1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hương ước và tính tự trị của làng xã cổ

14 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hương ước và tính tự trị của làng xã cổ
Người hướng dẫn PGS. TS. Trần Thị Thái Hà
Trường học Trường Đại Học Sài Gòn
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021-2022
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 124,03 KB
File đính kèm LSLX504_106_CH06202004_Phan Thi Lam.rar (119 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Làng Việt Nam hình thành và tồn tại gắn liền với quá trình lịch sử dân tộc. Để làng xã tồn tại ổn định cùng chiều dài lịch sử, trên cơ sở pháp luật nhà nước, các làng đã đưa ra các bản hương ước. Đó là những tục lệ của làng xã được những người dân trong làng đồng thuận để duy trì lệ làng, phép nước; duy trì các nguyên tắc cai trị bên trong làng xã. Nhưng bên cạnh đó, mỗi làng cũng thể hiện tính tự trị riêng của mình mà không hoàn toàn thực hiện theo pháp luật của nhà nước với tinh thần “phép vua thua lệ làng”. Có ý kiến cho rằng: Đặc tính của hương ước là tự quản. Nếu hương ước chỉ là sao chép các quy định của pháp luật, của chính sách của Nhà nước – có nghĩa là hương ước đồng nghĩa với pháp luật mang tính phổ biến thì cũng không phải là hương ước. Vậy, giữa hương ước và tính tự trị của làng xã cổ truyền của người Việt trước năm 1945 có mối quan hệ như thế nào ?. Qua tiểu luận, xin phân tích theo một số nội dung sau:

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN KỲ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN

Học kỳ: 2 - Đợt: 1 , Khóa: 20.2 Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Môn thi: LÀNG XÃ VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ

Mã môn thi: LSLX504 Phòng thi: 106

Họ và tên: Phan Thị Lâm

Ngày sinh: 09/08/1991

Mã số học viên: CH06202004

(Họ và tên, chữ ký)

Cán bộ chấm thi 2

(Họ và tên, chữ ký) Bài thi Phát vấn

Trang 2

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN PHÒNG SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN LÀNG XÃ VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ

Đề tài: Có ý kiến cho rằng: “Đặc tính của hương ước là tự quản, nếu hương ước chỉ

là sao chép các quy định của pháp luật, của chính sách nhà nước – có nghĩa là hương ước đồng nghĩa với pháp luật mang tính phổ biến thì cũng không phải là

hương ước”

Theo anh/chị giữa hương ước và tính tự trị của làng xã cổ truyền của người Việt

trước năm 1945 có mối quan hệ như thế nào?

Họ và tên HV: Phan Thị Lâm MHV: CH06202004 Giảng viên: PGS TS Trần Thị Thái Hà.

Lớp: LVS 202

Năm học 2021 - 2022

z

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Hương ước làng xã Việt Nam trước năm 1945 4

a Nguồn gốc: 4

b Nội dung : 5

c Vai trò: 7

2 Tính tự trị của làng xã 8

3 Mối quan hệ giữa hương ước và tính tự trị 11

KẾT LUẬN 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 4

MỞ ĐẦU

Trong tiến trình lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho đến nay, làng luôn đóng vai trò quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Làng có vị trí đặc biệt đối với lịch sử đất nước nói chung và đối với mỗi người dân Việt Nam nói riêng Làng là cơ sở, nền tảng của văn hóa, văn minh Việt

Người dân Việt Nam thường gọi làng với những cái tên rất mộc mạc gần gũi: Cổng làng, lũy tre làng, cây đa, bến nước, sân đình…Phải chăng, đó là những đặc trưng riêng mà chỉ làng mới có, và chỉ có dân làng mới biết tới

Cũng chính những cái riêng chỉ có làng mới đó, đã biến làng thành pháo đài bất khả xâm phạm Từ thời xưa, mọi kẻ địch xâm lăng, kể cả sau này là những đế quốc Pháp,

Mĩ hùng mạnh chúng không thể nắm nước ta tới hết được làng xã Và cũng chính làng, là nơi nuôi quân, che giấu bộ đội, giúp cho Việt Nam ta chiến thắng bao kẻ thù xâm lược

Vậy thì, hẳn phải có một thế lực mạnh nào đó đằng sau cánh cổng, lũy tre , thì làng mới có thể mạnh mẽ tồn trường cùng thời gian Đó chính là bộ máy quản lý làng và hương ước – tục lệ làng

Làng Việt Nam hình thành và tồn tại gắn liền với quá trình lịch sử dân tộc Để làng xã tồn tại ổn định cùng chiều dài lịch sử, trên cơ sở pháp luật nhà nước, các làng đã đưa ra các bản hương ước Đó là những tục lệ của làng xã được những người dân trong làng đồng thuận để duy trì lệ làng, phép nước; duy trì các nguyên tắc cai trị bên trong làng xã Nhưng bên cạnh đó, mỗi làng cũng thể hiện tính tự trị riêng của mình mà không hoàn toàn thực hiện theo pháp luật của nhà nước với tinh thần “phép vua thua lệ làng”

Có ý kiến cho rằng: Đặc tính của hương ước là tự quản Nếu hương ước chỉ là sao chép các quy định của pháp luật, của chính sách của Nhà nước – có nghĩa là hương ước đồng nghĩa với pháp luật mang tính phổ biến thì cũng không phải là hương ước

Vậy, giữa hương ước và tính tự trị của làng xã cổ truyền của người Việt trước năm 1945 có mối quan hệ như thế nào ? Qua tiểu luận, xin phân tích theo một số nội dung sau:

Trang 5

1 Hương ước làng xã Việt Nam trước năm 1945

a Nguồn gốc:

Hương ước là thuật ngữ gốc Hán, khi du nhập vào Việt Nam nó vẫn được giữ nguyên nghĩa Hương ước là danh từ thông dụng và có ý nghĩa đầy đủ nhất để gọi bản ghi chép hệ thống lệ làng GS Định Gia Khánh viết:“Hương ước là bản ghi chép các điều lệ liên quan đến tổ chức xã hội cũng như đến đời sống xã hội trong làng, các điều lệ hình thành dân trong lịch sử được điều chỉnh và bổ sung mỗi khi cần thiết”

Hương ước còn có các tên gọi khác như : hương biên, hương lệ, hương khoán, khoán làng

Trong làng xã Việt Nam xưa, luật lệ tồn tại dưới nhiều hình thức, từ luật lệ truyền miệng đến luật lệ thành văn Một số hương ước thành văn đã thể hiện, chính nó đã kế thừa luật lệ truyền miệng trước đó Điều đó chứng tỏ rằng, từ rất sớm các công xã cổ truyền rồi đến công xã nông thôn đã xuất hiện các khoán ước mà phổ biến là quy ước truyền miệng

Về thời điểm xuất hiện hương ước, các nhà nghiên cứu lịch sử, dân tộc học từ trước đến nay vẫn chưa khẳng định Nhưng qua các tài liệu thư tịch cổ cho biết, chỉ dụ của vua Lê Thánh Tông về việc biên soạn và thi hành hương ước như sau:

- Các làng xã không nên có khoản ước riêng vì đã có luật chung của nhà nước

- Riêng làng xã nào có những tục khác lạ thì có thể lập khoán ước và cấm lệ

Trong trường hợp đó, thảo ra hương ước phải là người có trình độ nho học, có đức hạnh,

có chức và có tuổi tác

- Thảo xong, phải được quan trên kiểm duyệt và có thể bị bác bỏ

Khi đã có khoán ước rồi, mà vẫn có người không chịu tuân theo, cử nhóm họp riêng, thì những kẻ ấy sẽ bị quan trên trị tội

Như vậy, có thể thấy rằng, đến đời vua Lê Thánh Tông đã có hương ước rồi nhưng hiện nay các nhà nghiên cứu chưa tìm thấy bản hương ước nào soạn thảo vào thế kỷ XVI

b Nội dung :

Nội dung các bản hương ước sẽ được thay đổi qua các thời kì cho phù hợp để quản

lý làng Hương ước là Ngọc Hà – Hà Nội viết: “điều nào hại thời đổi, điều nào lợi thời theo, mục đích làm cho gia tộc được thịnh giầu, dân làng có trật tự, sau sẽ theo trình tự tiến hóa mà cải thêm”

Trang 6

Mỗi làng, xã lại có những điều kiện, đặc điểm khác nhau, do đó, các bản hương ước cũng có sự khác nhau, “mỗi làng mỗi vẻ” cả về nội dung, bố cục, hình thức trình bày

Hương ước được soạn thảo thành văn, nhưng cũng có khi bất thành văn, nó được xem như một bộ luật của làng Hương ước thành văn có loại được viết trên giấy hàng năm được đọc trước dân làng để duy trì, bổ sung, sửa đổi, có loại được khắc vào bia đá chuông đồng để lưu truyền (như thể lệ cúng giỗ, ruộng công)

Trong phạm vi tiểu luận, xin được trích một số nội dung trong hương ước của làng Ngọc

Hà – Hà Nội để làm ví dụ

Nội dung của các bản hương ước thường gồm 4 quy ước:``

- Quy ước về chế độ ruộng đất: quy định việc sử dụng đất đai

- Quy ước về khuyến nông, bảo vệ sản xuất, môi trường: khuyến nông, phát triển sản xuất, đặc biệt là phát triển sản xuất nông nghiệp

Hương ước làng Ngọc Hà có các điều 86 đến 90 quy định về công tác ruộng đất, khuyến nông

“Điều 86: Thường năm làng tu bổ các đường Khuyến nông và khai sâu ngòi chảy, chứa nước cho tiện việc làm ruộng

Điều thứ 87: Cấm không ai được cầy lở bờ ruộng mà không đắp lại để võ lở dần

đi Ai phạm Hội đồng phạt 0,10$

Điều thứ 88: Cấm không được đáp khảm qua ngòi mà đơm cá, khiến nước không thông Ai phạm Hội đồng phạt 0,10$

Điều thứ 89 Cấm chăn trâu bò bờ ruộng khi lúa đã tốt Ai phạm Hội đồng phạt 0.10$ Nếu trâu bò ăn lúa của ai thời phải đền nữa

Điều thứ 90: Cấm chăn vịt nhiều ngoài đồng khi đã gieo mạ và cấy lúa Ai phạm Hội đồng phạt 1.00$ nhưng vị phá lúa mạ thời phải đền nữa.”

- Quy ước về tổ chức xã hội và trách nhiệm các chức dịch của làng: quy định về việc giữ gìn trật tự an ninh xóm làng; động viên, khuyến khích con em nhân dân tích cực học tập để mở mang văn minh cho làng xã; quy định về trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ tài sản công, nhất là những di sản văn hóa truyền thống như: đình, chùa, đền, miếu, những danh lam thắng cảnh, việc bảo vệ môi trường;

Hương ước làng Ngọc Hà điều thứ 36: Lý trưởng là người thay mặt làng mà thừa hành việc quan Phó lý là người giúp việc lý trưởng

Trang 7

Điều 37: Chánh phó lý không có quyền tự quyết định được việc làng, phải theo ý chung của các tộc biểu

Hương ước làng Ngọc Hà quy định về giáo dục:

“Điều 100: Dạy trẻ con có học thức phổ thông là nghĩa vụ người làm phụ huynh không ai được trừ Làng mở một trường học để dạy trẻ trong làng.”

“Điều 103: Làng lấy tiền công mua bút giấy cấp cho những con nhà nghèo mà Hội đồng xét thực không thể mua được.”

- Quy ước về văn hóa tinh thần và tín ngưỡng: quy định việc thực hiện thuần phong mĩ tục, phong tục, tập quán như: các nghi thức hiếu, hỉ, tổ chức hội hè, tế lễ, thờ cúng, thực hiện các mối quan hệ với người thân trong gia đình, với cộng đồng làng xóm

Về phong tục tập quán : các nghi thức hiếu hỉ, hội hè như:

“Điều thứ 127 việc hỉ: Trong làng có ai có thi đỗ ăn mừng, hoặc được thăng thưởng hàm, hoặc lên lão, hoặc thượng thọ mời dân yến ẩm thì dân mừng một đôi câu đối vóc và một buồng cau trị giá năm đồng bạc.”

“Điều thứ 129: Việc hiếu: Trong làng có việc tang hiếu mời dân rạp thì phải đưa

ba chục khẩu trầu đến nhà lý trưởng, phải cho loan báo mời dân, nhưng lý trưởng phải biên một giấy dán tại đình từ đầu bàn sáu giở xuống cả thảy là bao nhiêu tráng hàng…”

Trong các quy ước trên thì quy ước về chế độ ruộng đất có vị trí quan trọng nhất bởi vì đại đa số người dân của các làng đều làm nông nghiệp là chủ yếu

Ngoài bốn loại quy ước cơ bản trên, có làng lại ghi thêm vào hương ước những điều khoản về sự đóng góp các loại công quỹ, về tổ chức khao vọng, về “lễ ra làng” (lễ thành tinh)

Nhìn chung, nội dung của hương ước là các vấn đề cụ thể gắn với hoàn cảnh phong tục tập quán lâu đời của từng làng, đến lợi ích thiết thân của dân làng Hương ước

ra đời dựa trên các nguyên tắc đạo đức, các quan niệm tín ngưỡng truyền thống xuất phát

từ nền kinh tế nông nghiệp tự cấp, tự túc, cơ sở xã hội là thiết chế làng xã với nhiều hình thức tổ chức và các quan hệ đan xen chồng chéo, cơ sở kinh tế là chế độ công điền công thổ

c Vai trò:

Hương ước tồn tại song song cùng luật pháp, giữ vai trò là công cụ điều hòa các thiết chế của bộ máy chính trị - xã hội ở địa phương: xóm ngõ, dòng họ, phe giáp, phường hội; là sợi dây ràng buộc hữu cơ mọi thành viên, tổ chức

Trang 8

Hương ước là phương tiện để chuyển tải pháp luật và tư tưởng Nho giáo vào làng

xã hỗ trợ và bổ sung cho pháp luật khi cần xử lí những việc cụ thể nảy sinh từ nếp sống đặc thù của làng

Hương ước cũng là công cụ để Nhà nước can thiệp, quản lý, điều hoà lợi ích giữa làng xã với Nhà nước

Qua việc thực hiện hương ước, truyền thống hiếu nghĩa, hòa thuận đạo hiếu gia đình tình làng nghĩa xóm và sự gắn kết cộng đồng được củng cố, việc công ích nghĩa vụ với nhà nước được thực hiện tốt Dù hương ước còn thể hiện tư tưởng bè phái, cục bộ, địa

vị ngôi thứ, đẳng cấp trong các quan hệ ứng xử làng xã, và thực tế đã xảy ra việc tranh chấp địa vị sự thao túng của các chức sắc có đẳng cấp cao Tuy vậy, hương ước vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định cuộc sống trong làng

Như vậy, hương ước là một công cụ quan trọng góp phần quản lí xã hội trong phạm vi làng, xã Việt Nam từ nhiều thế kỉ qua, trong chế độ phong kiến, hương ước tồn tại song song với pháp luật của Nhà nước phong kiến Việt Nam, góp phần giữ gìn bản sắc và phong tục tập quán của dân tộc

2 Tính tự trị của làng xã

Làng là cộng đồng dân sự tự trị, là một thực thể thống nhất Nó có đầy đủ các bộ phận để hoạt động, để “sống” và tự bảo vệ mình khỏi xâm nhập từ bên ngoài

Về địa vực: Mỗi làng đều có giới hạn phạm vi của làng rất rõ ràng Nhiều làng có

mốc giới lãnh thổ, có cổng làng và điếm canh….Vấn đề địa vực còn thể hiện rất rõ qua

“dân chính cư” và “dân ngụ cư” hay còn gọi là “dân nội tịch” và “dân ngoại tịch” Thường thì dân ngụ cư bị coi thường, khinh rẻ và chỉ được sống ở mép làng

Về văn hoá tín ngưỡng: Đình là nơi sinh hoạt văn hoá của cả làng Thường mỗi

làng có một ngôi đình, thờ một vị thành hoàng Dân gian đã có câu: “Trống làng nào làng

ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ” Cùng đó mỗi làng có một lễ hội khác nhau Thời gian và cách thức tổ chức lễ hội phụ thuộc vào mỗi vị thánh làng thờ

Mỗi làng xã có cá tính khác nhau Thậm chí nhờ vào tính cách đặc trưng đó của làng, người ta có thể nhận biết được làng

Về lệ tục của làng: mỗi làng có những quy định riêng, thể hiện qua hương ước.

Nhiều khi hương ước của làng này đề cập đến một số vấn đề mà hương ước làng khác không có, thậm chí có trường hợp hương ước làng này trái hẳn với hương ước làng kia

Trang 9

Tính tự trị bộ máy quản lý làng xã: Mỗi làng xã có hai cơ quan quản lý, đó là cơ

quan của nhà nước, đứng đầu là các xã quan (xã trưởng, sau này là các lý dịch: lý trưởng, phó lý, hương thân, hương hào, khán thủ, hương trưởng) và Hội đồng kỳ mục của làng xã

đứng đầu là các tiên thứ chỉ (thường là quan lại về hưu, người cao tuổi trong làng…), trong đó, hội đồng kỳ mục nắm thực quyền

Bộ phận xã trưởng/ lý dịch: là tổ chức chính quyền cơ sở cấp xã của nhà nước, có

xã trưởng - đứng đầu và số lượng thành viên được nhà nước quy định cụ thể xã trưởng/lý trưởng không phải là do chính quyền trung ương cử ra hoặc chỉ định mà do hương

-lý bầu chọn, phải có hội đồng kỳ mục ưng thuận và được chính quyền chấp thuận Phẩm trật lý dịch từ tứ ngũ lục phẩm (thế kỉ 13) xuống tòng cửu phẩm (thế kỉ 19) Đời Minh Mệnh không ban phẩm hàm Điều đó có nghĩa là sự can thiệp của nhà nước vào làng xã (thông qua xã quan) bị suy yếu, đồng nghĩa với việc làng xã tăng cường tính chất tự trị tự quản Thêm vào đó là quyền lực lý dịch được gia tăng trong đời sống xã thôn làm cho tính tự trị của xã thôn tăng lên gấp bội

Thực tế cho thấy, các lý dịch không bao giờ được nắm quyết định tối hậu cho mọi việc trong làng Xã trưởng hay lý trưởng hoàn toàn không phải người đứng đầu một làng Vai trò đó thuộc về tiên chỉ, thứ chỉ hay hương chủ

Hương ước làng Ngọc Hà ghi rõ: “Điều thứ 37: Chánh phó lý không có quyền tự quyết định việc của làng, phải theo ý chung của các tộc biểu”

Bộ phận kỳ mục: Hội đồng kỳ mục bao gồm một số làng và chức sắc Số lượng

thành viên tuỳ thuộc từng làng xã Người đứng đầu hội đồng kỳ mục là tiên chỉ, thứ chỉ Tiêu chuẩn tiên, thứ chỉ cũng tuỳ thuộc vào địa phương Điểm chung người đứng đầu kỳ mục là người già cả - đã nghỉ việc “quan” phụ trách Quyền hành của bộ phận này khá lớn, nhiều khi chỉ đạo cả hội đồng lý dịch”

Năm 1921 Chính quyền Pháp đã ý thức và chủ trương bãi bỏ bộ phận này thay bằng hội đồng tộc biểu Đến năm 1927 chính quyền Pháp phải cho tái lập lại hội đồng

kỳ mục Rồi đến năm 1941, thống sứ Robin ra lệnh bãi bỏ hội đồng tộc biểu nhưng vẫn giữ lại hội đồng kỳ mục

Hội đồng chức dịch chỉ đóng vai trò là bộ phận trung gian giữa làng xã và nhà nước Hội đồng kỳ mục có tính tự trị, tự quản cao hơn, chi phối cả hội đồng chức dịch

Trang 10

Bộ máy quản lý làng xã gồm cả lý dịch vẫn biểu hiện như một bộ máy tự quản của làng xã Như vậy, trong làng, ngoài bộ phận tự trị lại có thêm bộ phận chính quyền nhà nước chồng xếp lên tạo nên một kết cấu quyền lực kép kết hợp với nhau Kết cấu quyền lực này đến tháng 8/1945 bị bãi bỏ Cấp xã sau năm 1945 là một đơn vị chính quyền liên làng, thường thường là 5 đến 6 làng Bộ phận tự trị của làng thôn cũng bị giải thể”

Chúng ta có thể khẳng định, tính tự trị tự quản của làng xã một phần thể hiện ở tính chất bộ máy quản lý Một khi tính tự trị của làng xã còn mạnh mẽ thì không thể xoá bỏ bộ máy quản lý đó

Tự trị về kinh tế: Tính tự trị của làng xã trong lĩnh vực kinh tế thể hiện ở

việc phân chia ruộng đất công làng xã – chính sách quân điền và thu thuế Về danh nghĩa, tất cả ruộng đất đều thuộc quyền sở hữu của nhà nước mà người đứng đầu là vua Theo định kỳ 3 hoặc 6 năm một lần, nhà nước cử quan lại về đo đạc ruộng đất công làng xã, lập sổ điền để định mức tô thuế Tuy nhiên, việc phân chia ruộng đất công của làng xã thuộc về hội đồng tộc biểu/kỳ mục, chính quyền nhà nước ít can thiệp Làng xã hoàn toàn tự chủ trong việc phân chia ruộng đất công của làng xã

Về thu thuế, mỗi năm, chính quyền Trung ương phân bổ tổng số thuế mà dân làng phải đóng Căn cứ vào đó, lý trưởng phải trình báo với chánh hương hội biết để triệu tập hội đồng kỳ mục, tộc biểu họp bàn phân bổ việc thu thuế

Tính tự trị qua hương ước: Hương ước ra đời là văn bản hoá lệ làng Đó là sự

khẳng định thêm một lần nữa tính tự quản của làng xã

Nhà nước trung ương đã thấy rõ tính tự trị của nhà nước thể hiện qua hương ước Đồng thời còn thấy rõ sự phân tán quyền lực do tính chất đó của làng xã-mối nguy hại tới chính quyền trung ương tập quyền Chính vì vậy, chính quyền đã khuyên rằng “các làng

xã không nên có khoán ước riêng”, mà nên thực hiện theo luật nước Nhà nước tỏ thái độ hai mặt đối với hương ước là vừa ngăn cản, vừa lợi dụng hương ước để can thiệp vào làng xã Dùng hương ước để lệ làng hoá phép nước

Kết cấu quyền lực mang tính tự quản của làng quê trên cơ sở quyền trưởng lão Dân gian có câu: “Triều đình trọng tước, làng nước trọng xỉ” Câu nói này thể hiện nét khác biệt giữa phép nước và lệ làng, giữa nhà nước và quyền tự trị làng xã Trong hầu hết hương ước cũ của các làng quê đều có các điều khoản riêng về tuổi già, lớp người già Trong đình làng vị trị hội lão có góc riêng trang trọng

Ngày đăng: 28/08/2023, 15:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quang Ngọc (2009). Một số vấn đề làng xã Việt Nam. Hà Nội : Nxb Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề làng xã Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Ngọc
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2009
2. Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Hải Kế, Vũ Văn Quân…(2006). Làng Việt Nam đa nguyên và chặt. Hà Nội Nxb: Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng Việt Nam đa nguyên và chặt
Tác giả: Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Hải Kế, Vũ Văn Quân…
Nhà XB: Nxb: Đại học quốc gia
Năm: 2006
3. Nguyễn Hồng Phong. Xã thôn Việt Nam (1958). Hà Nội: NXB Văn - Sử - Địa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã thôn Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Phong. Xã thôn Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn - Sử - Địa
Năm: 1958
4. Toan Ánh. Nếp cũ Làng xóm Việt Nam (2005). Hà Nội: NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ Làng xóm Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh. Nếp cũ Làng xóm Việt Nam
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2005
5. Trương Sỹ Hùng. Hương ước làng Ngọc Hà. Hương ước Hà Nội – tập 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước làng Ngọc Hà
6. Trịnh Thị Hường. (2018). Giá trị của các bản hương ước ở các làng, xã Thái Bình trong việc giáo dục ý thức, hình thành nhân cách cho học sinh trung học phổ thông.Tạp chí Giáo dục, 440 (2), tr 58-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị của các bản hương ước ở các làng, xã Thái Bìnhtrong việc giáo dục ý thức, hình thành nhân cách cho học sinh trung học phổ thông
Tác giả: Trịnh Thị Hường
Năm: 2018
6. Vũ Ngọc Khánh. Văn hóa làng ở Việt Nam. (2018). Hà Nội : Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa làng ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh. Văn hóa làng ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2018
7. Vũ Duy Mền, Phan Đăng Thuận. (2016). Tính tự trị của làng xã Việt Nam qua hương ước. Tạp chí khoa học xã hội Việt Nam, 10, tr 66 -73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính tự trị của làng xã Việt Nam qua hương ước
Tác giả: Vũ Duy Mền, Phan Đăng Thuận
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w