LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI SẢN XUẤT
Khái niệm, đặc điểm và phân loại chi phí sản xuất
1.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất
Bất kỳ một doanh nghiệp nào, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải có đủ ba yếu tố cơ bản là: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp ba yếu tố đó để tạo ra các loại sản phẩm lao vụ và dịch vụ Sự tiêu hao các yếu tố này trong quá trình sản xuất kinh doanh đã tạo ra các chi phí tương ứng, đó là các chi phí về tư liệu lao động, chi phí về đối tượng lao động và chi phí về lao động sống Như vậy, Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động SXKD trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm) Nói cách khác, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp đã phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện quá trình sản xuất
Các loại chi phí này phát sinh thường xuyên trong qỳa trình sản xuất kinh doanh, nú luụn vận động ,thay đổi trong quá trình tái sản xuất Tính đa dạng của nó luôn được biểu hiện cụ thể gắn liền với sự đa dạng phức tạp của các loại hình kinh doanh khác nhau,của các giai đoạn công nghệ sản xuất khác nhau và sự tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài các hao phí về lao động sống cần thiết và lao động vật hoá để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp cũng phải bỏ ra rất nhiều các khoản chi phớ khỏc, cỏc khoản chi phí có thể là một bộ phận giá trị mới do doanh nghiệp sáng tạo ra và cũng có khoản chi phí đôi khi cũng rất khó xác định chính xác là hao phí về lao động sống hay hao phí về lao động vật hóa.
1.1.2 Đặc điểm, bản chất của chi phí sản xuất
Thực chất, chi phí sản xuất kinh doanh là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ ra vào quá trình sản xuất kinh doanh
Các chi phí phát sinh trong doanh nghiệp bao gồm hai loại: chi phí bỏ ra để tạo nên một gia trị sử dụng nào đó và các chi phí không liên quan đến việc tạo ra giá trị sử dụng Như vậy, không phải mọi chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra đều là chi phí sản xuất kinh doanh
Mặt khác, chi phí sản xuất của doanh nghiệp luôn mang tính hai mặt, một mặt có tính khách quan nó thể hiện sự dịch chuyển các hao phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra vào giá trị sử dụng mới được tạo ra, đây là sự dịch chuyển khách quan mà không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Mặt kia, chi phí sản xuất lại mang tính chủ quan vỡ nú phụ thuộc vào phương pháp tập hợp, phân bổ, yêu cầu đặc thù của công việc cũng như trình độ quản lí của nhà quản trị.
Như vậy, chi phí sản xuất có một số đặc điểm sau:
- Những hao phí về các yếu tố sản xuất gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh, phát sinh trong một thời kì nhất định.
- Lượng chi phí sản xuất phụ thuộc vào khối lượng các yếu tố sản xuất đã tiêu hao trong kỳ và giá cả thực tế của một đơn vị yếu tố sản xuất đã hao phí.
- Chi phí sản xuất phải được lượng hóa bằng thước đo tiền tệ.
1.1.3 Phân loại chi phí sản xuất
Trong doanh nghiệp sản xuất, chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại có tính chất kinh tế cũng như mục đích, công dụng khác nhau Để thuận tiện cho công tác quản lí, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng như phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh, chi phí sản xuất kinh doanh sẽ được phân loại theo những tiêu thức khác nhau Sau đây là một số cách phân loại chi phí sản xuất:
1.1.3.1 Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục phí.
Theo cách phân loại này thỡ cú 3 loại chi phí:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là những khoản chi phí về nguyên vật liệu như nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tựng…được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất, chế tạo ra sản phẩm, lao ụ, dịch vụ.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Là những chi phí về tiền lương, các khoản trích theo lương (Bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp) và các khoản phải trả trực tiếp cho công nhân sản xuất.
- Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí gián tiếp liên quan đến hoạt động phục vụ và quản lí sản xuất thuộc phạm vi phân xưởng, tổ hay đội sản xuất, bao gồm:
+ Chi phí về nhân viên phân xưởng: Bao gồm các khoản tiền lương, thưởng, các khoản trích theo lương phải trả cho nhân viên quản lí tại phân xưởng như: quản đốc phân xưởng, nhân viên phân xưởng, giám sát phân xưởng.
+ Chi phí vật liệu: Bao gồm chi phí về vật liệu dùng chung cho phân xưởng sản xuất với mục đích phục vụ quản lí tại phân xưởng.
+ Chi phí công cụ, dụng cụ: Bao gồm chi phí về công cụ, dụng cụ xuất dùng cho mục đích quản lí sản xuất tại các phân xưởng.
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm chi phí khấu hao nhà xưởng, máy móc, thiết bị sản xuất tại các phân xưởng sản xuất.
+ Chi phí về dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các khoản chi phí mua ngoài, phục vụ quản lí sản xuất tại các phân xưởng như: tiền điện, nước, điện thoại,…
+ Chi phớ khác bằng tiền: Bao gồm các khoản chi trực tiếp khác bằng tiền phục vụ quản lí sản xuất ở phân xưởng như: chi tiếp khách, chi cụng tỏc,…
1.1.3.2 Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung tính chất kinh tế của chi phí.
Theo nội dung chi phí thỡ cú cỏc loại chi phí sau :
- Chi phớ nguyên liệu và vật liệu: chi phí nguyên vật liệu ở đây bao gồm giá mua và chi phí mua của nguyên vật liệu đó dựng vào sản xuất kinh doanh trong kì.Bao gồm: chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhiên liệu, chi phí phụ tùng thay thế, chi phí vật liệu khác mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động sản xuất trong kì.
- Chi phí nhân công: Bao gồm các khoản chi phí về tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp và các khoản trích theo lương phải trả cho người lao động.
Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm
1.2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có thể liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành.
1.2.2 Đặc điểm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá, phản ánh lượng giá trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hoỏ đó thực sự chi ra cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gổm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào qỳa trỡnh sản xuất, tiêu thụ phải được bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh nghịờp Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh được gớa trị thực của các tư liệu sản xuất dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các chi tiêu có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao động sống Mọi cách tính toán chủ quan, không phản ánh đỳng cỏc yếu tố giá trị trong giá thành đều có thể dẫn đến phá vỡ các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, không xác định được hiệu quả kinh doanh và không thực hiện được tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
Tính giá thành sản phẩm là giai đoạn tiếp theo trên cơ sở số liệu của hạch toán chi phí sản xuất đã tập hợp theo từng đối tượng và số lượng sản phẩm đã hoàn thành, trên cơ sở đó kiểm tra và phân tích tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành theo từng loại sản phẩm và toàn bộ sản phẩm của doanh nghiệp.
Giá thành sản phẩm (công việc, lao vụ) là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm (công việc, lao vụ) nhất định đã hoàn thành
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động SXKD và trình độ quản lý kinh tế, tài chính của doanh nghiệp Giá thành sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có bên trong nó là chi phí sản xuất đã chi ra và lượng giá trị sử dụng thu được cấu thành trong khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành Như vậy bản chất của giá thành sản phẩm là sự chuyển dịch giá trị các yếu tố chi phí vào những sản phẩm công việc, lao vụ đã hoàn thành.
Giá thành sản phẩm còn là căn cứ để tính toán xác định hiệu quả kinh tế các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Giá thành có hai chức năng sau:
- Chức năng lập giá: Để bù đắp được chi phí đã bỏ ra khi xác định giá bán của sản phẩm phải căn cứ vào giá thành của nó.
- Chức năng bù đắp chi phí: Giá thành là căn cứ, mức tối thiểu để xác định khả năng bù đắp chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất.
1.2.3 Phân loại giá thành sản phẩm Để đáp ứng yêu cầu của quản lý và hạch toán, giá thành sản phẩm được phân chia làm nhiều loại khác nhau, tùy theo từng tiêu thức nhất định.
1.2.3.1 Phân loại giá thành sản phẩm theo thời điểm tính và cơ sở số liệu để tính giá thành.
Căn cứ vào cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành, giá thành sản phẩm được chia thành 3 loại:
- Giá thành sản phẩm kế hoạch: Giá thành kế hoạch là giá thành được tớnh trờn cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch Việc tính giá thành kế hoạch của DN được thực hiện và được tiến hành trước khi bắt đầu quỏ trớnh sản xuất, chế tạo sản phẩm Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của DN, là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tình tình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của DN.
- Giá thành sản phẩm định mức: Giá thành định mức là giá thành được tớnh trờn cơ sở các định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm Việc tính giá thành định mức cũng được thực hiện trước khi tiến hành sản xuất, chế tạo sản phẩm Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức của DN, là thước đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong sản xuất, giúp cho đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà DN đã thực hiện trong quá trình hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Giá thành sản phẩm thực tế: Giá thành thực tế là giá thành được tính toán dựa trên sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ cũng như sản lượng sản phẩm thực tế đã sản xuất trong kỳ Giá thành thực tế chỉ có thể tính toán được sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và được tính toán cho cả chỉ tiêu tổng giá thành và giá thành đơn vị Giá thành thực tế chỉ là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của DN trong việc tổ chức và sử dụng các giả pháp kinh tế - kỹ thuật - tổ chức và công nghệ… để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
DN và nghĩa vụ của DN đối với Nhà nước cũng như các đối tác liên doanh, liên kết.
1.2.3.2 Phân theo phạm vi các chi phí cấu thành nên giá thành:
Theo cách phân loại này, có 2 loại đó là:
- Giá thành sản xuất sản phẩm: Giá thành sản xuất của sản phẩm bao gồm các chi phí sản xuất, chế tạo sản phẩm (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung) tính cho sản phẩm, cụng viờc hay lao vụ hoàn thành Giá thành sản xuất sản phẩm được dùng để hạch toán thành phẩm, giá vốn hàng xuất bán và mức lãi gộp trong kì của doanh nghiệp.
- Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ: Bao gồm giá thành sản xuất và chi phí bán hàng, chi phí quản lý DN phát sinh trong kì tính cho sản phẩm đã tiêu thụ.Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ chỉ xác định và tính toán khi sản phẩm,công việc hay lao vụ được xác định là tiêu thụ Nó là căn cứ để tính toán, xác định mức lợi nhuận trước thuế của DN Ta có công thức tính:
Giá thành toàn bộ sản phẩm Giá thành sản xuất sản phẩm +
Chi phí quản lý doanh nghiệp +
1.2.3.2 Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán chi phí
Theo cách phân loại này người ta chia giá thành sản phẩm thành hai loại:
- Giá thành toàn bộ sản phẩm: Là giá thành được xác định bao gồm toàn bộ các khoản chi phí cố định và biến đổi mà doanh nghiệp đã bỏ ra cho việc sản xuất kinh doanh trong kì Theo phương pháp này, toàn bộ chi phí biến đổi và chi phí cố định được phân bổ hết cho sản phẩm lao vụ dịch vụ hoàn thành trong kỡ, nờn đay còn gọi là phương pháp định phí toàn bộ.
- Giá thành sản phẩm theo biến phí: Là loại giá thành được xác định chỉ bao gồm các biến phí Theo phương pháp này, toàn bộ chi phí cố định được coi như chi phí thời kì và được dùng để xác định kết quả kinh doanh cuối kì
Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ dịch vụ đã hoàn thành Về bản chất, chi phí và giá thành đều cùng là biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất Tất cả những khoản chi phí phát sinh (kỳ này hay kỳ trước chuyển sang) và các chi phí trước đó có liên quan đến khối lượng sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kể ở kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ.
Chi phí sản xuất dở dang đầu Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ kỳ
Tổng giá thành sản phẩm Chớ phí sản xuất dở dang cuối kỳ Qua hình sơ đồ ta thấy:
Tổng giá thành sàn phẩm hoàn thành
Chớ phí sản xuất dở dang đầu kỳ
Chớ phí sản xuất trong kỳ (đã trừ các khoản giảm chi phí)
Chớ phí sản xuất dở dang cuối kỳKhi giá trị sản phẩm dở dang (chi phí sản xuất dở dang) đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hoặc các ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm bằng tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
Sự cần thiết và yêu cầu, nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.4.1 Sự cần thiết của việc hoạch toán chính xác và đầy đủ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.
Sự phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản xuất hàng hóa, đó là quá trình kết hợp của 3 yếu tố: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Trong bất kỳ một xã hội nào, vấn đề sống còn đặt ra cho cá doanh nghiệp là làm sao để sản phẩm có thể đứng vững và đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng của khách hàng Đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay, khi mà cạnh tranh là điều tất yếu đối với các thành phần kinh tế, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải đáp ứng được các yêu cầu sau: Sản phẩm sản xuất ra có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá thành hạ, đồng thời có những nghệ thuật kinh doanh khác.
Tuy nhiên để đạt được các yêu cầu đó không phải dễ dàng, vấn đề mấu chốt ở đây là giảm chi phí Thực hiện tiết kiệm chi phí trong sản xuất có ý nghĩa quan trọng, đã được Đảng và Nhà nước đề cập như một nhiệm vụ quan trọng của cả nước trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội.
Hạch toán chi phí sản xuất đòi hỏi phải tổ chức ghi chép, phản ánh đầy đủ và trung thực từng loại chi phí kể cả số lượng và giá trị thực tế của chi phí ở thời điểm phát sinh chi phí Hạch toán chính xác cho phí sản xuất là tiền đề quan trọng để có thể tớnh đỳng và đủ giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp, xác định chính xác kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Với những phân tích ở trên, ta thấy việc hạch toán chính xác chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng không chỉ đối với bản thân doanh nghiệp mà còn đối với Nhà nước và các bên có liên quan.
1.4.2 Yêu cầu quản lý của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý doanh nghiệp là tiết kiệm chi phí sản xuất Vì vậy, yêu cầu quản lý chi phí như sau :
- Để quản lý tốt chi phí, mỗi doanh nghiệp phải lập kế hoạch chi phí tức là dùng thước đo tiền tệ tính toán trước mọi chi phí sản xuất của kỳ kế hoạch.
- Kế toán phải tiến hành quản lý, theo dõi chi tiết từng nghiệp vụ chi phí phát sinh, căn cứ vào các chứng từ để tập hợp đúng, đủ các khoản mục chi phí tính vào giá thành sản phẩm.
- Quản lý chi phí sản xuất theo đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành.
- Kế toán phải lập bảng tính giá thành và tổ chức công tác tính giá thành phù hợp với đặc điểm riêng có của doanh nghiệp và phải tuân theo đúng chế độ kinh tế tài chính nhà nước.
- Yêu cầu về phương pháp tớnh giỏ và phân bổ chi phí Yêu cầu này đòi hỏi kế toán phải hạch toán, tính toán và phân bổ một cách chính xác, kịp thời theo đúng đối tượng, tớnh đỳng, tớnh đủ các chi phí phát sinh trong kỳ, tránh nhầm lẫn sai sót trong quá trình hạch toán dẫn đến tính không chính xác giá thành của sản phẩm
1.4.3 Nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Chi phí và giá thành là các chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác quản lí doanh nghiệp và có mối quan hệ mật thiết với doanh thu, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh nen chúng được các nhà quản trị doanh nghiệp rất quan tâm.
Tổ chức kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm một cách khoa học, hợp lý và đúng đắn có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành sản phẩm Việc tổ chức kiểm tra tính hợp lí, hợp pháp cuat chi phí phát sinh ở doanh nghiệp, ở từng bộ phận sản xuất, từng phòng ban, tổ đội,… góp phần tăng cường quản lí tài sản , tiền vốn một cách tiết kiệm, hiệu quả Kế toán doanh nghiệp cần phải xác định rõ vai trò và nhiệm vụ của mình trong việc tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm như sau:
- Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất, khả năng hạch toán, yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp để lựa chọn, xác định đúng đắn đối tượng kế toán chi phí sản xuất, lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo các phương án phù hợp với các điều kiện của doanh nghiệp.
- Căn cứ vào đặc điểm tổ chức SXKD, đặc điểm của sản phẩm, khả năng và yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp để xác định đúng đối tượng tính giá thành cho phù hợp.
- Trên cơ sở mối quan hệ giữa đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành đã xác định để tổ chức áp dụng phương pháp tính giá thành cho phù hợp và khoa hoc.
- Tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công rõ ràng trách nhiệm từng nhân viên, từng bộ phận kế toán có liên quan đặc biệt đến bộ phận kế toán các yếu tố chi phí.
Đánh giá sản phẩm dở dang
Quá trình sản xuất thường diễn ra liên tục và xen kẽ lẫn nhau, cuối kỳ có thể có những sản phẩm đang dở dang trên dây chuyền sản xuất hoặc những sản phẩm đã hoàn thành một hoặc một số giai đoạn của quy trình công nghệ sản xuất nhưng chưa hoàn thành đến giai đoạn cuối cùng hoặc đã hoàn thành nhưng chưa được kiểm nghiệm nhập kho thành phẩm, những sản phẩm đó gọi chung là sản phẩm dở dang. Đánh giá sản phẩm dở dang là việc xác định phần CPSX tính vào trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ.
Trình tự tiến hành đánh giá sản phẩm dở dang:
- Kiểm kê chính xác sản lượng sản phẩm dở dang trờn cỏc giai đoạn công nghệ sản xuất.
- Xác định mức độ chế biến hoàn thành sản phẩm dở dang (nếu cần).
- Áp dụng phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang để xác định trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ Tùy đặc điểm về tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ, yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp, kế toán vận dụng phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ thích hợp như các phương pháp sau:
1.6.1 Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ tính phần chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất sản phẩm dở dang, các chi phí chế biến (chi phí NC trực tiếp, chi phí SXC) tính toàn bộ cho sản phẩm hoàn thành trong kỳ.
DCK, DĐK : Chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang cuối kỳ và đầu kỳ.
Cn : Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp phát sinh trong kỳ.
QSP, QD : Sản lượng sản phẩm hoàn thành và sản lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ.
Công thức này áp dụng trong trường hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp được bỏ vào ngay từ đầu của quy trình công nghệ sản xuất Trường hợp chi phí vật liệu phụ trực tiếp bỏ dần vào quá trình sản xuất thì trị giá sản phẩm làm dở chỉ tính theo chi phí nguyên liệu, vật liệu chính trực tiếp bỏ vào từ đầu quá trình sản xuất.
1.6.2 Đánh giá sản phẩm dở dang theo sản lượng sản phẩm hoàn thành tương đương
Phương pháp này căn cứ vào sản lượng sản phẩm dở dang và mức độ hoàn thành để quy đổi sản lượng sản phẩm dở dang thành sản lượng sản phẩm hoàn thành tương đương
QTĐ : Sản lượng sản phẩm hoàn thành tương đương.
%HT : Tỷ lệ chế biến hoàn thành.
Tính toán, xác định từng khoản mục chi phí cho sản phẩm dở dang theo nguyên tắc:
+ Chi phí sản xuất bỏ vào ngay từ đầu dây chuyền công nghệ (như nguyên liệu, vật liệu trực tiếp hoặc chi phí NVL chính trực tiếp) thì phân phối đồng đều cho sản lượng sản phẩm hoàn thành và sản lượng sản phẩm dở dang
+ Đối với các chi phí bỏ dần trong quá trình sản xuất chế biến (như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí SXC) thì chi phí tính cho sản lượng sản phẩm dở dang phải tính theo sản lượng sản phẩm dở dang và mức độ hoàn thành của chúng
Q SP + Q TĐ Được tính theo từng khoản mục chi phí tương ứng phát sinh bỏ dần trong kỳ. Đối với những sản phẩm có sản lượng sản phẩm dở dang trờn cỏc khõu của dây chuyền sản xuất tương đối đều đặn, để đơn giản có thể xác định mức độ hoàn thành chung cho tất cả sản phẩm dở dang là 50% Phương pháp này còn gọi là phương pháp đánh giá sản lượng sản phẩm dở dang theo 50% chi phí, thực chất đây cũng là phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo sản lượng sản phẩm hoàn thành tương đương
- Điều kiện áp dụng: thích hợp cho những DN có một quy trình công nghệ, sử dụng một loại NVL nhưng thu được nhiều loại sản phẩm chính khác nhau.
- Đối tượng tập hợp chi phí là toàn bộ quy trình công nghệ và từng loại sản phẩm chính do quy trình sản xuất đó tạo ra.
- Đối tượng tính giá thành: từng loại sản phẩm chính
- Nội dung phương pháp: Để tính được giá thành của từng loại sản phẩm, người ta phải căn cứ vào đặc điểm tiêu chuẩn kỹ thuật để tính cho tống loại sản phẩm một hệ số Trong đó, hệ số bằn 1 làm sản phẩm chuẩn và được kí hiệu là Hi –
“hệ số giỏ”. Để tính được giá thành cho từng loại sản phẩm thì phải trải qua các bước sau: + Bước 1: Căn cứ vào sản lượng sản phẩm hoàn thành thực tế của từng loại sản phẩm để xác định khối lượng sản phẩm hoàn thành đã được quy đổi (QH)
Qi: Khối lượng sản phẩm thực tế hoàn thành của loại sản phẩm i
Hi : Hệ số phân bổ loại sản phẩm
+ Bước 2: Xác định hệ số phân bổ giá thành cho từng loại sản phẩm (Hi)
+ Bước 3: Căn cứ vào chi phí tập hợp được trong kỳ, chi phí dở dang đầu kỳ và cuối kỳ ta xác định được giá thành thực tế của các loại sản phẩm.
+ Bước 4: Xác định giá thành thực tế của từng loại sản phẩm theo khoản mục
1.6.3 Đánh giá sản phẩm làm dở theo chi phí sản xuất định mức
Chỉ áp dụng cho những doanh nghiệp đã xây dựng được hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật khoa học chặt chẽ và đầy đủ cho từng bộ phận chi tiết của sản phẩm.Theo phương pháp này người ta đưa vào định mức chi phí sản xuất của từng chi tiết bộ phận sản phẩm và số lượng bộ phận chi tiết sản phẩm làm dở cuối kỳ để tính ra chi phí sản xuất định mức của số bộ phận chi tiờt sản phẩm đang làm dở cuối kỳ và người ta coi đú chớnh là chi phí sản xuất dở dang thực tế cuối kỳ.
Kế toán giá thành sản phẩm
1.7.1 Đối tượng tính giá thành Để tính được giá thành sản phẩm thì công việc đầu tiên là phải xác định được đối tượng tính giá thành Đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp sản xuất là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ mà doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành đòi hỏi phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị.
Việc xác định đối tượng tính giá thành cũng cần phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quản lý sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, khả năng, yêu cầu quản lý cũng như tính chất của từng loại sản phẩm cụ thể.
- Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp:
+ Trường hợp doanh nghiệp tổ chức sản xuất đơn chiếc thì từng sản phẩm hoàn thành được xác định là đối tượng tính giá thành.
+ Trường hợp doanh nghiệp tổ chức sản xuất hàng loạt thì từng loại sản phẩm là một đối tượng tính giá thành.
- Căn cứ vào qui trình công nghệ sản xuất của doanh nghiệp:
Nếu quy trình công nghệ sản xuất giản đơn thì đối tượng tính giá thành sẽ là sản phẩm hoàn thành cuối cùng của quy trình công nghệ, cũn các doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất, chế biến phức tạp thì đối tượng tình giá thành có thể là nửa thành phẩm ở từng giai đoạn và thành phẩm hoàn thành ở giai đoạn, công nghệ cuối cùng và cũng có thể là từng bộ phận, từng chi tiết sản phẩm và sản phẩm đã lắp ráp hoàn thành.
Như vậy, để kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được chính xác, đòi hỏi công việc đầu tiền mà nhà quản lý phải làm là xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất chính là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và chịu chi phí Còn xác định đối tượng tính giá thành chính là việc xác định sản phẩm, bán thành phẩm, công việc, lao vụ có thể và cần thiết phải tính giá thành một đơn vị. Đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng kế toán giá thành sản phẩm có quan hệ mật thiết với nhau, muốn xác định được giá thành sản phẩm, đơn vị sản phẩm thì phải tổng hợp được chi phí sản xuất trong kỳ Mặt khác nếu chỉ tổng hợp được toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ mà không tính được giá thành sản phẩm thì chưa cung cấp được đầy đủ thông tin cho nhà quản trị.
Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán cần tiến hành công việc tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành.
Mỗi đối tượng tính giá thành phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm và chu kỳ sản xuất của chúng để xác định cho thích hợp Trường hợp tổ chức sản xuất nhiều (khối lượng lớn), chu kỳ sản xuất ngắn, xen kẽ, liên tục thì kỳ tính giá thành thích hợp là hàng tháng và thời điểm cuối mỗi tháng
1.7.3 Phương pháp tính giá thành
1.7.3.1 Phương phỏp tớnh gớa thành theo công việc Điều kiện áp dụng: Phương pháp này áp dụng đối với những doanh nghiệp tiến hành sản xuất đơn chiếc hoặc sản xuất hàng loạt với khối lượng nhỏ theo đơn đặt hàng, mặt hàng sản xuất không ổn định Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng công việc hay từng đơn đặt hàng Đối tượng tính giá thành là từng công việc của đơn đặt hàng đã hoàn thành.
Nội dung: Các chi phí NVLTT, NCTT, chi phí SXC sẽ phát sinh trong quá trình sản xuất và nó sẽ được tập hợp tính giá thành như sau:
+ Đối với các chi phí VLTT và chi phí NCTT được tập hợp trực tiếp cho từng đơn đặt hàng và chuyển ghi vào thẻ chi tiết tính giá thành sản phẩm theo đơn đặt hàng.
+ Đối với chi phí SXC sẽ có 2 cách xử lý:
Cách 1: Phân bổ toàn bộ chi phí SXC thực tế phát sinh trong từng kỳ cho từng đơn đặt hàng.
Cách 2: Tính vào từng đơn đặt hàng theo chi phí dự toán (kế hoạch).
=Còn phần chênh lệch giữa chi phí SXC thực tế phát sinh với chi phí SXC đã phân bổ theo kế hoạch: Nếu nhỏ thỡ tớnh hết vào 632 Nếu lớn thì sẽ phân bổ vào 3 đối tượng: sản phẩm dở dang (154), thành phẩm (155) và giá vốn hàng bán (632).
1.7.3.2 Phương pháp tớnh gớa thành theo quy trình sản xuất. Điều kiện áp dụng: Phương pháp này được áp dụng đối với trường hợp sản phẩm sản xuất tương đối đồng nhất, giá trị không cao mặt hàng sản xuất ổn định. a) Phương pháp tính giá thành giản đơn Đối tượng tập hợp chi phí là toàn bộ quy trình. Đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành của quy trình công nghệ đó. Công thức : Z = D đk + Ctk - Dck.
Giá thành đơn vị = Z / Qht b) Phương pháp tính giá thành theo hệ số Đối tượng tập hợp chi phí là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm. Đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm hoàn thành.
- Bước 1: Quy đổi sản phẩm của từng loại thành sản phẩm chuẩn (sản phẩm tương đương với hệ số bằng 1) Tổng sản lượng sản phẩm chuẩn (QH)
- Bước 2: Tính chi phí sản xuất liên sản phẩm = D đk + Ctk - Dck
- Bước 3: Phân bổ giá thành cho từng loại sản phẩm: c) Phương pháp tính giá thành theo tỷ lệ ΣCpsx chung dự toánCpsx chung dự toán CPSXC tính cho từng kỳ ΣCpsx chung dự toánĐại lượng tiêu chuẩn phân bổ × Đại lượng tiêu chuẩn thực tế trong kỳ
QH Áp dụng cho những doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất sử dụng 1 loại NVL thu được 1 loại sản phẩm với các quy cách kích cỡ khác nhau.
Cỏch tính như sau: Người ta căn cứ vào giá thành kế hoạch theo sản lượng thực tế của các quy cách sau đó lấy giá thành thực tế các quy cách chia cho giá thành kế hoạch theo sản lượng thực tế các quy cách sẽ tính được tỷ lệ tính giá thành của từng khoản mục Lấy tỷ lệ tính giá thành nhân với giá thành kế hoạch theo sản lượng thực tế của từng quy cách sẽ tính được giá thành thực tế của từng quy cách. d) Phương pháp tính giá thành phân bước Đối tượng tập hợp chi phí: là từng giai đoạn công nghệ. Đối tượng tính giá thành: có 2 trường hợp :
- Xác định đối tượng tính giá thành là nửa thành phẩm tự chế và thành phẩm thì phương pháp tính giá thành phân bước có tính nửa thành phẩm.
- Đối tượng tính giá thành là thành phẩm cuối cùng thì phương pháp tính giá thành phân bước không tính giá thành nửa thành phẩm. d1) Phương pháp tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm:
Phương pháp này áp dụng cho những doanh nghiệp mà quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm qua nhiều giai đoạn chế biến liên tiếp trường hợp này đối tượng tập hợp chi phí là từng giai đoạn, đối tượng tính giá thành là cả nửa thành phẩm ở từng giai đoạn và thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng Nửa thành phẩm ở từng giai đoạn có thể bán ra ngoài được xã hội thừa nhận.
Z nửa TP gđi = Z nửa TP gđ (i-1) + D đk gđi + Ctkgđi - D ckgđi d2) Phương pháp tính giá thành phân bước không tính giá thành nửa thành phẩm
Các hình thức sổ kế toán theo quyết định 15 áp dụng cho phần hành kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Liên quan tới phần hành kế toán chi phí sản xuất và tớnh giá thành sản phẩm, theo hình thức nhật ký chung có các loại sổ chủ yếu sau:
- Sổ nhật ký chung mẫu S03a-DN.
- Sổ cái tài khoản chi phí tài khoản 621,622,627,154 mẫu S03b-DN.
- Sổ thẻ tớnh giá thành sản phẩm dịch vụ mẫu S037-DN.
- Sổ chi phí sản xuất kinh doanh mẫu S036-DN.
1.8.2 Hình thức sổ kế toán nhật ký sổ cái
Liên qụan tới phần hành kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tớnh giá thành theo hình thức nhật kí sổ cái, có các loại sổ chủ yếu sau:
- Nhật ký sổ cái mẫu S01-DN.
- Sổ thẻ tớnh giá thành sản phẩm dịch vụ mẫu S037-DN.
- Sổ chi phí sản xuất kinh doanh mẫu S036-DN.
1.8.3 Hình thức sổ kế toán chứng từ ghi sổ
Liên quan tới phần hành kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, theo hình thức chứng từ ghi sổ, cú các loại sổ kế toán sau:
- Chứng từ ghi sổ mẫu số S02a-DN.
- Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ mẫu số S02b-DN - Sổ cái tài khoản 621,622,627,
- các sổ, thẻ kế toán chi tiết chi phí sản xuất kinh doanh tài khoản 621,622,627,154 chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tớnh giá thành: mẫu số S36-DN.
1.8.4 Hình thức kế toán nhật ký chứng từ
Liên qụan tới phần hành kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tớnh giá thành theo hình thức nhật kí chứng từ, có các loại sổ chủ yếu sau: Nhật ký chứng từ, Bảng kê, Sổ cái, Sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết, trong đó:
- Nhật ký chứng từ số 7: tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh toàn doanh nghiệp mẫu S04a-DN.
- Mẫu bảng kế số 4 tập hợp chi phí sản xuất theo phõn xưởng dùng cho tk 154,631,621,622,627 mẫu S04b-DN.
- Mẫu bảng kê số 9 tớnh giá thành thực tế thành phẩm hàng hoá.
- sổ cái tài khoản 621,622,627 mẫu S05-DN.
- Thẻ tớnh giá thành sản phẩm dịch vụ S37-DN.
- Sổ chi phí sản xuất kinh doanh mẫu S36-DN.
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CP QUẢNG CÁO VÀ CÔNG NGHỆ HềA AN
Khái quát chung về công ty CP Quảng cáo và công nghệ Hòa An
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Tên giao dịch : Công ty Cổ phần Quảng cáo và công nghệ Hòa An
Mã số thuế: 0105028362. Địa chỉ: Số 40, phố Tân Mai, phường Tân Mai, quận Hoàng Mai, Tp Hà Nội. Giám đốc: Trương Vũ Tiến.
Phó giám đốc: Trần Phùng Kim.
Công ty Cổ phần Quảng cáo và công nghệ Hòa An là một công ty trẻ, mới thành lập được 4 năm, hoạt động trong lĩnh vực quảng cáo, thiết kế các biển quảng cáo, in ấn nhón mỏc bao bì sản phẩm, lụgụ, sản xuất móc chìa khóa bằng mờca, gia công các thiết bị điện như bảng điện, công tắc điện, cắt chữ các loại theo yêu cầu của khách hàng Bước đầu khi mới thành lập, công ty còn gặp nhiều khó khăn về vốn, thị trường, nhân lực có kinh nghiệm, nhưng đến nay đã từng bước khắc phục và lớn mạnh nhanh chóng Các sản phẩm và dịch vụ của công ty từng bước thỏa mãn hơn nhu cầu của khách hàng Sau đây là bảng tổng hợp một số chỉ tiêu kinh tế phản ánh tình hình phát triển của công ty trong 2 năm gần đây:
STT Chỉ tiêu ĐVT Cuối năm 2010 Cuối năm 2011
STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011
Là một công ty mới thành lập nhưng nhìn vào kết quả hoạt động trong 2 năm gần đây chúng ta có thể thấy được quy mô hoạt động của công ty đang được mở rộng, số lượng cán bộ nhân viên tăng hơn, hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn. Điều này sẽ khuyến khích, thúc đẩy cán bộ công nhân viên của công ty tích cực làm việc đạt hiệu quả tốt hơn.
2.1.2 Xu hướng hoạt động của công ty
Ngay từ những năm đầu thành lập, Công ty Cổ phần Quảng cáo và công nghệ Hòa An đã đầu tư con người, chất xám, thiết bị máy móc.
Với trình độ chuyên môn cao, khả năng làm việc độc lập tốt đặc biệt là khả năng thiết kế và chế bản in công ty luôn đưa ra những bản thiết kế đẹp, có phong cách riêng và tính quyết định cho bản in đạt tới 80%.
Công ty hoạt động tuân thủ theo luật pháp và thực hiện quản lý theo mục tiêu, luôn bám sát mục tiêu và quyết tâm thực hiện các mục tiêu đề ra.
Công ty Cổ phần Quảng cáo và công nghệ Hòa An, hoạt động trong lĩnh vực quảng cáo, cung cấp các dịch vụ quảng cáo, thiết kế các biển quảng cáo, in ấn nhón mỏc bao bì sản phẩm lụgụ, sản xuất móc chìa khóa bằng mờca, gia công các thiết bị điện như bảng điện, công tắc điện, cắt chữ theo yêu cầu của khách hàng Bước đầu khi mới thành lập, công ty còn gặp nhiều khó khăn về vốn, nhân lực có kinh nghiệm, nhưng đến nay đã từng bước khắc phục và lớn mạnh nhanh chóng Các sản phẩm và dịch vụ của công ty từng bước thỏa mãn hơn nhu cầu của khách hàng.
Vì lợi ích của khách hàng, công ty luôn cam kết về chất lượng, tính chuyên nghiệp trong công tác và dịch vụ khách hàng, luôn giữ chữ tín với khách hàng Hiệu quả và lợi nhuận đạt được không chỉ cho riêng công ty mà còn là hiệu quả và lợi nhuận cho khách hàng và các đối tác của công ty.
Trong những hiện tại và những năm tới, công ty CP Quảng cáo và công nghệ Hòa An sẽ tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tìm kiếm thêm nhiều bạn hàng, trong các lĩnh vực sau:
- Sản xuất, thiết kế và tạo mẫu, in ấn các sản phẩm quảng cáo, bao bì nhón mỏc hàng hoá, sản phẩm quà tặng, tạo dáng công nghiệp.
- Thực hiện tư vấn và thiết kế logo, thương hiệu cho doanh nghiệp, hội nghị, hội thảo.
- Quảng cáo trên biển to tấm lớn.
- Thực hiện thiết kế và gia công Website, cổng thông tin điện tử, công nghệ thông tin liên quan đến quảng cáo.
- Nhận gia công các mặt hàng điện tử.
- Nhận cắt chữ, sản xuất nhón mỏc bao bì sản phẩm với khối lượng lớn theo đơn đặt hàng.
2.1.3 Đặc điểm tổ chức quản lí của công ty
2.1.3.1 Mô hình bộ máy quản lí của công ty
Tổ chức bộ máy quản lý của công ty bao gồm:
- Ban giỏm Đốc: Gồm giám đốc và phó giám đốc.
- Phòng quản lý sản xuất.
Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến - chức năng. Cỏc phũng ban trong công ty hoạt động theo sự chỉ đạo thống nhất và sâu sát của Ban Giám Đốc và có sự liên hệ chặt chẽ với nhau. Được thể hiện qua sơ đồ sau :
Sơ đồ: Tổ chức bộ máy quản lý ở công ty CP Quảng cáo và công nghệ Hòa An
Ghi chú : : Quan hệ trực tuyến
2.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban
- Giám Đốc: Là người đứng đầu công ty, chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước về toàn bộ hoạt động của công ty, có quyền quyết định các phương án sản xuất kinh doanh, tài chính và tổ chức các kế hoạch khác của công ty.
- Phó Giám Đốc: Là người trợ giúp Giám Đốc điều hành công việc trong công ty, thực hiện những công việc do Giám Đốc giao và được uỷ quyền thực hiện
- Phòng thiết kế: Theo dõi, thực hiện toàn bộ các công việc có liên quan đến nghiệp vụ thiết kế.
- Phòng chế bản: Theo dõi và thực hiện ra phim, chế bản in, theo dõi trong quá trình in và sau in.
- Phòng quản lý sản xuất và xưởng sản xuất: Theo dõi, giám sát và thực hiện quá trình sản xuất, quá trình vận hành máy móc, màu sắc và gia công sau in.
- Phòng kinh doanh: Có trách nhiệm đón tiếp khách hàng, lập dự toán của đơn đặt hàng và báo giá cho khách hàng, ký hợp đồng với khách hàng Theo dõi dự
Phòng kế toán Xưởng sản xuất án, tư vấn khách hàng, thu thập thông tin liên quan, định hướng cho khách hàng các cách thức quảng cáo và báo cáo ban Giám Đốc tính khả thi của dự án
- Phòng kế toán: Theo dõi, thực hiện toàn bộ các công việc có liên quan đến nghiệp vụ kế toán, tài chính, giúp ban Giám Đốc trong việc định hướng đầu tư, phát triển Công ty.
2.1.4 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty
Công ty là công ty nhỏ, ngoài việc cung cấp các dịch vụ quảng cáo, thiết kế biển quảng cáo theo yêu cầu khách hàng là công việc chớnh thỡ công ty còn thực hiện sản xuất, in ấn các loại nhón mỏc bao bì, logo theo yêu cầu của khách hàng mỗi khi có đơn đặt hàng Công ty cú cỏc loại máy in chuyên dụng nhạp khẩu từ Đức, với công nghệ cao, quy trình khép kín.
Đặc điểm phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty
Đặc điểm chu kỳ sản xuất tại công ty CP Quảng cáo và công nghệ Hòa An là chu kỳ ngắn, sản xuất hàng loạt theo đơn đặt hàng Để hoàn thành một đơn đặt hàng các yếu tố không thể thiếu là sức lao động, nguyên vật liệu, công cụ lao động, … Đặc biệt, doanh nghiệp lad doanh nghiệp sản xuất, in ấn các loại bao bì, nhón mỏc sản phẩm, nhận làm quảng cáo trên biển to tấm lớn, do vậy yếu tố chi phí nguyên võt liệu và sức lao động của con người vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp.
2.2.2 Phân loại chi phí sản xuất tại công ty Để thuận tiện cho công tác hạch toán và phù hợp với chế độ tài chính hiện hành Công ty CP Quảng cáo và công nghệ Hòa An đã thực hiên phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục bao gồm:
- Chi phí NVL trực tiếp: Gồm các khoản chi về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, nguyên liệu khác cho sản xuất sản phẩm.
- Chi phí NCTT: Gồm các khoản lương, phụ cấp (nếu có) các khoản trích theo lương BHXH, BHYT, KPCĐ của bộ phận tham gia trực tiếp sản xuất tạo ra sản phẩm.
- Chi phí SXC: Bao gồm các khoản chi phí liên quan dùng cho quá trình sản xuất như:
+ Chi phí nhân viên phân xưởng.
+ Chi phí vật liệu, dụng cụ dùng cho quản lý phân xưởng.
+ Chi phí khấu hao TSCĐ thuộc phạm vi phân xưởng.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền.
2.2.3 Phân loại giá thành sản phẩm tại công ty
Hiện tại, công ty CP Quảng cáo và công nghệ Hòa An phân loại giành sản phẩm theo tiêu thức phạm vi chi phí cấu thành, giá thành sản phẩmở công ty được chia ra làm 2 loại:
- Giá thành sản xuất sản phẩm
- Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ
Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Công ty CP Quảng cáo và công nghệ Hòa An
Quảng cáo và công nghệ Hòa An
2.3.1 Đối tượng kế toán chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành Đặc thù của công ty là sản xuất sản phẩm hàng loạt theo đơn đặt hàng Do đó công ty xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất tập hợp chi tiết theo từng đơn đặt hàng.
Quy trình sản xuất của công ty là quy trình sản xuất giản đơn, sản xuất hàng loạt theo đơn đặt hàng, nên kế toán xác định đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm cuối cùng của mỗi đơn đặt hàng
2.3.2 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất Đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán công ty sử dụng phương pháp tập hợp trực tiếp cho từng đơn hàng. Đối với chi phí sản xuất chung, không thể tập hợp trực tiếp được cho các đơn đặt hàng riêng biệt thì kế toán sử dụng phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp: trong kỳ tập hợp chung, cuối kỳ phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí Tiêu thức phân bổ là chi phí nguyên vật liệu chính.
2.3.3 Thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Tại công ty CP Quảng cáo và công nghệ Hòa An, trong một kỡ tớnh giỏ, có nhiều loại sản phẩm được sản xuất hoàn thành Nhưng do thời gian thực tập có hạn và giới hạn luận văn không cho phép, sau đây em xin trình bày về thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành cho 4 đơn đặt hàng được thực hiện trong tháng 11 năm 2011: Đơn đặt hàng số 01: Sản xuất 150.000 vỏ hộp bao thuốc lá Vinataba. Đơn đặt hàng số 07: Sản xuất 30.000 sản phẩm nhón Lục vị ẩm. Đơn đặt hàng số 09: Sản xuất 10.000 sản phẩm mác quần tõy. Đơn đặt hàng số 17: Sản xuất 35.000 vỏ hộp kem nghệ Thái Dương.
2.3.3.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp a) nội dung
Tại Công ty CP Quảng cáo và công nghệ Hòa An, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm: toàn bộ nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, cụng ty dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm Nguyên vật liệu luôn giữ một vai trò quyết định trong việc cấu thành nên thực thể sản phẩm Trong đó:
- Nguyờn vật liệu chính: Là các loại giấy in Để phục vụ cho sản xuất 4 đơn đặt hàng nói trên, công ty sử dụng các loại giấy chất lượng cao của Bãi Bằng, Trung Quốc, Nhật Bản như: giấy Duplex, giấy Cutxe Giấy Ivory Chi phí nguyên vật liệu chớnh của công ty chiếm 80% – 85% trong tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
- Nguyên vật liệu phụ: Nguyên vật liệu phục là các loại vật liệu được sử dụng kết hợp với nguyên liệu chính nhằm góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng sản phẩm, giúp sản phẩm bền màu, sáng đẹp Nguyên vật liệu phụ tại công ty bao gồm: mực in các loại Mực in của công ty là các loại mực in chất lượng cao có thương hiệu từ Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ,…
Chi phí NVL trực tiếp trong kỳ được xác định theo công thức:
NVL trực tiếp thực tế trong kỳ
Trị giá NVL trực tiếp còn lại đầu kỳ
Trị giá NVL trực tiếp xuất dùng trong kỳ
- Trị giá NVL trực tiếp còn lại cuối kỳ
- Trị giá phế liệu thu hồi nếu có
Phương pháp xác định trị giá nguyên vật liệu xuất dùng: kế toán công ty sử dụng phương pháp bình quân gia quyền cả kì dự trữ. b) Tài khoản sử dụng Để hạch toán các khoản chi phí liên quan đến nguyên vật liệu trong công ty, kế toán sử dụng TK 154 – “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” Ngoài ra, kế toán còn sử dụng cac tài khoản liên quan khác như: TK 152 – “nguyờn liệu vật liệu”, TK
111 – “tiền mặt”, TK 331 – “phải trả người bỏn”
Ghi chú: : Ghi hàng ngày
: Ghi cuối tháng : Quan hệ đối chiếu
Hàng ngày kế toán căn cứ vào chứng từ gốc như phiếu nhập kho, phiếu xuất kho,… kế toán ghi vào Chứng từ ghi sổ Căn cứ vào chứng từ ghi sổ, kế toán ghi vào Sổ Đăng ký chứng từ ghi sổ, sau đó vào Sổ Cái Các chứng từ kế toán sau khi làm căn cứ lập chứng từ ghi sổ được dùng để ghi vào sổ chi tiết chi phí.Số liệu ghi trên sổ chi tiết chi phí là căn cứ để ghi vào thẻ tớnh giá thành.
Cuối tháng phải khoá sổ tớnh ra tổng số tiền của các nghiệp vụ kinh tế, tài chớnh phát sinh trong tháng trên Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, tớnh ra tổng số phát sinh Nợ, tổng số phát sinh Có và Số dư trên Sổ cái TK 154 Số liệu ghi trên thẻ tớnh giá thành là căn cứ để ghi vào chứng từ ghi sổ Căn cứ vào Sổ Cái kế toán lập Bảng cõn đối số PS.
Chứng từ ghi sổ TK154
Sổ chi tiết chi phí
Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
Bảng cân đối số phát sinh Báo cáo tài chính
Bảng tổng hợp, bảng phân bổ
Bảng tổng hợp chi phí theo yếu tố
Sau khi đối chiếu khớp đúng số liệu ghi trên Sổ Cái TK 154 và Bảng tổng hợp chi phí được dùng để lập Báo cáo tài chớnh
Quan hệ đối chiếu, kiểm tra phải đảm bảo:
Tổng số phát sinh Nợ và Tổng số phát sinh Có của tài khoản 154 = Tổng số tiền của TK 154 trên Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ c) Chứng từ sử dụng, sổ sách sử dụng
- Phiếu xuất kho mẫu 02-VT,
- Phiếu nhập kho mẫu 01-VT
- Biên bản kiểm nghiệm vật tư, công cụ sản phẩm mẫu 03-VT
- Phiếu báo vật tư còn lại cuối kì mẫu 04-VT
- Bảng phân bổ nguyên liệu vật liệu, công cụ dụng cụ mẫu 07-VT
- Hóa đơn mua hàng, hóa đơn GTGT, các phiếu chi mua hàng,…
Sổ sách sử dụng: Sổ cái tài khoản154, sổ chi tiết tài khoản
154, sổ đăng kí chứng từ ghi sổ,… d) Quy trình hạch toán kế toán chi phí nguyên vật liệu
Dựa vào đơn hàng do phòng kinh doanh đã giao, phòng quản lí sản xuất thực hiện các công việc chuẩn bị về nguyên vật liệu, phòng quản lí sản suất giao cho cán bộ thu mua thực hiện thu mua nguyên vật liệu về nhập kho trước khi đi vào sản xuất Kế toán và thủ kho cần tiến hành kiểm nghiệm vật tư xem đó đỳng, đủ về số lượng, chất lượng, chủng loại như trong hóa đơn hay chưa rồi mới cho tiến hành nhập kho.
Ví dụ: phiếu nhập kho Đơn vị: Công ty CP Quảng cáo và công nghệ Hòa An
Mẫu số: 01-VT(Ban hành theo QĐ 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng BTC)PHIẾU NHẬP KHO
Ngày 06 tháng 11 năm 2011 Nợ TK 152
- Họ và tên người giao hàng: Trần Văn Thành
- Nhập tại kho: Công ty Cổ phần Quảng cáo và công nghệ Hòa An
TT Tên quy cách, phẩm chất vật tư
Tổng số tiền (viết bằng chữ): Bốn triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng.
Số chứng từ gốc kốm theo: ………
Người giao hàng (Ký, họ tên)
Thủ kho (Ký, họ tên)
Kế toán trưởng (Ký, họ tên)
Căn cứ vào kế hoạch sản xuất và đơn đặt hàng đã được Giám Đốc phê duyệt, phòng kinh doanh, quản lý sản xuất sẽ phát lệnh sản xuất dưới hình thức phiếu sản xuất cho phân xưởng sản xuất trong đó quy định rõ: số lượng, định mức, quy cách, chất lượng, chủng loại, thông số kỹ thuật,…của các sản phẩm Phiếu sản xuất này được cán bộ phân xưởng mang đến chỗ thủ kho làm thủ tục lĩnh vật tư để phục vụ sản xuất Khi được chấp nhận, kế toán căn cứ vào phiếu sản xuất đã được duyệt để tiến hành làm phiếu xuất kho Phiếu xuất kho được lập làm 3 liên:
- 1 liên đưa cho người nhận vật tư,
- 1 liên thủ kho dùng để ghi vào thẻ kho,
- 1 liên kế toán dùng để làm căn cứ ghi sổ
Ví dụ: phiếu xuất kho Đơn vị: Công ty CP Quảng cáo và công nghệ Hòa An
Mẫu số: 02-VT (Ban hành theo QĐ 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng BTC)
PHIẾU XUẤT KHO Nợ TK 154 Ngày 10 tháng 11 năm 2011 Có TK 152
- Họ và tên người nhận hàng: Liên
- Lý do xuất: Xuất NVL trực tiếp để sản xuất 150.000 vỏ hộp bao thuốc lá Vinataba
- Theo đơn đặt hàng số 01 (ĐH 01)
- Xuất tại kho: Công ty Cổ phần Quảng cáo và công nghệ Hòa An
TT Tên quy cách, phẩm chất Mã ĐVT Số lượng Đơn Thành
Yêu cầu Thực vật tư số xuất giá tiền
1 Mực đỏ sen Eco Kg 30 30
Tổng số tiền (viết bằng chữ): ………
Số chứng từ gốc kốm theo: ………
Người giao hàng (Ký, họ tên)
Thủ kho (Ký, họ tên)
Kế toán trưởng (Ký, họ tên)
Thực tế ở công ty, cuối tháng kế toán căn cứ vào bảng tồn kho đầu kỳ của nguyên vật liệu tớnh toán đơn giá nguyên vật liệu xuất dùng trong tháng 11 Trong tháng 11 năm 2011, công ty chỉ sản xuất các đơn đặt hàng trên, không phát sinh thêm các khoản chi phí liên quan đến nguyên vật liệu.
Căn cứ vào tình hình nguyên vật liệu tồn kho và số lượng nguyên vật liệu nhập kho, kế toán tớnh ra đơn giá nguyên vật liệu xuất dùng trong kỳ theo phương pháp bình quân gia quyền, công thức tính: Đơn giá NVL xuất dùng trong kỳ
Giá trị NVL tồn đầu kỳ + Giá trị NVL nhập trong kỳ
Số lượng NVL tồn đầu kỳ + Số lượng NVL nhập trong kỳ Tại công ty, đầu tháng 11, số liệu về nguyên vật liệu tồn kho như sau:
BẢNG TỒN KHO NGUYÊN VẬT LIỆU
TT Tên nguyên vật liệu ĐVT Số lượng Thành tiền
5 Mực đỏ sen Eco Kg 10 850.000
9 Mực đỏ cờ Nhật Kg 1 110.000
Kế toán tính toán và lập bảng đơn giá nguyên vật liệu xuất kho trong tháng 11 như sau:
BẢNG TÍNH ĐƠN GIÁ NGUYÊN VẬT LIỆU XUẤT KHO (Tháng 11 năm 2011) ĐVT : VNĐ
TT Tên nguyên vật liệu Tồn kho đầu kỳ Nhập trong kỳ Đơn giá
SL Thành tiền SL Thành tiền
10 Mực xanh lá cõy Trung Quốc 0 0 3 315.000 105.000
CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CP QUẢNG CÁO VÀ CÔNG NGHỆ HềA AN
Nhận xét chung về kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty
công ty CP Quảng cáo và công nghệ Hòa An.
Công tác kế toán tại Công ty Cổ phần Quảng cáo và công nghệ Hòa An đã đảm bảo được tớnh thống nhất về mặt phạm vi, phương pháp tớnh toán chi tiết giữa các chỉ tiêu kế toán, đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho công tác quản lý, số liệu kế toán phản ánh trung thực, rừ ràng, dễ hiểu. Để đạt được thành tích như ngày hôm nay, Công ty Cổ phần Quảng cáo và công nghệ Hòa An đã đưa ra những giải pháp phù hợp cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tiến hành phõn tích các hoạt động một cách chớnh xác, khách quan, phù hợp với cơ chế thị trường, trong đó không thể không kể đến sự đóng góp của các cán bộ phòng kế toán Đặc biệt là công tác tập hợp chi phí sản xuất và tớnh giá thành sản phẩm. Qua thời gian thực tập em đã có điều kiện để nghiờn cứu, tìm hiểu thực tế công tác hạch toán tại đơn vị và em có đưa ra một số ý kiến nhận xét sau:
Về tổ chức bộ máy kế toán: Bộ máy kế toán tại công ty được tổ chức tập trung là hoàn toàn phù hợp với cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, hoạt động có nề nếp, việc phõn công lao động tương đối hoàn chỉnh, phù hợp với khả năng của từng nhõn viên trong phòng Đội ngũ nhõn viên làm việc nhiệt tình và có trách nhiệm cao, nắm vững chuyên môn Do đó công ty có nhiều đơn hàng bộ máy kế toán cũng sẽ sắp xếp công việc và đảm bảo hạch toán đúng thời gian, vận dụng linh hoạt sáng tạo các chế độ chính sách của Bộ tài chớnh ban hành.
Về hệ thống chứng từ sổ sách: Đặc điểm của hình thức chứng từ ghi sổ là đơn giản dễ làm nên việc áp dụng hình thức này tại công ty là hoàn toàn phù hợp Hệ thống chứng từ tại công ty được tổ chức một cách hợp lý trong toàn bộ các khõu, các công đoạn và quá trình luõn chuyển chứng từ mang tớnh tuõn thủ cao hợp lý Cùng với đó là hệ thống sổ chi tiết mang tớnh khoa học giúp công ty quản lý tốt các khoản chi phí phát sinh phục vụ cho việc tớnh giá thành.
Về hình thức trả lương: Công ty áp dụng hình thức trả lương theo thời gian là một hình thức rất công bằng đối với người lao động, ngoài tiền lương chớnh ra công ty cũng đưa ra các chế độ thưởng phạt đối với người lao động trong công ty, điều này sẽ là một yếu tố tích cực thúc đẩy người lao động làm việc có hiệu quả hơn.
Về đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo từng đơn đặt hàng là hoàn toàn phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty, phù hợp với đặc điểm quy trình sản xuất sản phẩm Việc kế toán tập hợp chi phí đúng đắn và chớnh xác sẽ làm cơ sở để đánh giá hiệu quả của mỗi đơn hàng, giúp người quản lý thấy được thiếu sót cũn tồn đọng và nhanh chúng tỡm ra được các biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Theo đó công ty xác định đối tượng tớnh giá thành là sản phẩm của các đơn hàng đã hoàn thành là phù hợp.
Về phương pháp tớnh giỏ nguyên vật liệu xuất kho: Công ty tớnh giá nguyờn vật liệu xuất kho theo phương pháp bình quõn cả kỳ dự trữ, phương pháp này đơn giản, dễ làm.
Về phương pháp tính khấu hao tài sản cố định: Doanh nghiệp trích khấu hao tài sản cố định theo phương pháp khấu hao đều theo thời gian (khấu hao đường thẳng) là phù hợp, đơn giản, dễ làm Phương pháp này cố định mức khấu hao theo thời gian nên có tác dụng thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, tăng số lượng sản phẩm làm ra để hạ giá thành, tăng lợi nhuận.
Kỳ kế toán: Kỳ kế toán của công ty xác định là hàng tháng đã đảm bảo cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết về chi phí, giúp việc tớnh giá thành chớnh xác, hợp lý theo các khoản mục chi phí, giúp ban quản lý nhanh chúng đưa ra những quyết định trong việc ký hợp đồng với khách hàng, xác định giá bán sản phẩm phù hợp với giá cả thị trường, tăng tớnh cạnh tranh với các đơn vị cùng ngành nghề.
Như vậy, công tác hạch toán kế toán nói chung và công tác hạch toán chi phí sản xuất và tớnh giá thành sản phẩm nói riêng tại Công ty Cổ phần Quảng cáo và công nghệ Hòa An là khá hoàn chỉnh, đáp ứng được phần nào yêu cầu của công tác quản trị doanh nghiệp trong việc ra các quyết định kịp thời chớnh xác.
Bên cạnh những ưu điểm trên công tác hạch toán kế toán tại đơn vị vẫn còn có những tồn tại cần khắc phục.
Về bộ máy kế toán: Đội ngũ kế toán cũn thiếu dẫn tới một người phải đảm đương nhiều phần hành kế toán khác nhau làm mất đi quan hệ đối chiếu giữa các phần hành kế toán độc lập và hạn chế khả năng chuyên sõu của nhõn viên kế toán đối với phần hành chớnh của mình.
Về hình thức sổ kế toán áp dụng: Hàng tháng công ty chỉ lập một chứng từ ghi sổ làm công việc kế toán bị dồn vào cuối tháng, có hiện tượng ghi chép lặp đi lặp lại nhiều lần, tạo nên khối lượng công việc cồng kềnh.
Về việc áp dụng chế độ kế toán:
Hiện nay công ty đang áp dụng chế độ kế toán theo quyết định số 48/2006/QĐ– BTC ngày 14/09/2009 của Bộ trưởng Bộ tài chớnh Việc áp dụng chế độ kế toán này đối với công ty là phù hợp nhưng có nhược điểm đó là tất cả các khoản chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ tại đơn vị trong kỳ hoạt động được tập hợp vào một tài khoản chung đó là TK 154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” Việc tập hợp như vậy sẽ rất khó cho việc điều chỉnh từng khoản mục chi phí.
Về công tác quản lý nguyên vật liệu: Công tác quản lý nguyên vật liệu tại công ty không được tốt, giá thực tế xuất kho nguyên vật liệu hay biến động Việc tớnh giá nguyên vật liệu xuất kho theo phương pháp bình quõn cả kỳ dự trữ là rất đơn giản, dễ làm nhưng độ chớnh xác không cao, mất nhiều thời gian Công ty có rất nhiều loại nguyên vật liệu nên việc áp dụng phương pháp này để hạch toán là rất phức tạp, khối lượng tớnh toán rất nhiều, công việc tớnh toán dồn vào cuối tháng, gõy ảnh hưởng đến công tác quyết toán nói chung.
Về phương pháp tính khấu hao: Việc công ty áp dụng trích khấu hao theo phương pháp đường thẳng cho tất cả các loại tài sản trong công ty là chưa hợp lý.Trong công ty có rất nhiều loại tài sản, sử dụng với mục đích khác nhau, có mức độ hao mũn khác nhau Phương pháp khấu hao theo đường thẳng có ưu điểm là dễ làm,
`việc tớnh toán đơn giản nhưng không phản ánh đúng mức khấu hao cần trích theo mức độ sử dụng tài sản cố định.
Về công tác sửa chữa lớn tài sản cố định: Công ty không trích trước chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định vì vậy không có nguồn để bù đắp các chi phí phát sinh khi có tài sản cố định hỏng hóc cần phải sửa chữa.
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty
Qua tìm hiểu và nghiên cứu tình hình thực tế công tác kế toán chi phí sản xuất và tớnh giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Quảng cáo và công nghệ Hòa An em nhận thấy về cơ bản công tác kế toán đã đảm bảo tuôn thủ theo đúng chế độ kế toán hiện hành, phù hợp với điều kiện cụ thể của công ty cũng như đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin quản lý nói chung Tuy nhiên trong quá trình hạch toán chi phí sản xuất cũn tồn tại những vướng mắc.
Với mong muốn góp phần hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tớnh giá thành sản phẩm tại công ty, em xin đề xuất một số giải pháp.
Tổ chức bộ máy kế toán: Công ty nên giảm bớt khối lượng công việc mà một nhõn viên kế toán phải kiêm nhiệm bằng cách tuyển dụng thêm nhõn viên kế toán. Trước khi tuyển thêm, công ty nên sắp xếp lại khối lượng công việc của các kế toán trong phòng kế toán cho phù hợp với khả năng của từng người từ đó xác định vị trí công việc cũn thiếu để tuyển thêm nhõn viên mới.
Về chế độ kế toán áp dụng: Công ty có thể áp dụng chế độ kế toán theo quyết định số 15/2006/QĐ – BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chớnh Việc áp dụng chế độ kế toán này sẽ mở rộng thêm hệ thống tài khoản cho doanh nghiệp Các khoản chi phí sẽ được tập hợp vào từng tài khoản riêng, như vậy sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng quản lý từng khoản mục chi phí và nếu có tiến hành điều chỉnh cũng
Về hình thức sổ kế toán: Công ty áp dụng hình thức chứng từ ghi sổ là phù hợp, công ty nên định kỳ 5- 10 ngày lập một chứng từ ghi sổ nhằm phõn phối đều khối lượng công việc trong kỳ Như vậy công việc sẽ không bị dồn vào cuối tháng, giảm áp lực công việc cho nhõn viên kế toán.
Về phương pháp tớnh giỏ nguyên vật liệu xuất kho: Nguyên vật liệu tại công ty có rất nhiều loại nhưng không có sự biến động nhiều về chủng loại, công ty nên áp dụng phương pháp tớnh giá nguyên vật liệu xuất kho theo phương pháp thực tế đích danh sẽ cho kết quả chớnh xác hơn phương pháp bình quân cả kỳ Đõy là phương pháp tốt, nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán, chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế Hơn nữa giá trị thực tế của hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị của nó.
Về phương pháp tính khấu hao: Công ty nên thay đổi phương pháp tớnh khấu hao tài sản cố định Công dụng của các loại tài sản cũng như cách thức phát huy tác dụng của tài sản trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty cũng có sự khác nhau, lợi ích thu được của việc sử dụng những tài sản đó cũng khác nhau Khấu hao tài sản cố định là sự phõn bổ một cách có hệ thống giá trị phải khấu hao của tài sản cố định (hữu hình, vô hình) trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó Điều này xuất phát từ nguyên tắc phù hợp của kế toán đó là thu nhập phải phù hợp với chi phí đã chi ra trong kỳ kế toán Để đảm bảo số liệu sổ kế toán cung cấp phản ánh đúng thực tế hoạt động kinh doanh của công ty cũng như tình hình sử dụng tài sản của doanh nghiệp, Công ty Cổ phần Quảng cáo và công nghệ Hòa An nên thay đổi cách tớnh khấu hao tài sản cố định như: Đối với nhà cửa công ty nên trích khấu hao theo phương pháp đường thẳng, đối với những loại máy móc, thiết bị gắn liền với quá trình sản xuất, tớnh năng công suất sử dụng giảm dần trong quá trình sử dụng công ty nên áp dụng phương pháp tớnh khấu hao theo số dư giảm dần….
Về phương pháp trích trước chi phí sửa chữa tài sản cố định: Công ty nên trích trước 1 khoản chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định Vì chi phí để sửa chữa lớn là khá cao, thời gian sửa chữa kéo dài Việc tớnh trước khoản chi phí này vào chi phí sản xuất kinh doanh sẽ tránh được sự tăng đột biến của khoản chi phí sản xuất trong kỳ đồng thời phản ánh đúng và đầy đủ các chi phí thực tế chi ra.
Về hệ thống sổ sách sử dụng: Sổ Cái tài khoản tại công ty hiện đang sử dụng chưa đầy đủ, từ đó chưa cung cấp được một cách đầy đủ các thông tin cho yêu cầu quản trị nội bộ của công ty Trên sổ cái không có cột ghi chú nên khi có liên quan đến các nghiệp vụ cần chú thích thêm phục vụ cho việc quản lý sẽ không có chỗ để ghi chép Do vậy, để theo dừi một cách chớnh xác, chi tiết hơn Sổ cái tại công ty nên bổ sung thêm cột ghi chú Bảng thanh toán tiền lương không có cột tạm ứng như thế sẽ không theo dừi được cụ thể số tiền công nhõn viên ứng trước là bao nhiêu và số tiền cũn lại phải thanh toán sau khi trừ đi khoản tạm ứng Do vậy, trên bảng thanh toán tiền lương của công ty nên bổ sung thêm cột tạm ứng đằng sau cột tổng lương thực nhận.
Về việc áp dụng kế toán máy vào công tác kế toán: Mặc dù công ty ghi chép sổ sách kế toán trên máy nhưng hiệu quả làm việc vẫn chưa cao Việc áp dụng chỉ dừng lại ở việc tự lập bảng biểu, mẫu sổ và tớnh toán trên Excel, cuối kỳ công việc vẫn bị ùn tắc và thiếu số liệu Bên cạnh đó có một số công việc vẫn phải làm thủ công nên dẫn đến việc trùng lặp, nhầm lẫn và nếu có sai sót sẽ khó phát hiện, sửa đổi Do vậy áp dụng kế toán máy là một biện pháp rất hữu hiệu cho công tác kế toán, điều này không những cập nhật được chớnh xác các số liệu, kịp thời, nhanh chóng mà cũn giảm thiểu được lao động kế toán, tiết kiệm một khoản chi phí cho đơn vị Trước khi áp dụng kế toán máy vào công tác kế toán, công ty phải đào tạo nhõn viên kế toán sử dụng thành thạo kế toán máy, lưạ chọn thời điểm thích hợp để đưa kế toán máy vào áp dụng, đảm bảo không gõy sự xáo trộn qúa lớn đối với hệ thống nghiệp vụ của đơn vị.