thuật cũng là nhân tố làm giảm tính màu mỡ của đõt, giảm khả năng tái tạođất…

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và tiêu

thụ mặt hàng thực phẩm tươi sống

1.4.1 Nhóm yếu tố chủ quan

a Nhận thức của các đối tượng liên quan

Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý

Trang 24

thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể1 Haychúng ta có thể hiểu nôm na nhận thức là việc phản ánh hiện thực khách quan vàotrong tư duy của con người Thực tiễn tạo nên nhận thức, và kết quả của quá trình nhậnthức chính là hành vi của con người tác động trở lại thực tiễn Tác động tốt hay xấuphụ thuộc vào nhận thức đó là đúng hay sai về môi trường hay thực tiễn.

Ví dụ như nếu ta xét với người sản xuất, nhận thức từ thực tiễn sẽ cho họ quyết

định cú nờn kinh doanh mặt hàng này không? Kinh doanh như thế nào để hài hòa lợiích của bản thân và lợi ích của xã hội? Anh hưởng của hành vi sản xuất kinh doanh củamình với những người xung quanh như thế nào?

Theo lý thuyết, nhận thức về một sự việc không tốt, không có lợi cho xã hội thì sẽkhông được làm, và ngược lại Tuy nhiên, đi ngược lại điều đó, nhiều người vẫn biếthành vi đó là xấu, nghĩa là họ đã nhận thức được hành vi của mình gây nên những hậuquả như thế nào nhưng họ vẫn làm

Vì vậy, có thể nói nhận thức kém hay nhận thức sai chính là nguyên nhân của vấn

đề vi phạm đạo đức kinh doanh

b Mục tiêu lợi nhuận

Lợi nhuận là mục tiêu lớn nhất của đa số các chủ thể tham gia sản xuất kinhdoanh trong xã hội mong muốn đạt được Lợi nhuận là mặt biểu hiện bằng tiền hoặctương đương tiền của những giá trị lợi ích mà một chủ thể kinh doanh mong muốn cóđược Trong phương trình kinh tế thông thường, lợi nhuận sẽ bằng doanh thu trừ đi cáckhoản chi phí mà chủ thể đó bỏ ra để có được khoản lợi nhuận đó Điều này cho thấylơi nhuận và chi phí có mối quan hệ ngược chiều nhau

Phương trình kinh tế trên lý giải thực tế một trong số các chiến lược mà doanhnghiệp ưu tiên sử dụng nhất đó là dẫn đầu về chi phí Như vậy, với cùng một mứcdoanh thu chủ thể kinh doanh có thể kiếm được mức lợi nhuận cao hơn so với bìnhquân thị trường Tuy nhiên, bài toán đặt ra là làm sao để các chủ thể giảm thiểu tối đađược chi phí? Lúc này, đạo đức kinh doanh sẽ được đặt lên bàn cân với lợi nhuận Bởi

lẽ, phần lớn việc tăng lợi ích của cá nhân thì đồng thời lợi ích của một bộ phận chủ thểkhác trong xã hội bị giảm đi và sự đánh đổi thường là “một lấy mười” hay nói cáchkhác đa số các chủ thể đều nghiêng về lợi ích cá nhân nhiều hơn mà quên đi lợi ích

1 Trích từ điển Bách khoa Việt Nam

Trang 25

cộng đồng khi thực hiện việc tăng lợi ích cho bản thân mình.

Với mặt hàng thực phẩm tươi sống thì sự đánh đổi giữa lợi ích và đạo đức kinhdoanh là rất lớn thường liên quan tới chất lượng sản phẩm Lấy ví dụ như việc chothuốc kích thích vào các sản phẩm tiêu dùng Việc làm này có thể làm lợi nhuận ngườisản xuất tăng lên một vài trăm hoặc một vài triệu nhưng ảnh hưởng tới sức khỏe củangười sử dụng sản phẩm họ bán và mức thiệt hại mà người khác gánh chịu thường sẽlớn hơn rất nhiều so với khoản tiền lợi nhuận mà người sản xuất có được

Vì vậy, mục tiêu lợi nhuận cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới đạođức kinh doanh nói chung và đạo đức kinh doanh trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàngthực phẩm tươi sống

Trang 26

1.4.2 Nhóm yếu tố khách quan

a Mức độ thỏa mãn của người tiêu dùng

Người tiêu dùng được coi là thượng đế, và chính bởi quan điểm đó việc bán những

gì thị trường cần chứ không phải là bán những gì thị trường có là điều có thể thấy rõtrên thị trường hiện nay Tuy nhiên, khi thị trường bão hòa thì mức độ đòi hỏi củanhững thượng đế khó tính cũng tăng thêm Ví như mùa đông muốn ăn một loại mặthàng chỉ có trong mùa hè chẳng hạn Thông thường, điều này là không thể hoặc khảnăng xảy ra là rất ít và nếu làm được thì cũng chưa chắc là đã tốt bởi lẽ cái gì bất quytắc tự nhiên của sự sinh tồn và phát triển bao giờ cũng mang trong nó những nguy cơtiềm ẩn Việc có được những sản phẩm trái mùa thường liên quan tới việc bỏ thêmnhững chất có hại vào sản phẩm Như vậy, NTD đã gián tiếp làm hại chính mìnhkhông hay, là gián tiếp ảnh hưởng tới việc vi phạm ĐĐKD

Người tiêu dùng Việt Nam có điểm khác biệt so với NTD nước khác là thường đặtgiá cả lên hàng đầu Để thấy được điều này ta hãy làm một so sánh nho nhỏ giữa mức

độ yêu cầu về sản phẩm của người tiêu dùng Mỹ với Việt Nam Ta có thể nhận thấymột điều người dân Mỹ thường yêu thích sản phẩm chất lượng cao, tốt cho sức khỏe,

vì vậy yêu cầu số một đối với các sản phẩm của họ là chất lượng đôi khi giá cả là mộtchuyện nhỏ Trong khi đó, người tiêu dùng Việt Nam thì thường đánh đổi chất lượngbằng yếu tố giá cả, chấp nhận sản phẩm chất lượng kém, giá rẻ Thêm vào đó là tâm lýmuốn mua sản phẩm chất lượng tốt giá rẻ Chính tâm lý này đã làm cho dự án rau antoàn gặp nhiều khó khăn trong khâu tiêu thụ

b Bị tác động bởi các chủ thể sản xuất kinh doanh cùng mặt hàng tươi sống

Một điều đặc biệt khi nghiên cứu văn hóa của người Việt Nam đó là xu hướng

“đỏm đụng” Trong bất kể ngành, nghề lĩnh vực gì từ kinh tế, chính trị, tới xã hội Đó

là việc “thấy hay hay thì làm”, thấy người ta làm thỡ mỡnh cũng làm theo mà khôngquan tâm tới ảnh hưởng lâu dài của nó Không những thế, người Việt Nam rất nhiệttình khi chia sẻ với người khác, “Được anh mà cũng chẳng thiệt tụi” thỡ tại sao lạikhông truyền đạt ít kinh nghiệm

Trong sản xuất kinh doanh thực phẩm tươi sống, việc giúp đỡ nhau, cùng nhau làmgiàu là một điều đáng quý, chẳng còn gì bằng, nhưng ngặt nỗi truyền đạt việc sử dụngchất hóa học vào sản phẩm gây ung thư, không cần biết tác hại của nó làm sao lại coi

Trang 27

như loại thuốc thần kỳ giúp chúng ta làm giàu khiến thông tin lan truyền nhanh chóngchẳng khác nào dạy nhau cách “làm hại người tiờu dựng” Một trong số những ví dụtiêu biểu cho vấn đề này đó là hiện tượng người chăn nuôi truyền tai nhau sử dụng loạithuốc tăng trọng siêu tốc chứa các chất độc hại không rõ nguồn gốc được bán lén lúttại một số địa chỉ hay tình trạng các lái buôn chỉ cho nhau cách bảo quản thực phẩmtươi lâu bằng hóa chất độc hại, thuốc cỏ… và đã gián tiếp đẩy mình trở thành người điđầu độc người tiêu dùng Việc kinh doanh mà ảnh hưởng tới sức khỏe của người khác

là việc vi phạm ĐĐKD, trở thành nhân tố gián tiếp cho việc vi phạm ĐĐKD

c Các quy định của Nhà nước chưa phát huy tác dụng

Có thể nói, Nhà nước đã ban hành rất nhiều quy định nhằm tháo gỡ và quản lý vấn

đề đạo đức kinh doanh Tuy nhiên, đa số các quy định đó đều mới chỉ nằm trên giấychưa đi vào cuộc sống người dân thậm chí nhiều người còn không biết đến Chính vìvậy, các quy định này không phát huy được tác dụng như mong muốn ban đầu củaNhà nước

Hơn thế nữa, các mức xử lý vi phạm còn nhẹ chưa có tác dụng làm hạn chế mức

độ vi phạm vì vậy mà nảy sinh ra thực trạng “luật chưa ra đến chợ”, quy định thì cứquy định, xử phạt thì cứ xử phạt, vi phạm thì cứ vi phạm

d Sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan chức năng

Hiện nay, các vần đề về thực phẩm đang chịu sự quản lý của ba Bộ: NN&PTNT,Công thương và Y tế (tương ứng với 3 quy trình của sản phẩm: từ đồng ruộng, trongchuồng trại, đến bày bán ngoài chợ và đến khi gây bệnh) Cụ thể, Bộ Y tế sẽ có tráchnhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm, quản lý thực phẩmnhập khẩu trừ thực phẩm tươi sống, cơ sở chế biến thực phẩm, kinh doanh thực phẩm

Bộ NN&PTNT quản lý xuyên suốt từ khâu sản xuất đến nơi tiêu thụ (chợ) đối với thựcphẩm tươi sống (rau, quả, thịt, trứng, thủy sản) sản xuất trong nước và thực phẩm tươisống nhập khẩu Đối với các thực phẩm khác quản lý khâu sản xuất thực phẩm ban đầu

và sơ chế thực phẩm Bộ Công thương phối hợp hai bộ thanh tra, kiểm tra thực phẩmlưu thông trên thị trường, thực phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng

Tuy nhiên, với thực trang sản xuất thì nhỏ lẻ manh mún, thiếu quy hoạch; sốlượng các chợ mọc ra rất lớn do thói quen mua sắm truyền thống của người dân; thêmvào đó là lực lượng tham gia vào công tác kiểm tra, quản lý này quỏ ớt; đạo đức của

Trang 28

chính những người tham gia vào công tác quản lý xuống cấp… đã tạo môi trườngthuận lợi cho tình trạng vi phạm đạo đức kinh doanh trong sản xuất và tiêu thụ mặthàng thực phẩm tươi sống vẫn ngang nhiên diễn ra từng ngày, từng giờ.

Trang 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC KINH DOANH TRONG SẢN XUẤT

VÀ KINH DOANH THỰC PHẨM TƯƠI SỐNG

Như chúng ta đã biết, thực phẩm tươi sống có vai trò quan trọng với cuộc sốngcủa con người Đặc biệt ngày nay, ở Việt Nam, nền kinh tế thị trường ngày càng pháttriển kéo theo nhiều hệ lụy và đạo đức con người cũng bị cuốn theo vũng xoỏy cơm,

áo, gạo, tiền Vì vậy, vấn đề đạo đức kinh doanh trong sản xuất và kinh doanh mặthàng tươi sống càng làm đau đầu các nhà lãnh đạo và trở thành vấn đề bức xúc cho dưluận Khi nghiên cứu thực trạng vấn đề này, nhóm đi sâu nghiên cứu trên hai khíacạnh: khía cạnh thứ nhất là chất lượng mà đặc biệt là vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm

và khía cạnh thứ hai là giá cả vì nhóm nghiên cứu thiết nghĩ đõy chớnh là thước đođạo đức kinh doanh trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng thực phẩm tươi sống

Hà Nội – Trung tâm Vănhóa, Kinh tế, Chính trị củaViệt Nam, đây cũng là nơi tậptrung đông dân cư với nhiềuđối tượng, thành phần lao độngkhác nhau và mức thu nhậpkhác nhau

Theo ước tính của tổngcục thống kê, dân số toànthành phố đến tháng 12 năm

2011 là 6763,1 nghìn ngườităng 2,2% so với năm 2010,trong đó dân số thành thị là2905,4 ngàn người chiếm43,5% tổng số dân của Hà Nội; dân số nông thôn là 3857,7 nghìn người

Về thu nhập, ước tính thu nhập bình quân của người dân Hà Nội hiện nay khoảng

2000 USD trong khi thu nhập bình quân của người Việt Nam ở mức 1.300 USD.1

1 Nguồn Tổng cục thống kê

Trang 30

Từ những con số này ta có

thể thấy được phần nào về mức độ

tiêu dùng của người dân Hà

Thành Đặc biệt, với mặt hàng tươi

sống, theo số liệu của sở Công

thương Hà Nội thì mỗi tháng, Hà

Nội tiêu thụ khoảng 90.000 tấn rau

củ quả, thịt lợn 1.350 tấn; thịt gà,

vịt 500 tấn; trứng gia cầm 8 triệu

quả…với mức độ tiêu thụ này thì

vấn đề đạo đức trong sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm tươi sống có vai trò vô cùngquan trọng.2

2.1 Thực trạng vấn đề đạo đức kinh doanh trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng thực phẩm tươi sống liên quan tới chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm

Kinh doanh mặt hàng thực phẩm tươi sống bao gồm hai giai đoạn: sản xuất vàtiêu thụ Với từng giai đoạn thì biểu hiện những bất cập của vấn đề vi phạm ĐĐKDliên quan tới vấn đề VSATTP là khác nhau

2.1.1 Khâu sản xuất

Sản xuất là khâu đầu tiên tạo ra sản phẩm cho người tiêu dùng, quyết định 90%chất lượng của sản phẩm vỡ võy vấn đè đạo đức kinh doanh trong khâu này cần phảiđược trú trọng đúng mức Tuy nhiên, thực tế mặt hàng thực phẩm tươi sống lại khôngnhư vây

Theo thông tin từ các phương tiện truyền thông ví dụ như trang VnExpress.net,dantri.com.vn, phapluatxahoi.vn, … thời gian qua cho thấy một thực trạng các làngrau ven đô hiện nay đang trồng rau bằng nguồn nước ô nhiễm từ những con sông nhưsụng Tụ Lịch, sông Nhuệ, các cống thoát nước từ nước thải sinh hoạt của hộ dõn…Nguồn nước này vốn không chỉ bị ô nhiễm vi sinh vật mà còn bị nhiễm kim loại nặng,đặc biệt người trồng rau cũn dựng luôn cả phân tươi bón trực tiếp vào gốc rau Khôngchỉ thế, tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật cũng diễn ra phổ biến điều này cóảnh hưởng vô cùng lớn đến sức khỏe người tiêu dùng

2 Số liệu của Sở Công Thương Hà Nội

Trang 31

Khảo sát của

các nhà khoa học Việt

Nam và Đan Mach

năm 2007 về nước

tưới rau và nuôi cá

ven đô Hà Nội cho

kết quả như sau: tất

cả các mẫu điều tra

đều chứa vi khuẩn do

nhiễm phân E.coli với mật độ trung bình 10 ngàn đến 100 ngàn khuẩn trong 100millilit (ml), vượt giới hạn cho phép của WHO là dưới 1 ngàn khuẩn trong 100 ml đốivới nước thải dùng trong chăn nuôi và trồng trọt Với trứng giun, thì kết quả khảo sátnhư sau: ~ 10 – 100 trứng trong 1 lít, trong lúc quy định của WHO là không được quá1trứng trong 1 lớt Cỏc xét nghiệm phát hiện nhiều ký sinh trùng và đơn bào thuộc họ

ký sinh trùng gây bệnh đường ruột - Cyclospora, Cryptosporidium và Giardia Đặcbiệt, các loại cải xoong, ngổ, cần, tía tô, kinh giới tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng, so vớicác loại rau khác, cao hơn rất nhiều

Không chỉ tồn tại các vi khuẩn gây bệnh mà rau bẩn Hà Nội còn chứa rất nhiềuđộc tố công nghiệp độc hai, cùng với đó là lượng thuốc bảo vệ thực vật lưu lại trên raurất cao điều này cú tỏc đụng tiêu cực tới sức khỏe người tiêu dung

Người dân trồng rau ở vùng ven Hà Nội tận dụng triệt

để nguồn nước ô nhiễm từ sông Tô Lịch để tưới rau

Rau muống đựơc thả nuôi trên sông Nhuệ

Trang 32

Bảng 2.1: Tổng hợp số liệu về mức độ tiêu dùng của người sản xuất với các mặt

Nguồn: Nhóm tự điều tra

Khi được hỏi: “Gia đình anh chị có thường xuyên sử dụng loại rau mà anh chịđang trồng mang bán cho NTD khụng?” Chị N.T.B bán hàng tại khu vực chợ tạm Ngã

tư sở cười tủm tỉm và cho biết: “ăn chứ Sản phẩm nhà trồng được nên đảm bảo vệsinh mà” Một bỏc bỏn rau khác cũng nói xen vào: “Gớm, đúng là lắm chuyện, nhà tôivẫn ăn đấy, chưa thấy ai chết cả…” không biết thật hay đùa nhưng nếu những ngườitrồng rau hằng ngày hằng giờ chính tay thực hiên, tận mắt được chứng kiến “cụngnghệ” trồng rau bẩn mà vẫn thản nhiên sử dụng thì phải chăng họ không hề biết đếnmức độ nguy hiểm của các loại thuốc kích thích mà hàng ngày họ vẫn sử dụng, haynguồn nước bẩn mà họ vẫn dùng tười rau ư?

Trong một clip mang tên: “Rau bẩn - Ghê từ người trồng tới người mua” thì đa

số người trồng rau, người tiêu dùng đều không dám ăn, kinh hãi trước công nghệ trồngrau bẩn của người dân Người bán biết rõ sự ô nhiễm của nguồn nước trồng rau, bảnthân không dám ăn nhưng vẫn đưa ra chợ bán như không cú gỡ xảy ra Còn người dânquanh vựng thỡ vẫn ăn vì “khuất mắt trông coi” Điều đó chứng tỏ, về cơ bản, ngườidân trồng rau hoàn toàn có thể nhận biết được tác hại của những việc mình đang làmnhưng vì lợi nhuận, vì cuộc sống mưu sinh họ bất chấp tất cả

Trang 33

Khi nhóm nghiên cứu phỏng vấn người trồng rau về khu trồng rau dành riêng cho giađình thỡ bỏc Ng.V.V, một bác nông dân chuyên trồng các loại rau như cải, bí xanh, raumuống … ở Huyện Đông Anh, Hà Nội trả lời rằng: “gia đỡnh bỏc cú khu trồng rauriêng ở nhà, căn bản là để tận dụng khu đất trống ở nhà thôi chứ để không phí lắm”.Dạo quanh một vũng thỡ hầu hết các nhà đều có những khoảng rau nho nhỏ trước sân.Như vậy, thường những nhà trồng rau cú cỏc khu trồng rau riêng sạch sẽ hơn để sửdụng hằng ngày nhưng còn những người tiêu dung làm sao họ biết đâu là rau sạch đểdùng?

Thực trạng này cho thấy,

nếu không có biện pháp để giác

ngộ, nâng cao ý thức của người

sản xuất rau, củ quả ở các làng

ven đô thì sẽ vô cùng nguy hiểm

bởi lẽ hàng ngày, hàng giờ, họ vô

tình hoặc cố ý tiếp tay làm suy

kiệt sức khỏe cho cộng đồng

Vấn đề vi phạm đạo đức

kinh doanh không chỉ xảy ra với mặt hàng rau củ, mặt hàng thịt cũng tồn tại rất nhiều

Clip về rau bẩn và nhận thức của người dân

Trang 34

vấn đề Cũng trong lần nghiên cứu thực tế tại Huyện Đông Anh, nhóm tới khu côngnghiệp Nam Thăng Long để tìm hiểu về chất lượng nguồn nước tưới tiêu thì nhận thấymột điều mặc dù đã được xử lý nhưng nước vẫn còn mùi hôi và không trong như nướcthường Ngạc nhiên hơn, ở đây có rất nhiều cá do người dân tự thả Hỏi bác P T Nga(Phủ Nỗ, Đông Anh) đang ngồi vớt cỏ, bỏc cho biết: “Người dân ở đây thả cá, nhưngkhông mất tiền nuụi vỡ cỏ tự sinh sôi nảy nở từ nguồn nước đặc biệt này” Sau khinhóm đề cập tới việc sử dụng loại cá này thỡ bỏc cho biết “Bỏc không ăn cá này,ngoài việc mang về làm thức ăn cho gia súc, thỡ bỏc mang ra chợ bán Ai biết cá nàynuôi ở đâu mà lo?” Nhìn những con cá dưới sụng thỡ không khác gì với các loại cáchăn nuôi ở các nơi khác nhưng ai biết được trong mỗi con cỏ đú cú chưa hàm lượngchì cao hơn rất nhiều so với những con cá khac Điều đó cho thấy, sản phẩm từ cátưởng chừng an toàn hơn với các sản phẩm thịt khỏc thỡ hiện nay cũng đang bị đe dọa

về chất lượng ATVSTP Xét tới sản phẩm thịt được quan tâm nhiều hơn đó là thịt lợn,đặc biệt gần đây rộ lên thông tin thức ăn có hàm lượng kích thích tố tăng trưởng nhưDexamethasone (giữ nước, muối, gây tụ mỡ), testoterone (trong thịt heo), hormonetăng trọng nguy hiểm như Clenbutyrol (tăng tỷ lệ nạc, giảm mỡ cho heo, bò), Estradiol(Gà, kháng sinh,tăng trọng), hormone tổng hợp nguy hiểm Diethylstilestrol (gây ungthư)… phát tán khắp nơi bên cạnh các loại thịt nhiễm bệnh, lở mồm long móng đượcbày bán ở các quầy nhỏ lẻ góc phố hoặc cung cấp cho cỏc quỏn phở, mỡ, chỏo… hàngrong mà đối tượng chính là trẻ em và học trò các trường trung, tiểu học ở thành thị cũngnhư nông thôn khiến dư luận bức xúc

Vấn đề vi phạm đạo đức kinh doanh được phơi bày qua hiện tượng các hộ chănnuôi sử dụng các loại thuốc cấm trộn vào thức ăn để tăng trọng cho gia súc, gia cầmđơn cử như với lợn thịt

Theo thông tin nhóm sưu tầm được thì lợn nuôi bình thường phải mất 4 thángmới xuất chuồng (tầm 100kg), nhưng khi ăn thuốc siêu tăng trọng này, thời gian xuấtchuồng rút ngắn chỉ còn 3 đến 3,5 tháng Tuy nhiên, nếu sản xuất theo công nghệ “thịtsạch” thì thời gian nuôi còn lâu hơn vì Thịt sạch là sản phẩm chăn nuôi theo kiểutruyền thống, thêm vào đó vì chi phí chăn nuôi cao muồn thu được lợi nhuận thì phảitìm cách rút ngắn thời gian chăn nuôi

Trang 35

Khi nhóm nghiên cứu khảo sát về vấn đề này tại xã Hoài Đức, Hà Nội, với câuhỏi: “Trong chăn nuôi Anh/ Chị có sử dụng các sản phẩm thuốc tăng trọng, kích thíchtiêu hóa khụng?” thỡ 90% người được hỏi trả lời là không sử dụng thuốc kích thíchtăng trưởng mà chỉ sử dụng kháng sinh Nhóm điều tra rất thắc mắc về điều này do đónhúm đó hỏi chị Nguyễn Thu Thảo một y tá xó thỡ được biết kháng sinh cũng có khảnăng kích thích tăng trưởng theo con đường bổ sung vào thức ăn, một số người đượcđiều tra khỏc thỡ thật thà thừa nhận là có sử dụng nhưng kèm theo đó là lời giải thích:

“bỏc chỉ sử dụng những loại mà nhà nước cho phép với hàm lượng nhỏ thôi, khôngảnh hưởng tới chất lượng thịt và sức khỏe người sử dụng đõu.”

Tuy nhiên, thực tế trong một cuộc điều tra của phóng viên báo VTC news thỡcỏc loại thuốc tăng trọng mà người dân thường sử dụng hầu hết đều có nguồn gốc từTrung Quốc và được nhập lậu vào thị trường Việt Nam, rất nhiều loại không không cónhãn mác được nhập lậu có thể chứa hóa chất hay hormon tăng trưởng được bán mộtcách lén lút tại hầu hết các của hàng bán thức ăn chăn nuôi trên đường Trường Chinh, HàNôi

Theo điều tra của Cục thú y cũng đã phát hiện việc sử dụng Salbutamol đây làmột loại thuốc dùng cắt cơn hen, giãn phế quản, giãn cơ trơn Salbutamol có thể gâynhược cơ, làm giảm vận động của cơ, khớp, khiến cơ thể phát triển không bìnhthường Khi ăn thịt lợn có Salbutamol cũng giống như uống thuốc này Lượng còn tồn

dư trong thịt bao nhiêu sẽ được cơ thể người hấp thu bấy nhiêu, và theo nghiên cưu thìchất này có khả năng gây ung thư vì thế mà Việt Nam đã cấm lưu hành và sử dụngtrong chăn nuôi từ năm 2002 Nhưng không hiểu sao những chất này vẫn được các hộchăn nuôi lén lút sử dụng Lợn được cho ăn chất này vào những tháng cuối trước khixuất chuồng giúp lợn tăng trọng lượng nhanh trong thời gian ngắn, đem lại thu nhậpcao cho người chăn nuôi Tuy bị cấm nhưng có cung thì ắt có cầu, các chất tăng trọnglợn này được vẫn được bán lén lút tại nhiều của hàng thức ăn gia súc mà các cơ quanchức năng khó có thể phát hiện

2.1.2 Trong khâu tiêu thụ

Sử dụng chất bảo quản độc hại

Theo Từ điển bách khoa toàn thư, chất bảo quản là các hóa chất tự nhiên haytổng hợp được thêm vào sản phẩm như thực phẩm, dược phẩm, sơn, các mẫu phẩm

Trang 36

sinh học v.v để ngăn ngừa hoặc làm chậm lại sự thối rữa, hư hỏng gây ra bởi sự pháttriển của các vi sinh vật hay do các thay đổi không mong muốn về mặt hóa học.1

Sự lạm dụng hóa chất trongchế biến và bảo quản thực phẩmtiêu dùng của người dân đã đến

độ nghiêm trọng Theo báo cáocủa Tổ chức Y tế Thế giới(WHO), có 35% số nạn nhân thếgiới mắc bệnh ung thư liên quanđến yếu tố thực phẩm và cungcách ăn uống thường ngày ViệtNam là một trong số các nướcđược dự báo đến năm 2020 là nước có tỉ lệ bệnh nhân chết về ung thư nằm trong nhómcao nhất trên toàn Thế giới

Đây là vần đề muôn thủa sảy ra với mặt hàng trái cây tươi mà hằng ngày hằnggiờ vẫn diễn ra mà các cơ quan chức năng khó kiểm soát Đặc thù của trái cây tươi nớichung và thực phẩm tươi sống nói chung là sau khi được thu hoạch hay giết mổ, thựcphẩm tươi sống sẽ chấm dứt quá trình trao đổi chất, đến với quá trình phân hủy do đóchỳng khụng bảo quản được lâu và mất dần tính chất tự nhiên trong quá trình vânchuyển do đó việc sử dụng chất bảo quản với hoa quả là khó tránh

Có thể nói hầu hết trái cây tiêu thụ trên thị trường Hà Nội là hàng nhập từ TrungQuốc Để đảm bảo trái cây vẫ tươi ngon khi đến tay người tiêu dùng thì chắc chắn tráicây phải được tẩm chất bảo quản Tuy nhiên, hầu như tất cả các sản phẩm trái câyTrung Quốc đều chứa chất bảo quản độc hại, nằm ngoài danh mục và với hàm lượngkhông thể kiểm soát được Sở dĩ các cơ quan không thể kiểm soát được các loại hoaquả có nguồn gốc từ Trung quốc bởi lẽ nó được mang vào tiêu thụ ở thị trường ViệtNam không qua con đường chính ngạch Lợi dụng đường biên giới với địa hình phứctạp của Việt nam, các tiểu thương đã trốn thuế, trốn các cơ quan chức năng để tiêu thụlượng lớn hóa quả có nguồn gốc từ Trung Quốc

Mặt khác, hiện nay trên thị trường Việt Nam còn bày bán rất nhiều mặt hàng chất

1 Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trang 37

bảo quản có nguồn gốc từ Trung Quốc được người lái buôn tin dùng cho dù họ không

hề biết thành phần, tác hại của những loại chất bảo quản đó ra sao Việc sử dụng nóđều bắt nguồn từ việc truyền tai nhau bí quyết hoa quả tươi lâu của các lái buôn và nhưvậy những chất này được tin dùng

Khi tiến hành phân tích một loại hóa chất bảo quản màu trắng nhưng không biết

rõ là chất gỡ cỏc chuyên gia đã phát hiện đây là loại hóa chất gốc clo cực độc giỳp tỏo,

lờ, cam, quýt kể cả nho bày bán cả tháng trời nhưng vẫn không hề hư hỏng và màu sắcvẫn không thay đổi nhiều, đặc biệt là trái cây nhập ngoại

Theo giới chuyên môn, các loại hóa chất này có tác dụng vừa chống mốc vừabảo quản hàng hóa lâu bị hư hại Hóa chất này có gốc clo, peroxit rất độc hại chongười sử dụng vỡ nú không mùi, không vị, không màu nên rất khó phát hiện

Những loại hóa chất này thẩm thấu rất mạnh vào bên trong củ quả Tiến sĩPhạm Thành Quân, Phó Khoa Công nghệ Hóa học Đại học Bách khoa TPHCM, chobiết các chất trên “bị” đưa vào củ quả ngoài tính chất diệt côn trùng, diệt tất cả vikhuẩn (kể cả vi khuẩn có lợi) nên ngăn chặn được quá trình chuyển hóa các tế bào, cácvitamin bị chậm chuyển hóa cũng như chống ôxy hóa làm củ quả tươi lâu

Thông tin từ Cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm cho thấy tại một số địa phương ởcác tỉnh phía Bắc, nhất là vựng giỏp biên giới, người ta còn sử dụng cả chất 2,4D(thuốc diệt cỏ) để tẩm ướp củ quả nhằm mục đích bảo quản được lâu

Theo tiến sĩ Lê Quang Hưng, Trưởng Bộ môn Cây công nghiệp Đại học NôngLâm TPHCM, chất 2,4D nếu sử dụng liều lượng cao sẽ có công dụng diệt cỏ

Sử dụng nồng độ thấp sẽ trở thành chất kích thích cực mạnh làm cho củ quả tăngkích thước nhanh bất thường Ngoài ra, còn có công dụng làm chậm quá trình lão hóa,tươi lâu cũng như giữ được màu sắc củ quả khá tốt Nú cũn diệt cả côn trùng, vikhuẩn nên bị giới kinh doanh trái cây lợi dụng

Lừa dối khách hàng đã đành, vì lợi nhuận người bán bất chấp tất cả kể cả việc

sử dụng các chất bảo quản không rõ thành phần và không được kiểm định hành vi nàygóp phần là tăng thêm số ca ung thư tại Việt Nam mỗi năm Đây đều là những hành vi

vi pham trầm trọng đạo đức kinh doanh đáng lên án của những người kinh doanh Họbất chấp tất cả, đùa rỡn với sức khỏe của cộng đồng để chay theo lợi nhuận, làm giàucho bản thân

Trang 38

Thói quen mua sắm các mặt hàng tươi sống

Người tiêu dùng Hà Nội hiện nay tạm chia khái niệm "chợ" thành hai hệ thống:Siêu thị (gồm cả chuỗi cửa hàng tự chọn), là nơi bán thực phẩm đóng gói, đã chế biến

và "sạch", đủ tiêu chuẩn vệ sinh an toàn bởi có đủ điều kiện bảo quản và chịu sự quản

lý, giám sát chặt chẽ của cơ quan chức năng Chợ dân sinh (gồm cả chợ cóc, chợ tạm)

là nơi bỏn cỏc loại thực phẩm gồm cả tươi sống, đóng gói và đã chế biến Trên thực tế,chợ dân sinh là nơi người nội trợ lựa chọn để đến mua thực phẩm hằng ngày, siêu thịthì thi thoảng hoặc đi theo định kỳ Mặc dù rất bận rộn nhưng đa số người dân vẫn giữthói quen đi chợ mua thực phẩm tươi sống để chế biến thức ăn hằng ngày Những súcthịt lợn, thịt bò được "pha" thành từng miếng lớn, nhỏ xếp trên những chiếc bàn gỗ đãmủn ra vì ẩm ướt vẫn được người nội trợ ưa dùng hơn thịt đóng gói hoặc đông lạnh, cóđầy đủ thông tin của nhà sản xuất và bảo quản trong nhiệt độ âm Những chiếc lồng sắtnhốt chặt gà, vịt, ngan sống, không rõ xuất xứ, được vặt lông, giết mổ ngay trên sànchợ hoặc tại một góc vỉa hè, cuối con ngõ nhỏ được ưu tiên chọn mua hơn gà đã đượclàm sạch, sơ chế bày trong ngăn lạnh của các siêu thị Thậm chí, nhiều người cũnthớch mua lòng lợn luộc, chả lá lốt, thịt quay, nem rán bày bán ngay bên lề đườngbởi những thực phẩm này tiện lợi, hợp khẩu vị và có giá cả phải chăng

Khi nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát với người tiêu dùng, với câu hỏi nhómđưa ra là “Anh/Chị thường mua các sản phẩm thực phẩm tươi sống ở đõu?” thỡ câutrả lời được xếp ưu tiên số một nhiều nhất là người dân mua các sản phẩm này tại chợ

và lựa chọn ưu tiên số một ít nhất là ý kiến mua tại các hàng bàn rong Kết quả cụ thểnhóm thu được như sau:

Trang 39

Biểu đồ 2.1 Khảo sát về địa chỉ mua sắm thường xuyên các mặt hàng tươi,

sống của người tiêu dùng –Nguồn: Nhóm tự điều tra

Theo kết quả tổng hợp 2.2, và

biểu đồ 2.2 ta có thể thấy: Trong số

300 phiếu điều tra mà nhóm phát ra

thì 201 số người được hỏi lựa chọn

phương án mua các mặt hàng tươi

sống tại các chợ, chiếm 67% tổng số

lựa chọn Điều đó cho thấy phong

cách mua hàng truyền thống vẫn ăn

sâu vào tâm trí của người dân Khi

được phỏng vấn về lý do người tiêu dùng thường xuyên mua hàng tại các chợ thì đa sốngười dân cho rằng các mặt hàng tươi sống tại đây đều mới, được thu hoạch trongngày, rất tươi ngon và giá mềm hơn mua trong siêu thị và các của hàng tiện lợi Tuynhiên, bởi vì các mặt hàng tươi sống tại các chợ là không qua kiểm tra, kiểm soát củacác cơ quan chức năng, do đó vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm là khó đảm bảo

Nhận thức được điều đó, đó cú khá nhiều người dân lựa chọn cho mình nhữngđịa chỉ mua sắm an toàn và thông minh hơn đó là chọn mua mặt hàng tươi sống tại cácsiêu thị (22%), cửa hàng tiện lợi (8%)

Trang 40

Cửa hàng tiện lợi, ví dụnhư Co.opFood, SatraFoods,Minimart, là các cửa hàng chủyếu kinh doanh thực phẩm tươisống (chiếm 30% - 40% tổnglượng hàng), kế đến là một sốmặt hàng hóa mỹ phẩm, thựcphẩm công nghệ, đồ dùng thiếtyếu… Cách thức bán hàng gầngiống cửa hàng tạp hóa truyềnthống: Thực phẩm tươi sống(thịt, cá, rau củ quả, trái cây) được bày bán sẵn cho khách hàng lựa chọn Đối tượng chọnmua ở đây hầu hết đều là những người có công việc bận rụn, cú thu nhập ở mức trên 7triệu /thỏng Lớ do mà nhóm nhận được khi tiến hành phỏng vấn những đối tượng kháchhàng này chủ yếu nhằm tiờt kiệm thời gian và chọn được những sản phẩm chất lượng Lựachọn ưu tiên ít nhất của người tiêu dùng là phương án mua hàng ở các hàng bàn rong( chiếm 2.7%) Đối tượng của những lựa chọn này là nhân viên bán hàng tại các cửa hàng.

Họ thường mua hàng tại đây một phần vì lý do không được phép rời cửa hàng trong giờ làmviệc, lý do khác không kém phần hấp dẫn mà một chị bán hàng mỹ phẩm vui tính trênđường Tôn Thất Tùng cho biết là: “mua của mấy bà bán rong dễ mặc cả nên thường muađược rau, quả với giá rẻ, chỉ tội không được ngon lắm”

Thói quen mua các mặt

hàng tươi, sống tại chợ, người

bán hàng rong tiềm ẩn rất nhiều

mối nguy hại cho sức khỏe

người tiêu dùng Rau xanh trong

quá trình trồng tại các làng rau

ven đô đã nhiễm không ít chất

hóa học cùng với các loại vi

khuẩn khác nhau, khi đến tay

người bán rau xanh lại được tiếp Hàng rong được khá nhiều người lựa chọn

Ngày đăng: 28/08/2023, 16:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Anh/Chị thường mua các sản phẩm thực phẩm tươi sống ở đâu?( Anh/Chị hãy đánh dấu “x” vào những phương án mà Anh/ Chị thấy phù hợp nhất với mình)¨ Chợ¨ Người bán hàng rong¨ Siêu thị¨ Cửa hàng tiện dụng Sách, tạp chí
Tiêu đề: ( Anh/Chị hãy đánh dấu “x” vào những phương án mà Anh/ Chị thấy phù hợpnhất với mình)
3. Anh/ Chị đánh giá thế nào về chất lượng sản phẩm tươi sống mà bạn đang sử dụng?(Anh/ Chị hãy đánh dấu “x” vào phương án Anh/ Chị đồng ý) Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Anh/ Chị hãy đánh dấu “x
1. PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân, Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty, (2010), Kinh tế Quốc Dân, NXB Thống kê Khác
2. TS.Đỗ Thị Phi Hoài, Văn hóa Doanh Nghiệp, (2009), Học viện Tài Chính, NXB Tài Chính Khác
3. Thái Trí Dũng, Tâm lý học quản trị kinh doanh, NXB Thống Kê 4. Luật An toàn thực phẩm 2010 Khác
6. Pháp lệnh 12/2003/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Về vệ sinh an toàn thực phẩm Khác
7. Pháp lệnh giá 2002 8. Agroviet.gov.vn 9. Choluanvan.com 10. Dantri.com.vn 11. Hanoimoi.com.vn 12. Laodong.com.vn 13. Moit.gov.vn 14. Moh.gov.vn 15. Vi.Wikipedia.org 16. Vfa.gov.vn 17. Vncpc.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng hợp số liệu về  mức độ tiêu dùng của người sản xuất với các mặt hàng họ sản xuất - Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và kinh doanh mặt hàng thực phẩm tươi sống tại hà nội hiện nay 1
Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu về mức độ tiêu dùng của người sản xuất với các mặt hàng họ sản xuất (Trang 32)
Bảng 2.2: Tổng hợp kết quả điều tra về cách nhận biết sản phẩm sạch của - Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và kinh doanh mặt hàng thực phẩm tươi sống tại hà nội hiện nay 1
Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả điều tra về cách nhận biết sản phẩm sạch của (Trang 48)
Bảng 2.3.  Đánh giá về chất lượng sản phẩm tươi sống của người tiêu dùng - Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và kinh doanh mặt hàng thực phẩm tươi sống tại hà nội hiện nay 1
Bảng 2.3. Đánh giá về chất lượng sản phẩm tươi sống của người tiêu dùng (Trang 49)
Bảng 2.4: Đánh giá của người sản xuất về chất lượng sản phẩm mà họ đang sản xuất - Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và kinh doanh mặt hàng thực phẩm tươi sống tại hà nội hiện nay 1
Bảng 2.4 Đánh giá của người sản xuất về chất lượng sản phẩm mà họ đang sản xuất (Trang 51)
Bảng 2.5: Bảng tổng hợp đánh giá của người bán hàng về chất lượng sản phẩm của họ - Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và kinh doanh mặt hàng thực phẩm tươi sống tại hà nội hiện nay 1
Bảng 2.5 Bảng tổng hợp đánh giá của người bán hàng về chất lượng sản phẩm của họ (Trang 52)
Bảng 2.6: Lợi ích từ việc sản xuất rau muống theo các cách khác nhau - Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và kinh doanh mặt hàng thực phẩm tươi sống tại hà nội hiện nay 1
Bảng 2.6 Lợi ích từ việc sản xuất rau muống theo các cách khác nhau (Trang 54)
Bảng 2.8: Tổng hợp số lần bị ngộ độc thực phẩm của người tiêu dùng - Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và kinh doanh mặt hàng thực phẩm tươi sống tại hà nội hiện nay 1
Bảng 2.8 Tổng hợp số lần bị ngộ độc thực phẩm của người tiêu dùng (Trang 62)
Bảng 2.9: Tổng hợp số lần bị ngộ độc thực phẩm của nhà sản xuất - Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và kinh doanh mặt hàng thực phẩm tươi sống tại hà nội hiện nay 1
Bảng 2.9 Tổng hợp số lần bị ngộ độc thực phẩm của nhà sản xuất (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w