1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bàn về chế độ kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong các doanh nghiệp ở việt nam hiện nay

34 17 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bàn về chế độ kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hữu Ánh
Trường học Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 233,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: Cơ sở lí luận về kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (4)
    • 1.1. Một số khái niệm (4)
    • 1.2. Vai trò của kế toán doanh thu trong doanh nghiệp (5)
    • 1.3. Chuẩn mực kế toán quốc tế và kế toán DTBH và CCDV ở một số nước trên thế giới (6)
  • CHƯƠNG 2: Chế độ kế toán doanh thu bán hàng và CCDV trong các doanh nghiệp ở VN (10)
    • 2.1 Nguyên tắc xác định và điều kiện ghi nhận Doanh thu (10)
    • 2.2. Chứng từ và tài khoản sử dụng (12)
    • 2.3. Phương pháp hạch toán (16)
  • CHƯƠNG 3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ kế toán DTBH và CCDV (21)
    • 3.1. Đánh giá chung (21)
    • 3.2. So sánh chuẩn mực kế toán Quốc tế (IAS 18) và Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 14) (24)
    • 3.3. Sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (26)
    • 3.5. Điều kiện thực hiện (30)
  • KẾT LUẬN (31)

Nội dung

Cơ sở lí luận về kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Một số khái niệm

Doanh thu là luồng tiền mà doanh nghiệp nhận được từ việc bán sản phẩm và dịch vụ Trong kinh tế học, doanh thu được tính bằng cách nhân giá bán với số lượng sản phẩm tiêu thụ.

Theo chuẩn mực kế toán số 14 (VAS14), doanh thu được định nghĩa là tổng lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán Doanh thu này phát sinh từ các hoạt động sản xuất và kinh doanh thông thường, đồng thời góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.

Doanh thu theo chuẩn mực số 14 chỉ bao gồm tổng giá trị lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được hoặc sẽ thu được Các khoản thu hộ từ bên thứ ba không được xem là nguồn lợi ích kinh tế và không làm tăng vốn chủ sở hữu, do đó không được coi là doanh thu Ngoài ra, các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu, mặc dù làm tăng vốn chủ sở hữu, cũng không được xem là doanh thu.

Các khoản doanh thu phát sinh từ các giao dịch và nghiệp vụ sau:

- Bỏn hàng: Bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán hàng hoá mua vào:

- Cung cấp dịch vụ: Thực hiện công việc đã thoả thuận theo hợp đồng trong một hoặc nhiều kỳ kế toán:

- Tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia.

Ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu trong doanh nghiệp, còn có các khoản thu từ những hoạt động không thường xuyên, được gọi là thu nhập khác.

- Thu về thanh lý TSCĐ,nhượng bán TSCĐ;

- Thu về tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng;

- Thu tiền bảo hiểm được bồi thường;

- Thu được các khoản nợ phải thu đó xoỏ sổ tính vào chi phí thời kỳ trước;

- Thu nợ phải trả nay mất chủ được ghi tăng thu nhập;

- Thu các khoản thuế được giảm, được hoàn lại;

Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.

Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.

1.1.4 Giá trị hàng bán bị trả lại:

Là giá trị khối lượng hàng bỏn đó xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.

Là khoản tiền người bán giảm cho người mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng.

Là khoản thu góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu từ hoạt động ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu.

Giá trị tài sản có thể trao đổi là giá trị của một khoản nợ được thanh toán tự nguyện giữa các bên có hiểu biết đầy đủ trong sự trao đổi ngang giá.

Vai trò của kế toán doanh thu trong doanh nghiệp

Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay, việc hạch toán doanh thu theo chuẩn mực và nguyên tắc là rất quan trọng và cần được ưu tiên hàng đầu tại các doanh nghiệp Hạch toán doanh thu chính xác giúp các nhà quản trị có cái nhìn đúng đắn về kết quả hoạt động của doanh nghiệp, từ đó tạo cơ sở vững chắc cho việc đưa ra quyết định chiến lược kinh doanh và quản lý hiệu quả.

Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là nguồn thông tin quan trọng cho việc ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính Qua đó, nhà quản lý có thể tổng kết tình hình tài sản, nguồn vốn và sự biến động của chúng trong doanh nghiệp.

Các đối tượng bên ngoài như nhà đầu tư, ngân hàng, người mua và người bán thường dựa vào thông tin từ kế toán doanh thu, đặc biệt là các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, để đưa ra quyết định về việc đầu tư, cho vay hoặc góp vốn vào doanh nghiệp.

Chuẩn mực kế toán quốc tế và kế toán DTBH và CCDV ở một số nước trên thế giới

1.3.1 Một số nội dung cơ bản về Chuẩn mực kế toán quốc tế DTBH:

Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 18, doanh thu được định nghĩa là tổng giá trị của lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán Doanh thu này phát sinh từ các hoạt động thông thường của doanh nghiệp và dẫn đến sự gia tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm phần tăng từ đóng góp của cổ đông.

* Doanh thu cần được tính toán theo giá trị thực tế khoản tiền nhận được:

- Chiết khấu thương mại và Giảm giá hàng bán được giảm để xác định giá trị thực tế Tuy nhiên Chiết khấu thanh toán không thể giảm được.

Khi sử dụng tiền chưa thu được để thực hiện một giao dịch cấp vốn, cần phải tính toán lãi suất ngầm định Sự chênh lệch giữa giá trị thực tế và giá trị danh nghĩa của khoản tiền sẽ được ghi nhận riêng và công bố dưới dạng tiền lãi.

Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi với hàng hóa, dịch vụ khác có tính chất và giá trị tương tự, sẽ không có khoản ghi nhận doanh thu nào được thực hiện.

Doanh thu được xác định dựa trên giá trị thực tế của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận được khi chúng được cung cấp để đổi lấy những hàng hóa hoặc dịch vụ khác không tương tự về giá trị.

* Quy tắc nhận biết giao dịch tạo doanh thu như sau:

Khi giá bán của một sản phẩm bao gồm một khoản dịch vụ kèm theo, khoản dịch vụ này sẽ được tính lùi về sau trong kỳ thực hiện dịch vụ.

Khi một doanh nghiệp bán hàng hóa và ngay sau đó ký hợp đồng mua lại hàng hóa đó vào một ngày khác, giao dịch bán và mua được coi là một giao dịch duy nhất, do đó ảnh hưởng trực tiếp của giao dịch ban đầu bị loại trừ.

Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi:

- Những rủi ro lợi ích quan trọng của việc sở hữu hàng hóa được chuyển sang cho người mua.

- Doanh nghiệp không tiếp tục tham gia quản lý quyền sở hữu cũng không giám sát hiệu quả hàng bán ra.

- Giá trị doanh thu có thể được tính toán một cách đáng tin cậy.

- Doanh nghiệp có khả năng là sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch.

- Chi phí giao dịch cụ thể tính toán một cách đáng tin cậy.

Tính không chắc chắn về khả năng thu hồi khoản tiền trong doanh thu sẽ được ghi nhận là một khoản chi phí thay vì điều chỉnh doanh thu.

Doanh thu chỉ được ghi nhận khi chi phí được tính toán một cách đáng tin cậy Khoản tiền thu được từ bán hàng sẽ được coi là nợ cho đến khi doanh thu được thực hiện ghi nhận.

Khi không thể ước tính một cách đáng tin cậy kết quả giao dịch liên quan đến việc cung cấp dịch vụ, doanh thu chỉ nên được ghi nhận ở mức chi phí có thể thu hồi.

Khi kết quả giao dịch cung cấp dịch vụ có thể ước tính đáng tin cậy, doanh thu sẽ được ghi nhận theo giai đoạn hoàn thành giao dịch vào ngày lập bảng tổng kết tài sản Kết quả được coi là có thể ước tính khi:

- Giá trị doanh thu có thể tính toán được một cách đáng tin cậy.

- Có khả năng là doanh thu sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch.

- Giai đoạn hoàn thành có thể tính được một cách đáng tin cậy.

Chi phí phát sinh và chi phí để hoàn tất giao dịch có thể được tính toán một cách đáng tin cậy.

1.3.2 Kế toán DTBH và CCDV ở một số nước trên thế giới:

Theo chế độ hiện hành, thu nhập của doanh nghiệp được chia làm 3 loại:

Thu nhập hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm các khoản thu từ việc bán sản phẩm và dịch vụ hoàn thành, doanh thu từ hàng hóa, thu nhập từ các hoạt động phụ, giá trị tài sản cố định tự sản xuất, trợ cấp kinh doanh, và thu nhập từ quản lý thông thường.

Thu nhập hoạt động tài chính bao gồm các nguồn thu từ tiền lãi cho vay, lãi chia từ chứng khoán, lãi từ việc nhượng bán các phiếu lưu động đầu cơ ngắn hạn, và chiết khấu thanh toán nhận được khi trả cho nhà cung cấp trước thời hạn.

Thu nhập đặc biệt là những khoản thu từ các hoạt động không thường xuyên của doanh nghiệp, bao gồm tiền bồi thường, tiền phạt trong giao dịch mua bán và tiền thu hồi từ các khoản nợ đã mất.

Nguyên tắc ghi nhận nghiệp vụ bán hàng như sau:

Giá bán hàng hóa được xác định là giá thực tế, tức là giá ghi trên hóa đơn sau khi đã trừ đi các khoản giảm giá, bớt giá và hồi khấu được chấp thuận cho người mua.

- Giá bán được xác định là thu nhập không bao gồm thuế GTGT thu hộ Nhà nước.

- Nếu có chiết khấu chấp thuận cho người bán thì chiết khấu được hạch toán vào chi phí tài chính TK 665- Chiết khấu đã chấp thuận.

- Chứng từ đã sử dụng là hoá đơn bỏo đũi.

Tài khoản sử dụng là TK 70- Bán sản phẩm chế tạo, cung cấp dịch vụ, hàng hoá Kết cấu của tài khoản này như sau:

Bên Nợ: + Giá trị hàng hoá bị trả lại

+ Kết chuyển giảm giá bớt giá, hồi khấu (Từ TK709)

+ Kết chuyển thu nhập từ bán hàng để xác định kết quả

Bên Có: Trị giá hàng bán ra theo giá bán chưa tính thuế GTGT.

Tài khoản “doanh thu bán hàng” (Sales) được sử dụng để ghi nhận doanh thu từ việc bán hàng, với khả năng mở chi tiết cho từng loại sản phẩm Đồng thời, kế toán cũng sử dụng tài khoản “Phải thu ở khách hàng” (Accounts receivable) để theo dõi các khoản tiền mà doanh nghiệp cho phép khách hàng nợ, với khả năng mở chi tiết cho từng loại khách hàng.

Chế độ kế toán doanh thu bán hàng và CCDV trong các doanh nghiệp ở VN

Nguyên tắc xác định và điều kiện ghi nhận Doanh thu

2.1.1 Nguyờn tắc xác định Doanh thu:

Theo điều 5,6,7,8 chuẩn mực kế toán số 14 :

(1) Doanh thu được ghi nhận theo giá trị hợp lý của các khoản đó thu hoặc sẽ thu được.

Doanh thu từ giao dịch được xác định theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp và bên mua hoặc bên sử dụng tài sản Giá trị doanh thu này được tính bằng giá trị hợp lý của các khoản thu được, sau khi trừ đi các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại.

Doanh thu từ các khoản tiền hoặc tương đương tiền chưa nhận được ngay được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản thu trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu, theo tỷ lệ lãi suất hiện hành Giá trị thực tế này có thể thấp hơn giá trị danh nghĩa dự kiến sẽ thu được.

Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi với hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự, giao dịch này không tạo ra doanh thu Ngược lại, nếu hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi lấy hàng hóa hoặc dịch vụ không tương tự, giao dịch sẽ được coi là tạo ra doanh thu Doanh thu trong trường hợp này được xác định theo giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận được, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền Nếu không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận, doanh thu sẽ được xác định dựa trên giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi, cũng sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền.

2.1.2 Điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

* Theo điều 10 chuẩn mực kế toán số 14, doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn cả 5 điều kiện sau:

- Doanh nghiệp đó chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua.

- Doanh nghiệp không cùng nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.

- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.

- Doanh nghiệp đó thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.

- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

Doanh nghiệp cần xác định thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích liên quan đến quyền sở hữu hàng hóa cho người mua trong từng trường hợp cụ thể.

Nếu doanh nghiệp vẫn phải chịu phần lớn rủi ro liên quan đến quyền sở hữu hàng hóa, giao dịch sẽ không được coi là hoạt động bán hàng và doanh thu sẽ không được ghi nhận Doanh nghiệp cũng phải đối mặt với rủi ro liên quan đến quyền sở hữu dưới nhiều hình thức khác nhau.

Doanh nghiệp có trách nhiệm đảm bảo tài sản hoạt động bình thường, điều này không nằm trong các điều khoản bảo hành thông thường.

- Khi việc thanh túan tiền bán hàng cũng chưa chắc chắn vì phụ thuộc vào người mua hàng hóa đó.

- Khi hàng hóa được giao cũng chờ lắp đặt và việc lắp đặt đó là phần quan trọng của hợp đồng mà doanh nghiệp chưa hoàn thành.

Người mua có quyền hủy bỏ việc mua hàng theo các lý do được nêu trong hợp đồng, trong khi doanh nghiệp không chắc chắn về khả năng hàng hóa có thể được trả lại hay không.

Nếu doanh nghiệp chỉ chịu một phần nhỏ rủi ro liên quan đến quyền sở hữu hàng hóa, thì việc xác định doanh thu từ bán hàng sẽ được thực hiện và ghi nhận một cách chính xác.

Doanh thu bán hàng chỉ được ghi nhận khi doanh nghiệp thực sự nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch Đồng thời, doanh thu và chi phí liên quan đến giao dịch đó cần được ghi nhận cùng lúc theo nguyên tắc phù hợp.

* Cũng theo chuẩn mực kế toán số 14 điều 16 Doanh thu cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi thỏa mãn 4 điều kiện:

- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.

- Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó.

- Xác định được phần công việc đó hoà thành vào ngày lập Bảng cân đối kế toán.

- Xỏc định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó.

Trong trường hợp giao dịch cung cấp dịch vụ kéo dài qua nhiều kỳ kế toán, doanh thu của dịch vụ trong từng kỳ thường được xác định theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành Theo phương pháp này, doanh thu ghi nhận trong kỳ kế toán sẽ dựa trên tỷ lệ phần công việc đã hoàn thành.

Doanh thu từ dịch vụ chỉ được ghi nhận khi doanh nghiệp chắc chắn nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch Nếu không thu hồi được khoản doanh thu, doanh nghiệp phải hạch toán vào chi phí mà không ghi giảm doanh thu Khi có nghi ngờ về khả năng thu hồi khoản đã ghi vào doanh thu (nợ phải thu khó đòi), cần lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu Nếu khoản nợ phải thu khó đòi xác định là không thu hồi được, thì sẽ được bù đắp bằng nguồn dự phòng đã lập.

Chứng từ và tài khoản sử dụng

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ bao gồm nhiều loại tài khoản quan trọng như: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (Tài khoản 511), Doanh thu nội bộ (Tài khoản 512), Doanh thu bị chiết khấu (Tài khoản 521), Doanh thu từ hàng hóa bị trả lại hoặc không được chấp nhận thanh toán (Tài khoản 531), và Doanh thu giảm do giảm giá hàng bán (Tài khoản 532) Ngoài ra, doanh thu cũng có thể bị giảm do nộp các loại thuế như thuế TTĐB, thuế xuất khẩu, và thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp.

2.2.1.Tài khoản 511- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

 Nội dung phản ánh của tài khoản 511-“Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.

Kết cấu của tài khoản này

- Khoản giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại,và trị giá hàng bán bị trả lại

- Số thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp phải nộp tính theo doanh thu bán hàng thực tế.

- Kết chuyển doanh thu thuần về tiêu thụ trong kỳ.

- Doanh thu bán sản phẩm hàng hoá, bất động sản đầu tư và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp thực hiện trong kỳ kế toán.

Tài khoản 511 không có số dư cuối kỳ.

Tài khoản 511-Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ có 5 tài khoản cấp 2:

- TK 5111 – Doanh thu bán hàng hoá.

- TK 5112 – Doanh thu bỏn cỏc thành phẩm

- TK 5113 – Doanh thu cung cấp dịch vụ.

- TK 5114 – Doanh thu trợ cấp, trợ giá.

- TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư.

2.2.2 Tài khoản 512- Doanh thu nội bộ

Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, lao vụ tiêu thụ trong nội bộ.

Kết cấu của tài khoản

Trị giá hàng bán trả lại theo giá tiêu thụ nội bộ bao gồm khoản giảm giá hàng bán chấp nhận trên khối lượng sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ nội bộ trong kỳ Số thuế tiêu thụ đặc biệt và số thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp phải nộp liên quan đến hàng hoá tiêu thụ nội bộ cũng được tính toán trong trị giá này.

- Kết chuyển doanh thu nội bộ thuần vào tài khoản xác định kết quả.

Bên Có:Tổng số doanh thu nội bộ của đơn vị thực hiện trong kỳ.

TK 512 không có số dư cuối kỳ.

+ TK 5121- Doanh thu bán hàng hoá.

+ TK 5122- Doanh thu bỏn cỏc sản phẩm.

+ TK 5123- Doanh thu cung cấp dịch vụ.

2.2.3.Tài khoản 521- Chiết khấu thương mại

Nội dung phản ánh của tài khoản

Tài khoản này phản ánh chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc thanh toán cho người mua hàng khi họ mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ với khối lượng lớn theo thỏa thuận chiết khấu trong hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết liên quan.

Kết cấu của tài khoản

Số chiết khấu thương mại đã chấp nhận thanh toán cho khách hàng

Kết chuyển toàn bộ chiết khấu thương mại vào tài khoản “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” giúp xác định doanh thu thuần trong kỳ hạch toán.

Tài khoản 521- Chiết khấu thương mại không có số dư cuối kỳ

Tài khoản 521 có 3 tài khoản cấp 2:

+Tài khoản 5211- Chiết khấu hàng hoá.

+Tài khoản 5212- Chiết khấu thành phẩm.

+Tài khoản 5123- Chiết khấu dịch vụ.

2.2.4 Tài khoản 531- Hàng bán bị trả lại

Tài khoản này phản ánh giá trị của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và lao vụ đã tiêu thụ, cũng như các trường hợp bị khách hàng trả lại do vi phạm cam kết hoặc hợp đồng kinh tế, bao gồm hàng bị mất, kém phẩm chất, hoặc không đúng chủng loại và quy cách.

Kết cấu của tài khoản này

Trị giá hàng bán bị trả lại sẽ được hoàn tiền cho người mua hoặc được trừ vào số nợ phải thu từ khách hàng đối với sản phẩm, hàng hóa đã bán ra.

Kết chuyển giá trị hàng bán bị trả lại vào bên nợ TK 511 hoặc tài khoản 512 để xác định doanh thu thuần trong kỳ hạch toán.

4.1.5 Tài khoản 532- Giảm giá hàng bán

Nội dung của tài khoản

Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản giảm giá, bớt giá, hồi khấu của việc bán hàng trong kỳ hạch toán.

Kết cấu của tài khoản

Bên Nợ ghi nhận các khoản giảm giá hàng bán được chấp thuận cho người mua, trong khi Bên Có sẽ kết chuyển toàn bộ số giảm giá này sang tài khoản doanh thu bán hàng.

Tài khoản 532 không có số dư cuối kỳ.

4.1.6 Tài khoản 3387- Doanh thu chưa thực hiện

Tài khoản doanh thu thực hiện của doanh nghiệp trong kỳ kế toán phản ánh các khoản thu nhập bao gồm: tiền nhận trước từ cho thuê tài sản, chênh lệch giữa doanh thu bán hàng trả chậm và giá bán trả ngay, cũng như lãi nhận trước từ cho vay hoặc mua các công cụ nợ như trái phiếu và tín phiếu.

Kết cấu của tài khoản này:

Kết chuyển doanh thu chưa thực hiện sang tài khoản "Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ" hoặc tài khoản "Doanh thu hoạt động tài chính" là một bước quan trọng trong quản lý tài chính.

Bên Có:Ghi nhận doanh thu chưa thực hiện phát sinh trong kỳ.

Số dư bên Có: Doanh thu chưa thực hiện ở thời điểm cuối kỳ kế toán.

Phương pháp hạch toán

* Phương thức bán hàng trực tiếp cho khách hàng

- Doanh nghiệp tính VAT theo phương pháp khấu trừ

(1): Doanh thu bán hàng theo giỏ khụng VAT

(2): VAT đầu ra phải nộp

(3): Kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu

(4): Kết chuyển doanh thu thuần

(5): Chiết khấu thương mại, hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bỏn khụng VAT

(6)VAT đầu ra tương ứng

- Doanh nghiệp tính VAT theo phương pháp trực tiếp

(1): Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

(2): Kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu

(3): Kết chuyển VAT phải nộp

(4): Kết chuyển doanh thu thuần

(5): Các khoản giảm trừ doanh thu

* Phương thức bán hàng qua đại lý

(1): Kết chuyển doanh thu thuần

(2): Kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu

(3): VAT đầu ra giảm tương ứng

(5): VAT đầu ra của hàng tiêu thụ

(6): Bên nhận đại lý thanh toán tiền hàng sau khi trừ đi hoa hồng được hưởng (7): Hoa hồng đại lý

(2): Hoa hồng đại lý được hưởng

(4): Thanh toán tiền hàng cho chủ hàng

(5): Kết chuyển doanh thu thuần

* Phương thức bán hàng trả gúp

(1): Doanh thu theo giỏ bỏn thu tiền ngay

(2): Số tiền người mua trả tiền lần đầu tại thời điểm mua hàng

(3): Tổng số tiền phải thu ở người mua

(4): VAT phải nộp tớnh trờn giỏ bỏn thu tiền ngay

(5): Doanh thu chưa thực hiện

(6): Doanh thu hoạt động tài chính ghi nhận theo kỳ

(7): Thu tiền ở người mua các kỳ sau

(8): Kết chuyển doanh thu thuần

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ kế toán DTBH và CCDV

Đánh giá chung

Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 về “Doanh thu và thu nhập khác” được xây dựng dựa trên chuẩn mực kế toán quốc tế số 18 về “Doanh thu”, thể hiện sự thống nhất ở nhiều khía cạnh như khái niệm doanh thu, các giao dịch tạo ra doanh thu, và quy tắc ghi nhận doanh thu Mặc dù vậy, chuẩn mực Việt Nam đã chi tiết hóa điều kiện ghi nhận doanh thu từ dịch vụ, tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận chia Điều này tạo ra hành lang pháp lý cho kế toán doanh thu, góp phần thuận lợi hóa công tác kế toán tại Việt Nam.

Chế độ kế toán đã thiết lập một hệ thống tài khoản phục vụ cho việc hạch toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, bao gồm số hiệu tài khoản, kết cấu, nội dung và quy tắc thực hiện Điều này giúp tạo ra sự thống nhất trong hạch toán doanh thu giữa các doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Hướng dẫn hạch toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ theo các phương thức tiêu thụ được cụ thể hóa cho nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế của doanh nghiệp Tất cả các doanh nghiệp có thể tham khảo hệ thống văn bản liên quan khi thực hiện hạch toán.

3.1.2 Tồn tại a Về điều kiện ghi nhận doanh thu

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, tiêu chuẩn nhận biết giao dịch cũng áp dụng cho các giao dịch có mối liên hệ thương mại với nhau.

Trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện bán hàng và ký hợp đồng mua lại hàng hóa, cần xem xét đồng thời cả hai hợp đồng để xác định việc ghi nhận doanh thu Theo quy định, doanh thu không được ghi nhận nếu giao dịch không thoả mãn 5 điều kiện ghi nhận doanh thu Tuy nhiên, không phải tất cả các giao dịch bán hàng kèm theo hợp đồng mua lại đều không được ghi nhận doanh thu; vẫn có trường hợp doanh thu có thể được ghi nhận Mặc dù chuẩn mực quy định doanh thu không được ghi nhận, giao dịch này vẫn phát sinh nghiệp vụ mua bán hàng hoá thực tế, nhưng thông tư 89/200/TT-BTC ngày 9/10/2002 lại không cung cấp hướng dẫn cụ thể về kế toán cho nghiệp vụ này.

Theo thông tư hướng dẫn 4 chuẩn mực kế toán, kế toán tại đơn vị nhận đại lý và bán đúng giá hưởng hoa hồng không phản ánh đúng chế độ kê khai nộp thuế và sai nguyên lý cơ bản về ghi chép kế toán Chế độ tài chính quy định rằng bên nhận hàng bán hàng ký gửi, đại lý phải chịu trách nhiệm kê khai nộp thuế GTGT cho cả lượng hàng nhận bán và hoa hồng đại lý Tuy nhiên, một số tài liệu cho rằng bên đại lý chỉ cần kê khai thuế GTGT đối với hoa hồng mà không cần kê khai cho lượng hàng bán Do đó, khi nhận hàng từ bên giao đại lý, kế toán cần căn cứ vào giá trị ghi trong hợp đồng để thực hiện ghi chép đúng quy định.

Nợ TK 003- Hàng hoá nhận bán hộ, ký gửi.

Khi bán được hàng kế toán ghi cỏc bỳt toỏn sau: a) Có TK 003 b) Nợ TK 111,112,131- Toàn bộ số tiền bán hàng ký gửi

Có TK 511- Hoa hồng bán hàng được hưởng

Có TK 331- Số tiền phải trả cho chủ hàng

Có TK 3331- Số thuế GTGT phải nộp ( của số hoa hồng đại lý)

Khi thanh toán tiền hàng cho chủ hàng, ghi;

Nợ TK 331- Số tiền hàng đã thanh toán

Có sự lồng ghép các nghiệp vụ riêng biệt với chứng từ phản ánh khác nhau trong bút toán ghi sổ, như nghiệp vụ bán hàng đại lý và ghi nhận hoa hồng đại lý Một số doanh nghiệp hạch toán bán hàng đại lý như mua đứt bán đoạn mà không sử dụng Hóa đơn GTGT, mặc dù cách làm này đơn giản nhưng vi phạm Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14 về ghi nhận doanh thu Theo chuẩn mực này, bên đại lý không được ghi tăng doanh thu vì đây chỉ là khoản thu hộ bên thứ ba, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Điều này dẫn đến sự không phù hợp giữa chính sách Thuế thu nhập doanh nghiệp với chế độ kế toán hiện hành.

Sự khác biệt giữa chính sách thuế và các quy định trong chuẩn mực kế toán hiện hành luôn tồn tại, điều này đòi hỏi các doanh nghiệp trong nền kinh tế phải hiểu và có cách ứng xử phù hợp Tuy nhiên, sự khác biệt này cũng gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình hạch toán.

Trong một số trường hợp, doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp có thể được ghi nhận trong năm, nhưng chưa đáp ứng đủ điều kiện ghi nhận doanh thu theo chế độ kế toán Ví dụ, khi đã phát hành hóa đơn bán hàng, nhưng vẫn chưa đủ điều kiện để ghi nhận doanh thu theo quy định kế toán.

Trong nhiều trường hợp, hàng hóa và dịch vụ trao đổi không được coi là doanh thu theo chế độ kế toán, nhưng lại được tính là doanh thu để xác định thu nhập chịu thuế theo quy định của luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

Các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ theo chế độ kế toán không được phép loại trừ khỏi doanh thu khi tính thu nhập chịu thuế theo luật thuế thu nhập doanh nghiệp Ví dụ, các khoản chiết khấu có thể được giảm trừ doanh thu theo kế toán, nhưng nếu không có đủ chứng từ hợp pháp, chúng sẽ không được giảm trừ khi tính thuế trong trường hợp thanh toán bằng tiền mặt.

Khi quyết toán thuế, cơ quan thuế sẽ loại bỏ một số khoản khỏi doanh thu hoặc chi phí để xác định thu nhập chịu thuế, theo quy định của luật và chính sách thuế hiện hành Những khoản này bao gồm chi phí quảng cáo và tiếp thị vượt quá mức khống chế 10% tổng chi phí trong kỳ, chi phí không có hóa đơn chứng từ hợp lệ, và các khoản tổn thất tài sản.

So sánh chuẩn mực kế toán Quốc tế (IAS 18) và Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 14)

- Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản mà doanh nghiệp có thể nhận được.

Tiêu chuẩn ghi nhận doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền và cổ tức.

Doanh thu từ việc cho các đối tượng khác sử dụng tài sản của doanh nghiệp, bao gồm tiền lãi, tiền bản quyền và cổ tức, sẽ được ghi nhận khi có sự chắc chắn về việc thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch và doanh thu được xác định một cách đáng tin cậy.

1.Xác định doanh thu - Chênh lệch giữa giá trị hợp lý và giá trị danh nghĩa của một khoản phải thu được ghi nhận là tiền lãi.

- Không đề cập đến vấn đề này

2.Tiêu chuẩn ghi nhận doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền và cổ tức

- Doanh thu được ghi nhận như sau:

 Tiền lãi - được ghi nhận bằng phương pháp lãi thực theo tỷ lệ thời gian có tính đến hiệu quả thực tế của tài sản.

- Tương tự như IFRS(chuẩn mực lập BCTC quốc tế) Tuy nhiên, tiền lãi chỉ được ghi nhận trên cơ sở thời gian.

 Tiền bản quyền - được ghi nhận trên cơ sở dồn tích theo nội dung của hợp đồng liên quan; và

 Cổ tức - được ghi nhận khi cổ đông được quyền nhận cổ tức.

3 Thu nhập khác Không đề cập vấn đề này Có các qui định cụ thể về các khoản thu nhập khác bao gồm:

 Thu về thanh lý, nhượng bán TSCĐ;

 Thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng;

 Thu tiền bảo hiểm được bồi thường;

 Thu được các khoản nợ phải thu đã xoá xổ tính vào chi phí của kỳ trước;

 Khoản nợ phải trả nay mất chủ;

 Thu các khoản thuế được giảm, được hoàn lại.

4 Trình bày báo cáo tài chính

Chuẩn mực đưa ra các yêu cầu chi tiết về việc trình bày khoản mục doanh thu

Tương tự như IFRS ngoại trừ việc không có qui định về các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng.

Sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Doanh thu là một thước đo quan trọng nhưng thường bị xem nhẹ trong kinh doanh, dẫn đến việc các Giám đốc Điều hành thường dựa vào cảm giác thay vì dữ liệu thực tế để đưa ra quyết định Điều này làm giảm giá trị thực sự của doanh thu Do đó, việc hoàn thiện kế toán doanh thu sẽ giúp các nhà quản trị đưa ra quyết định chính xác hơn cho các chiến lược sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp.

Ghi nhận doanh thu kế toán đóng vai trò quan trọng trong việc xác định kết quả kinh doanh, với các nguyên tắc ghi nhận doanh thu khác nhau dẫn đến kết quả hoạt động khác nhau Hiện nay, nguyên tắc ghi nhận doanh thu được áp dụng phổ biến trong các đơn vị kế toán, nhưng cơ sở khoa học và việc vận dụng nguyên tắc này trong thực tế vẫn chưa được đề cập đầy đủ.

3.4 Một số ý kiến đề xuất.

Một yếu tố quan trọng trong kế toán doanh thu là xác định chính xác thời điểm ghi nhận, nhằm đảm bảo thông tin phản ánh trung thực và đầy đủ tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thông thường, việc xác định thời điểm này cần tuân thủ các điều kiện theo Chuẩn mực kế toán.

VN số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” (VAS 14) quy định rằng kế toán ghi nhận doanh thu khi hàng hóa được giao hoặc dịch vụ được thực hiện Tuy nhiên, việc xác định thời điểm ghi nhận doanh thu có thể phức tạp tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp Đặc biệt, trong các doanh nghiệp kinh doanh công nghệ và dịch vụ trọn gói, việc ghi nhận toàn bộ doanh thu ngay sau khi bán hàng không phù hợp với VAS 14 Nếu kế toán tách biệt từng hoạt động để ghi nhận doanh thu, việc nhận diện từng phần riêng biệt của giao dịch có thể gặp khó khăn Để giải quyết vấn đề này, có thể tham khảo kinh nghiệm từ các nước khác Tại Mỹ, Ban xử lý các vấn đề phát sinh của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính (EITF) đã hướng dẫn cách ghi nhận doanh thu cho các giao dịch bán hàng hóa và dịch vụ trọn gói.

EITF hiện đang nghiên cứu để tìm ra giải pháp hợp lý cho vấn đề này Trong khi chờ đợi, kế toán vẫn tiếp tục áp dụng thông báo số 00-21 của EITF.

"Revenue Arrangements with Multiple Deliverables" (EITF 00-21) outlines the accounting treatment for bundled sales of goods and services According to EITF 00-21, accountants must separate each component of the bundle if specific criteria are met.

+ Thành tố được xem là riêng biệt nếu thành tố đó có thể được bán một cách riêng rẽ

+ Kế toán có căn cứ để xác định giá trị hợp lý của doanh thu đối với từng thành tố

Nếu một thành tố thiết yếu chưa được giao cho người mua, kế toán không ghi nhận doanh thu cho đến khi thành tố này được giao cho khách hàng.

Hướng dẫn trong EITF 00-21 và EITF 99-17 chưa hoàn toàn giải quyết các vấn đề liên quan đến việc ghi nhận doanh thu trong các hình thức kinh doanh mới trên Internet Sự phức tạp trong việc xác định thời điểm và giá trị ghi nhận doanh thu đòi hỏi kế toán cần có hướng dẫn cụ thể và phù hợp hơn, nhằm đảm bảo thông tin doanh thu của doanh nghiệp được phản ánh một cách trung thực, khách quan và đầy đủ.

Đối với nghiệp vụ bán hàng với hợp đồng mua lại hàng hoá, nếu các điều khoản của hợp đồng chứng minh rằng giao dịch đã đáp ứng đủ 5 điều kiện ghi nhận doanh thu, thì nghiệp vụ này có thể được hạch toán theo cách phù hợp.

Khi bán hàng hoá, căn cứ vào giá bán thoả thuận trong hợp đồng kế toán phản ánh doanh thu bán hàng:

Có TK 3331:Thuế GTGT (nếu có) Đồng thời phản ánh trị giá vốn hàng bán:

Khi mua lại chớnh cỏc hàng hoá đó bỏn, kế toán ghi:

Nợ TK 156: Giá mua hàng hoá

Nợ TK 133: Thuế GTGT (nếu có)

Trong trường hợp bán hàng theo hợp đồng mua lại, nếu các điều khoản của hợp đồng không đáp ứng đủ 5 điều kiện ghi nhận doanh thu, doanh thu sẽ không được ghi nhận Thay vào đó, giao dịch này chỉ được coi là một thoả thuận tài chính Khi thực hiện bán tạm thời hàng hoá, kế toán sẽ ghi nhận theo quy định phù hợp.

Nợ TK 111,112: Giá bán tạm thời của hàng hoá.

Khi mua lại các hàng hóa đã bán, thực chất là quá trình trả nợ tiền vay cho khách hàng, do đó giá mua này bao gồm cả chi phí lãi vay.

Nợ TK 311:Giỏ bỏn tạm thời

Nợ TK 635: chi phí lãi vay

Có TK 111,112: Giá mua lại của hàng hoá

Để đảm bảo việc trao đổi hàng hóa tương tự về bản chất và giá trị được thực hiện đúng quy định, cần thiết phải có những quy định chi tiết hơn về hàng hóa và dịch vụ Doanh nghiệp cần thận trọng xem xét từng giao dịch hàng đổi hàng để ghi nhận doanh thu phù hợp với chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 Hơn nữa, cần thiết phải ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về thủ tục chứng từ và kế toán cho nghiệp vụ này.

*Vận dụng nguyên tắc thực hiện để ghi nhận Doanh thu trong trường hợp bán hàng đặc biệt

Để tăng doanh thu bán hàng, cần mở rộng các địa điểm bán hàng, vì nếu chỉ bán tại các điểm của đơn vị kế toán, doanh thu sẽ bị giới hạn Bán hàng qua đại lý trở thành phương thức hiệu quả, trong đó đại lý sẽ bán hàng hóa và nhận hoa hồng từ bên bán Mối quan hệ này có thể được hình dung qua sơ đồ minh họa.

Bên gửi hàng bán đại lý có thể ghi nhận doanh thu vào một trong ba thời điểm: khi bên đại lý bán được hàng, khi nhận được hồ sơ thanh toán từ bên đại lý, hoặc khi nhận được tiền bán hàng từ bên đại lý.

Doanh thu sẽ được ghi nhận vào ngày mà đại lý thực hiện việc bán hàng, theo nguyên tắc thực hiện Ngày hàng được gửi bán cho đại lý sẽ được coi là thời điểm tiêu thụ.

Điều kiện thực hiện

Dựa trên các ý kiến đề xuất, tôi đưa ra các điều kiện cần thiết để doanh nghiệp thực hiện kế toán doanh thu hiệu quả.

Cần thiết phải ban hành luật và các chuẩn mực cùng với các thông tư hướng dẫn về kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ một cách thống nhất, nhằm tránh mâu thuẫn giữa các văn bản hiện hành Bên cạnh đó, nhà nước cần thường xuyên điều chỉnh luật và các chuẩn mực để phù hợp với thực tiễn của nền kinh tế thị trường đang có nhiều biến động hiện nay.

 Về phía các doanh nghiệp.

Trước hết bộ máy kế toán của doanh nghiệp phải được tổ chức theo đúng 4 nguyên tắc:

Theo quy định trong điều lệ tổ chức kế toán nhà nước, chế độ kế toán được ban hành phải phù hợp với chính sách quản lý kinh tế tài chính của nhà nước trong từng giai đoạn.

- Phải phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý của doanh nghiệp.

- Đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả.

- Đảm bảo kết hợp tốt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị.

Các doanh nghiệp nên tính thuế và nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ để loại trừ doanh thu bao gồm cả khoản thu hộ bên thứ ba, đồng thời đảm bảo tính so sánh doanh thu giữa các doanh nghiệp.

Doanh nghiệp cần xây dựng một đội ngũ kế toán chuyên nghiệp với trình độ cao Đồng thời, việc thường xuyên cập nhật thông tin về luật và chuẩn mực kế toán là cần thiết để điều chỉnh công tác kế toán phù hợp với chính sách của nhà nước và yêu cầu của từng đơn vị.

Ngày đăng: 28/08/2023, 00:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w