Untitled TỈNHTỈNH NINH THUẬNNINH THUẬNNINH THUẬNNINH THUẬN UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO � áng 03– 2023 Downloaded by Hoàng Minh Hi?u (hhieu84 thcs@gmail com) lOMoARcPSD|29238[.]
Trang 1TỈNH NINH THUẬN
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NINH THUẬN
10
NGUYỄN HUỆ KHẢI – TRẦN THỊ KIM NHUNG (đồng Tổng Chủ biên)
NGUYỄN ANH LINH – NGUYỄN THỊ HIỂN (đồng Chủ biên)NGUYỄN THỊ LƯU AN – VŨ ĐÌNH BẢY – NGUYỄN ĐỨC HOÀINGUYỄN THỊ XUÂN LỘC – HOÀNG MINH PHÚC
VÕ VĂN THẬT – PHẠM THỊ BẠCH TUYẾT – TRẦN THỊ THANH VÂN
Trang 3HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH
Hãy bảo quản, giữ gìn tài liệu để dành tặng
các em học sinh lớp sau.
MỤC TIÊU Yêu cầu cần đạt sau mỗi chủ đề
KHỞI ĐỘNG Giúp các em tạo tâm thế, hứng thú và kết nối với chủ đề.
KHÁM PHÁ Giúp các em quan sát, tìm hiểu,… để phát hiện và trải nghiệm những điều mới.
LUYỆN TẬP Giúp các em luyện tập và thực hành những điều vừa khám phá được.
VẬN DỤNG Giúp các em vận dụng những nội dung đã học vào thực tiễn.
Trang 4Lời nói đầu
Với tính chất đồng hành, hỗ trợ, chúng tôi hi vọng Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Ninh Thuận – Lớp 10 sẽ đồng thời giúp các em phát triển các phẩm chất và năng lực của bản thân, vừa cụ thể hoá tình yêu quê hương bằng những suy nghĩ, hành động
và việc làm cụ thể; góp phần xây dựng quê hương Ninh Thuận phát triển bền vững, hài hoà giữa truyền thống và hiện đại; hội nhập sâu rộng với các khu vực, vùng miền trên cả nước
Chúc các em có những trải nghiệm bổ ích cùng Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Ninh Thuận – Lớp 10
CÁC TÁC GIẢ
Trang 5Hướng dẫn sử dụng sách .2
Lời nói đầu .3
CHỦ ĐỀ 1 CÁC DÂN TỘC TRÊN QUÊ HƯƠNG NINH THUẬN .5
CHỦ ĐỀ 2 BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HOÁ Ở NINH THUẬN 13
CHỦ ĐỀ 3 NHỮNG THÀNH TỰU TIÊU BIỂU VỀ VĂN HOÁ CHĂM Ở TỈNH NINH THUẬN 25
CHỦ ĐỀ 4 MỘT SỐ CA KHÚC TIÊU BIỂU VIẾT VỀ TỈNH NINH THUẬN 38
CHỦ ĐỀ 5 LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA TỈNH NINH THUẬN 43
CHỦ ĐỀ 6 CƠ CẤU CÁC NGÀNH KINH TẾ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở TỈNH NINH THUẬN .50
CHỦ ĐỀ 7 BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở TỈNH NINH THUẬN 61
CHỦ ĐỀ 8 CÂY TRỒNG ĐẶC TRƯNG VÙNG KHÔ HẠN 73
Bảng tra cứu thuật ngữ 85
MỤC LỤC
Trang 6CÁC DÂN TỘC TRÊN QUÊ HƯƠNG NINH THUẬN
CHỦ ĐỀ 1:
MỤC TIÊU
– Nêu được thành phần dân tộc theo dân số tại tỉnh Ninh Thuận
– Trình bày được một số phong tục, tập quán và các hoạt động kinh tế của một số dân tộc trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
– Nêu được vai trò của các dân tộc trong quá trình xây dựng và phát triển quê hương Ninh Thuận nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung
1 Thành phần tộc người theo dân số tại tỉnh Ninh Thuận
Tính đến năm 2020, trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận có 34 dân tộc cùng sinh sống; trong đó các dân tộc chiếm số lượng dân cư đông hơn các dân tộc còn lại là người Kinh (Việt), người Raglai, người Chăm, người Hoa, người Cơ Ho và người Nùng Tổng số dân toàn tỉnh là 593 644 người, người Kinh (Việt) chiếm 75,58% dân số toàn tỉnh Các dân tộc thiểu số chiếm 24,42% dân số toàn tỉnh, trong đó: dân tộc Raglai chiếm 11,92%; dân tộc Chăm chiếm 11,43%; các dân tộc thiểu số khác chiếm 1,07%
(Theo UBND tỉnh Ninh Thuận, Báo cáo tổng hợp quy hoạch tỉnh Ninh Thuận
thời kì 2021 – 2030, tầm nhìn đến 2050)
Trang 7Người Kinh (Việt) ở Ninh Thuận đến định cư từ nhiều vùng, nhiều địa phương khác nhau theo quá trình khai hoang ruộng đất bằng đường bộ của nông dân và bằng đường biển của ngư dân Người Việt ở tỉnh Ninh Thuận đến nhiều nhất là từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình Cư dân Việt xây dựng được
hệ thống làng xã và một vùng văn hoá có được như ngày hôm nay là cả một quá trình vất vả, cực nhọc vật lộn với thiên nhiên của biết bao thế hệ
Đồng bào Raglai là một trong năm tộc người thuộc ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam Tên tộc người được các tài liệu phiên âm bằng nhiều cách khác nhau: Raglai, Radlai, Ranglai, Roglai, Người Raglai cư trú ở vùng núi cao ở các tỉnh cực Nam Trung Bộ
Cho đến nay, chưa có tư liệu nào thống kê dân số Raglai trong quá trình lịch sử Trong các dân tộc thiểu số ở tỉnh Ninh Thuận, người Raglai có số dân khá lớn (đứng thứ 2 sau người Việt).Dân tộc Raglai cư trú khá tập trung, sống tương đối độc lập ở các triền núi phía tây thuộc 3 tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận, trong đó tập trung đông nhất là ở tỉnh Ninh Thuận (trên 50%)
“tết”, nhưng từ lâu, cộng đồng người Chăm Bà-ni và Chăm I-xlam đã coi nó như là tết của cộng đồng
– Hôn nhân của người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận
Người Chăm theo chế độ mẫu hệ, nhà gái sẽ chủ động trong việc hôn nhân Sau một quá trình tìm hiểu nhau, khi đôi nam nữ quyết định đi đến hôn nhân, nhà gái sẽ
cử một ông mai (Ông Janhuk) mang lễ vật sang nhà trai để thưa chuyện và xin nhà trai định ngày để làm lễ hỏi cưới Hai bên nhà trai và nhà gái sẽ thống nhất với nhau về cách thức và thời gian tổ chức lễ cưới Ảnh hưởng tôn giáo thể hiện qua nghi lễ đám cưới của người Chăm Bà La Môn và người Chăm Bà-ni có khác nhau:
+ Nghi lễ cưới của người Chăm theo đạo Bà La Môn
Lễ cưới của người Chăm theo quy định phải tổ chức vào buổi chiều thứ tư vào các ngày chẵn (các số thuộc âm) 2, 4, 6, 8, 10, 12 và 14 của các tháng 3, 6, 8, 10, 11 lịch Chăm
Trang 8và phải nhằm vào những ngày hạ tuần trăng (từ đêm trăng tròn đến khi hết trăng) Đến ngày đã ấn định làm lễ cưới, họ hàng nhà trai tự tổ chức đưa chú rể sang nhà
vợ Dẫn đầu là ông Inư Amư (cha mẹ đỡ đầu), đi theo sau là chú rể, kế đến là những người phụ nữ và các thành viên trong họ tộc nhà trai Khi gần tới nhà cô dâu, có nhóm đại diện nhà gái đến đón nhà trai vào nhà Ông Inư Amư dắt tay chú rể đến phòng cô dâu và bàn giao cho nhà gái Cô dâu giúp chú rể sửa soạn lại trang phục Sau đó, hai người cùng ăn một miếng trầu cau mang ý nghĩa cùng nhau chia sẻ ngọt bùi, đắng cay trong cuộc sống Từ đây, chú rể chính thức trở thành thành viên của gia đình nhà gái Chú rể và cô dâu cầm tay nhau bước ra khỏi hôn phòng dâng trầu cau, rượu mời cha mẹ
và tuyên bố khai tiệc cưới
+ Lễ cưới của người Chăm Bà-ni
Người Chăm Bà-ni có hai hình thức tổ chức lễ cưới Một là lễ cưới theo tập quán cổ truyền, hai là lễ cưới theo nghi thức tôn giáo
Lễ cưới theo tập quán cổ truyền tương tự như lễ cưới của người Chăm Bà La Môn
Lễ cưới theo nghi thức tôn giáo được tiến hành sau khi tổ chức lễ cưới theo tập quán
cổ truyền ít nhất một ngày Lễ cưới theo nghi thức tôn giáo tổ chức trong nhà lễ (Kajang) được dựng lên tại nhà gái Các nghi lễ cưới do vị sư cả (Pô Gru) làm chủ lễ Trong lễ, có hai
em bé mặc trang phục truyền thống Chăm Theo quan niệm của người Chăm, đây được coi như là sự hiện diện của hai vị thần Hô Thanh, Hô Thai – con của thánh Ali và Fatimưh chứng giám Ngồi bên cạnh cô dâu là một bà lão (Muk Pađam), bà này có nhiệm vụ
“giữ chặt” cô dâu khỏi bị cướp đi Các thầy Acar làm lễ thành hôn cho cô dâu chú rể bằng các động tác làm phép và đọc kinh cầu phúc cho hạnh phúc của hai người
Hình 3 Lễ cưới của người Chăm Bà-ni
Trang 9– Nghi lễ nông nghiệp của người Raglai
Người Raglai là cư dân sống bằng nông nghiệp nương rẫy, chủ yếu là phát rừng làm rẫy, phụ thuộc vào thời tiết và chịu ảnh hưởng tín ngưỡng đa thần của cư dân nông nghiệp Đông Nam Á Với một vùng khí hậu khô nóng như Ninh Thuận, các cây trồng phụ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên, người Raglai cũng có những nghi lễ theo vòng cây trồng theo chu kì thời tiết mùa vụ nương rẫy như lễ cúng rẫy, lễ hội Mừng lúa mới, lễ
ăn đầu lúa,
+ Lễ trưởng thành (Pôk Kaya) của người Raglai
Lễ trưởng thành dành cho đứa trẻ khi đã được 15, 16 tuổi Người Raglai quan niệm rằng, khi đến tuổi trưởng thành, đã thành một con người và đủ khả năng phạm tội với thần linh Vì vậy, lễ này mang ý nghĩa giải tội với thần linh Bao gồm các thần như Pô Sun, Pô Ali, Muk Bbuai, Muk Grang và thần Thổ địa Lễ này phải mời thầy cúng đến làm
lễ Lễ vật thường thấy là thịt gà hoặc thịt heo, trầu cau, rượu,… được dọn thành 2 mâm Một mâm để cúng giải tội, tẩy uế, tống tiễn những điều xấu, một mâm mừng đứa trẻ đã trưởng thành Khi đứa trẻ được 18 tuổi, lại phải làm lễ “tháo còng”
+ Nghi lễ cưới
Người Raglai chịu sự chi phối bởi chế độ mẫu hệ, con gái bắt chồng về nhà mình Tuy nhiên, con trai lại chủ động đi hỏi vợ
Lễ cưới (Bbăk Abu)
Lễ cưới được người Raglai (tuỳ theo từng vùng gọi là Huăk Abu hay Bbăk Abu) Theo tập tục, lễ cưới phải có 2 con heo (một lớn, một nhỏ) vài chục gà con và sản phẩm nông nghiệp Rượu cần là đặc sản quan trọng để đãi khách
Nhà trai đưa chàng rể và mang lễ vật sang nhà gái Khi đến nhà gái, nhà trai và nhà gái trao lễ vật cho nhau rồi làm lễ cúng tổ tiên Sau lễ cúng, gia chủ sẽ dọn cơm đãi hai họ và bà con láng giềng đến chúc mừng
Sáng hôm sau cô dâu chú rể cùng theo họ nhà trai về nhà cha mẹ (chồng) Chú rể cũng mang cây ná ống tên (cung tên không những là vũ khí tự vệ, mà còn là công cụ săn bắt thú rừng của đàn ông tộc người Raglai) Cô dâu mang gùi đựng một đùi heo, một ché rượu cần và một ít gạo Theo tục đây là quà tặng cha mẹ chồng (nghĩa báo hiếu)
Nhà trai làm heo, gà cúng để trình báo tổ tiên, là con trai đã đi lấy vợ và theo vợ Sau lễ cúng nhà trai đãi cơm rượu họ nhà gái, hai họ cùng gởi gắm cô dâu chú rể Sáng hôm sau, chú rể theo vợ về ở luôn bên nhà vợ, ăn đời ở kiếp với nhau
Trang 10Tại Đông Hải (thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, Ninh Thuận), vào các ngày 20 và 23 tháng 5 âm lịch, ngư dân lại tổ chức lễ hội tại Lăng Ông Phần lễ cũng gồm nhiều nghi lễ như
lễ rước Ông dưới biển, Cúng tế giao cảm với thần bằng văn tế, vật tế, hát bả trạo hầu Ông Nội dung xoay quanh việc ca ngợi công đức cá Ông đã hộ trì cho người đi biển tránh được cuồng phong bão tố và bội thu Ngoài các mục tế, hát tuồng, hát bả trạo, đua thuyền,… Lễ hội Cầu ngư Đông Hải còn mang thêm một nét đặc biệt, chính là phần múa siêu, với nội dung là biểu diễn bài võ Siêu Đao Bài võ Siêu Đao, dân trong vùng quen gọi bằng Siêu Ông
Em có biết?
Hình 4 Lễ hội Cầu ngư của người dân các làng biển Mỹ Tân, Khánh Hội, Sơn Hải, Cà Ná
Nêu những nét đặc sắc về phong tục, tập quán của một dân tộc (Chăm hoặc Raglai)
mà em ấn tượng nhất
?
b) Hoạt động kinh tế của một số dân tộc trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
Các cư dân tại tỉnh Ninh Thuận hiện chủ yếu là nông nghiệp – ngư nghiệp – diêm nghiệp Nghề trồng lúa nước phát triển ở đồng bằng Ngoài ra còn có cây công nghiệp (mía, mì, thuốc lá); cây ăn trái (nho, táo); cây hoa màu (rau, hành, tỏi); chăn nuôi gia súc (bò, dê, cừu), gia cầm (gà, vịt đàn) Nghề đánh bắt cá có từ lâu đời, ngoài ra còn có nghề nuôi cá bè, cá mú, tôm hùm lồng; tôm thịt, tôm giống rất phát triển
Hình 5 Cánh đồng muối Đầm Vua (xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải)
Trang 11Ngày nay, nông nghiệp vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế của toàn tỉnh Với khí hậu đặc thù, một số cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao, trở thành đặc sản của địa phương có giá trị xuất khẩu như: nho, táo, hành, tỏi, dê, cừu, hải sản tự nhiên (mực, cá cơm khô)
Nghề thủ công ra đời từ rất sớm và phát triển ở nhiều nơi như nghề dệt thổ cẩm
ở Mỹ Nghiệp, Chung Mỹ; nghề gốm ở Bàu Trúc (huyện Ninh Phước); dệt chiếu (thôn
An Thạnh); nghề đan lát song mây tre, đồ gỗ mĩ nghệ ở huyện Bác Ái, Ninh Sơn; chế biến nước mắm ở các làng ven biển;… Đến nay có một số ngành công nghiệp phát triển như thuỷ điện, sản xuất vật liệu xây dựng (xi măng, đá granit), muối công nghiệp, mía đường, khai thác chế biến nông, thuỷ sản Tỉnh Ninh Thuận là trung tâm năng lượng sạch của
cả nước, một số dự án điện gió ở huyện Thuận Nam, Ninh Hải, Thuận Bắc, Ninh Phước, Ninh Sơn, Bác Ái
Nhà máy điện gió tại tỉnh Ninh Thuận
lớn nhất Việt Nam, đóng tại xã Lợi Hải và
xã Bắc Phong, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh
Thuận kết hợp với nhà máy điện mặt trời
công suất 204 MW; từ đó, hình thành nên tổ
hợp năng lượng tái tạo điện mặt trời, điện
gió lớn nhất và duy nhất tại Việt Nam cũng
như khu vực Đông Nam Á Tổng sản lượng
khai thác hằng năm của tổ hợp năng lượng
điện gió, điện mặt trời tại đây đạt 950 triệu
kWh, tương đương 1 tỉ kWh điện/ năm
Em có biết?
Hình 8 Cánh đồng quạt gió Đầm Nại
(huyện Thuận Bắc)
Trang 12– Trình bày những nét chính về các hoạt động kinh tế của các dân tộc trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận.
– Nhận xét về vai trò của các hoạt động kinh tế đối với đời sống của cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Ninh Thuận
?
3 Vai trò của các dân tộc trong quá trình xây dựng và phát triển quê hương Ninh Thuận, đất nước
Tỉnh Ninh Thuận – mảnh đất có bề dày lịch sử, giàu truyền thống cách mạng và
có nền văn hoá mang đậm đà bản sắc dân tộc, dù trải qua bao biến cố lịch sử, đồng bào các dân tộc vẫn giữ gìn, tôn tạo và làm phong phú thêm văn hoá nghệ thuật Trong lịch sử hình thành và phát triển, tỉnh Ninh Thuận đã hội tụ trong lòng mình các dân tộc anh em: Kinh, Chăm, Raglai, Chu Ru, Cơ Ho, Hoa, Tất cả các đân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận đã góp phần xây dựng và phát triển quê hương đất nước từ khi hình thành cho đến nay
Qua những cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm, nhiều người con ưu tú của các dân tộc là những nhà yêu nước chống giặc, chống chế độ hà khắc của phong kiến, thực dân Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ nhiều thanh niên, cán bộ, chiến sĩ là con em của các đồng bào dân tộc trên vùng đất Ninh Thuận cùng đồng bào miền Bắc, Trung, Nam đến tham gia hoạt động, chiến đấu đã có những đóng góp to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược trên quê hương Ninh Thuận Các anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân là những người con của các dân tộc trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận chiến đấu ngoan cường, tiêu biểu như: anh hùng Đặng Quang Cầm, anh hùng Pinăng Tắc, anh hùng Đặng Chí Thanh, anh hùng Pinăng Thạnh, anh hùng Nguyễn Trọng Nghĩa, anh hùng Đổng Dậu, anh hùng Huỳnh Phước, anh hùng Chamaléa Châu, anh hùng Pô Pôr Thị Dú,…
Ngày nay, đất nước hoà bình và phát triển, các dân tộc sinh sống trên quê hương Ninh Thuận lại có những đóng góp to lớn trên mặt trận chính trị, văn hoá, kinh tế, giáo dục,…
Công tác quản lí nhà nước về văn hoá và thể thao tiếp tục có những chuyển biến tích cực Nhiều hoạt động văn hoá đã đổi mới về nội dung và hình thức thể hiện với chất lượng nâng cao Nhiều công trình phục vụ nhu cầu văn hoá, vui chơi giải trí được đầu tư thích đáng Công tác bảo tồn bảo tàng các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể được quan tâm Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá được triển khai rộng khắp
và có 93,4% hộ gia đình, 97% thôn, khu phố và 100% cơ quan, đơn vị được công nhận đạt chuẩn văn hoá
Trên chặng đường hình thành và phát triển của quê hương, các thành phần dân tộc tỉnh nhà không ngừng phát huy những phẩm chất truyền thống kết hợp hiện đại, phù hợp với các yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, từng bước góp phần xây dựng tỉnh Ninh Thuận phát triển bền vững trên các lĩnh vực kinh
tế, văn hoá, chính trị, xã hội
Trang 13Hình 9 Quảng trường 16 tháng 4 (thành phố Phan Rang – Tháp Chàm)
Theo em, các dân tộc đang sinh sống trên quê hương Ninh Thuận có những đóng góp quan trọng nào trong việc phát triển văn hoá của tỉnh?
Trang 14BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HOÁ
Ở TỈNH NINH THUẬN
CHỦ ĐỀ 2:
MỤC TIÊU
– Nêu được một số vấn đề chung về di sản văn hoá của tỉnh Ninh Thuận
– Nêu được thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá ở tỉnh Ninh Thuận
– Nêu được một số biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá ở tỉnh Ninh Thuận.– Thực hiện được một số việc làm phù hợp góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá
Trang 15KHÁM PHÁ
1 Khái quát về di sản văn hoá của tỉnh Ninh Thuận
Ninh Thuận là vùng đất có dấu tích của nền văn hoá Sa Huỳnh, nơi gìn giữ những
di sản quý báu của nền văn hoá Chăm-pa Cùng sự đa dạng về địa hình, phong phú về thành phần dân cư, vùng đất này có nhiều di sản thiên nhiên, di sản lịch sử – văn hoá đặc sắc, mang dấu ấn đặc trưng của các cộng đồng dân tộc
a) Xếp hạng
Theo Luật Di sản văn hoá Việt Nam (văn bản hợp nhất – 2013), di sản văn hoá được phân loại thành di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể Trong đó, di sản vật thể bao gồm di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia
Di sản phi vật thể bao gồm tiếng nói, chữ viết, văn học dân gian, nghệ thuật trình diễn dân gian, tập quán xã hội, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống và tri thức dân gian
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận có tổng số 239 di sản văn hoá; trong đó có 65
di sản văn hoá đã được lập hồ sơ xếp hạng ở các cấp Cụ thể: có 2 di tích quốc gia đặc biệt,
13 di tích quốc gia (trong đó có 1 danh lam thắng cảnh quốc gia), 5 di sản văn hoá phi vật thể quốc gia, 45 di tích cấp tỉnh
Di tích quốc gia đặc biệt gồm có:
Di tích kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ
tháp Hoà Lai (huyện Thuận Bắc, tỉnh
Ninh Thuận) và Di tích kiến trúc nghệ
thuật tháp Pô Klong Garai (thành phố
Phan Rang – Tháp Chàm)
Hình 2 Tháp Pô Klong Garai
Công trình cụm tháp Pô Klong Garai (Ninh Thuận) được xây dựng từ thế kỉ XIII
để thờ vị vua Chăm trị vì xứ Pan-du-ran-ga (Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay), ngài là
Pô Klong Garai (1151 – 1205) Cụm tháp Pô Klong Garai bao gồm 3 ngôi tháp, được xây từ loại gạch nung đỏ sẫm Tháp Chính là nơi thờ vua; Tháp Cổng và Tháp Lửa là nơi hành lễ của các vị tu sĩ Cụm tháp có kiến trúc độc đáo, là nơi linh thiêng đối với cộng đồng người Chăm Với những giá trị đặc biệt tiêu biểu, di tích kiến trúc nghệ thuật tháp Pô Klong Garai được xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt (năm 2016)
Em có biết?
Trang 16Di tích quốc gia gồm có 13 di tích: bẫy đá Pinăng Tắc (Phước Bình – Bác Ái), tháp
Pô Rômê (Phước Hữu – Ninh Phước), đình Vạn Phước (Phước Thuận – Ninh Phước), đình Đắc Nhơn (Nhơn Sơn – Ninh Sơn), đình Dư Khánh (Khánh Hải – Ninh Hải), đình Văn Sơn (Văn Hải – thành phố Phan Rang – Tháp Chàm), đình Thuận Hoà (Phước Thuận – Ninh Phước), đình Khánh Nhơn (Nhơn Hải – Ninh Hải), miếu Xóm Bánh (Đài Sơn – thành phố Phan Rang – Tháp Chàm), đình Tấn Lộc (Tấn Tài – thành phố Phan Rang – Tháp Chàm), chùa Ông (Kinh Dinh – thành phố Phan Rang – Tháp Chàm), đình Tri Thuỷ (Tri Hải – Ninh Hải) và danh thắng Vịnh Vĩnh Hy (Vĩnh Hải – Ninh Hải)
Hình 4 Nghi lễ Bỏ mả của người Raglai Hình 3 Tháp Pô Rômê
Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia gồm có 5 di sản: lễ hội Katê của người Chăm, nghệ thuật làm gốm truyền thống của người Chăm làng Bàu Trúc (thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước), lễ Bỏ mả của người Raglai tỉnh Ninh Thuận (xã Phước Chiến, huyện Thuận Bắc), lễ hội Cầu ngư, nghi lễ đầu năm của người Chăm làng Bỉnh Nghĩa (xã Bắc Sơn, huyện Thuận Bắc)
Trang 17Làng gốm Bàu Trúc thuộc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
là một trong những làng nghề gốm cổ xưa nhất Đông Nam Á với các sản phẩm gốm thủ công và kĩ thuật nung gốm độc đáo Gốm Bàu Trúc là sản phẩm thủ công mang nét đặc trưng không lẫn với gốm nơi khác Nguyên liệu làm gốm là đất sét, cát, nước ngọt, đặc biệt đất sét ở làng Bàu Trúc có độ kết dính cao Từ một khối đất, người thợ gốm Bàu Trúc sẽ nặn, tạo hình thành nhiều loại sản phẩm khác nhau, được trang trí phong phú Nghệ thuật rắc màu lên áo gốm là cách thức tự do và ngẫu nhiên nhất, độc đáo và rất sống động
Chiều ngày 29 – 11 – 2022, di sản “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” đã được ghi danh vào Danh sách Di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của UNESCO
rộng lớn của huyện Ninh Hải, núi Cà Đú
từng là căn cứ chống Pháp của nghĩa
quân Cần vương và cũng là cơ sở cách
mạng của nhân dân Ninh Thuận trong
kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Em có biết?
Hình 7 Núi Cà ĐúNgày 5 – 12 – 2013, nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ được UNESCO ghi danh là
Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại Tỉnh Ninh Thuận vinh dự nằm trong danh sách 21 tỉnh, thành được công nhận danh hiệu này
Hình 8 Tác phẩm biểu diễn trong Liên hoan Đờn ca tài tử
Trang 18Theo đánh giá của UNESCO, nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ đã đáp ứng được các tiêu chí đặt ra (được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giáo dục chính thức và không chính thức tại khắp 21 tỉnh phía Nam, liên tục được tái tạo thông qua trao đổi văn hoá với các dân tộc khác nhau, thể hiện sự hoà hợp và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc,…) Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ khẳng định sức sống của văn hoá truyền thống Việt Nam trong dòng chảy hội nhập cùng văn hoá thế giới
– Quan sát hình 3, 4, em hãy phân tích những nét đặc trưng của các di sản đó
?
b) Giá trị của các di sản văn hoá trên vùng đất Ninh Thuận
Theo dòng thời gian hàng ngàn năm,
bản sắc văn hoá của các cộng đồng dân tộc
tỉnh Ninh Thuận được kết tinh trong các di
sản vật thể và phi vật thể, lưu truyền đến
hiện tại Chính vì vậy, các di sản văn hoá của
tỉnh Ninh Thuận có nhiều giá trị nổi trội về
văn hoá, giáo dục, du lịch,…
– Giá trị về văn hoá
Ninh Thuận là vùng đất giao thoa của
nhiều nền văn hoá, tạo nên sự phong phú về
lịch sử, văn hoá Các di sản văn hoá của tỉnh
Ninh Thuận là “bức tranh” phản chiếu bản sắc
văn hoá cộng đồng, là chứng nhân lịch sử,
dấu gạch nối giữa quá khứ – hiện tại
Điều 12 – Luật Di sản văn hoá Việt Nam (văn bản hợp nhất 2013): Di sản văn hoá Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích:
1 Phát huy giá trị di sản văn hoá vì lợi ích của toàn xã hội;
2 Phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam;
3 Góp phần sáng tạo những giá trị văn hoá mới, làm giàu kho tàng di sản văn hoá Việt Nam và mở rộng giao lưu văn hoá quốc tế
Em có biết?
Trang 19Hệ thống đình, chùa ở tỉnh Ninh Thuận mang phong cách kiến trúc, nghệ thuật, tôn giáo riêng tồn tại hàng thế kỉ và nay vẫn là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh quan trọng của cộng đồng Lễ hội phản ánh đời sống tinh thần đặc sắc, tiêu biểu của cộng đồng các dân tộc trên địa bàn tỉnh (Lễ hội Cầu ngư của ngư dân vùng biển, Lễ Bỏ mả của người Raglai, Lễ hội Katê của người Chăm, Nghi lễ đầu năm của người Chăm làng Bỉnh Nghĩa,…).
Đặc biệt, vùng đất này gìn giữ được nhiều di sản quý báu của nền văn hoá Chăm, bao gồm chữ viết, dân ca, nghệ thuật múa, trang phục và nghề dệt thổ cẩm, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Ở đây gần như còn nguyên vẹn hệ thống tháp Chăm xây dựng trong nhiều thế kỉ trước, tiêu biểu là cụm tháp Hoà Lai (Ba Tháp), cụm tháp Pô Klong Garai
và cụm tháp Pô Rômê
Tỉnh Ninh Thuận còn có hai làng nghề truyền thống của người Chăm là làng gốm Bàu Trúc và làng dệt Mỹ Nghiệp, là nơi lưu giữ những nét văn hoá độc đáo của kĩ thuật chế tác, sản xuất và nghệ thuật trang trí từ đời xưa
– Giá trị về giáo dục
Các di sản văn hoá ở tỉnh Ninh Thuận là kho tàng lưu giữ tri thức dân gian, phản chiếu trí tuệ và tâm hồn của các thế hệ đi trước Đây là nguồn tư liệu đặc biệt để dạy học, thực hiện mục tiêu “học tập suốt đời” và xây dựng “xã hội học tập” Giáo dục di sản đã được đưa vào trường học, trở thành một kênh quan trọng để học sinh có thể hiểu về lịch sử, văn hoá của quê hương mình Từ đó, hình thành trong các em ý thức bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị di sản
Hình 9 Đua thuyền rồng trong lễ hội Cầu ngư của cư dân xã Cà Ná và Phước Diêm
(huyện Thuận Nam)
Trang 20Hình 10 Du khách trải nghiệm làm gốm tại làng gốm Bàu Trúc
Di tích lịch sử cách mạng có vai trò quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ về đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ đi trước, tự hào về truyền thống của quê hương Những di tích tiêu biểu như di tích Đềpô xe lửa Tháp Chàm (thành phố Phan Rang – Tháp Chàm), bẫy đá Pinăng Tắc (huyện Bác Ái), đồn Tà Lú –
Ma Ty (huyện Bác Ái), căn cứ 7 (CK 7) (huyện Thuận Nam), cây me Bảo An (thành phố Phan Rang – Tháp Chàm),… ghi dấu những chiến công của quân và dân tỉnh Ninh Thuận trong sự nghiệp kháng chiến chống ngoại xâm
Di tích Bẫy đá Pinăng Tắc, ở xã
Phước Bình (huyện Bác Ái, Ninh
Thuận) là một trong những di tích
độc đáo, thể hiện sức mạnh, bản
lĩnh của cộng đồng người Raglai
nói riêng và người Ninh Thuận nói
chung Tên di tích cũng chính là tên
người anh hùng Pinăng Tắc, người
đã biến hàng triệu hòn đá vô tri
thành vũ khí khiến quân địch khiếp
hãi Chọn khu vực đồi núi hiểm trở
và con đường độc đạo, anh hùng
Pinăng Tắc đã bố trí hệ thống gồm 17 bẫy đá Mỗi bẫy chứa hàng chục tấn đá nằm trên đỉnh cao núi cao và sẵn sàng đổ xuống đầu quân địch Những chiến công hiển hách của anh hùng Pinăng Tắc và đồng bào huyện Bác Ái (Ninh Thuận) trong kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước đã đi vào sử sách
Em có biết?
Hình 11 Bẫy đá Pinăng Tắc
Trang 21– Giá trị về du lịch
Văn hoá các dân tộc là một thế mạnh để phát triển du lịch ở tỉnh Ninh Thuận Di sản văn hoá là một “tài nguyên” đặc biệt, độc đáo và hấp dẫn du khách Dòng sản phẩm du lịch văn hoá gắn với các lễ hội truyền thống, tín ngưỡng tôn giáo, trải nghiệm các làng nghề ở tỉnh Ninh Thuận đã mang lại nhiều lợi thế và giá trị kinh tế, giúp cho người dân xoá đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống
Hình 12 Vịnh Vĩnh Hy
Thiên nhiên cũng ưu đãi cho vùng đất Ninh Thuận những thắng cảnh tuyệt đẹp, trở thành nguồn tài nguyên thúc đẩy du lịch Trong đó, đặc biệt là vịnh Vĩnh Hy, đã được xếp hạng là Di tích danh thắng quốc gia (2020)
Vịnh Vĩnh Hy nằm ở huyện Ninh Hải, còn có tên gọi khác là Vũng Căng hay Vũng Găng (Vĩnh Hy có nghĩa là mong muốn việc buôn bán sầm uất, náo nhiệt với nhiều cơ hội, nhiều may mắn, hướng về một cuộc sống an hoà, vui vẻ, bình yên) Vịnh Vĩnh Hy có những giá trị nổi bật về thẩm mĩ, địa hình, địa thế, hệ sinh thái phong phú, Địa danh này là điểm đến thu hút đông đảo khách du lịch và được xác định là một trong những tuyến
du lịch trọng điểm của tỉnh Ninh Thuận Danh thắng này đã được Tổ chức kỉ lục Việt Nam xác lập vào top 10 vịnh đẹp nhất của Việt Nam
Tỉnh Ninh Thuận nằm ở Duyên hải Nam Trung Bộ, còn nhiều khó khăn về kinh tế,
xã hội nhưng lại “giàu” về văn hoá Kho tàng di sản văn hoá phong phú, đa dạng, được tỉnh Ninh Thuận bảo tồn và phát huy với nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn
Trang 22Hình 13 Lễ công bố và đón nhận Bằng chứng nhận Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia đối với "Nghi lễ đầu năm của người Chăm ở làng Bình Nghĩa" cho xã Bắc Sơn
(huyện Thuận Bắc)
Di sản văn hoá vật thể tại tỉnh Ninh Thuận nổi bật với các kiến trúc nghệ thuật, tôn giáo tồn tại hàng thế kỉ Đặc biệt, hệ thống các tháp Chăm ở tỉnh Ninh Thuận đến nay gần như còn nguyên vẹn Thông qua các chương trình, dự án nghiên cứu khoa học từ năm
1981 đến nay, các tháp Chăm ở tỉnh Ninh Thuận đã được nghiên cứu, thám sát khảo cổ học và trùng tu nhiều đợt Các công trình phụ trợ, khuôn viên của các tháp Chăm được xây dựng, tôn tạo khang trang
Bên cạnh đó, còn có các di tích cấp quốc gia của tỉnh Ninh Thuận được quan tâm tu bổ, gia cố chống xuống cấp thông qua nguồn vốn của chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá Một số di tích cấp tỉnh được chính quyền, người dân địa phương, các nhà tài trợ tu bổ thêm qua các năm bằng nguồn kinh phí của địa phương và nguồn xã hội hoá
Tỉnh Ninh Thuận còn có hệ thống các lễ nghi, phong tục tập quán, nghề thủ công truyền thống, văn học nghệ thuật dân gian, của cộng đồng các dân tộc trên địa bàn tỉnh Các di sản này được lưu truyền trong dân gian qua nhiều thế hệ, không ngừng được tái tạo,
kế tục để thích nghi với đời sống cộng đồng Vì thế, việc bảo tồn các di sản này ở tỉnh Ninh Thuận được thực hiện rộng rãi trong cộng đồng, chú trọng tới vai trò của nghệ nhân trong phổ biến, trao truyền và phát huy các di sản
Hình 14 Dệt thổ cẩm truyền thống của làng Chăm Mỹ Nghiệp
Trang 23– Công tác phát huy di sản văn hoá
Phát huy tiềm năng, lợi thế về hệ thống di tích lịch sử, văn hoá của địa phương, những năm qua, tỉnh Ninh Thuận đã đẩy mạnh phát triển các loại hình du lịch di sản kết nối di tích với các danh lam thắng cảnh để thu hút du khách trong và ngoài nước
Du khách đến với tỉnh Ninh Thuận sẽ được chiêm ngưỡng, khám phá hệ thống các đền tháp Chăm cổ kính, các đình, chùa có phong cách kiến trúc, nghệ thuật tôn giáo độc đáo Du khách được hoà mình vào trong các lễ hội đặc sắc tại di tích, cảm nhận được bản sắc văn hoá của các cộng đồng dân tộc Nhiều lễ hội được tổ chức trong năm như:
Lễ hội Cầu ngư của ngư dân, Lễ Bỏ mả của người Raglai, Lễ hội Katê của người Chăm, cụm Nghi lễ Đầu năm của người Chăm làng Bỉnh Nghĩa (xã Bắc Sơn, huyện Thuận Bắc), Kết hợp với đó là các tour trải nghiệm tới các làng nghề truyền thống như làng gốm Bàu Trúc, làng dệt Mỹ Nghiệp, làng dệt Chung Mỹ,
Loại hình du lịch cộng đồng đang từng
bước được nhân rộng ở tỉnh Ninh Thuận
Đặc biệt, một số làng Chăm truyền thống đã
được khai thác thành địa chỉ lưu trú du lịch,
trải nghiệm sinh thái nhân văn Đây là nét mới
trong phát triển du lịch tỉnh Ninh Thuận, thu
hút ngày càng đông người dân địa phương
cùng liên kết, tham gia làm du lịch sinh thái
một cách bền vững Việc phát huy di sản gắn
với cộng đồng là một hướng đi đúng ở tỉnh
Ninh Thuận Cộng đồng tham gia thực hành di
sản, góp phần bảo tồn di sản và được hưởng
những giá trị di sản đem lại
Hình 15 Hướng dẫn viên du lịch người Chăm với du khách ở đồng cừuNhiều năm qua, tỉnh Ninh Thuận đã xây dựng được quy chế quản lí, bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Tỉnh đã kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh tham gia đầu tư vào hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di tích gắn văn hóa với phát triển kinh tế, văn hoá với phát triển du lịch; thực hiện tốt công tác tuyên truyền, quảng bá giới thiệu về di tích, danh thắng dưới nhiều hình thức như: phim tư liệu, in sách, tờ gấp; mở nhiều cuộc trưng bày triển lãm tại bảo tàng tỉnh và trung tâm nghiên cứu văn hoá Chăm nhằm phục vụ nhu cầu giáo dục về văn hoá, vừa phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân trong tỉnh
Em hãy nêu thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá ở tỉnh Ninh Thuận
?
b) Khó khăn
– Hệ thống các di tích kiến trúc nghệ thuật, tôn giáo được xếp hạng ở tỉnh Ninh Thuận có niên đại hàng trăm năm, vật liệu kiến trúc chủ yếu làm bằng vôi, vữa, gỗ nên dưới sự tác động khắc nghiệt của khí hậu đã ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại của công trình, nguy cơ làm phai mờ dấu tích xưa
Trang 24– Công tác trùng tu, bảo tồn di sản có
khi bị sai nguyên tắc, làm cho nhiều thành
phần nguyên gốc của di tích bị xâm phạm,
hư hỏng, nhiều chi tiết chạm khắc đã bị
biến dạng
– Sự hạn chế về ý thức chấp hành pháp
luật của một bộ phận dân cư, tình trạng các
di vật bị thất thoát, di tích bị lấn chiếm khiến
công tác bảo vệ di tích gặp khó khăn
– Một số di tích ở các địa phương đang
bị xuống cấp nhưng chưa được tu bổ kịp thời
vì thiếu kinh phí; việc thu hút khách du lịch
đến các điểm di tích tham quan còn nhiều
hạn chế
Hình 16 Tháp Hoà Lai ở tỉnh Ninh Thuận đang bị đe doạ bởi thời gian và môi trường– Một số lễ hội, phong tục tập quán, nghề truyền thống có nguy cơ mai một do sự thay đổi của môi trường sống, tập quán sản xuất và sinh hoạt
– Một số địa phương, đơn vị còn thiếu cán bộ chuyên trách có trình độ nghiệp vụ làm công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản trên địa bàn Do vậy, việc phân cấp trực tiếp quản lí di tích, di sản văn hoá còn nhiều bất cập, chưa phát huy hiệu quả một cách triệt để.– Sự hạn chế về ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận dân cư (về vấn đề khai thác di sản, vệ sinh môi trường,…), tình trạng các di vật bị thất thoát, di tích bị lấn chiếm khiến công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích gặp khó khăn
Em hãy nêu những khó khăn trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá
ở tỉnh Ninh Thuận
?
3 Một số biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá ở tỉnh Ninh Thuận
Di sản văn hoá là nguồn tài nguyên nhân văn quý giá, tạo nên những giá trị lịch sử và bản sắc của đất và người Ninh Thuận Trong công cuộc xây dựng tỉnh Ninh Thuận thời kì mới, di sản văn hoá được xem là nguồn lực to lớn để phát triển kinh tế – xã hội bền vững Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá ở tỉnh Ninh Thuận có những biện pháp
cụ thể sau:
– Tăng cường công tác quản lí nhà nước về lĩnh vực di sản văn hoá; gắn trách nhiệm của chính quyền, các tổ chức đoàn thể và người dân trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá
– Đẩy mạnh việc nghiên cứu, lập hồ sơ để bảo tồn và giới thiệu những di sản văn hoá trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận Chú trọng phát triển các ứng dụng công nghệ số nhằm hỗ trợ nâng cao trải nghiệm của khách tham quan tại các di tích, bảo tàng, các điểm tham quan du lịch
– Kết hợp hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch trên địa bàn Trong đó, tập trung bảo tồn, phát huy giá trị các di sản, các công trình văn hoá có giá trị tiêu biểu, có ý nghĩa chính trị, lịch sử, truyền thống
Trang 25đặc sắc để góp phần xây dựng và phát triển văn hoá, con người Ninh Thuận vì sự phát triển chung, bền vững của đất nước.
Hình 18 Chương trình dân vũ đặc sắc
do thiếu nữ Chăm biểu diễn đón mừng
Lễ hội Katê
Hình 17 Các vận động viên lướt ván diều
tại biển Ninh Chử
– Huy động nguồn xã hội hoá, mở rộng nguồn đầu tư về vật lực và tài lực trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm
– Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục pháp luật cho người dân, đề cao vai trò của nhân dân trong việc tham gia quản lí và phát huy giá trị di sản văn hoá
Hãy nêu những biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá ở tỉnh Ninh Thuận
3 Em hãy cho biết thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá ở quê hương em
4 Theo em, nhà trường có vai trò gì trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá ở địa phương
VẬN DỤNG
Em hãy chọn một di sản văn hoá của tỉnh Ninh Thuận, xây dựng một báo cáo giới thiệu giá trị của di sản, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị ấy
Trang 26NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HOÁ TIÊU BIỂU
CỦA NGƯỜI CHĂM Ở TỈNH NINH THUẬN
CHỦ ĐỀ 3:
MỤC TIÊU
– Trình bày được quá trình hình thành và phát triển của người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận.– Nêu được những thành tựu văn hoá tiêu biểu của người Chăm góp phần quan trọng trong quá trình phát triển văn hoá của tỉnh Ninh Thuận
– Trình bày được một số hoạt động văn hoá tiêu biểu của người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận.– Thực hiện được những việc làm phù hợp để góp phần gìn giữ và phát huy văn hoá của người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận
KHỞI ĐỘNG
Quan sát hình 1 dưới đây Em hãy cho biết đây là trang phục truyền thống của đồng bào nào đang sinh sống tại tỉnh Ninh Thuận
Hình 1 .?
Trang 27KHÁM PHÁ
1 Quá trình hình thành và phát triển của người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận
Dân tộc Chăm là cư dân của Vương quốc Chăm-pa cổ (Nưgar Champa), một trong những dân tộc cư trú lâu đời trên mảnh đất miền Trung Việt Nam Theo các nhà nghiên cứu, khoảng 2 000 năm trước đây, ở miền Trung Việt Nam đã xuất hiện nhóm người Ma-lay-ô – Pô-li-nê-xi-ân (Malayo – Polynésiennes) di cư từ hải đảo vào đất liền (tổ tiên của người Chăm) sống xen kẽ với các dân tộc bản địa Người Chăm thuộc nhóm ngữ hệ
Mã Lai – Đa Đảo (Ma-lay-ô – Pô-li-nê-xi-ân) Trong quá trình phát triển người Chăm đã hình thành nên nhà nước Chăm-pa tồn tại từ thế kỉ II đến thế kỉ XVII Đến thế kỉ XVII, nhà nước Chăm-pa suy tàn và sáp nhập vào Đại Việt
Ngày nay, người Chăm là một trong 54 dân tộc anh em ở nước ta, định cư chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận, miền Trung Việt Nam Tính đến năm 2020, số dân người Chăm tại tỉnh Ninh Thuận chiếm 11,43% dân số toàn tỉnh Trong đó, tập trung đông nhất là ở huyện Ninh Phước và Thuận Nam Người Chăm hiện nay ở tỉnh Ninh Thuận vẫn còn phân biệt các dòng họ Chăm “dòng núi” và Chăm “dòng biển” Người Chăm “dòng núi” thờ atau cơk
và Chăm “dòng biển” thờ atau tathik Đặc biệt, có dòng họ thờ cả atau cơk và atau tathik
Hình 2 Nghi thức rước y trang nữ thần Pô Inư Nưgar tại làng Chăm Hữu Đức
Người Chăm cư trú ở tất cả các huyện và thành phố Phan Rang – Tháp Chàm Người Chăm Bà La Môn – còn gọi là Chăm Ahiêr – cư trú ở 16 làng, trong đó có một làng sống xen cả Bà La Môn lẫn Bà-ni (làng Phú Nhuận) Người Chăm Bà-ni – còn gọi là Chăm Awal sống tập trung ở 7 làng, trong đó có một số làng có cả người Chăm theo Bà-ni và người Chăm theo I-xlam (Islam)
Em có biết?
Em hãy cho biết người Chăm tại tỉnh Ninh Thuận thuộc ngữ hệ nào
?
Trang 282 Những thành tựu văn hoá tiêu biểu của người Chăm góp phần quan trọng trong quá trình phát triển văn hoá của tỉnh Ninh Thuận
Hình 3 Nhà ở của dân tộc Chăm Ninh Thuận dựng tại Làng Văn hoá – Du lịch các dân tộc Việt Nam thuộc khu du lịch Đồng Mô (Sơn Tây, Hà Nội)Người Chăm tại tỉnh Ninh Thuận theo 3 tôn giáo chính, trong đó có Chăm Ahiêr (người Chăm theo đạo Bà La Môn), Chăm Awal (người Chăm theo Hồi giáo Bà-ni) và cộng đồng người Chăm theo Hồi giáo I-xlam Ngoài ra, có một số người theo đạo Công giáo và Tin Lành nhưng không nhiều Họ còn lưu truyền nhiều hình thức tín ngưỡng dân gian như: thờ cúng tổ tiên, thờ nhiên thần, nhân thần, thờ vật linh,
Trong tiến trình phát triển, người Chăm nơi đây đã xây dựng một nền văn hoá với nhiều thành tựu đặc sắc Những thành tựu đó được thể hiện rõ nét trong nhiều lĩnh vực,
từ kiến trúc, điêu khắc, phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo đến ngôn ngữ,
âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn và các nghề thủ công như dệt vải, làm gốm thủ công
a) Một số thành tựu văn hoá tinh thần của người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận
– Tín ngưỡng đa thần
Cũng như tín ngưỡng dân gian của các cư dân nông nghiệp lúa nước, tín ngưỡng dân gian của người Chăm là tín ngưỡng đa thần Họ thờ thần trời, thần cha: Yang Pô Yang Amư, Pô Inư Nưgar Đây là các vị thần tối cao, luôn đi cặp với nhau và luôn được thỉnh mời đầu tiên trong các lễ tục Chăm Thần Pô Inư Nưgar là thần mẹ xứ sở, vị nữ thần thuộc âm
để đối xứng với Yang Pô Yang Amư (thần cha) thuộc dương Vị nữ thần này được người Chăm coi là đấng tạo hoá ra Vũ Trụ và sự sống của muôn loài
Những vị nhân thần hiện nay được người Chăm thờ là những nhân vật có thật trong lịch sử, là những người có công khai phá đất đai, trị thuỷ nhập điền Hầu hết các nhân vật này đã được khoác lên một chiếc áo thần thoại, truyền thuyết mang tính thần thánh hoá
Trang 29Huyền thoại về Pô Inư Nưgar kể rằng, thuở sơ khai Vũ Trụ, Pô Inư Nưgar là một sinh thể tự nhiên đầu tiên và duy nhất Sau đó, bà hoá sinh thành hai thực thể khác: Khoảng không bao
la và Cái cân vĩ đại Từ Cái cân vĩ đại này lần lượt xuất hiện: Yang Pô Yang Amư được sinh ra
từ quả cân, Pô Debita Swơr từ đòn cân và Pô Alwah từ dây đòn cân Sau đó, bà đằng hắng, giơ tay, liếc nhìn, mỗi cử động của bà làm xuất hiện tinh tú, trời đất sấm sét và mọi vật chất
Vũ Trụ Còn Yang Pô Yang Amư thổi một hồi tù và dài làm xuất hiện tất cả muông thú sinh vật
– Các lễ hội tôn giáo
+ Lễ hội Katê (Katé)
Lễ hội Katê là lễ hội lớn nhất của người Chăm Bà La Môn (Ahiêr), được tổ chức hằng năm vào tháng 7 theo lịch Chăm, nhằm tưởng nhớ các vị nam thần như Pô Klong Garai, Pô Rômê (Po Romé) và tưởng nhớ ông bà tổ tiên đã độ trì cho cộng đồng người Chăm Ahiêr trong một năm qua và cầu mong một năm tới được mùa, sức khoẻ, thuận lợi
Lễ Katê từ lâu đã trở thành như một lễ có tính chất “tết” không riêng của người Chăm Ahiêr mà càng ngày càng có sự tham gia của cộng đồng Chăm Awal và của các dân tộc khác Ngoài phần lễ, Katê còn có phần hội với sự tham gia đông đảo của cộng đồng
(1) Xem Văn Đình Hy, Từ thần thoại Pô I nưgar đến Thiên Y Ana, Những vấn đề dân tộc học ở miền Nam Việt Nam Tập II, tài liệu in rônêo Viện Khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh, trang 143.
Trang 30+ Tết Ra-mư-wan (Ramưwan)
Từ “Ra-mư-wan” trong tiếng Chăm có nguồn gốc từ tiếng A-rập “Ra-ma-đan” (Ramadan) – có nghĩa là tháng 9 theo lịch Hồi giáo Người Chăm đọc trại đi thành Ra-mư-wan còn dân gian quen gọi là “Tết Chăm Bà-ni” Tết Ra-mư-wan mang đậm sắc thái riêng của đồng bào Chăm Hồi giáo Bà-ni (Hồi giáo đã bản địa hoá) Đó là sự kết hợp với những nghi lễ bản địa như lễ cúng gia tiên, cúng dâng gạo, cúng nữ thần
Hình 4 Lễ tảo mộ của đồng bào Chăm Bà-ni + Lễ Suk yơng (kinh hội)
Đây là lễ của người Chăm Awal – Chăm Bà-ni, được tổ chức 3 năm một lần, luân phiên tại các thánh đường trong ngày thứ sáu Lễ diễn ra vào tháng 11 hoặc tháng 12 Hồi lịch Ngoài việc đạo, lễ này còn là dịp họp mặt các chức sắc của cả hai cộng đồng Chăm Ahiêr
và Awal, bầu Hội đồng phong tục và họp bàn việc đời, việc đạo trong những năm tới
thánh đường trong lễ Suk yơngHình 5 Nghi lễ Suk yơng của người Chăm Bà-ni
Trang 31Nghi lễ Cầu đảo (Palao Kasah) là một trong năm đại lễ trong năm của người Chăm Nghi lễ được tổ chức đồng loạt tại các cửa biển vào ngày Chủ nhật và thứ Hai đầu tháng 2 Chăm lịch (khoảng tháng 5 dương lịch) cho toàn thể cộng đồng Chăm Ahiêr (Bà La Môn) và Chăm Awal (Bà-ni) trong toàn tỉnh, được chia làm 3 khu vực cúng tế:
– Khu vực tháp Pô Klong Garai: tổ chức tại cửa biển Ninh Chử, dưới chân núi Cà Đú
– Khu vực đền Pô Inư Nưgar: tổ chức tại cửa biển Phú Thọ, nơi sông Dinh đổ ra biển
– Khu vực tháp Pô Rômê: tổ chức tại cửa biển Cà Ná
Theo quan niệm của người Chăm, Palao Kasah là nghi lễ khai thông trời đất nhằm tôn vinh thần cai quản nông nghiệp, cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu Lễ Palao Kasah
do các vị chức sắc, tu sĩ, thầy cúng Chăm tổ chức và làm chủ lễ nhằm tế cúng các vị thần Chăm
Bà La Môn như Yang Bimông, các vị thần Chăm Hồi giáo như Yang Birau, thánh Alla cùng các
vị thần Sông, thần Núi, thần Biển, thần Sấm,…
+ Di tích tháp Pô Klong Garai
Di tích tháp Pô Klong Garai toạ lạc trên ngọn đồi Bbôn Hala (đồi Lá trầu), thuộc thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Theo truyền thuyết, tháp được vua Jaya Simhavarman III (mà sử liệu Việt Nam thường gọi là Chế Mân) Tháp Pô Klong Garai được xây dựng vào cuối thế kỉ XIII – đầu thế kỉ XIV Hiện nay, cụm di tích tháp Pô Klong Garai còn tồn tại 3 ngôi tháp
Trang 32Hình 8 Tượng thờ vua Pô Rômê trong tháp
Trang 33+ Di tích đền thờ Pô Inư Nưgar
Đền thờ Pô Inư Nưgar được xây dựng ban đầu tại cánh đồng Hamu Ram thuộc thôn Mông Nhuận, về sau chuyển về thờ phượng tại thôn Hữu Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận nằm ở giữa cánh đồng ở ngoài làng Ngôi đền được xây cất lại vào giữa thế kỉ XX Đền thờ ở phía đông có thờ tượng nữ thần Pô Bia Apakal, gian thờ phía tây có đặt một hòn đá và 2 pho tượng nữ thần Pô Bia Dara Nai Neh và Pô Bia Tưh Ngoài ra, còn có một ngôi đền ở phía nam có chức năng như tháp Lửa
Di tích đền thờ Pô Inư Nưgar có kiến trúc và hoạ tiết trang trí mang đậm dấu ấn tư duy xây dựng của người Việt Dù vậy, bố cục công trình vẫn tuân thủ theo đúng nguyên tắc tín ngưỡng – tôn giáo Chăm Có thể nói rằng, đây là giai đoạn mà người Chăm và người Việt có
sự giao lưu văn hoá sâu sắc
Em có biết?
– Ẩm thực
Người Chăm có tập quán ăn uống theo mùa, có nghĩa là “mùa nào thức ấy” Họ biết tận dụng nguồn thức ăn xung quanh khu vực mình cư trú, cùng với tri thức phong phú
về cách chế biến và thưởng thức Nguồn thức ăn chính của người Chăm là từ lúa gạo, thịt,
cá, rau,… Món ăn thường có của người Chăm là cháo trắng Đây là món ăn trong danh sách những món ăn bình dị của người Chăm Ninh Thuận Ăn cháo trắng là lúc để nhìn lại cuộc đời những tháng ngày được sống trong vòng tay yêu thương của mẹ, nhớ ơn những người đã dày công trồng lúa, tạo nên hạt gạo và ăn cháo trắng là lúc thể hiện mong ước bình an, sung túc Cháo trắng đã trở thành món ăn truyền thống của người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận trong bữa sáng
Người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận còn có một loại cháo có vị cay mà người Chăm gọi là Abu hơng, loại cháo này dùng trong nghi lễ tang ma của người Chăm Ahiêr Theo quan niệm của người Chăm Ahiêr, cháo tượng trưng cho Yang aia bilan (thần Mặt Trăng), cháo này chỉ nấu và ăn vào ban đêm
Em có biết?
– Trang phục truyền thống
Tuỳ theo hoạt động của xã hội và tôn giáo mà họ có những lễ phục riêng Họ có những trang phục như: trang phục phụ nữ, trang phục nam giới (trang phục thường ngày và trang phục lễ hội), trang phục chức sắc tôn giáo, tín ngưỡng Chăm, trang phục tu
sĩ Chăm Bà La Môn, trang phục tu sĩ Chăm Bà-ni, trang phục chức sắc tín ngưỡng Chăm, trang phục Ông Kadhar (thầy kéo đàn Kanhi), trang phục Ông Ka-ing (thầy bóng), trang phục Muk Pajau (bà bóng), trang phục Ông Mưdôn (thầy vỗ trống Baranưng), trang phục Muk Rija (Vũ sư),
Trang 34– Làng nghề
+ Làng gốm Bàu Trúc
Làng gốm Bàu Trúc toạ lạc tại thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận Làng gốm Bàu Trúc đã trở thành nét văn hoá đặc trưng dân tộc Chăm tại tỉnh Ninh Thuận, được xem là một trong những làng gốm truyền thống có tuổi đời lâu nhất Đông Nam Á còn lưu giữ và tồn tại cho đến ngày nay Nghệ thuật làm gốm ở làng Bàu Trúc đã được công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia
Hình 9 Làng gốm Bàu Trúc (huyện Ninh Phước) + Làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp
Làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp thuộc thị trấn
Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
Nghề dệt thổ cẩm của người Chăm tại Mỹ Nghiệp
đã có từ rất lâu đời Tuy nhiên, vải thổ cẩm lúc bấy
giờ được dệt với hoa văn và cách thức đơn giản
Tương truyền, vào thế kỉ XVII, bà Pô Inư Nưgar đã đặt
chân đến vùng đất Pan-du-ran-ga (Panduranga) và
nhận thấy khí hậu nơi đây thích hợp cho việc trồng
bông lấy tơ dệt vải Chính vì thế, bà đã truyền lại nghề
dệt cho dân làng Sau đó, nghề dệt thổ cẩm chính thức
trở thành nghề truyền thống mẹ truyền con nối tại
ngôi làng này
Nét đặc trưng của gốm Bàu Trúc đó chính là những sản phẩm thủ công và cách nung riêng biệt, đầy độc đáo Tất cả các công đoạn làm gốm đều làm bằng thủ công và không dùng bàn xoay để làm gốm, các nghệ nhân làm gốm ở đây vẫn sử dụng bàn cố định, chủ yếu dùng tay xoay và di chuyển người để tạo ra những sản phẩm Sau khi tạo hình xong sẽ được vẽ, trang trí, khắc hoạ lên sản phẩm để tạo điểm nhấn cho sản phẩm, bước kế tiếp là đem ra ngoài phơi nắng và cất trong bóng mát vài ngày trước khi đem nung Tại đây họ không sử dụng máy để nung mà là nung lộ thiên (nung ngoài trời) Đó cũng chính là nét đặc trưng của làng gốm Bàu Trúc truyền thống
Em có biết?
Hình 10 Phụ nữ Chăm bên khung dệt
Trang 35Em hãy mô tả một bộ trang phục truyền thống (nam, nữ) của người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận.
?
3 Một số hoạt động văn hoá tiêu biểu của người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận
a) Lễ hội nông nghiệp
Nằm trong cơ tầng văn hoá Đông Nam Á, dân tộc Chăm cũng có tín ngưỡng của
cư dân nông nghiệp lúa nước Hệ thống lễ nghi nông nghiệp cho đến nay vẫn giữ được khá nhiều về số lượng và phong phú về nội dung
Với điều kiện địa lí khí hậu khắc nghiệt, đối với cư dân nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào các hiện tượng tự nhiên và là điểm xuất phát của tín ngưỡng nông nghiệp với
hệ thống nghi lễ dày đặc Đó là các nghi lễ phồn thực, cầu mưa, lễ khai mương đắp đập
và các nghi thức cúng tế các vị thần tự nhiên (nhiên thần)
b) Lễ Cầu an (Yôr yang)
Đây là một nghi lễ cộng đồng Tổ chức vào hai ngày: chủ nhật và thứ hai trong tuần, vào thượng tuần tháng Tư lịch Chăm
Địa điểm tổ chức tại ba khu vực
đền tháp của người Chăm Bà La Môn
Chủ lễ là vị cả sư đứng đầu tôn giáo
(Pô Adhia), ông kéo đàn Kanhi (Ông
Kadhar), các thầy Pa-xế (Pô Paseh),
bà bóng (Muk Pajau) Theo quan
niệm của người Chăm, đây là lễ tục
nhằm cầu cho quốc thái dân an, cầu
mưa thuận gió hoà, mùa màng bội
thu, xua tan những điều xấu xa và
đón nhận những bình an, may mắn,
người dân được ấm no, hạnh phúc
Đồng thời, đây còn là dịp để ghi nhớ
công ơn tổ tiên và các vị thần linh
trong tín ngưỡng, tôn giáo Chăm
Hình 11 Thiếu nữ Chăm trong trang phục truyền thống tham gia các hoạt động tín ngưỡng
dân gian
c) Lễ tế trâu tại núi Đá Trắng (Ngap Kabaw Cơk Yang Pataw)
Lễ tế trâu tại núi Đá Trắng được tổ chức 7 năm một lần tại núi Đá Trắng (làng Như Ngọc, huyện Ninh Phước) nhằm mục đích tạ ơn và tỏ lòng thành kính của những người tham gia
lễ cúng với vị thần ở núi Đá Trắng (Pô Cơk Yang Patao), Thổ thần (Pô Bhum), Thuỷ thần (Yang Patao Aia); các nhân thần, nhiên thần đã ban ơn cho họ có cuộc sống an lành, mùa màng xanh tốt
Lễ vật dâng cúng là một con trâu trắng, hai con gà luộc, bánh chà cung (bánh bột gạo), 2 chén rượu cần, cơm, canh, bánh tét, chuối, trầu cau, rượu, trứng,… Lễ cúng diễn ra tại chân núi Đá Trắng trong thời gian một ngày
Trang 36Tuy xuất phát từ một câu chuyện thần thoại bản địa (chuyện con chằn tinh bắt nộp công chúa) nhưng đây là một nghi lễ khoác lên mình nhiều lớp văn hoá Trước hết là tín ngưỡng nông nghiệp bản địa, tiếp theo là các lớp văn hoá truyền thống Ấn Độ và các lớp văn hoá Đông Nam Á, trong đó có văn hoá Việt Chủ lễ là ông kéo đàn Kanhi (Ông Kadhar), bà bóng (Muk Pajau), ông cai đập (Ông Hamu Ia).
d) Những nghi lễ liên quan đến chu kì sinh trưởng của cây lúa
– Lễ dựng chòi rẫy (Ngap yang padang dai toan)
Đó là nghi thức dựng chòi ở ngoài ruộng, rẫy suốt thời vụ canh tác Gia đình phải chọn ngày tốt để làm lễ, do ông cai lệ làm chủ lễ Lễ vật gồm có hai con gà, rượu, bánh tét,
ba quả trứng gà, năm lá trầu, năm miếng cau
– Lễ cúng mừng lúa con (Ngap yang Pô Bhum)
Sau thời gian gieo sạ, cây lúa phát triển và đẻ ra những nhánh lúa con chung quanh cây lúa mẹ thành những bụi đầy sức sống Người nông dân Chăm làm lễ cúng để tạ ơn, gọi là Ngap yang Pô Bhum
Lễ cúng diễn ra tại bờ ruộng Lễ vật gồm có một con dê, bốn mâm cơm, rượu, ba quả trứng gà, chè, xôi
– Lễ cúng mừng lúa chửa (Ngap yang padai đôk tian)
Do quan niệm lúa cũng như người con gái, có bầu cũng phải cung kính, kiêng cữ Khi lúa chửa phải cúng
Lễ cúng diễn ra tại sân ruộng Lễ vật gồm: hai con gà, năm mâm cơm, trái me xanh, mắm nêm, cà tươi, cơm rượu (là những thức ăn mà người đàn bà mang thai thích ăn)
– Lễ xuống gặt (Ngap yang trun yuak)
Lễ này thường làm vào tháng 10 và tháng 11 lịch Chăm, gọi là lễ cúng thu hoạch lúa Chủ lễ là ông cai lệ
Lễ vật gồm: ba quả trứng luộc, rượu, trầu cau, xôi chè, một tấm vải trắng, cái lưỡi liềm cắt lúa Sau khi cúng, ông cai lệ gặt một nắm tượng trưng, nắm lúa này được mang về treo
ở nhà để cuối năm làm lễ cúng lúa mới Còn gia đình tiến hành gặt lúa mang về
e) Các lễ cúng tế thần linh
– Lễ Puis
Là loại lễ nghi của tộc họ cúng để trả lễ và thết đãi thần linh mà cụ thể là thần
Pô Rômê Lễ này được tổ chức khi tộc họ làm ăn được mùa Lễ này chỉ được tổ chức phổ biến trong tộc học thuộc khu vực các làng thờ tháp Pô Rômê gồm các thôn Hậu Sanh,
Mỹ Nghiệp, Vĩnh Thuận, Vụ Bổn, Hiếu Thiện
– Lễ Payak
Lễ này cũng tương tự như lễ Puis nhưng đối tượng thờ cúng là thần Pô Klong Garai
và của các tộc họ thờ tháp Pô Klong Garai gồm làng Phước Đồng, Chất Thường, Hiếu Lễ, Hoài Trung (Ninh Phước)
g) Hệ thống lễ hội Rija (Lễ múa)
Rija là hệ thống lễ hội múa Chăm Có 4 loại lễ hội gồm Rija Nưgar, Rija Harei, Rija Dayaup và Rija Prong Tuy là lễ múa nhưng đều liên quan đến tín ngưỡng của người Chăm Lễ Rija Nưgar là lễ hội chuyển mùa, có tín ngưỡng tống ôn, cầu mưa Trong 4 lễ hội trên, lễ Rija Nưgar là nghi lễ của cộng đồng palei của cả hai tôn giáo, còn các lễ khác là nghi lễ của tộc họ và gia đình
Trang 37– Lễ hội Rija Nưgar (Lễ múa xứ sở)
Là lễ hội chuyển mùa, đón năm mới, tống ôn đầu năm (tháng 1 lịch Chăm, khoảng tháng 4 dương lịch): Rija Nưgar còn được gọi là lễ múa mừng đầu năm Rija Nưgar là lễ hội
do tất cả các làng Chăm hai khu vực tôn giáo cùng tổ chức Phía người Chăm Bà La Môn do ông thầy vỗ (Ông Mưdôn) và ông bóng (Ông Ka-ing), bà bóng (Muk Pajau) làm chủ lễ Phía người Chăm Bà-ni, chủ lễ là ông Acar Imưm và ông Acar Katip
Ngoài ra, phải có sự tham gia của các nghệ nhân là các nhạc công đánh trống ginăng, thổi kèn Xa-ra-nai, đánh chiêng, trống Ông bóng (Ông Ka-ing) có vai trò rất quan trọng trong lễ thức này, vì ông là người thay mặt dân làng giao tiếp với thần linh để cầu phúc, cầu mùa, cầu mọi sự tốt lành cho một năm mới
Thường thì người Chăm tổ chức lễ hội Rija Nưgar vào ngày thứ năm, ra ngày thứ sáu Ngày thứ năm sẽ cúng gà “vào cúng gà, ra cúng ngạnh (dê)”, ngày thứ sáu sẽ cúng bằng thịt dê
– Lễ Rija Harei (Lễ cúng ban ngày)
Lễ này được thực hiện vào chiều thứ năm hoặc thứ sáu tuần đầu tháng 1 lịch Chăm
Lễ vật gồm các loại bánh trái, xôi chè, gà, dê tùy thuộc vào mỗi tộc họ dâng cúng Chủ lễ là thầy vỗ (Ông Mưdôn) và thầy múa bóng (Ông Ka-ing) Thầy vỗ hát mời các vị thần Núi (Pô Cơk), thần Sông (Pô Tang Ahok), thần Giữ rừng trầm (Pô Gilau), thần Pô Rômê,
Pô Klong Garai,
– Lễ Rija Dayuap (Lễ cúng ban đêm, còn gọi là lễ Klam)
Lễ này được tiến hành vào lúc chiều tối hoặc ban đêm do thầy vỗ (Ông Mưdôn)
và Muk Rija thực hiện; mời các vị thần: Pô Auloah, Pô Bal Gina, Pô Rômê, Pô Inư Nưgar,
Pô Klong Garai, Mục đích của lễ là cầu xin thần linh, tổ tiên giúp cho tộc họ, gia đình vượt qua khó khăn, thoát khỏi tai ương, bệnh tật Lễ Rija Dayaup thường diễn ra các tháng trong năm (trừ các tháng 4, 7, 12 và các ngày kỵ) theo lịch Chăm, được tổ chức cho cả hai cộng đồng Chăm Ahiêr và Awal
Em hãy cho biết lễ hội truyền thống của người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận có ý nghĩa như thế nào đối với việc phát triển văn hoá của tỉnh
?
4 Gìn giữ và phát huy văn hoá của người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận
Hiện nay, việc phát triển kinh tế, giao lưu văn hoá giữa các dân tộc, vùng miền đã có những tác động không nhỏ đến đời sống văn hoá của đồng bào Chăm về các mặt: ngôn ngữ, phong tục tập quán, kiến trúc, nhà ở, trang phục, nghệ thuật truyền thống, ẩm thực,
lễ hội, các làng nghề, dẫn đến một số yếu tố văn hoá phải thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh mới Một số yếu tố văn hoá đang đứng trước nguy cơ mai một, thất truyền Chính vì vậy, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá của đồng bào Chăm tại tỉnh Ninh Thuận là rất cần thiết
Việc bảo tồn di sản văn hoá Chăm cần các bên liên quan có mối liên hệ chặt chẽ
để tạo nên tính hiệu quả và lợi ích tốt nhất Cụ thể, cộng đồng Chăm, chính quyền địa phương, doanh nghiệp, các kênh truyền thông và các viện nghiên cứu đều đóng vai trò quan trọng để tạo nên tính bền vững trong việc phát huy giá trị di sản văn hoá Chăm
Trang 38– Chú trọng xây dựng và phát triển văn hoá, con người gắn với phát triển kinh tế – xã hội – Hệ thống di sản văn hoá vật thể và phi vật thể được quan tâm quản lí, đầu tư bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị
– Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được triển khai đồng
bộ, đạt nhiều kết quả
– Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội
– Quảng bá văn hoá Chăm qua các sự kiện văn hoá, thể thao, du lịch có quy mô cấp quốc gia và quốc tế
– Chú trọng phát triển kinh tế – xã hội gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc, tạo điều kiện để phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững, mở rộng giao lưu, học hỏi, đồng thời phát huy giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp Qua đó, góp phần nâng cao đời sống kinh tế, đời sống văn hoá, tạo thành các sản phẩm du lịch văn hoá hấp dẫn, thu hút khách tham quan đến tỉnh Ninh Thuận
– Theo em, học sinh cần làm gì để gìn giữ và phát triển văn hoá của đồng bào Chăm tại tỉnh Ninh Thuận?
– Em hãy cho biết những đóng góp về văn hoá của đồng bào Chăm tại tỉnh Ninh Thuận
Học sinh có thể thực hiện một trong hai yêu cầu sau:
– Sưu tầm tài liệu về truyền thuyết các vị thần trong văn hoá đồng bào Chăm tại tỉnh Ninh Thuận, sau đó em thuyết minh cho giáo viên và các bạn cùng nghe
– Đến tham quan làng gốm Bàu Trúc, cùng tham gia tạo hình một sản phẩm gốm
Trang 39MỘT SỐ CA KHÚC TIÊU BIỂU VIẾT VỀ
KHÁM PHÁ
Giới thiệu một số ca khúc tiêu biểu viết về tỉnh Ninh Thuận
I Ca khúc Ninh Thuận niềm tin ngày mới – Nhạc và lời: Bá Lân
1 Giới thiệu tác giả
Nhạc sĩ Phạm Bá Lân (Bá Lân) sinh năm 1956,
quê ở tỉnh Ninh Thuận Ông hoạt động âm nhạc từ
năm 1977 khi đất nước mới giải phóng Ông đạt
nhiều giải thưởng của Hội Nhạc sĩ Việt Nam tiêu
biểu là các tác phẩm như: Ước mơ gởi đảo xa (giải
A), Đợi mưa (giải B), Hồn đá (giải C), Đêm bên biển,
Chapi tiếng đàn tôi, Đất nung, Tình quê, giải A trong
các kì Liên hoan âm nhạc của Hội Nhạc sĩ, nhiều
huy chương vàng, bạc, qua các kì hội diễn chuyên
Trang 402 Giới thiệu tác phẩm
NINH THUẬN NIỀM TIN NGÀY MỚI