thuộc địa phải nộp thuế cho chúng để đưa về chính quốc, nộp thuế để chia bớtgánh nặng chi phí cho chiến tranh xâm lược thuộc địa của chúng.Kết quả của nhiều phong trào đấu tranh thắng lợ
Trang 1Lời mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đánh dấu sự mở đầu quátrình đổi mới sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hộicủa Việt Nam, đưa nền kinh tế Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường
có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Sau một thời gian thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo củaĐảng và Nhà nước chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn được nhândân cũng như bạn bè quốc tế thừa nhận và đánh giá cao Nền kinh tế thịtrường với các qui luật kinh tế đã làm thay đổi hẳn bộ mặt nền kinh tế nước
ta Nhưng nền kinh tế thị trường Việt Nam không phát triển tự do dưới sự tácđộng của “bàn tay vô hình” mà phát triển dưới sự quản lý vĩ mô của Nhànước Mét trong những công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết nền kinh tế
đó chính là chính sách tài khóa nên hệ thống thuế ngày càng được quan tâmhoàn thiện hơn để đạt được mục tiêu kinh tế chính trị xã hội trong giai đoạnhiện nay
Do đó, năm 1990 Đảng và Nhà nước đã tiến hành cải cách hệ thốngthuế bước 1 với một hệ thống chính sách thuế tương đối hoàn chỉnh và đầy đủ, thích ứng với hoàn cảnh kinh tế xã hội của đất nước trong giai đoạn đó.Nhưng sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội đất nước
đã làm cho hệ thống chính sách thuế này dần không còn phù hợp, bộc lộnhiều hạn chế cản trở sự phát triển của nền kinh tế thị trường ngày càng lớnmạnh
Trước tình hình này, Đảng và Nhà nước chủ trương chuyển sang côngcuộc cải cách thuế bước 2 để phục vụ những nhiệm vụ mới trong thiên niên
Trang 2kỷ mới mà nội dung chủ yếu là áp dụng hai luật thuế mới là thuế GTGT vàthuế TNDN.
Luật thuế GTGT đã được Quốc hội khoá IX thông qua tại kì họp thứ11(từ 2/4 đến 10/5/1997) và có hiệu lực thi hành từ ngày1/11/1999 Từ đó đếnnay qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh cho phù hợp với nền kinh tế
xã hội ở Việt Nam, thuế GTGT đã thể hiện những ưu điểm vượt trội so vớiluật thuế doanh thu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpcũng như vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế Tuy nhiên, thuếGTGT là loại thuế mới lần đầu tiên được áp dụng tại Việt Nam, trong đó cónhững nội dung và qui định khác với luật thuế doanh thu trước đây và cũngkhông giống hoàn toàn luật thuê GTGT ở các nước khác Mặt khác,việcchuyển từ luật thuế doanh thu sang luật thuế GTGT không chỉ đơn thuần làviệc thay đổi kỹ thuật đánh thuế mà là một sự thay đổi toàn diện bản chất củasắc thuế, thay đổi từ cơ chế chính sách đến biện pháp tổ chức thực hiện Sựthay đổi như vậy sẽ không tránh khỏi sự tác động mạnh mẽ, trực tiếp đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh của hàng vạn doanh nghiệp và nhiều lĩnh vực củađời sống xã hội trong cả nước Vì lẽ đó cần thấy hết những thuận lợi, khókhăn trong quá trình thực hiện luật thuế GTGT từ trước đến nay để có giảipháp nhằm hoàn thiện thuế GTGT ở Việt Nam cho phù hợp với tiến trình đổimới
Xuất phát từ những đòi hỏi về mặt lí luận cũng như thực tiễn tác giả đãmạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp cao học: “Một
số giải pháp nhằm hoàn thiện thuế GTGT ở Việt Nam trong giai đoạn hiệnnay”
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn :
Trang 3- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm lí luận về thuế GTGT, góp phần rútngắn khoảng cách giữa lí luận với thực tiễn ở Việt Nam trong giai đoạn hiệnnay.
- Khẳng định tính tất yếu khách quan và những ưu điểm vượt trội củathuế GTGT so với thuế Doanh thu trước đây
- Tìm kiếm các giải pháp nhằm hoàn thiện thuế GTGT ở Việt Nam
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu :
- Đối tượng nghiên cứu : Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nhữngvấn đề cơ bản về thuế GTGT ở Viêt Nam và ở một số nước trên thế giới
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn không đặt mục tiêu đi sâu nghiên cứu
về kỹ thuật nghiệp vụ thực hiện thuế GTGT Luận văn chỉ đi sâu nghiên cứunhững vấn đề liên quan trực tiếp đến môi trường pháp lý, môi trường kinh tế,tạo điều kiện cho việc thực hiện thuế GTGT, trên cơ sở đó dưa ra các giảipháp cần thiết nhằm hoàn thiện thuế GTGT ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu:
Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu nêu trên, luận văn sử dụng tổng hợpnhiều phương pháp khác nhau như: Phương pháp tổng hợp và phân tích,phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và đối chiếu làm cơ sở để phântích, kết hợp nghiên cứu lý luận với phân tích thực tiễn, các phương pháp cụthể này được thực hiện dựa trên nền tảng của phương pháp luận duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử, trên cơ sở các quan điểm, đường lối chính trị vàkinh tế của Đảng ta
5 Những đóng góp của luận văn.
Trang 4Thuế GTGT đã ra đời, tồn tại và phát triển từ lâu đối với các nước trênThế giới, nhưng với Việt Nam lại là lần đầu tiên Do vậy, luận văn có nhữngđóng góp nhất định cho việc nghiên cứu vấn đề này một cách hệ thống vàkhoa học Luận văn đã hoàn chỉnh về mặt lý luận về quá trình hình thành vàhoàn thiện thuế GTGT trên Thế giới và Việt Nam, những ưu nhược điểm củathuế GTGT và những nội dung cơ bản của thuế GTGT Đồng thời, luận văncũng đã đi sâu phân tích bối cảnh kinh tế- xã hội dẫn đến sự ra đời thuếGTGT ở Việt Nam, phân tích thực trạng thực hiện thuế GTGT, những thuậnlợi cũng như những vấn đề khó khăn, tồn tại cần giải quyết Trên cơ sở đó,luận văn đề xuất những giải pháp hoàn thiện thuế GTGT ở Việt Nam.
6 Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được cấu trúc gồm 3 chương Chương I: Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT trong nền kinh tế thị trường.Chương II: Tình hình triển khai thuế GTGT ở Việt Nam và kinh nghiệm ápdụng thuế GTGT ở một số nước trên Thế giới
Chương III: Một số giải pháp cho thuế GTGT ở Việt Nam
Trang 5Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ GTGT
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ
1.1 Khái niệm
1.1.1 Nguồn gốc ra đời của thuế.
Thuế là một phạm trù kinh tế, đồng thời là một phạm trù lịch sử Thuế rađời, tồn tại, phát triển cùng với Nhà nước - mét sản phẩm tất yếu của sự phâncông lao động xã hội Lịch sử tiến hoá và phát triển của xã hội loài người đãchứng minh có 5 hình thái xã hội: xã hội cộng sản nguyên thủy, xã hội chiếmhữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội XHCN Khimới ra đời, con người sống thành tập đoàn, với những công cụ lao động thô
sơ, sống bằng săn bắn, hái lượm, phụ thuộc vào thiên nhiên, lệ thuộc hoàntoàn vào thời tiết và mùa vụ Thực tế cuộc sống giúp con người đã biết đểdành những sản phẩm đã săn bắt, hái lượm được để sử dụng cho những lúctrái mùa vụ hoặc gặp khi thời tiết khắc nghiệt Ngay trong bối cảnh đó, từngtập đoàn đã xuất hiện sự phân công lao động: có một số người ở nhà coi giữnhững sản phẩm dự trữ, coi giữ "bản danh của tập đoàn", để số người kháctiếp tục đi săn bắn, hái lượm và mở rộng thêm địa bàn săn bắn của mình Từ
sử dụng sản phẩm dự trữ, rồi nghề trồng trọt và chăn nuôi ra đời, con ngườitừng bước làm chủ thiên nhiên, với những công cụ lao động ngày càng hoànthiện, tinh xảo hơn, năng suất lao động ngày càng cao, sản phẩm dự trữ ngàycàng nhiều hơn Và một cách tự nhiên trong tập đoàn xuất hiện một số ngườimuốn chiếm giữ số sản phẩm dự trữ đó, chiếm giữ quyền phân phối sản phẩmtrong tập đoàn có lợi cho mình hơn; muốn áp đặt quyền thống trị của mình,bắt những người khác phải phục tùng mình Trong xã hội xuất hiện giai cấp
Trang 6và phân hoá giai cấp Có giai cấp nắm quyền thống trị xã hội, nắm quyềnphân phối sản phẩm làm ra; có giai cấp bị cai trị Số người đại diện trong giaicấp thống trị xã hội đó dần hình thành nên các tổ chức bộ máy cai trị xã hội
và nó ngày càng được củng cố, hoàn thiện qua các chế độ xã hội - đó là Nhànước Nhà nước là một bộ máy với nhiều hệ thống các cơ quan chức năng cónhiệm vụ khác nhau, nhưng hoạt động thống nhất theo một mục đích, mộtphương hướng - đó là cai quản xã hội, bảo đảm cho xã hội phát triển theođịnh hướng của Nhà nước Đúng như Ăng-ghen đã viết:
"Trước đây không phải lúc nào cũng đã có Nhà nước Đã từng có những
xã hội không cần đến Nhà nước, không có một khái niệm nào về Nhà nước vàchính quyền Nhà nước cả Đến một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định, mộtgiai đoạn tất nhiên phải gắn liền với sự phân chia xã hội thành giai cấp thìNhà nước mới trở thành một tất yếu do sự phân chia đó" Nhà nước xuÊt hiệntrong xã hội có giai cấp nhằm gìn giữ cho sù xung đột giai cấp nằm trong giớihạn của "trật tự" để duy trì và phát triển xã hội Nhà nước ra đời đại diện choquyền lợi của giai cấp thống trị xã hội và cũng theo Ăng-ghen: "Nhà nước làsản phẩm của xã hội trong mét giai đoạn nhất định" và khi "giai cấp mất đi thìNhà nước cũng không tránh khỏi mất theo" - Nhà nước tất yếu sẽ mất đi, cũnggiống như xưa kia nó tất yếu phải xuất hiện - Đó là phạm trù lịch sử của Nhànước Nhà nước, xét ở khía cạnh phân công lao động xã hội, đó là một tổ chức
bộ máy với nhiều hệ thống các cơ quan có chức năng nhiệm vụ khác nhau để
tổ chức, cai quản xã hội; nó bao gồm những người không trực tiếp sản xuất,thoát ly lao động sản xuất để làm chức năng quản lý xã hội Nhưng, nhữngngười đó cũng là những con người, cũng cần thiết phải có cơm ăn, áo mặc,cũng cần phải có phương tiện để làm việc Nói một cách khác, Nhà nước rađời và tồn tại cần phải có nguồn tài chính cần thiết để chi tiêu, trước hết là chicho việc duy trì và củng cố tổ chức bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến cơ
Trang 7sở trong cả nước; chi cho những công việc thuộc chức năng của Nhà nướcnhư: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng;chi cho các vấn đề về phúc lợi công cộng, về sự nghiệp, vÒ xã hội trước mắt
và lâu dài Xã hội càng phát triển thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước càng lớn,
cả về phạm vi và qui mô chi tiêu - xin được nhắc lại: bộ máy Nhà nước baogồm một số người không trực tiếp sản xuất, không tạo ra thu nhập, nhưng lạirất cần có nguồn tài chính để chi tiêu Vậy nguồn tài chính đó lấy ở đâu ra ?Nguồn tài chính đó chỉ có thể "lấy" từ việc động viên đóng góp một phần thunhập xã hội do các tầng lớp dân cư trong xã hội trực tiếp lao động sản xuất ra.Nhưng "lấy" bằng cách nào ? lịch sử ra đời và phát triển của Nhà nước trongcác chế độ xã hội trước đây và hiện nay đã chứng minh rằng Nhà nước có 3hình thức động viên một phần thu nhập xã hội để đáp ứng nhu cầu chi tiêucủa mình là: quyên góp, vay của dân, dùng quyền lực của Nhà nước để buộcdân phải đóng góp Trong 3 hình thức đó thì quyên góp phải tùy thuộc vàokhả năng và sự tự nguyện của mỗi người, do đó không công bằng, không lâudài, không đảm bảo được yêu cầu chi tiêu của Nhà nước, cho nên nó không
cơ bản và thường sử dụng trong những tình huống đặc biệt (như sau cáchmạng tháng 10 Nga, Lênin đã áp dụng hình thức quyên góp trong một thờigian ngắn ; sau cách mạng tháng 8 năm 1945, ở nước ta cũng đã có các hìnhthức lạc quyên phục vụ kháng chiến như: "Tuần lễ vàng", "Mùa đông binh sĩ",
"Một hũ gạo kháng chiến" ) hình thức vay dân thì có vay phải có trả, chưa kểphải trả cả lãi lẫn gốc Nhưng Nhà nước không tạo ra thu nhập thì lấy đâu ra
mà trả ? Do đó, hình thức vay dân cũng không phải là cứu cánh, mà nóthường được sử dụng có giới hạn trong một số trường hợp đặc biệt, hoặc làvay cho đầu tư phát triển để có nguồn trả nợ Rõ ràng chỉ có hình thức dùngquyền lực của Nhà nước buộc dân đóng góp là cơ bản nhất, và đây cũng chính
là một trong những đặc trưng cơ bản của Nhà nước - Hình thức dùng quyền
Trang 8lực Nhà nước buộc dân đóng góp - Đó chính là thuế Nói về quyền lực Nhànước, Ăng-ghen đã viết: "Về Nhà nước đồng thời cũng xuất hiện trong nhữngcuộc xung đột giữa các giai cấp Êy, cho nên theo qui luật chung, nó là Nhànước của giai cấp mạnh nhất, giữ địa vị thống trị về mặt kinh tế, và nhờ cóNhà nước, giai cấp này cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị và do
đó có thêm được những phương tiện mới để trấn áp và bóc lột giai cấp bị ápbức" về quan hệ giữa Nhà nước và thuế, Mác đã viết: "Thuế là cơ sở kinh tếcủa bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn giản tiện cho kho bạc thu được bằng tiềnhay sản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi vịêc chi tiêu củaNhà nước" Ăng-ghen cũng đã chỉ rõ là: "Để duy trì quyền lực công cộng, cầnphải có sự đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế"
Từ sự phát triển trên, có thể rót ra kết luận là: Thuế ra đời và tồn tại cùngvới sự ra đời và tồn tại của Nhà nước, vì Nhà nước và do Nhà nước Nhà nước
ra đời là một tất yếu khách quan, vì vậy thuế là một tất yếu khách quan vớichức năng chủ yếu và đầu tiên là nhằm đảm bảo nguồn tài chính phục vụ chonhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước Trở lại vấn đề: thuế là mộtphần thu nhập do những người dân trực tiếp lao động sản xuất tạo ra và đónggóp cho Nhà nước Như vậy, một vấn đề đặt ra là nếu số của cải vật chất dongười dân sản xuất ra chỉ đủ nuôi sống bản thân họ (tức là tái sản xuất giảnđơn sức lao động) thì làm gì có phần đóng góp cho Nhà nước để nuôi bộ máygián tiếp ? Vấn đề này, Mác đã nghiên cứu và phát hiện ra 2 vấn đề quantrọng làm nền tảng cho những lí luận cơ bản về thuế là: Quá trình tái sản xuấtgiản đơn, tái sản xuất mở rộng là hai thuộc tính cơ bản quan trọng của hànghoá sức lao động Lao động với tư cách là hàng hoá - một loại hàng hoá đặcbiệt, qua hoạt động lao động nó tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của nó, phầnmới sáng tạo ra đó được Mác gọi là thu nhập Đó chính là cơ sở đảm bảo chotái sản xuất mở rộng, là nguồn cho sự động viên tài chính của Nhà nước Rõ
Trang 9ràng là thuế xuất hiện trong xã hội loài người với 2 điều kiện cần và đủ là: sựxuất hiện Nhà nước và sự xuất hiện thu nhập xã hội Sự xuất hiện của Nhànước tạo ra quyền lực tập trung để Nhà nước ban hành các luật lệ về thuếbuộc các thành viên trong xã hội phải thực hiện Sự hình thành thu nhập trong
xã hội là cơ sở tạo khả năng cho nguồn động viên về thuế Có thu nhập thìngười dân mới có để đóng góp cho Nhà nước và ngược lại Cùng với sự pháttriển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, sự phát triển ngày càng caocủa kinh tế hàng hoá - tiền tệ, sự gia tăng mạnh mẽ của quyền lực Nhà nước,
đã phát sinh ra những yêu cầu chi tiêu to lớn, đa dạng và phức tạp, làm nảysinh những biến đổi mới về thuế, các quan hệ về thuế dưới hình thức giá trịđược hình thành và ngày càng phát triển có tính chất hệ thống, các thứ thuếkhác nhau lần lượt ra đời Với bước tiến của lịch sử, chỉ dùng hình thức thuếkhông đủ để đáp ứng yêu cầu chi tiêu; nhất là chi cho những công việc độtxuất, cấp bách, Nhà nước đã áp dụng hình thức phát hành công trái, pháthành giấy bạc, Tuy nhiên, thuế vẫn là hình thức động viên tài chính chủ yếu
và cơ bản nhất của Nhà nước
1.1.2 Khái niệm
Thuế ra đời với những đặc trưng cơ bản như đã trình bày ở phần trên.Nhưng thuế là gì ? Có được một khái niệm thuế tương đối đầy đủ - Đó khôngphải chỉ là một vấn đề học thuật hay từ ngữ đơn thuần, mà nó có ý nghĩa sâusắc cả về lí luận và thực tiễn, giúp cho việc hiểu rõ và làm đúng, một sự cầnthiết cho cả công việc lập pháp và hành pháp trong lĩnh vực thuế Một thực tế
là ở những góc độ khác nhau thì có những khái niệm (hay cách hiểu) về thuếkhông giống nhau Có thể nêu một số dẫn chứng như sau:
- Ở góc độ nghiên cứu về kinh tế chính trị học thì có khái niệm về thuế làhình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc
Trang 10dân để hình thành nên các quĩ tiền tệ tập trung nhằm đáp ứng yêu cầu chi tiêutheo chức năng của Nhà nước.
- Ở góc độ nghiên cứu về pháp luật thì khái niệm về thuế là khoản đónggóp theo qui định của pháp luật mà Nhà nước bắt buộc mọi tổ chức và cánhân phải nộp vào ngân sách Nhà nước
- Theo từ điển tiếng Việt của ủy ban khoa học xã hội xuất bản năm 1977,thì thuế là phần tiền hay sản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọiviệc chi tiêu của Nhà nước
- Ở góc độ người thu thuế thì thường hiểu thuế là khoản đóng góp theonghĩa vụ bắt buộc theo qui định của các luật thuế Thuế là khoản thu khôngphải hoàn trả ngang giá và trực tiếp
- Ở góc độ người nộp thuế thì thường hiểu thuế là khoản bắt buộc phảinộp thuế cho Nhà nước chi tiêu
Những khái niệm về thuế nói trên tuy không sai nhưng rõ ràng là mớinhấn mạnh một chiều theo quan niệm ở từng góc độ khác nhau, cho nên chưathật đầy đủ và chưa thật chính xác Từ những đặc trưng cơ bản về thuế và quakinh nghiệm của một số nước cũng như thực tiễn về thuế ở nước ta, có thểkhái quát thành khái niệm chung về thuế như sau:
"Thuế là một phần thu nhập mà mỗi tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ đónggóp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng yêu cầu chi tiêu theo chức năngcuả Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại".Theo khái niệm về thuế nêu trên, có mấy điểm cần lưu ý sau đây:
+ Thuế trước hết là một phần thu nhập Có thu nhập mới có tiền nộpthuế, nhưng là một phần thôi, phải có phần còn lại để tái sản xuất giản đơn vàtái sản xuất mở rộng trong chu kỳ sản xuất tiếp theo Nếu triệt tiêu sản xuấtthì không có thu nhập để đóng thuế Thu nhập nói ở đây là thu nhập xã hội
Trang 11nhằm kích thích sản xuất phát triển, hạ giá thành sản phẩm, điều chỉnh cơ cấukinh tế theo định hướng của Nhà nước Không nên nhầm lẫn với trường hợpkinh doanh thu lỗ, không có hiệu quả rồi dây dưa không chịu nộp thuế dẫn tới
vi phạm pháp luật
+ Thuế là một trong những nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi rõtrong hiến pháp, Hiến pháp năm 1992 của nước ta đã ghi: "Công dân có nghĩa
vụ đóng thuế theo qui định của pháp luật"
+ Việc qui định nghĩa vụ đóng góp của nhân dân là một vấn đề lớn củamỗi quốc gia, cho nên phải do cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước làQuốc hội ban hành thành văn bản pháp qui là các luật hoặc bộ luật Điều 84của Hiến pháp năm 1992 của nước ta đã ghi: "Quốc hội có nhiệm vụ và quyềnhạn; làm luật và sửa đổi luật, quyết định công trình xây dựng luật, pháp lệnhthuế; Quốc hội qui định sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế"
Ở nước ta, theo qui định hiện hành, Quốc hội có thể uỷ quyền cho cơquan thường trực của mình là ủy ban thường vụ quốc hội ban hành một sốloại thuế dưới hình thức pháp lệnh, để sau một thời gian thi hành sẽ hoànchỉnh và trình quốc hội ban hành thành luật
+ Do phân công lao động xã hội, mỗi người làm một nghề, hoạt động ởmột lĩnh vực cụ thể trong cộng đồng xã hội Việc đóng thuế cho Nhà nước làmột đòi hỏi khách quan để Nhà nước có nguồn tài chính để phục vụ việc thựchiện chức năng, nhiệm vụ của mình, như chi tiêu cho những công việc chung,
vì sự trật tự, an toàn của xã hội, vì sự phát triển sự nghiệp kinh tế văn hoá
-xã hội của đất nước, tạo môi trường pháp lý và điều kiện cho mọi người làm
ăn, trong đó có việc bảo hộ quyền sở hữu về tài sản và thu nhập hợp pháp của
tổ chức và cá nhân Trên ý nghĩa đó, đóng thuế cho Nhà nước vừa là nghĩa vụ,vừa là quyền lợi, là sự tự đầu tư cho mình, một yêu cầu cần thiết khách quan
Trang 12+ Thuế là một phần thu nhập của nhân dân đóng góp cho những chi tiêunhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước là phục vụ nhân dân Nếu tổchức bộ máy của Nhà nước được sắp xếp gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả sẽgóp phần làm giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân và ngược lại Như Mác đãnói: Tổ chức bộ máy Nhà nước cồng kềnh và thuế khoá nặng nề là hai kháiniệm đồng nghĩa.
+ Đối với mỗi tổ chức, cá nhân, sau khi làm tròn nghĩa vụ nộp thuế choNhà nước theo luật định, phần thu nhập còn lại là thuộc sở hữu hợp pháp của
họ phải được pháp luật tôn trọng, bảo vệ và giúp họ sử dụng có hiệu quả phầnthu nhập Êy
1.2 Bản chất của thuế
Từ nguồn gốc ra đời của thuế và khái niệm chung về thuế, rõ ràng thuế
có bản chất kinh tế - chính trị - xã hội rất sâu sắc
- Bản chất kinh tế của thuế thực hiện trước hết là một phần thu nhập của
xã hội được tập trung để phục vụ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Kinh tế là cơ
sở của thuế, thuế gắn chặt chẽ với sản xuất, kinh doanh và kiểm soát thu nhậpcủa mọi tổ chức và cá nhân để động viên và điều hành thu nhập, điều tiết kinh
tế (điều tiết sản xuất và tiêu dùng) Nguồn thu từ thuế cho ngân sách Nhànước chỉ có thể tăng nhiều và nhanh trên cơ sở nền kinh tế được phát triển vàđạt hiệu quả cao Ngược lại, qua thu thuế phải góp phần kích thích sản xuấtkinh doanh phát triển, thúc đẩy thực hành tiết kiệm về mọi mặt trong sản xuất
và tiêu dùng một cách hợp lý để tạo nguồn thu hút ngày càng lớn hơn Chính
vì vậy, nếu Nhà nước tăng mức động viên thuế quá cao chỉ nhằm mục đíchđơn thuần tăng thu ngân sách để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước mà
bỏ qua yêu cầu đảm bảo sự tăng trưởng về kinh tế thì thường là gặp thất bại,
để dẫn đến hậu quả xấu về nhiều mặt, cả về kinh tế chính trị Mức động viên
Trang 13thuế hợp lý sẽ cú tỏc dụng tăng thu cho ngõn sỏch và kớch thớch sản xuất kinhdoanh phỏt triển Nghiờn cứu về giới hạn mức động viờn thuế hợp lý, Laffer(nhà kinh tế học Mỹ) đó đưa ra mụ hỡnh đường cong biểu thị mối quan hệgiữa thuế xuất và tổng số thuế thu được
Theo mụ hỡnh đường cong Laffer, nếu tỉ suất là 0% thỡ số thuế thu được
là 0; ngược lại nếu thuế suất là 100% thỡ số thuế thu được cũng là 0, vỡ làm rabao nhiờu bị Nhà nước thu hết bấy nhiờu nờn khụng ai muốn sản xuất kinhdoanh và Nhà nước cũng khụng cú đõu để mà thu Trong thực tế, nếu qui địnhthuế suất giỏ cao thỡ người sản xuất kinh doanh sẽ tỡm mọi cỏch để trốn lậuthuế và chi phớ cho việc trốn lậu thuế trong nhiều trường hợp là rất cao nhưngvẫn khụng mang lại kết quả mong muốn Việc nghiờn cứu tỡnh hỡnh thực tế đểnõng dần thuế suất từ 5% lờn đến một giới hạn tối đa là t % sẽ đưa đến kếtquả số thuế thu được sẽ tăng theo tỉ lệ thuận với tăng thuế suất, nhưng thuếsuất vượt qua giới hạn t % thỡ kết quả sẽ ngược lại Nghiờn cứu mụ hỡnhđường cong Laffer, chúng ta cú thể đưa ra kết luận quan trọng đú là: Khụngphải cứ tăng thuế là đem lại kết quả tăng thu ngõn sỏch Việc động viờn thuếphải cú giới hạn của nú giới hạn đú khụng thể vượt quỏ một mức nhất địnhtrong tổng số thu nhập (V + m) của xó hội mới sỏng tạo ra Mức thuế hợp lýthường được nhõn dõn dễ chấp nhận và ủng hộ, đồng thời tạo điều kiện thỳc
%
t %0
đồng Số thuế thu đ ợc
lớn nhất
Số thuế thu đ ợc
Giới hạn thuế suất
thuế suất
Trang 14đẩy đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và từ đó số thuế sẽ ngày càng tănglên Trong trường hợp, thuế suất đã qui định quá cao thì giải pháp duy nhất làphải hạ thuế suất, đi đôi với tìm cách mở rộng diện thu thuế, bao quát hếtnguồn thu, để gánh nặng thuế được san sẻ cho nhiều người, như vậy vừa đảmbảo tăng thu, vừa đảm bảo công bằng xã hội trong nghĩa vụ thực hiện nộpthuế cho Nhà nước.
- Về bản chất giai cấp của thuế: thuế ra đời là do sù ra đời của Nhà nước.Nhà nước đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị xã hội, do đó bản chấtcủa Nhà nước quyết định bản chất của thuế Nhà nước mang bản chất giai cấpnên thuế cũng mang bản chất giai cấp
Xét về bản chất thì Nhà nước có hai chức năng: chức năng công quản(quản lý cộng đồng xã hội) và chức năng bảo vệ lợi Ých giai cấp (chức năngchính trị) Nhà nước thực hiện chức năng bảo vệ lợi Ých giai cấp thông quahành vi công quản của mình Có những công việc mà xã hội nào cũng làmtương đối giống nhau (về mặt hiện tượng), nhưng xét về bản chất thì khônggiống nhau, thậm chí là trái ngược nhau Thuế là một trong những công việcnhư vậy Cùng một hiện tượng Nhà nước thu thuế của dân, nhưng với nhữngNhà nước khác nhau thì bản chất giai cấp của thuế cũng khác nhau Điều đóđược Èn chứa bên trong những nội dung chủ yếu là: thuế thu vào ai ? Thu nhưthế nào ? và thu để làm gì ? Nhà nước nào cũng đều phải thu thuế vào dân,nhưng Nhà nước phong kiến thực dân tàn bạo thì còn đặt thêm nhiều loại thuế
hà khắc, bất công, vô lý để vơ vét, bóc lột vừa nặng nề, vừa tàn khốc bắt nhândân lao động phải nộp "sưu cao, thuế nặng" cho chóng chi tiêu, phè phỡn trên
mồ hôi nước mắt của dân (như các loại thuế thân, đinh, thuế tạp dịch dướithời nhà Nguyễn, thuế đặc quyền công quản về rượu, thuốc phiện, muối dướithời thuộc Pháp ) Nhà nước đế quốc thực dân còn bắt nhân dân các nước
Trang 15thuộc địa phải nộp thuế cho chúng để đưa về chính quốc, nộp thuế để chia bớtgánh nặng chi phí cho chiến tranh xâm lược thuộc địa của chúng.
Kết quả của nhiều phong trào đấu tranh thắng lợi, cùng với sự tiến bộcủa xã hội nhân loại, với phương châm "thích ứng để tồn tại" Nhà nước củagiai cấp tư sản ngày nay đã sử dụng nhiều biện pháp bóc lột tinh vi hơn, đãgiảm bớt đáng kể sự trắng trợn, thô bạo hơn trước đây, nhưng trong chínhsách thuế của chúng bao giê cũng dành sự ưu ái có lợi cho các nhà tư bảntrong phát triển sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận cao, thủ đoạn thườngthấy là sử dụng tính luỹ thoái của thuế gián thu nhìn bề ngoài thì có vẻ là côngbằng vì đánh thuế như nhau trên cùng một loại sản phẩm hàng hoá, nhưngthực chất là động viên vào nhân dân lao động cao hơn so với giai cấp tư bản
Về biện pháp thu thuế của các Nhà nước bóc lột, đặc biệt là Nhà nước phongkiến thì cực kỳ dã man, tàn bạo Nhà nước kỳ đốc sưu, đốc thuế, không khác
gì những cuộc vây ráp, truy lùng, thẳng tay đàn áp, đánh đập, chém giếtnhững người thiếu thuế Dẫn đến không Ýt những cảnh bán vợ, đợ con, bỏlàng đi biệt xứ
Song bản chất giai cấp của thuế lại được thực hiện rõ ràng nhất ở mụcđích, ý nghĩa của việc thu, nộp thuế trong xã hội người bóc lột người, nhândân lao động đóng thuế cho Nhà nước để nuôi bộ máy áp bức, bóc lột lạichính mình Còn dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, nhân dân đóng thuế cho Nhànước để chi tiêu cho những công việc nhằm phục vụ trở lại cho nhân dân laođộng, thực hiện chuyên chính vô sản đối với kẻ thù của nhân dân lao động
Đó là điều khác biệt cơ bản về bản chất giai cấp, bản chất chính trị của thuế.Nghiên cứu bản chất giai cấp của thuế để không nhầm lẫn giữa nội dung vàhình thức của thuế (cả hệ thống thuế và từng loại thuế) Hình thức của thuế,hay nói đúng hơn là những kỹ thuật nghiệp vụ của thuế chỉ là phương tiện đểđộng viên thuế Vì vậy, chúng ta hoàn toàn có thể kế thừa, tham khảo, chọn
Trang 16lọc những kinh nghiệm tốt của các nước để nghiên cứu xây dựng một hệthống chính sách thuế phù hợp với điều kiện Việt Nam,vừa mang lại hiệu quả
về thu ngân sách cho Nhà nước, vừa góp phần kích thích kinh tế phát triển,đảm bảo công bằng xã hội
- Thuế còn thực hiện tính xã hội rất rộng rãi Trước hết, vì thuế thu vàotoàn dân, thuế có liên quan đến mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội Thuế gắnliền với Nhà nước, mà trong cơ chế quản lý đất nước ta hiện nay theo côngthức " Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý" thì Nhà nước vàchỉ có Nhà nước là chủ thể duy nhất có chức năng, nghĩa vụ quản lý xã hộimang tính toàn dân, toàn diện mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và quản lýbằng pháp luật (trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninhquốc phòng, đối ngoại ) Thuế là một công cụ có hiệu lực được Nhà nước sửdụng để thực hiện chức năng của mình trong việc quản lý đối với toàn xã hội.Thuế điều chỉnh các quan hệ phân phối, phân phối lại thu nhập xã hội giữacác tổ chức kinh tế, giữa các tầng lớp dân cư - các quan hệ giữa con người vớicon người Do đó, thuế mang tính xã hội rất rộng rãi Nghiên cứu bản chất xãhội của thuế giúp chúng ta quán triệt đầy đủ và sâu sắc yêu cầu về tính đơngiản, dễ hiểu, dễ làm và dễ kiểm tra trong việc hoạch định chính sách thuế vàtrong tổ chức quản lý thu thuế Yêu cầu này trước hết là việc đặt ra chính sáchthuế để thu cho ngân sách là quyền của Nhà nước, còn nộp thuế là nghĩa vụcủa công dân Nhà nước đặt ra thuế là để toàn dân thực hiện, cho nên chínhsách thuế phải rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu mang tính phổ thông, phù hợp vớitrình độ của cả người thu thuế và người nộp thuế; phù hợp với trình độ củamọi tầng lớp dân cư trong xã hội Việc tổ chức quản lý thu thuế cũng phảiquán triệt tính quần chúng, tính công khai, dân chủ thì mới đạt được kết quảtốt Ngược lại, thì dù chính sách thuế có được thiết kế hay đến đây cũng chỉ làtrên giấy Trong thực tế giữa yêu cầu công bằng, bình đẳng và yêu cầu đơn
Trang 17giản, dễ hiểu, dễ làm lại thường có mâu thuẫn với nhau Chính vì vậy, cầnphải xuất phát từ yêu cầu thực tế về kinh tế - xã hội để giải quyết hài hoà giữacác yêu cầu, đảm bảo cho chính sách thuế có tính khả thi cao nhất.
1.3 Các yếu tố chủ yếu cấu thành sắc thuế
Mỗi sắc thuế có những mục đích và yêu cầu riêng nhưng đều được cấuthành bởi các yếu tố cơ bản sau đây:
1.3.1 Tên gọi
Tên gọi nói lên đối tượng tính thuế hoặc nội dung chủ yếu của sắc thuế đó
Ví dụ: Thuế GTGT: Tên gọi của sắc thuế này nói lên đối tượng tính thuếcủa sắc thuế là giá trị tăng thêm của hàng hoá qua mỗi khâu luân chuyển
1.3.2 Đối tượng nộp thuế (người nộp thuế): Là người có trách nhiệm
phải thanh toán tiền thuế với ngân sách Nhà nước Người nộp thuế là các tổchức (pháp nhân) hoặc cá nhân có đăng ký các hoạt động sản xuất kinh doanh
và các hoạt động khác được luật pháp của Nhà nước công nhận và qui địnhnghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập vào ngân sách Nhà nước Đối tượngnộp thuế là chủ thể của thuế Xác định đúng đắn đối tượng nộp thuế cho phépquản lý đầy đủ các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế, mặt kháckiểm tra chặt chẽ việc thực hiện nghĩa vụ của các pháp nhân và cá nhân đótrước Nhà nước
1.3.3 Đối tượng tính thuế: Xác định mức thuế được tính trên căn cứ
nào Đối tượng tính thuế là các khoản thu hoặc thu nhập thuộc các hoạt độngsản xuất kinh doanh và các hoạt động khác được coi là mục tiêu động viêncuả ngân sách Nhà nước Nói cách khác, thuế được động viên từ nguồn nào,nội dung vật chất của nó là gì, đó chính là đối tượng tính thuế Đối tượng tínhthuế là khách thể của thuế Dựa vào đối tượng này cho phép xác định các hìnhthức thuế và các biện pháp động viên thích hợp nhằm đáp ứng những yêu cầu
Trang 18về tập trung nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và tạo điều kiện để quản lýchặt chẽ các hoạt động kinh tế - xã hội.
1.3.4 Thuế suất: Là linh hồn của một sắc thuế, biểu hiện yêu cầu động
viên trên đối tượng tính thuế Hay nói cách khác, thuế suất là mức thuế được
Ên định trên đối tượng tính thuế bằng những phương pháp tính toán phù hợp
Có các loại thuế suất như sau:
- Thuế suất tuyệt đối : Là mức thuế được Ên định bằng số tuyệt đối chocác đối tượng tính thuế
- Thuế suất tỉ lệ: Là mức thuế được Ên định bằng số tương đối hay tỉ lệ
% trên đối tượng tính thuế, gồm :
+ Thuế suất tỷ lệ cố định : Là mức thuế được Ên định bằng số tỷ lệ %
cố định trên đối tượng tính thuế
+ Thuế suất luỹ tiến: Là một hình thức biến tướng của thuế suất tỉ lệ, nó
có đặc điểm đối tượng tính thuế càng lớn tỉ lệ thuế suất càng cao Có haiphương pháp tính lũy tiến là luỹ tiến từng phần và luỹ tiến toàn phần
Thuế suất luỹ tiến từng phần: Thuế được tính từng phần theotừng bậc thuế và thuế suất tương ứng Số thuế phải nộp cuối cùng là tổng sốthuế đã tính co từng phần cộng lại
Thuế suất lũy tiến toàn phần: Thuế được tính chung trên toàn bộđối tượng tính thuế nằm trong bậc thuế với thuế suất tương ứng
1.3.5 Đơn vị tính thuế: Là đơn vị sử dụng làm phương tiện tính toán đối
tượng tính thuế
1.3.6 Giá tính thuế
Giá tính thuế là giá cả lưu thông của hàng hoá, tài sản, súc vật làm căn
cứ để tính thuế
Trang 191.3.7 Ưu đãi miễn giảm thuế
Ưu đãi miễn giảm thuế là số thuế được qui định phải huy động vào ngânsách Nhà nước nhưng được Nhà nước dành lại cho người nộp một phần haytoàn bộ để sử dụng trong một thời gian nhất định, nhằm tạo điều kiện thuậnlợi hoặc khuyến khích kinh tế dưới các đơn vị trong sản xuất kinh doanh
1.3.8 Thủ tục thu nộp thuế
Thủ tục thu nộp thuế bao gồm những qui định về trách nhiệm và cáchthức nộp thuế và ngân sách của đối tượng nộp thuế trước cơ quan thuế và cơquan hữu quan như qui định về thời gian, phương pháp thu nép, thanh toáncác khoản thuế, quyền hạn, trách nhiệm của các bên liên quan trong quan hệthu nộp, chế độ trách nhiệm vật chất của người nộp trước cơ quan tài chínhNhà nước Thủ tục thu nộp được coi như một căn cứ pháp lý góp phần đảmbảo thu nép kịp thời, đều đặn và đầy đủ các khoản thuế vào ngân sách Nhànước
1.4 Phân loại thuế
Thuế ra đời cùng với sự ra đời của Nhà nước Thời kỳ đầu, khi hàng hoáchưa phát triển, thuế thường được thu bằng hiện vật Chế độ thu bằng hiện vật
có mặt giản tiện cho người nộp thuế, làm ra thứ gì nộp thuế bằng thứ Êy; vàNhà nước sử dụng ngay số thuế bằng hiện vật Êy để chi dùng vào những nhucầu cần thiết, thích hợp Nhưng thu thuế bằng hiện vật có mặt bất lợi cho việcthu nộp, bảo quản, không linh hoạt trong cả việc thu thuế và sử dụng số thuếthu được Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
xã hội, kinh tế hàng hoá - tiền tệ ra đời và phát triển, thuế được thu bằng tiền
là chủ yếu Thuế thu bằng tiền, các quan hệ về thuế dưới hình thái giá trị đượchình thành và ngày càng phát triển có tính hệ thống, các thứ thuế khác lầnlượt ra đời làm cho thuế ngày càng đa dạng, phong phó, linh hoạt hơn Nhưng
Trang 20để sử dụng tốt công cụ thuế, cần phải phân loại các hình thức thuế để hiểu rõbản chất của từng loại thuế thu vào ai, thu bao nhiêu, cách tính thuế và tổchức thu nộp thuế như thế nào cho thích hợx và đạt hiệu quả cao Có một sốcách phân loại thuế như sau:
1.4.1 Phân loại theo tính chất điều tiết của thuế
1.4.1.1 Thuế gián thu
Thuế gián thu thường là: Thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuấtnhập khẩu, Bản chất kinh tế của thuế gián thu là người nộp thuế (tức làngười bán hàng hoá, dịch vụ) có thể chuyển dịch số thuế phải nộp sang chongười mua hàng hoá, dịch vụ chịu, bằng cách cộng số thuÕ đó vào giá bánhàng hoá, dịch vụ Do đó, người nộp thuế không(phải là người chịu thuế, màngười chịu thuế chính là người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ
Thuế gián thu bảo đảm được sự tự lựa chọn của người chịu thuế đối vớicác loại hàng hoá, dịch vụ mà họ quyết định mua; bảo đảm được tính tựnguyện chịu thuế Người sản xuất kinh doanh khi bán sản phẩm hàng hoá,dịch vụ sẽ thu thuế gián thu cùng với giá bán hàng (thu hộ Nhà nước) và nộpkhoản thuế này vào ngân sách Nhà nước (nép thay cho người tiêu dùng) Gọi
là thuế gián thu vì Nhà nước thu thuế vào người tiêu dùng nhưng lại khôngthu trực tiếp vào thu nhập của người tiêu dùng (tức là người mua hàng hoá,dịch vụ để sử dụng) mà lại thu gián tiếp qua người bán hàng hoá, dịch vụ
Có thể nói thuế gián thu là loại thuế do toàn dân đóng góp; nghiệp vụtính thuế và thu thuế đơn giản, thu kịp thời hơn thuế trực thu; thuế gián thu
"nằm kín trong giá cả" cho nên dễ thu hơn; người chịu thuế "khó nhận biết" làmình phải nộp thuế nên Ýt có phản ứng hơn Thuế gián thu mang lại nguồnthu thường xuyên và tương đối ổn định cho ngân sách Nhà nước vì bất luậntrong hoàn cảnh nào thì sự tiêu dùng của con người và xã hội cũng luôn diễn
Trang 21ra và có xu hướng phát triển ngày càng đa dạng và phong phú hơn Đối tượngquản lý thuế gián thu cũng hẹp hơn so với thuế trực thu vì "trăm kẻ bán, vạnngười mua", chỉ cần quản lý vào số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hànghoá, dịch vụ là có thể thu được thuế của tất cả những người tiêu dùng hànghoá dịch vụ trong xã hội Đối với những nước có nền kinh tế chưa phát triển,thu nhập còn thấp thì thuế gián thu thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng sốthu của ngân sách Nhà nước Mặt nhược điểm của thuế gián thu là tích luỹthoái của nó Vì thuế gián thu đánh như nhau trên cùng một loại sản phẩmhàng hoá nên người giàu và người nghèo nếu tiêu dùng cùng một loại sảnphẩm hàng hoá với số lượng như nhau thì chịu thuế như nhau, nhưng thựcchất tỉ lệ động viên thuế gián thu so với thu nhập thì người giàu chịu thuế thấphơn người nghèo, người có thu nhập càng cao thì tỉ lệ nộp thuế gián thu trênthu nhập càng thấp.
1.4.1.2 Thuế trực thu
Thuế trực thu thường là thuế thu nhập, thuế tài sản, bản chất kinh tếcủa thuế trực thu là người nộp thuế đồng thời cũng là người chịu thuế Thuếtrực thu thu trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế Ưu điểm của thuế trựcthu là động viên trực tiếp vào thu nhập của từng tổ chức, cá nhân có thu nhậpcho nên đảm bảo được tính công bằng xã hội: người có thu nhập cao thì phảinộp thuế nhiều, người có thu nhập vừa thì phải nộp thuế Ýt hơn, người có thunhập thấp thì không phải nộp thuế Thuế trực thu còn cho phép tính đến cácyếu tố có tính độc lập với thu nhập của người nộp thuế như: hoàn cảnh bảnthân (tật, bệnh); hoàn cảnh gia đình (số người phải nuôi dưỡng) Nhưng thuếtrực thu cũng có những mặt hạn chế là: việc tính toán phức tạp hơn, dễ dẫnđến tình trạng tính toán đúng thì nộp thuế đúng, tính toán không đúng thì nộpthuế không đúng và thường là phải xác định rõ thu nhập thì mới thu được thuếnên thường rất chậm Nhiều trường hợp phải đến kỳ quyết toán mới thu được
Trang 22đủ thuế, có trường hợp thu thiếu thì phải nộp thêm, thu thừa thì phải thoái trả.Một trở ngại khác là thuế trực thu thu trực diện vào thu nhập của các tổ chức,
cá nhân nên về tâm lý là dễ bị phản ứng Mặt khác, nếu chỉ thu thuế trực thuthì diện quản lý thu thuế sẽ rất rộng (đất nước có bao nhiêu người thì có bấynhiêu đối tượng phải kiểm soát thu thuế) tốn nhiều công sức mà hiệu quảthấp
Chính vì vậy, để động viên vào tất cả mọi người trong xã hội, người ta
sử dụng thuế gián thu cùng với thuế trực thu hợp thành hệ thống thuế thốngnhất, trong đó các loại thuế vừa thực hiện chức năng nhiệm vụ chính củamình, vừa hỗ trợ nhau để phát huy tác dụng đồng bộ của cả hệ thống thuế
1.4.2 Phân loại theo đối tượng đánh thuế
Theo cách này thuế được chia thành các loại sau:
- Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ: thuếVAT, thuế XNK, thuế TTĐB,
- Thuế đánh vào thu nhập: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanhnghiệp…
- Thuế đánh vào tài sản như: thuế nhà đất, thuế tài sản
- Thuế đánh vào việc sử dụng tài sản của Nhà nước: thuế tài nguyên,thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng vốn
1.5 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường
Trong thực tế, Nhà nước không làm thay chức năng của thị trường, cũngkhông thể phủ nhận các qui luật kinh tế khách quan của thị trường, mà Nhànước chỉ thông qua các công cụ kinh tế, các danh sách đòn bẩy để tác độngvào thị trường nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của thịtrường, làm cho nền kinh tÕ phát triển theo định hướng của Nhà nước Nhànước quản lý, điều tiết thị trường bằng nhiều công cụ như tài chính, tiền tệ, tín
Trang 23dụng Trong đó, thuế là một trong những công cụ quan trọng mà Nhà nướcnào cũng sử dụng để quản lý, điều tiết đối với nền kinh tế, vì hai lý do là: Nhànước nào cũng phải thu thuế và thông qua công cụ thuế góp phần phân bổ cácnguồn lực, điều chuyển vốn từ tích luỹ để đầu tư sang tiêu dùng, hoặc ngượclại, từ đó mà tác động đến các mối quan hệ trong xã hội, kể cả mối quan hệgiữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội Thuế có vị trí quan trọng, làmột trong những công cụ có hiệu lực của Nhà nước để quản lý, điều tiết vĩ môđối với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường.
Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý, điÚu tiết củaNhà nước thực hiện cụ thể trên các mặt sau:
- Trước hết, thuế góp phần động viên, khai thác các nguồn thu, tạo nênquỹ tập trung của Nhà nước là ngân sách Nhà nước để tác động có hiệu quảvào sự tăng trưởng kinh tế theo định hướng của Nhà nước
- Thông qua việc thu thuế và sử dụng số tiền thuế thu được, Nhà nướcthực hiện vai trò quản lý bằng biện pháp kinh tế của mình đối với các lĩnh vựccủa đời sống kinh tế - xã hội; đảm bảo thực hiện các mục tiêu công bằng xãhội, chú trọng cho sù phát triển mọi mặt của con người, thực hiện dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng văn minh
- Phát huy mặt tích cực của công cụ thuế trong điều chỉnh cung - cầu,phối hợp chặt chẽ với công cụ tài chính - tiền tệ - giá cả, thực hiện kiểm soát
và khống chế vững chắc chỉ số lạm phát, chỉ số bội chi ngân sách Nhà nước, tỉgiá đồng tiền, thanh toán công nợ trong nước và nợ nước ngoài, bảo đảm sự
an toàn và ổn định cho nền kinh tế thị trường phát triển đúng định hướng
- Thông qua công cụ thuế, Nhà nước thực hiện việc phân phối tài chính
có trọng tâm, trọng điểm theo nguyên tắc tiết kiệm, có hiệu quả, bảo đảm cácquan hệ cân đối lớn giữa tích luỹ - tiêu dùng, giữa trước mắt - lâu dài theo kế
Trang 24hoạch định hướng, tạo nhiều kênh huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế
- xã hội của cả nước trong kinh tế thị trường
- Thuế góp phần trực tiếp vào việc khai thác các tiềm năng, phân bổ cácnguồn lực của quốc gia và các nguồn lực từ bên ngoài thông qua việc mở rộngcác quan hệ kinh tế đối ngoại, trên cơ sở đảm bảo chủ quyÒn độc lập của ViệtNam trong quá trình hội nhập với thị trường khu vực và trên thế giới
- Bằng hệ thống pháp luật về thuế, Nhà nước kiểm tra giám sát thườngxuyên và trực tiếp các lĩnh vực hoạt động của thị trường, phát huy những mặttích cực, hạn chế mặt tiêu cực, bảo đảm cho kinh tế thị trường phát triển lànhmạnh, đúng định hướng
Tóm lại, phần thứ nhất đặt ra và giải đáp một cách cơ bản những vấn đềthuộc nội dung lí luận(cơ bản về thuế, đó là: Khái niệm thuế và bản chất củathuế, các yếu tố chủ yéu cÊu thành sắc thuế, vai trò của thuế trong nền kinh tếthị trường Đây cũng là những điểm cốt lõi làm cơ sở lí luận cho việc nhìnnhận, phân tích đánh giá đối với thuế được đề cập đến ở phần 2 của chươngnày
2 THUẾ GTGT - MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ THUẾ GTGT
2.1 Quá trình hình thành và hoàn thiện thuế GTGT
2.1.1 Trên thế giới
Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu được nghiên cứu, áp dụng
từ sau đại chiến thế giới lần thứ I (1914 - 1918) nhằm động viên sự đóng góprộng rãi của quảng đại quần chúng nhân dân cho nhu cầu chi tiêu của Nhànước, để nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh Thuế doanh thu được
áp dụng ở Pháp từ năm 1917 Thời kỳ đầu, thuế doanh thu chỉ đánh ở giaiđoạn cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hoá (khâu bán lẻ), với thuế suấtrÊt thấp Đầu năm 1920, thuế doanh thu được điều chỉnh, đánh vào từng khâu
Trang 25của quá trình sản xuất Trong thực tế, cách đánh thuế này đã phát sinh nhượcđiểm về tính chất trùng lặp Nói cách khác, quá trình sản xuất ra sản phẩmcàng qua nhiều khâu thì thuế càng cao và thuế chồng lên thuế Để khắc phụcnhược điểm này, năm 1936, Pháp đã cải tiến thuế doanh thu qua hình thứcđánh thuế một lần vào công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất (tức là khisản phẩm được đưa vào lưu thông lần đầu) Như vậy, việc đánh thuế độc lập,một lần với độ dài của quá trình sản xuất, khắc phục được hiện tượng đánhthuế trùng lặp trước đó Tuy nhiên, chính sách thuế này lại phát sinh nhượcđiểm là việc thu thuế bị chậm trễ so với trước, vì chỉ khi sản phẩm được đưavào khâu lưu thông lần đầu, Nhà nước mới thu được thuế
Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thuế doanh thu vẫn còn nhược điểm nổibật thuế thu chồng chéo, trùng lặp Đến năm 1954, Chính phủ Pháp đã banhành loại thuế mới với tên gọi là thuế trị giá gia tăng theo tiếng Pháp làTAXESUR LA VALEUR AJOUTE'E (được viết tắt là TVA, theo tiếng Anh
là Value Added Tax, viết tắt là VAT) Lúc đầu VAT được ban hành để ápdụng trước đối với ngành sản xuất, chủ yếu nhằm hạn chế việc thu thuế chồngchéo qua nhiều khâu trong lĩnh vực công nghiệp, với thuế suất đồng loạt là20% và chỉ khấu trừ thuế ở khâu trước đối với nguyên liệu, vật liệu
Quá trình thống nhất hoá châu Âu được thúc đẩy vào những năm 50 đã
có tác dụng thuận lợi để VAT được triển khai nhanh chóng ở các nước khác.Đến năm 1966, trong xu hướng cải tiến hệ thống thuế "đơn giản và hiện đại"chung ở châu Âu, VAT được ban hành chính thức để thay thế một số sắc thuếgián thu
Từ năm 1978, theo yêu cầu điều hoà luật pháp của các nước thành viêncộng đồng kinh tế châu Âu (EEC), nước Pháp điều chỉnh lại luật tài chính,trong đó có phần quan trọng liên quan đến VAT Năm 1986, VAT ở Phápđược áp dụng rộng rãi đối với tất cả các ngành, nghề sản xuất, lưu thông hàng
Trang 26hoá, dịch vụ, nhằm đáp ứng 2 mục tiêu quan trọng: Bảo đảm số thu kịp thời,thường xuyên cho ngân sách Nhà nước và khắc phục tình trạng thu thuế trùnglặp của thuế doanh thu.
Khai sinh từ nước Pháp, thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộngrãi trên thế giới, trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều nước Đến nay, đã
có trên 100 nước áp dụng thuế GTGT, chủ yếu là các châu Phi, châu Mỹ latinh, các nước trong khối cộng đồng chung châu Âu (EEC) và một số nướcchâu Á
Về tên gọi, có nhiều nước gọi là thuế GTGT, điển hình là Pháp, Anh,Thụy Điển, Một số nước gọi là thuế hàng hoá và dịch vụ như: Canada,NiuDilan Ở Phần Lan, Áo, Đức vẫn dùng tên cũ là thuế doanh thu, với quanđiểm cho rằng, đây không phải là sắc thuế mới mà bản chất vẫn như thuếdoanh thu cũ, chỉ thay đổi nội dung, biện pháp thu Mặt khác, các nước nàycòn lập luận cho rằng, đối với hàng nhập khẩu, thuế GTGT đánh trên trị giáhàng nhập, nên không còn ý nghĩa là thuế đánh trên giá trị gia tăng thêmnữa
Nhìn chung, các nước áp dụng thuế GTGT vì thấy rõ nhược điểm của hệthống thuế đang tồn tại ở nước họ trên các mặt:
- Thuế doanh thu tính chồng chéo, không đáp ứng được yêu cầu củachính sách động viên hợp lý về thuế
- Thuế quan đối với hàng nhập có trường hợp phải miễn giảm để phục vụcác quan hệ hợp tác trong khu vực hoặc trên thế giới, vừa gây thất thu chongân sách Nhà nước, vừa không bảo vệ sản xuất nội địa
- Có nhiều sắc thuế làm cho hệ thống thuế trở nên nặng nề, cần đượcthay thế bằng thuế GTGT để có thể bao quát được các đối tượng đánh thuế,nhằm động viên đóng góp của người tiêu dùng
Trang 27- Sự phát triển của hệ thống thuế không theo kịp sự phát triển của nềnkinh tế.
- Khắc phục một phần tình trạng thất thu thuế cho ngân sách Nhà nước.Các thành viên của cộng đồng châu Âu (EEC) đã chọn thuế GTGT nhưmột giải pháp tốt nhất để tăng tính trung lập và thống nhất việc đánh thuếtrong cộng đồng, khuyến khích quá trình công nghiệp hoá và tăng ngân sách Các nước EC có ý định áp dụng một hệ thống thuế suất thống nhất, nhưng đếnnay chưa được thực hiện
Một số nước sử dụng thuế GTGT không chỉ để thay thế các loại thuÕgián thu với nhiều nhược điểm, mà còn nhằm tăng thu cho ngân sách Nhànước (như: Chi Lê, Đan Mạch ) Một số nước coi loại thuế này như mộtnguồn thu mới, cho phép giảm hoặc huỷ bỏ một số sắc thuế khác Rất nhiềucuộc tranh luận ở Mỹ về thuế GTGT, xung quanh vấn đề khả năng thay thếthuế thu nhập Công ty, giảm thuế suất thuế thu nhập cá nhân, cho phép giảmthuế tài sản tài trợ cho BHXH, giảm thuế đánh trên quĩ lương vì thực chất,thuế GTGT là một loại thuế đánh vào tiêu dùng, nói cách khác là động viên từthu nhập của cá nhân hoặc của gia đình khi sử dụng thu nhập cho nhu cầu tiêudùng
Hiện nay, thuế GTGT được đánh giá như một nguồn thu đang "nổi lên",kết hợp với tăng tiêu dùng, đã trở thành một yếu tố quan trọng trong tổng sốthu của các nước đang sử dụng loại thuế này Nhiều nước đã xác định là sốthu của họ trong năm đầu áp dụng thuế GTGT đã đem lại kết quả cao hơnthuế doanh thu trước đó Ở Inđônêsia, thuế GTGT thu ở khâu sản xuất, chếbiến, trong năm đầu áp dụng đã bảo đảm số thu tăng gần 45% so với mục tiêu
đề ra, căn cứ theo tài liệu của thuế doanh thu Ở các nước Áo, Chi Lê, ĐanMạch, Pháp, Marốc, Pêru, trong năm đầu áp dụng thuế GTGT cũng đã tăng
Trang 28khoảng 20% so với thuế doanh thu cũ, mặc dù lúc đó, hệ thống quản lý chưađược hoàn chỉnh.
Hung-ga-ri là nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên áp dụng thuế GTGT từnăm 1988 Mục đích của cuộc cải cách thuế lúc Êy là nhằm giảm bớt gánhnặng về thuế đối với cơ sở kinh doanh, xây dựng hệ thống thuế thống nhấthơn, đơn giản hoá việc đánh thuế và quan hệ giữa thuế với ngân sách Nhànước Đây là một cuộc cải cách giá và thuế, bao gồm cả việc ban hành thuếlợi tức Công ty, thuế thu nhập cá nhân và thuế GTGT, đồng thời với việcgiảm tiền trợ cấp cho các Công ty, cải cách chế độ tài trợ cho BHXH ThuếGTGT ở Hung-ga-ri đã thúc đẩy việc thực hiện hoá đơn tốt hơn để có căn cứcho việc khấu trừ tiền thuế đã nộp ở khâu trước, khi thực hiện việc tính thuế ởkhâu sau Ở Ba Lan, với sự đánh giá là hệ thống thuế cũ không còn đáp ứngđầy đủ những yêu cầu thúc đẩy kinh tế phát triển, thuế GTGT được ban hành
để thay thế từ 7/1993 nhằm phát huy được tác dụng của hệ thống thuế tốt hơnđối với nền kinh tế - xã hội
Trang 29Nhà nước so với thuế doanh thu, tăng cường công tác hạch toán kế toán, gópphần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế ở nước ta phù hợp với kinh tế thịtrường Ngày 28/4/1997 tại kỳ họp quốc hội IX lần thứ 11, quốc hội đã thôngqua dự thảo luật thuế GTGT và chính thức đưa vào áp dụng từ ngày 1/1/1999.Sau hơn 3 năm thực hiện, luật thuế GTGT đã đi vào cuộc sống, phát huytác dụng tích cực trên các mặt của đời sống kinh tế xã hội, như: khuyến khíchphát triển sản xuất kinh doanh; khuyến khích xuất khẩu và đầu tư; thúc đẩyhạch toán kinh doanh của các doanh nghiệp; tạo nguồn thu lớn và ổn định chongân sách Nhà nước; tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia hội nhập quốc tế;góp phần tăng cường quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp nói chung và quản lý thuế nói riêng Trong quá trình thực hiện luậtthuế GTGT đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Bộ tài chính sửađổi, bổ sung một số qui định nhằm khắc phục những tồn tại, đảm bảo cho luậtthuế GTGT phù hợp với thực tiễn của Việt Nam.
2.2 Ưu - nhược điểm của thuế GTGT
Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, một yếu tố cấu thành trong hànghoá, dịch vụ nhằm động viên sự đóng góp của người tiêu dùng
Nói cách khác, thuế GTGT là một sắc thuế duy nhÊt thu theo phân đoạnchia nhá, trong quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá và dịch vụ từ khâu đầutiên đến người tiêu dùng Đến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấpdịch vụ, tổng số thuế thu được ở các công đoạn sẽ khớp với số thuế tính trêngiá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng Cũng nhưcác sắc thuế khác, sắc thuế GTGT cũng có một số ưu, nhược điểm nhất định
2.2.1 Thuế GTGT và những ưu điểm nổi bật
- Vì chỉ tính trên khoản giá trị gia tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ ởtừng khâu bán hàng, không đánh vào phần giá trị đã chịu thuế ở khâu trước
Trang 30cho nên cách tính thuế GTGT là rất khoa học, cần thiết đối với sự phát triểnsản xuất theo hướng CNH-HĐH và phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế.
- Thuế GTGT không thu trùng lặp cho nên góp phần khuyến khíchchuyên môn hoá, hợp tác hoá để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chấtlượng và hạ giá thành sản phẩm
- Thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm, không tính vào vốnnên góp phần khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn ra đầu tư phát triểnsản xuất kinh doanh phù hợp với định hướng phát triển kinh tế ở nước tatrong thời gian tới
- Thuế GTGT góp phần khuyến khích việc sản xuất hàng xuất khẩu vìhàng hoá xuất khẩu chẳng những không phải chịu thuế GTGT ở khâu xuấtkhẩu mà còn được thoái trả toàn bộ số thuế GTGT đã thu ở các khâu trước
- Thuế GTGT được thu tập trung ở ngay khâu đầu tiên là khâu sản xuấthoặc khâu nhập khẩu hàng hoá và ở mỗi khâu đều có thể kiểm tra được việcthu nộp thuế ở khâu trước nên hạn chế được thất thu hơn so với thuế doanh thu
- Thuế GTGT được thực hiện thống nhất và chặt chẽ theo nguyên tắc căn
cứ vào hoá đơn mua, bán hàng để khấu trừ số thuế đã nộp ở khâu trước Điều
đó có nghĩa là nếu không có hoá đơn mua hàng ghi rõ số thuế GTGT đã nộp ởkhâu trước thì không được khấu trừ thuế Với nguyên tắc như vậy, thuếGTGT đã góp phần hạn chế được sai sót, gian lận trong việc ghi chép hoáđơn, tạo tiền đề cho việc tin học hoá quá trình quản lý sản xuất kinh doanh,hạn chế bớt những sai sót, tiêu cực và mang lại nhiều lợi Ých cho nền kinh tế
2.2.2 Những khó khăn gặp phải trong việc áp dụng thuế GTGT
Bên cạnh những ưu điểm kể trên thuế GTGT cũng có những nhược điểmnhất định
Trang 31- Việc hạch toán và quản lý thuế nói chung là tương đối phức tạp, đòi hỏiphải có hoá đơn, chứng từ trong mua bán hàng hoá, dịch vụ, phải theo dõiđược thuế đầu vào, thuế đầu ra khấu trừ hoặc thoái trả thuế.
- Do thuế GTGT chỉ được tính trên phần giá trị tăng thêm nên do vậythuế suất thuế GTGT cao hơn thuế suất thuế doanh thu hiện hành Điều này
dễ gây tâm lí cho rằng Nhà nước tăng thuế và dễ dẫn đến tác động làm tănggiá cho nên cùng với việc giải thích, tuyên truyền cần phải áp dụng biện phápquản lý giá chặt chẽ và phải có các biện pháp kinh tế để kiềm chế, ngăn ngừaviệc lợi dụng tăng giá
- Chuyển từ thuế doanh thu có 11 loại thuế suất (0% - 30%) sang ápdụng thuế GTGT chỉ có 4 loại thuế suất là một bước giảm bớt đáng kể sựphức tạp và sự kém hiệu quả của cơ chế đa thuế suất nhưng trong thời gianđầu cũng gặp phải một số khó khăn là bị dồn thuế suất sẽ dẫn đến bị thiếu hụttrong thu ngân sách Nhà nước và gây "sốc" trong một số doanh nghiệp.Những hàng hoá đang chịu thuế suất cao nay xuống thuế suất thấp sẽ làmgiảm thu cho ngân sách Nhà nước Còn những hàng hoá đang chịu thuế suấtthấp nay lên thuế suất cao sẽ gây lúng túng, khó khăn cho doanh nghiệp
- Thuế GTGT mang tính lũy thoái: Tỉ lệ động viên qua thuế GTGT vớingười có thu nhập thấp lại lớn hơn tỉ lệ động viên đối với người có thu nhậpcao, thuế không đảm bảo yêu cầu công bằng trong chính sách động viên giữangười nghèo và người giàu
- Giữa lí luận và thực tế, thuế GTGT cũng có những điểm chưa đượcnhất quán Thuế GTGT đánh trên phần trị giá tăng thêm nhưng đối với một
số ngành dịch vụ (sửa chữa, chuyển giao công nghệ, dịch vô khoa học) cáchđánh thuế và khấu trừ thuế GTGT như thế nào là hợp lý ? Đối với TSCĐ,mức khấu trừ thuế đã nộp ở đầu vào thế nào là thoả đáng Những vấn đề này
Trang 32là nội dung tranh luận trong nhiều cuộc hội thảo trên thế giới, nhưng đến nay
ở nhiều nước vẫn có những quan điểm và cách xử lí khác nhau
- Nhiều doanh nghiệp trong thời gian đầu cũng sẽ gặp khó khăn vướngmắc đối với hàng hoá tồn kho và sản phẩm dở dang
- Từ những nhược điểm nói trên, thuế GTGT đã bị phản ứng và khôngđược chấp nhận một cách dễ dàng VD: ở Nhật Bản, thuế GTGT đã trở thành
đề tài tranh luận gay gắt trong quá trình nghiên cứu, thậm chí còn bị phê phánkịch liệt, nên mặc dù đã có đề xuất ban hành từ năm 1955, nhưng cho đếnnăm 1988 mới được Quốc hội Nhật Bản thông qua Ở Óc và Niu Di Lân, thuếGTGT cũng đã bị bác bỏ tại các cuộc tranh luận trong nhiều năm đầu thập kỷ
80 khi gia nhập khối cộng đồng châu Âu năm 1981, Hy Lạp đã đồng ý banhành thuế GTGT, nhưng lại tìm nhiều lÝ do để trì hoãn cho đến năm 1987mới chính thức ban hành Đến nay, thuế GTGT vẫn còn gặp nhiều phản ứngcủa một số nước công nghiệp tiên tiến như Mỹ, Óc Vấn đề nổi lên ở đây làtính lũy thoái của thuế GTGT Ở Mỹ, người ta đã tính thử, với thuế suất đồngloạt là 10%, thì người nghèo phải nộp thuế này trên thu nhập cao hơn rấtnhiều, gấp 4 đến 5 lần so với người giàu
Tóm lại, những khó khăn nói trên là những trở ngại thực sự đòi hỏi phải
có dự báo những tình huống có thể xảy ra và nhất là phải có những giải phápcho từng trường hợp để có thể chủ động phòng tránh từ đó hạn chế đượcnhững rủi ro và đảm bảo thực hiện tốt thuế GTGT
2.3 Những nội dung cơ bản về thuế GTGT
Những nội dung cơ bản về thuế GTGT trình bày dưới đây được tríchtrong luật thuế GTGT sè 02/1997/QH9 ngày 10/5/1997 đã được lồng ghépnhững nội dung sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết của Ủy ban thường vụ quốc
Trang 33hội số 90/1999/NQ-UBTVQH 10 ngày 3/9/1999, sè UBTVQH10 ngày 27/10/2000, sè 116/2002/UBTVQH 11 ngày 10/9/2002.
240/2000/NQ-2.3.1 Phạm vi áp dụng
2.3.1.1 Thuế GTGT
Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch
vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
2.3.1.2 Đối tượng chịu thuế GTGT
Hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở ViệtNam là đối tượng chịu thuế GTGT, trừ các đối tượng không thuộc diện chịuthuế GTGT được nêu dưới đây
2.3.1.3 Đối tượng nộp thuế GTGT
Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế (gọichung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịuthuế (gọi chung là người nhập khẩu) là đối tượng nộp thuế GTGT
2.3.1.4 Đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT
Hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT là những hàng hoádịch vụ thuộc đối tượng ưu tiên tạm thời mà hiện tại nền kinh tế nước ta cònyếu cần khuyến khích phát triển, tiếp thu khoa học công nghệ nước ngoài haynhững nhóm hàng hoá, dịch vụ thuộc các vấn đề xã hội mà ngân sách tậptrung đầu tư (y tế, giáo dục, ), hay những hàng hoá, dịch vụ đặc biệt mà Nhànước độc quyền (vũ khí, khí tài, in tiền, )
2.3.2 Căn cứ tính thuế
2.3.2.1 Căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất
2.3.2.2 Giá tính thuế
Trang 34Giá tính thuế GTGT được qui định như sau:
- Đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT
- Đối với hàng hoá nhập khẩu là giá nhập khẩu tại cửa khẩu, cộng vớithuế nhập khẩu
- Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, sử dụng nội bộ, biếu, tặng
là giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tạithời điểm phát sinh các hoạt động này
- Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền thuê thu từng kỳ
- Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp là giá bán tính theo giátrả một lần
- Đối với gia công hàng hoá là giá gia công
- Đối với hàng hoá, dịch vụ khác là giá do Chính phủ qui định
2.3.2.3 Thuế suất
Mức thuế suất thuế GTGT được qui định như sau:
- Mức thuế suất 0% được áp đối với hàng hoá, dịch vụ ưu đãi tạm thời :hàng hoá xuất khẩu, phần mềm máy tính xuất khẩu, sửa chữa máy móc thiết
bị, phương tiện vận tải cho nước ngoài, xuất khẩu lao động,
- Mức thuế suất 5% đối với hàng hoá dịch vụ thiết yếu : nước sạch; phânbón, quặng; thiết bị dụng cụ y tế; thuốc bệnh; giáo cụ để dạy và học; đồ chơi,sách khoa học - kỹ thuật ,
- Mức thuế suất 10% được áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ thôngthường : Dầu mỏ, khí đốt, than đá, quặng và sản phẩm khai khoáng khác; điệnthương phẩm, sản phẩm điện tử, cơ khí , đồ điện,
- Mức thuế suất 20% đối với các hàng hoá dịch vụ có giá trị gia tăngcao : vàng, bạc, đá quí do cơ sở kinh doanh mua vào , bán ra; khách sạn, du
Trang 35lịch, ăn uống, xổ số kiến thiết và các loại xổ số khác, đại lý tàu biển; dịch vụmôi giới,
= số thuế GTGT đã thanh toán được ghi
trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch
x Thuế suấtthuế GTGTPhương pháp này áp dụng với các đối tượng sau: Cá nhân sản xuất, kinhdoanh và tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam chưa đủ căn cứ
để tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế; cơ sở kinh doanh mua, bánvàng, bạc, đá quí
2.3.4 Đăng ký, kê khai, nộp và quyết toán thuế
2.3.4.1 Đăng ký nộp thuế
Cơ sở kinh doanh phải đăng ký nộp thuế GTGT với cơ quan thuế trựctiếp quản lý theo hướng dÉn của cơ quan thuế Với cơ sở kinh doanh mớithành lập, thời gian đăng ký chậm nhất là 10 ngày Trường hợp sáp nhập,chia, tách, giải thể, phá sản phải khai báo chậm nhất là 5 ngày trước đó
Trang 36Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp nếu thực hiện đầy
đủ chế độ về hoá đơn, chứng từ, tự nguyện đăng ký nộp thuế theo phươngpháp khấu trừ thì cơ quan thuế xem xét để thực hiện
2.3.4.2 Kê khai thuế
- Cơ sở kinh doanh phải kê khai thuế và nộp tờ khai cho cơ quan thuếtrong 10 ngày đầu của tháng tiếp theo
- Cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu phải kê khai và nộp tờ khai thuếGTGT theo từng lần nhập khẩu
- Cơ sở kinh doanh buôn chuyến phải kê khai và nộp thuế theo từngchuyến hàng với cơ quan thuế nơi mua hàng, trước khi vận chuyển hàng đi
- Nếu kinh doanh nhiều loại hàng hoá, dịch vụ có nhiều mức thuế suấtthì phải kê khai theo từng mức thuế nếu không thì phải tính và nộp thuế theomức thuế suất cao nhất
2.3.4.3 Nộp thuế
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT đầy đủ, đúng hạn vào ngân sách Nhànước theo thông báo nộp thuế của cơ quan thuế Thời hạn nộp thuế của thángđược ghi trong thông báo chậm nhất không quá 25 ngày của tháng tiếp theo
- Cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu hàng hoá phải nộp thuế GTGTtheo từng lần nhập khẩu (thực hiện theo thời hạn thông báo và nộp thuế nhậpkhẩu)
- Đối với cơ sở nộp thuế theo phương pháp khấu trừ, nếu thuế đầu vàolớn hơn đầu ra thì được khấu trừ vào kỳ thuế tiếp theo
- Nộp thuế GTGT vào ngân sách bằng đồng Việt Nam
2.3.4.4 Quyết toán thuế
Cơ sở kinh doanh phải thực hiện quyết toán thuế hàng năm với cơ quanthuế Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày kết thúc năm phải nộp báo cáo quyết
Trang 37toán và phải nộp số thuế thiếu vào ngân sách trong thời hạn 10 ngày kể từngày nộp báo cáo, nếu nộp thừa thì được trừ vào số thuế phải nộp kỳ tiếptheo Năm quyết toán tính theo năm dương lịch.
Trong trường hợp sáp nhập, chia tách, giải thể, phá sản phải thực hiệnquyết toán thuế và gửi báo cáo quyết toán trong thời hạn 45 ngày
2.3.5 Hoàn thuế
Việc hoàn thuế GTGT được thực hiện trong các trường hợp sau:
- Nếu số thuế đầu vào được khấu trừ của các tháng trong quí lớn hơn sốthuế đầu ra
- Quyết toán thuế khi sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản có số thuếnộp thừa
Việc hoàn thuế là sự khuyến khích của Nhà nước đối với các cơ sở kinhdoanh trong việc mở rộng sản xuất, đầu tư và hoạt động xuất khẩu
2.3.6 Miễn, giảm thuế
Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừtrong những năm đầu áp dụng thuế GTGT mà bị lỗ do số thuế GTGT phảinộp lớn hơn số thuế tính theo mức thuế doanh thu trước đây thì được xét giảmthuế Mức thuế GTGT được xét giảm tương ứng với số lỗ nhưng không quá
số chênh lệch giữa thuế GTGT phải nộp với số thuế tính theo mức thuế doanhthu trước đây của năm được xét giảm thuế Thời gian được xét giảm thuếGTGT theo qui định được xét từng năm, tính theo năm dương lịch và chỉ thựchiện trong 3 năm đầu (1999 - 2001)
Việc miễn, giảm thuế làm giảm bớt khó khăn về mặt tài chính cho doanhnghiệp
2.3.7 Xử lí vi phạm
Trang 38- Đối với đối tượng nộp thuế nếu không thực hiện đúng những qui định
về đăng ký, kê khai, nộp và quyết toán thuế như nộp chậm, khai man, khôngnộp thuế, nộp phạt thì tuỳ từng tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt viphạm: xử phạt vi phạm hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự, trích tiềngửi của đối tượng nộp thuế tại ngân hàng, kho bạc, tổ chức tín dụng để nộpthuế, nộp phạt; giữa hàng hoá, tang vật, kê biên tài sản theo qui định của phápluật
- Đối với cán bộ thuế, cá nhân lợi dụng chức quyền để làm sai; thiếu tinhthần trách nhiệm, xử lý sai gây thiệt hại; thông đồng; bao che cho người viphạm; hoặc những người cản trở, xúi giục người khác, cản trở thi hành luậtthuế thì cũng tùy theo từng tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hoặc truycứu trách nhiệm hình sự theo qui định của pháp luật
Sau hơn 4 năm thực hiện, đến nay luật thuế GTGT đã thực hiện tính ưuviệt rõ ràng của nó trong nền kinh tế thị trường như tăng thu ngân sách, tạođiều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh, Để thấy rõ được điều này ta đinghiên cứu tình hình triển khai thuế GTGT ở Việt Nam kể từ khi chính thứcđược đưa vào áp dụng cho đến nay
Trang 39CHƯƠNG II TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THUẾ GTGT Ở VIỆT NAM
VÀ KINH NGHIỆM ÁP DỤNG THUẾ GTGT Ở MỘT SỐ NƯỚC
tế Việt Nam đạt tăng trưởng với tốc độ khá cao, trung bình từ 1994 - 1998 đạt8,7%/năm, mức kỷ lục là 9,5% năm 1995 Hệ thống thuế qua thi hành trongthực tế đã góp phần tích cực vào việc làm thay đổi cơ cấu các thành phần kinh
tế ở nước ta, tạo cho nền kinh tế có điều kiện phát triển mạnh mẽ, đa dạng vàphong phú hơn
Khu vực kinh tế quốc doanh được sắp xếp lại, từ 12.000 cơ sở đến năm
1995 còn xấp xỉ 7.000 cơ sở và đến năm 1998 chỉ còn 5.000 cơ sở, giảm bớtnhững doanh nghiệp kinh doanh bị thua lỗ Khu vực kinh tế tập thể cũng đượccủng cố Đến năm 1998 đã có thêm hàng vạn các cơ sở kinh doanh thuộc cácloại hình doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, Công ty cổ phần Khu vực
hộ cá thể và tổ chức kinh tế của các cơ quan đoàn thể bung ra kinh doanhthương mại, dịch vụ ngày càng nhiều hơn Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài,theo tài liệu của Bộ kế hoạch và đầu tư, tính đến 31/12/1998 có hơn 2.000 dự
án đầu tư của 54 nước và các vùng lãnh thổ được cấp giấy phép đang có hiệu
Trang 40lực, với tổng số vốn đầu tư gần 30 tỉ đô la Ngoài ra, còn có các hình thức đầu
tư gián tiếp trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp luật, giáodục, y tế, (Theo niên giám thống kê năm 1998, tình hình phát triển của cácdoanh nghiệp từ năm 1993 đến năm 1998 được thực hiện trong bảng số 1)
Bảng 1: Tình hình phát triển các doanh nghiệp (Từ 1993 - 1998)
Tổng sè doanh nghiệp 18.854 26.502 33.536 41.460 45.159 51.095
DN Nhà nước 5.704 6.042 6.310 6.008 5.637 5.000
DN tư nhân 8.684 13.772 18.243 23.756 27.826 32.597 Công ty TNHH 3.390 5.120 7.346 8.325 9.174 10.786
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản bước đầu có sựchuyển dịch theo hướng đa dạng hoá, đã hình thành các vùng sản xuất hànghoá tập trung Mặc dù đạt tốc độ tăng trưởng khá, nhưng tỉ trọng nông nghiệp
có xu hướng giảm, tỉ trọng thủy sản có xu hướng tăng, là một xu hướng tíchcực Giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 1998 đạt hơn 2,4 tỉ USD,