Tuy nhiên công tácquản lý NSNN trên địa bàn thị xã Bà Rịa vẫn còn những tồn tại rất cơ bản cầnphải khắc phục và hoàn thiện, đó là: Lập dự toán và chấp hành dự toán Ngõnsách chưa gắn với
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
MAI VĂN HOA
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC THỊ XÃ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60.34.05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ TÂM
HÀ NỘI – 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trongluận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thựchiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đềuđược chỉ rõ nguồn gốc, bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của cánhân tôi (ngoài phần đã trích dẫn)./
Tác giả luận văn
Mai Văn Hoa
Trang 3đỡ tôi trong suốt khóa học.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Tâm vàcác thầy cô trong bộ môn Quản trị kinh doanh đã tận tình hướng dẫn, đónggóp ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Thị ủy, UBND, Phòng Tài chính – Kếhoạch, Kho bạc Nhà nước tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Kho bạc Nhà nước tỉnh
Bà Rịa và các cơ quan của Thị xã Bà Rịa đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trongquá trình nghiên cứu đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân đãđộng viên, giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này./
Bà Rịa Vũng Tàu, ngày tháng năm 2011
Tác giả luận văn
Mai Văn Hoa
Trang 42 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NSNN VÀ
2.1 Cơ sở lý luận về ngân sách nhà nước và quản lý ngân sách nhà
2.1.2 Nội dung quản lý Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước 162.1.3 Sự cần thiết của cơ chế phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước 242.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý NSNN và quản lý ngân sách nhà nước
2.2.1 Sự ra đời và phát triển của Kho bạc Nhà nước 292.2.2 Sự ra đời và phát triển của Kho bạc Nhà nước Việt Nam 312.2.3 Kinh nghiệm quản lý NSNN ở một số nước trên thế giới 412.3 Kinh nghiệm thực tiễn trong công tác quản lý ngân sách nhà
3.1 Giới thiệu về thị xã Bà Rịa và kho bạc nhà nước thị xã Bà Rịa
Trang 53.1.1 Giới thiệu về địa bàn thị xã Bà Rịa tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu 633.1.2 Giới thiệu tổng quan về Kho bạc Nhà nước thị xã Bà Rịa 71
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NSNN TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC 784.1 Thực trạng quản lý quỹ ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước
4.1.1 Công tác quản lý thu nộp NSNN tại KBNN thị xã Bà Rịa 814.1.2 Công tác quản lý kiểm soát chi NSNN tại KBNN thị xã Bà Rịa 914.2 Giải pháp đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý NSNN tại kho
bạc nhà nước thị xã Bà Rịa tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu 1054.2.1 Cải cách thủ tục hành chính và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ
4.2.2 Công tác đào tạo cán bộ KBNN và nâng cao hiệu quả tổ chức
4.2.3 Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền và công khai hóa
các thủ tục hành chính về quản lý thu chi NSNN 1094.2.4 Khai thác hiệu quả chương trình thu thuế trực tiếp TCS; chương
trình Tabmis và mở rộng phạm vi, địa bàn thu thuế trực tiếp qua
4.2.5 Tăng cường hợp tác quốc tế, tập trung thực hiện hiện đại hóa làm
động lực cho cải cách và đổi mới hoạt động KBNN 110
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH – HĐH Công nghiệp hóa hiện đại hóa
TABMIS Treasury And Budget Management
Information System-Dự ỏn“Cải cỏch Quản lý Tài chính cụng”
TCS Chương trình ứng dụng hiện đại hóa thu NS
Trang 81 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm qua, cùng với việc chuyển sang nền kinh tế thịtrường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), Ngân sách Nhà nước(NSNN) đã trở thành công cụ tài chính quan trọng, góp phần to lớn vào việcphát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) Vai trò của NSNN đã được thể hiện rõtrong việc giúp nhà nước hình thành các quan hệ thị trường, góp phần kiểmsoát lạm phát, tỷ lệ lãi suất thích hợp để từ đó làm lành mạnh hoá nền tàichính quốc gia, đảm bảo sự ổn định và phát triển nền kinh tế Trong nhữngthành tựu chung của nền kinh tế, phải kể đến vai trò quan trọng của hệ thốngtài chính nói chung và ngành Kho bạc Nhà nước (KBNN) nói riêng Trong đóhoạt động của KBNN đã góp phần tích cực vào công việc quản lý quỹ NSNN,thúc đẩy nền kinh tế phát triển, kiềm chế lạm phát, ổn định giỏ cả thị trường,điều hòa được lưu thông tiền tệ Giúp NSNN giảm dần bội chi và tiến tới nhànước không cần phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngõn sách
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đú thỡ việc quản lý NSNNtrong thời gian qua vẫn còn thất thoát, lãng phí, tham nhũng và sự yếu kémtrong việc quản lý thu, chi NSNN đã đặt ra cho chúng ta cần có cái nhìn sâuhơn về tình trạng thâm hụt NSNN Trong điều kiện hiện nay, NSNN còn bộichi, yêu cầu thu NSNN là: đảm bảo tập trung nguồn thu, tăng cường bồidưỡng nguồn thu được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằmbảo đảm đủ nguồn lực, phục vụ tốt cho chiến lược phát triển KT-XH màĐảng và nhà nước đề ra
Thị xã Bà Rịa được thành lập theo Nghị định số 45/CP ngày 02 tháng 6năm 1994 và đi vào hoạt động từ ngày 15 tháng 8 năm 1994 Tình hình thuNSNN trên địa bàn thị xã Bà Rịa luôn vượt chỉ tiêu dự toán hàng năm và nămsau cao hơn năm trước, tổng thu NSNN 05 năm giai đoạn năm 2006 – 2010
Trang 9tăng 16,2% so với dự toán, mức tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 19% -20%/năm; GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 2.950 USD, tăng gấp 1,58 lần
so với năm 2006; mức hưởng thụ văn hóa của người dân thị xã năm 2010 là
44 lần/người/năm, tỷ lệ gia đình văn hóa là 97,19% [34]
Thời gian qua, công tác quản lý NSNN trên địa bàn thị xã Bà Rịa cónhiều chuyển biến tích cực, thu NSNN cơ bản đã đáp ứng nhu cầu chi NSNNgóp phần kích thích tăng trưởng và phát triển KT-XH Tuy nhiên công tácquản lý NSNN trên địa bàn thị xã Bà Rịa vẫn còn những tồn tại rất cơ bản cầnphải khắc phục và hoàn thiện, đó là: Lập dự toán và chấp hành dự toán Ngõnsách chưa gắn với với kế hoạch phát triển KT-XH trên địa bàn; Mối quan hệgiữa các cấp Ngõn sách; Nguồn lực Ngõn sách chưa được khai thác một cáchtriệt để, đơn vị sử dụng Ngõn sách phải chấp hành những quy định mang nặngtính thủ tục hành chính, không khuyến khích tiết kiệm và chống lãng phí.Quản lý NSNN phải vừa đảm bảo tính tập trung của chính sách tài chính quốcgia, vừa phát huy tính năng động, sáng tạo, tính tự chủ minh bạch, công khai
và trách nhiệm được đặt ra là cấp bách cả về thực tiễn và lý luận vì thế chúng
tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý Ngõn sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước thị xã Bà Rịa tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 10- Đánh giá thực trạng công tác thu nộp NSNN và kiểm soát chi NSNNcủa KBNN trên địa bàn thị xã Bà Rịa tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý thu, chi NSNNtrên địa bàn thị xã Bà Rịa tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Công tác quản lý NSNN tại KBNN thị xã Bà Rịa
- Những vấn đề liên quan đến quản lý NSNN tại KBNN thị xã Bà Rịa
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu vào một số nội dung sau:
- Qui trình quản lý thu, chi NSNN tại KBNN thị xã Bà Rịa
- Kết quả quá trình quản lý thu, chi NSNN tại KBNN thị xã Bà Rịa
- Phân tích và đánh giá những hạn chế trong quá trình quản lý NSNNtrên địa bàn thị xã Bà Rịa
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần đổi mới vànâng cao hiệu quả trong công tác quản lý NSNN tại KBNN thị xã Bà Rịa tỉnh
Đề tài được thực hiện từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 10 năm 2011
Do đó tài liệu phục vụ cho việc đánh giá công tác quản lý NSNN tại KBNNthị xã Bà Rịa tập trung chủ yếu từ năm 2008 đến năm 2010
Trang 112 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NSNN VÀ
QUẢN LÝ NSNN TẠI KHO BẠC
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC
2.1.1 Tổ chức hệ thống Ngân sách Nhà nước
2.1.1.1 Khái niệm Ngân sách Nhà nước
Luật NSNN số 01/2002/QH11 đã được Quốc hội thông qua ngày16/12/2002 quy định: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nướctrong dự toán đã được cơ quan NN có thẩm quyền quyết định và thực hiệntrong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”
- Từ định nghĩa trên có thể thấy Luật NSNN chú đến vấn đề lớn khi đềcập về khái niệm NSNN: [14]
+ Một là, tính cụ thể của NSNN biểu hiện ở: “Toàn bộ các khoản thu,chi của Nhà nước”, tức là nội dung của NSNN bao gồm hai yếu tố thu và chi
+ Hai là, phải được “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định”, ởnước ta là Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất có đủ thẩm quyền phê duyệt
- Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí, các khoản thu
từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, các khoản đóng góp của các tổ chức và cánhân, các khoản viện trợ và các khoản thu khác theo qui định của pháp luật
- Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế xã hội đảm bảo
Trang 12khoản chi khác theo qui định của pháp luật.[30]
2.1.1.2 Bản chất của Ngân sách Nhà nước
- Bản chất của NSNN là quan hệ phân phối sản phẩm xã hội và thunhập quốc gia Nhà nước tham gia phân phối sản phẩm xã hội (chủ thể), các
tổ chức cá nhân bị phân phối (khách thể) Mục đích là thực hiện các chứcnăng nhiệm vụ của Nhà nước như (quản lý Nhà nước, an ninh quốc phòng, y
tế giáo dục, đầu tư xây dựng…) Nguồn thu cơ bản mang tính chất bắt buộccủa NSNN là thu nhập quốc dân, được sáng tạo ra trong khu vực sản xuấtkinh doanh và các khoản chi chủ yếu của NSNN mang tính chất không hoànlại trực tiếp được hướng vào đầu tư phát triển kinh tế và tiêu dùng xã hội Nhànước bằng quyền lực chính trị của mình và xuất phát từ nhu cầu về tài chính
để đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước đã xác định các khoản thu,chi của NSNN Điều này cho thấy sự tồn tại của Nhà nước, vai trò của Nhànước đối với đời sống KT–XH là những yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tạicủa Nhà nước và tính chất hoạt động của nó NSNN được sử dụng để phânphối các nguồn tài chính hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung, đồng thời Nhànước coi Ngõn sách là công cụ tài chính để kiểm tra các hoạt động KT-XH.Quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân đã làm xuất hiện hệ thống cácquan hệ tài chính và được thể hiện ở phần thu cũng như chi của NSNN Hệthống các quan hệ tài chính tạo nên bản chất kinh tế của NSNN [30]
- Trong thực tế nhìn bề ngoài của hoạt động NSNN biểu hiện đa dạngvới hình thức các khoản thu và các khoản chi tài chính của Nhà nước ở cáclĩnh vực hoạt động KT-XH Các khoản thu chi này được tổng hợp trong mộtbảng dự toán thu chi tài chính được thực hiện trong một khoảng thời gian nhấtđịnh Các khoản thu mang tính chất bắt buộc của NSNN là một bộ phận cácnguồn tài chính chủ yếu được tạo ra thông qua việc phân phối thu nhập quốcdân được sáng tạo ra trong khu vực sản xuất kinh doanh và các khoản chi chủyếu của NSNN mang tính chất cấp phát phục vụ cho dầu tư phát triển và tiêu
Trang 13dùng của xã hội Như vậy về hình thức có biểu hiện: NSNN là toàn bộ cáckhoản thu, chi của Nhà nước có trong dự toán, đã được cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền phê duyệt và được thực hiện trong một năm để đảm bảo việc thựchiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
- Tuy nhiên, hoạt động của NSNN là hoạt động phân phối các nguồn tàichính của xã hội gắn liền với việc hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung
là NSNN Trong quá trình phân phối đó làm phát sinh các quan hệ tài chínhgiữa một bên là Nhà nước và một bên là các chủ thể trong xã hội Những quan
hệ tài chính này bao gồm:
+ Quan hệ kinh tế NSNN với các doanh nghiệp: Các quan hệ kinh tếnày phát sinh trong quá trình hình thành các nguồn thu của Ngân sách dướihình thức các loại thuế mà doanh nghiệp phải nộp Đồng thời Ngân sách chi
hỗ trợ cho sự phát triển của doanh nghiệp dưới hình thực xây dựng cơ sở hạtầng, hỗ trợ vốn…
+ Quan hệ kinh tế NSNN với các đơn vị hành chính sự nghiệp: Quan hệ
này phát sinh trong quá trình phân phối lại các khoản thu nhập bằng việcNgân sách cấp kinh phí cho các đơn vị quản lý Nhà nước Đồng thời, trong cơchế KTTT các đơn vị có hoạt động sự nghiệp cú cỏc khoản thu phí và lệ phí,nguồn thu này một phần các đơn vị làm nghĩa vụ tài chính đối với NSNN vàmột phần trang trải các chi tiêu của mình để giảm bớt gánh nặng cho NSNN
+ Quan hệ kinh tế NSNN với các tầng lớp dân cư: Quan hệ này thể hiện
quan việc một bộ phận dân cư thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nướcbằng việc nộp các khoản thuế, phí, lệ phí Một bộ phận dân cư khác nhận từNSNN các khoản trợ cấp theo chính sách qui định
+ Quan hệ kinh tế NSNN với thị trường tài chính: Quan hệ này phát
sinh khi Nhà nước tham gia vào thị trường tài chính bằng việc phát hành cácloại chứng khoán của KBNN nhằm huy động vốn của các chủ thể trong xã hội
để đáp ứng nhu cầu cân đối vốn của NSNN
Trang 14- Như vậy, đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài của NSNN là mộtquỹ tiền tệ với các khoản thu và các khoản chi của nó thì NSNN lại phản ảnhcác quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối Từ sự phân tích trên cho thấy:NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối cácnguồn tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhànước nhằm thực hiện nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước [30]
2.1.1.3 Nguyên tắc quản lý Ngân sách Nhà nước
- NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ,công khai minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý và gắn quyền hạn vớitrách nhiệm
- Các khoản thu, chi NSNN nước phải được hạch toán, quyết toán đầy
đủ, kịp thời và đúng chế độ Thu, chi NSNN phải được hạch toán bằng đồngViệt Nam Kế toán và quyết toán NSNN được thực hiện thống nhất theo chế
độ kế toán của Nhà nước và mục lục NSNN Chứng từ thu, chi NSNN đượcphát hành sử dụng và quản lý theo qui định của Bộ tài chính
- NSNN bao gồm Ngân sách TƯ (NSTƯ) và Ngân sách ĐP (NSĐP).NSĐP bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhândân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND)
- Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và quan hệ giữa ngân sách các cấpđược thực hiện theo nguyên tắc sau đây:
+ NSTƯ và ngân sách mỗi cấp chính quyền ĐP được phân cấp nguồnthu và nhiệm vụ chi cụ thể
+ NSTƯ giữ vai trò chủ đạo, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chiếnlược quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối thu -chi ngân sách
+ NSĐP được phân cấp nguồn thu đảm bảo chủ động trong thực hiệnnhững nhiệm vụ được giao, tăng cường nguồn lực cho ngân sách xã Hộiđồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ (gọi chung là cấp tỉnh) quyết
Trang 15định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chínhquyền ĐP phù hợp với phân cấp quản lý xã hội, quốc phòng, an ninh và trình
độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn kinh tế
+ Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó đảm bảo.Việc ban hành và thực hiện chính sách chế độ mới làm tăng chi ngân sáchphải có giải pháp đảm bảo nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối vớingân sách từng cấp
+ Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quanquản lý cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình thì phải chuyển kinh phí từngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó
+ Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thuphân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên để bảođảm công bằng, phát triển cân đối giữa cỏc vựng, cỏc địa phương Tỷ lệ phầntrăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trêncho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3 năm đến 5 năm Số bổ sung từ ngânsách cấp trên là khoản thu từ ngân sách cấp dưới
-+Trong thời kỳ ổn định ngân sách các ĐP được sử dụng nguồn tăngthu hàng năm mà NSĐP được hưởng để phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn.Sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, phải tăng khả năng tự cân đối, phát triểnNSĐP, thực hiện giảm doanh số bổ sung từ ngân sách cấp trên hoặc tỷ lệ phầntrăm (%) điều tiết số thu nộp về ngân sách cấp trên
+ Ngoài việc uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ chi và bổ sung nguồn thutheo qui định trên, không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm
vụ của cấp khác, trừ trường hợp đặc biệt theo qui định của Chính phủ
- NSNN được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phílớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích luỹ ngày càng cao vào đầu
tư phát triển, trường hợp bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư pháttriển và tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách
Trang 16- Bội chi ngân sách được bù đắp bằng nguồn vay trong nuớc và ngoàinước Vay bù đắp bội chi NSNN phải được đảm bảo nguyên tắc không sửdụng cho tiêu dùng chỉ được sử dụng cho mụch đích phát triển và đảm bảo bốtrí ngân sách để được chủ động trả nợ khi đến hạn.
- Về nguyên tắc, NSĐP được cân đối với tổng số chi không vướt quátổng số thu; trường hợp tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ có nhu cầu đầu tư xâydựng kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách tỉnh, đảm bảo thuộc danh mụcđầu tư trong kế hoạch 05 năm đã được HĐND cấp tỉnh quyết định, nhưngvượt quá khả năng cân đối của Ngõn sách cấp tỉnh năm dự toán, thì đượcphép huy động vốn trong nuớc và phải cân đối Ngõn sách cấp tỉnh hàng năm
để chủ động trả hết nợ khi đến hạn Mức dư nợ từ nguồn vốn huy động khôngvượt quá 30% vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) trong nước hàng năm củaNgõn sách cấp tỉnh [30]
2.1.1.4 Vai trò của Ngân sách Nhà nước
- NSNN giữ vai trò chủ đạo, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chiếnlược quan trọng của Quốc gia như: Các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầngKT-XH có tác động đến cả nước hoặc nhiều địa phương, các chương trình dự
án, mục tiêu Quốc gia, các chính sách xã hội quan trọng, điều phối hoạt độngkinh tế vĩ mô của đất nước, bảo đảm quốc phòng an ninh, đối ngoại và hỗ trợnhững ĐP chưa cân đối thu, chi NSNN
- NSĐP được phân cấp nguồn thu, bảo đảm chủ động thực hiện nhữngnhiệm vụ phát triển KT-XH, quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hộitrong phạm vi quản lý
- NSNN có một vai trò hết sức quan trọng trong nền KTTT thể hiện quacác nội dung cơ bản sau:
+ Trên góc độ tài chính: NSNN được sử dụnng như một công cụ nhằmphân phối sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân từ đó hình thành nguồn tàichính để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Thông qua NSNN
Trang 17có thể đảm bảo cho các lĩnh vực quản lý hành chính, an ninh quốc phòng, vănhóa xã hội, đầu tư phát triển.
+ Trên góc độ kinh tế: Trong nền (KTTT) vai trò của NSNN được thayđổi và hết sức quan trọng Trong quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc gia NSNN cúcác vai trò như sau:
++ Vai trò huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của
Nhà nước: Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của NSNN, để đảm bảo
cho các hoạt động của Nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hộiđòi hỏi phải có những nguồn tài chính nhất định Những nguồn tài chính nàyđược hình thành từ các khoản thu thuế và các khoản thu ngoài thuế Đây làvai trò lịch sử của NSNN mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào, cơ chế kinh tếnào NSNN đều phải thực hiện
++ NSNN là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, điều tiết thị trường,
bình ổn giá và chống lạm phát: Đặc điểm nổi bật của nền KTTT là sự cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận tối đa, các yếu tố cơbản trên thị trường là cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau vàchi phối hoạt động của thị trường Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ làmcho giá cả tăng lên hoặc giảm đột biến và gây ra biến động trên thị trường,dẫn đến sự dịch chuyển vốn từ ngành này sang ngành khác, từ ĐP này sang
ĐP khác Việc dịch chuyển vốn hàng loạt sẽ tác động tiêu cực đến cơ cấu kinh
tế, nền kinh tế phát triển không cân đối Do đó, để đảm bảo lợi ích cho nhàsản xuất cũng như người tiờn dựng Nhà nước phải sử dụng Ngõn sách để canthiệp vào thị trường nhằm bình ổn giá cả thông qua công cụ thuế và các khoảnchi từ NSNN dưới các hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữhàng hoá và dự trữ tài chính Đồng thời, trong quá trình điều tiết thị trườngNSNN còn tác động đến thị trường tiền tệ và thị trường vốn thông qua việc sửdụng các công cụ tài chính như: phát hành trái phiếu chính phủ, thu hút việntrợ nước ngoài, tham gia mua bán chứng khoỏng trờn thị trường vốn… qua đó
Trang 18góp phần kiểm soát lạm phát.
++ NSNN là công cụ định hướng phát triển sản xuất: Để định hướng và
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhà nước sử dụng công cụ thuế và chi Ngânsách Bằng công cụ thuế một mặt tạn nguồn thu cho Ngân sách, mặt khác Nhànước sử dụng thuế với các loại thuế, các mức thuế suất khác nhau sẽ góp phầnkích thích sản xuất phát triển và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vàonhững lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng đã định.Đồng thời, với các khoản chi phát triển kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vàocác ngành kinh tế mũi nhọn… Nhà nước có thể tạo điều kiện và hướng dẫncác nguồn vốn đầu tư của xã hội vào những vùng, lĩnh vực cần thiết để hìnhthành cơ cấu kinh tế hợp lý
++ NSNN là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư:Nền KTTT với những khuyết tật của nó sẽ dẫn đến sự phõn hoỏ giàu nghèogiữa các tầng lớp dân cư, Nhà nước phải có một chính sách phân phối lại thunhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư.NSNN là công cụ tài chính hữu hiệu được Nhà nước sử dụng để điều tiết thunhập, với các sắc thuế như thuế thu nhập luỹ tiến, thuế thu nhập đặc biệt…một mặt tạo ra nguồn thu cho Ngân sách mặt khác lại điều tiết một phần thunhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao Bên cạnh công cụ thuế, ngoài racũn cú cỏc khoản chi của NSNN như chi trợ cấp, chi phúc lợi cho các chươngtrình phát triển KT - XH: phòng chống dịch bệnh, phổ cập giáo dục tiểu học,dân số và kế hoạch hoá gia đỡnh…là nguồn bổ sung thu nhập cho tầng lớpdân cư có thu nhập thấp
- Các vai trò của NSNN cho thấy tính chất quan trọng của NSNN, vớicác công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả đối với toàn bộhoạt động nền kinh tế [30]
Trang 192.1.1.5 Tổ chức hệ thống Ngõn sách Nhà nước Việt Nam
2.1.1.5.1 Khái niệm hệ thống Ngân sách Nhà nước:
- Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ vớinhau trong việc tập trung và phân phối, sử dụng nguồn thu để thực hiện cácnhiệm vụ chi Cấp ngân sách được hiểu là một bộ phận của hệ thống, cóquyền chủ động khai thác các khoản thu, sử dụng các khoản thu đáp ứng nhucầu chi và đảm bảo cân đối được ngân sách Hệ thống ngân sách và cơ cấucủa hệ thống ngân sách chịu tác động bởi nhiều yếu tố mà trước hết đó là chế
độ xã hội của một Nhà nước và việc phân chia lãnh thổ hành chính
- Tổ chức hệ thống NSNN là việc xác lập các cấp NS, xác định nhiệm
vụ quyền hạn của các cấp chính quyền từ Trung ương (TƯ) đến Địa phương(ĐP) trong điều hành NS, tổ chức phân định thu, chi và xác định quan hệ giữacác cấp ngân sách trong quá trình: lập - chấp hành - quyết toán ngân sách.[30]
tế xã hội của cả nước
+ Các cấp ngân sách đều áp dụng thống nhất các luật, pháp lệnh về thuthuế và phí, lệ phớ…, cỏc chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu áp dụng thốngnhất chế độ về kế toán, báo cáo, mục lục ngõn sỏch… nhằm phục vụ chocông tác ghi chép, tổng hợp và phân tích số liệu NSNN
- Nguyên tắc tập trung - dân chủ:
Trang 20+ Hệ thống chế độ thu chi NS áp dụng thống nhất, do đó việc ban hànhcác chế độ thu chi đươc tập trung vào cơ quan quyền lực cao nhất: Quốc hội
và các cơ quan có thẩm quyền ở trung ương Tuy nhiên các ĐP có đặc thùriêng KT-XH, do đó chính quyền ĐP cũng có thẩm quyền quy định các khoảnthu chi, áp dụng trong phạm vi ĐP phù hợp với phân cấp quản lý hiện hành
+ Việc phê chuẩn dự toán, quyết toán thu chi ngân sách được tập trungvào cơ quan quyền lực Nhà nước: Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
+ Đại bộ phận nguồn thu và nhiệm vụ chi được tập trung vào NSTW.Trong phạm vi địa phương, nguồn thu, nhiệm vụ chi cũng tập trung vào ngânsách cấp trên Khía cạnh tập trung đảm bảo cho việc thực hiện các nhiệm vụphát triển kinh tế xã hội trọng tâm, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ nềnkinh tế, có tác dụng hay ảnh hưởng đến nhiều địa phương
- Tuy nhiên mỗi cấp ngân sách có nhiệm vụ riêng, do đó cần có sự chủđộng trong khai thác một số khoản thu, chủ động sử dụng nguồn thu cho ngânsách cấp mình chủ động trong việc xây dựng và thực hiện nhiệm vụ chi đề ra
- NSĐP tham gia vào việc khai thác nguồn thu của NSTW, thực hiệngiám sát việc thực hiện các khoản chi của NSTƯ phát sinh trên địa bàn, thựchiện thanh toán các khoản chi theo ủy quyền của NSTW [30]
2.1.1.5.3 Hệ thống Ngõn sách Nhà nước hiện hành:
- Luật NSNN được Quốc hội thông qua ngày 20/3/1996 sau đó đượcthay thế bằng Luật NSNN được Quốc hội thông qua ngày 16/12/2002 đã xácđịnh NSNN Việt nam gồm NSTƯ và NSĐP.[30]
- NSĐP gồm ngân sách của các cấp chính quyền ĐP (các cấp hànhchính có Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân) Như vậy hiến pháp là cơ sởchủ yếu cho việc xác định hệ thống NSNN hiện hành
- Ngõn sách Trung ương: NSTƯ hình thành từ kế hoạch tài chính củacác ngành kinh tế thuộc TW, từ dự toán kinh phí của các cơ quan hành chính
sự nghiệp, cơ quan khác nhận kinh phí từ ngân sách thuộc TƯ
Trang 21- Ngõn sách Địa phương: Hình thành từ kế hoạch tài chính của cácngành kinh tế thuộc các chính quyền địa phương, từ dự toán kinh phí của các
cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan khác nhận kinh phí từ ngân sách thuộccác cấp chính quyền địa phương NSĐP bao gồm:
+ Ngân sách tỉnh, thành phố thuộc TƯ (gọi tắt là ngân sách tỉnh)
+ Ngân sách quận, huyện thuộc thành phố; ngân sách thị xã, thành phố,huyện thuộc tỉnh (gọi tắt là ngân sách huyện)
+ Ngân sách phuờng, xã, thị trấn thuộc quận huyện (gọi tắt là NS xã)
2.1.1.5.4 Nhiệm vụ của NSNN trong giai đoạn hiện nay ở nước ta:
- Nhiệm vụ chủ yếu của NSNN giai đoạn hiện nay là tích luỹ vốn cho
sự nghiệp CNH - HĐH đất nước theo định hướng XHCN, đáp ứng yêu cầuphát triển KT-XH, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng,trật tự xã hội Nhiệm vụ của NSNN là xây dựng một NS cân đối, tích cực đảmbảo thực hiện chiến lược phát triển KT–XH theo hướng CNH-HĐH
- NSNN cân đối đòi hỏi phải: Đáp ứng dự toán NSNN; Có tổng thu
bằng tổng chi
- Yêu cầu về cân đối ngân sách ở Việt nam hiện nay là: Thu thườngxuyên phải lớn hơn chi thường xuyên để đáp ứng được nhu cầu chi đầu tưphát triển từ thặng dư thu thường xuyên và các khoản vay, viện trợ hoàn lại
- Trong quá trình chấp hành ngân sách, nếu tổng thu lớn hơn tổng chithì kết dư ngân sách
- Ngân sách tích cực đảm bảo thì đòi hỏi phải: Có tác động kích thích
kinh tế phát triển, có cơ sở vật chất là nền kinh tế trong nước và có khả năngthích ứng với những biến động của nền kinh tế thị trường
Trang 22Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức hệ thống NSNN
- Chi tiêu ngân sách phải bảo đảm yêu cầu tiết kiệm, đạt được hiệu quả
về KT-XH Chính vì thế phải xây dựng một NSNN tích cực bao gồm nhữngnội dung:
+ Một là, xây dựng cơ chế quản lý ngân sách thích hợp
+ Hai là, xây dựng một chính sách động viên hợp lý
+ Ba là, phân phối và sử dụng nguồn vốn tiết kiệm và có hiệu quả
- Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên đòi hỏi phải xây dựng được một chínhsách Tài chính phù hợp, đó là cách giải quyết thỏa đáng hai mặt:
+ Phấn đấu giảm bội chi NSNN
+ Đảm bảo mở rộng quyền tự chủ Tài chính cho các cơ sở kinh tế
NS xã, thị trấn
NS xã, phường
Trang 232.1.2 Nội dung quản lý Ngõn sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước
2.1.2.1 Tổng quát về quản lý Ngân sách Nhà nước
2.1.2.1.1 Khái niệm quỹ Ngân sách Nhà nước:
Điều 7 Chương 1 Luật NSNN hiện hành quy định: “Quỹ NSNN là toàn
bộ các khoản tiền của Nhà nước, kể cả tiền vay, có trên tài khoản của NSNNcác cấp” Quỹ NSNN được quản lý tại KBNN.[12]
2.1.2.1.2 Chức năng của KBNN trong quản lý điều hành quỹ NSNN:
- KBNN có hai chức năng cơ bản là:
+ Quản lý nhà nước về quỹ NSNN, các quỹ tài chính nhà nước và cácquỹ khác của Nhà nước được giao quản lý
+ Huy động vốn cho NSNN, cho đầu tư phát triển qua hình thức pháthành công trái và trái phiếu
- Thực hiện và cụ thể hoỏ cỏc chức năng nêu trên, chính phủ và bộ tàichính, Chính phủ, Bộ tài chính quy định nhiệm vụ của KBNN bao gồm nhữngnhiệm vụ chuyên môn theo chức năng và nhiệm vụ quản lý nội ngành [16]
2.1.2.1.3 Nhiệm vụ chung của Kho bạc Nhà nước trong quản lý và điều điều hành quỹ NSNN: [16]
- Quản lý quỹ NSNN và các quỹ tài chính khác của Nhà nước:
+ Quản lý quỹ NSNN: KBNN có trách nhiệm quản lý toàn bộ các khoảntiền của Nhà nước, tiền vay, tiền trên tài khoản của NSNN các cấp Cụ thể:
++ KBNN có nhiệm vụ tập trung, phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoảnthu NSNN (bao gồm cả thu viện trợ, vay nợ trong nước và nước ngoài); tổchức thực hiện việc thu nộp vào quỹ NSNN do các tổ chức và cá nhân nộp tại
hệ thống KBNN; thực hiện hạch toán số thu NSNN cho các cấp ngân sáchtheo quy định Luật Ngân sách, Điều 47 quy định “toàn bộ các khoản thuNSNN phải nộp trực tiếp vào KBNN” [30]
++ KBNN tổ chức thực hiện chi NSNN KBNN quản lý, kiểm soát,thanh toán, chi trả các khoản chi từ NSNN bao gồm cả chi thường xuyên và
Trang 24chi đầu tư xây dựng cơ bản ( XDCB) của Nhà nước.
++ Để thực hiện nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN, KBNN có quyền trích
từ tài khoản tiền gửi của các tổ chức, cá nhân để nộp NSNN hoặc áp dụng cácbiện pháp tài chính khác để thu cho NSNN KBNN có quyền từ chối thanhtoán, chi trả các khoản chi không đúng, không đủ các điều kiện theo quy địnhcủa pháp luật và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình
- Quản lý các quỹ tài chính khác của Nhà nước:
+ KBNN các cấp được giao nhiệm vụ quản lý, kiểm soát các quỹ dự trữtài chính của trung ương, của các cấp chính quyền địa phương, quỹ ngoại tệtập trung của Nhà nước và một số quỹ tài chính Nhà nước khác
+ Quản lý tiền, tài sản, các loại chứng chỉ có giá của Nhà nước, và củacác đơn vị, cá nhân gửi tại KBNN Thực hiện quản lý các tài sản quốc gia quýhiếm theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
+ Quản lý, kiểm soát và thực hiện nhập, xuất các khoản tạm thu, tạmgiữ, tịch thu, ký cược, ký quỹ, thế chấp theo quyết định của cơ quan Nhà nước
- Tổ chức hạch toán kế toán NSNN và các quỹ tài chính khác:
+ Để thực hiện nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN và các quỹ tài chính Nhànước, KBNN các cấp tổ chức công tác hạch toán kế toán NSNN, kế toỏn cácquỹ và tài sản do Nhà nước giao Trên cơ sở các số liệu kế toán, định ký báocáo việc thực hiện dự toán thu, chi ngân sách cho cơ quan tài chính cùng cấp
và cơ quan nhà nước có liên quan theo quy định
Trang 25- Thực hiện nghiệp vụ thanh toán và điều hành vốn: KBNN thực hiện
các nghiệp vụ thanh toán và điều hành vốn như một Ngân hàng
- Các cơ quan, đơn vị, cá nhân có quan hệ giao dịch với KBNN được
mở tài khoản tại Kho bạc KBNN kiểm soát tài khoản tiền gửi và thực hiệncác nghiệp vụ thanh toán bằng tiền mặt, chuyển khoản
- KBNN được mở tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn tại Ngânhàng Nhà nước (NHNN) và các Ngân hàng Thương mại (NHTM) Nhà nước
để thực hiện các hoạt động nghiệp vụ của mình
- Để đảm bảo đáp ứng các nhu cầu thanh toán, chi trả của NSNN và sửdụng hiệu quả nguồn vốn được giao quản lý, KBNN tổ chức quản lý, điềuhành vốn tập trung, thống nhất KBNN được sử dụng tồn ngân KBNN để tạmứng cho NSNN theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Bêncạnh quản lý quỹ NSNN, KBNN còn thực hiện việc theo dõi quản lý hạchtoán quỹ ngoại tệ tập trung của Nhà nước, quản lý quỹ dự trữ tài chính
- Tổ chức huy động vốn cho ngân sách và cho đầu tư phát triển: Xuất
phát từ nhu cầu và khả năng cân đối ngân sách hàng năm, KBNN được Quốchội, Chính phủ, Bộ Tài chính giao nhiệm vụ huy động vốn cho NSNN Nguồnvốn huy động từ nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư bảo đảm bù đắp thiếu hụtngân sách và đáp ứng nhu cầu phát KT-XH của đất nước
- Nhu cầu về vốn cho đầu tư phát triển từ NSNN ngày càng lớn đặc biệt
là phát triển cơ sở hạ tầng, KT-XH Thông qua phát hành công trái, trái phiếu,mỗi năm KBNN huy động được hàng chục ngàn tỷ đồng vốn nhàn rỗi trongdân cư để đầu tư cho các chương trình, dự án lớn của Nhà nước Nguồn vốnhuy động cho đầu tư phát triển đang trở thành một kênh huy động vốn quantrọng trong nền kinh tế và trên thị trường chứng khoán (TTCK) ở nước ta
- Quản lý, cấp phát, cho vay đối với các chương trình mục tiêu của
Chính phủ: Quản lý, cấp phát, cho vay các dự án, chương trình mục tiêu của
Chính phủ là nhiệm vụ quan trọng mà ngành KBNN được Chính phủ giao
Trang 26trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Để thực hiện nhiệm vụ này, KBNN phốihợp với các cơ quan chức năng liên quan tổ chức thẩm tra, thẩm định, cấpphát, cho vay các dự án chương trình, đảm bảo vốn cấp phát, cho vay đúngmục đích, hiệu quả Ngoài các nhiệm vụ nêu trên, KBNN còn thực hiện cácnhiệm vụ khác theo phân công của Bộ trưởng Bộ Tài chính [30]
2.1.2.1.4 Mục tiêu quản lý và điều hành quỹ Ngân sách Nhà nước:
- KBNN là một công cụ quản lý tài chính thực hiện vai trò giám sát,kiểm soát toàn diện các nguồn thu, chi các quỹ theo đúng quy định của phápluật Tất cả các quỹ tài chính của Chính phủ phải được quản lý, kế toán đầy
đủ tại hệ thống KBNN, mọi sự biến động phải được phản ánh, giám sát đầy
đủ theo đúng chính sách quy định Quản lý và điều hành quỹ NSNN củaKBNN nhằm mục tiêu quản lý tốt nguồn tài chính quốc gia, kiểm tra kiểmsoát các khoản thu, chi NSNN đảm bảo sử dụng đúng mục đích, đúng đốitượng, chi tiêu đúng chế độ tiêu chuẩn định mức, góp phần nâng cao hiệu quả
sử dụng ngân sách, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
- Quản lý và điều hành quỹ NSNN là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng,giúp cho các cấp chính quyền nắm được tình hình thu chi ngân sách của cấpmình để điều hành NSNN đạt hiệu quả cao; ảnh hưởng trực tiếp đến việc thựchiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển KT - XH của đất nước Cơ quan quản
lý và điều hành quỹ NSNN không những chỉ làm các nhiệm vụ tập trungnhanh chóng, đầy đủ các khoản thu và thực hiện kịp thời các nhiệm vụ chi,
mà còn có trách nhiệm tổ chức công tác hạch toán, kế toán, theo dõi, giám sát
và đánh giá chất lượng, hiệu quả các khoản thu, chi của NSNN Mặt khác,phải tổ chức công tác điều hoà vốn và tạo nguồn vốn để đáp ứng kịp thời cácnhu cầu chi cấp bách của nền kinh tế [30]
2.1.2.2 Nội dung về thu Ngân sách Nhà nước
- Thu NSNN phản ảnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình NN
sử dụng quyền lực chính trị để phân phối các nguồn tài chính của xã hội dưới
Trang 27hình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiện tệ tập trung của nhà nước Nhưvậy, thu NSNN bao gồm toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào tay NN đểhình thành quỹ NSNN đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu của nhà nước ThuNSNN bao gồm: thu trong cân đối NS và thu bù đắp thiếu hụt của NS.
+ Thu từ hoạt động sự nghiệp
+ Thu từ quỹ dự trữ quốc gia
+ Tiền sử dụng đất, thu từ hoa lợi công sản và đất công ích
+ Các khoản huy động đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhântrong và ngoài nước
+ Các khoản di sản nhà nước được hưởng
+ Thu kết dư ngân sách năm trước
+ Tiền bán hay cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước tại các đơn vịhành chính sự nghiệp
+ Các khoản tiền phạt tịch thu
+ Các khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền, bằng hiện vật của chínhphủ các nước, các tổ chức cá nhân nước ngoài
+ Các khoản vay trong nước, vay ngoài nước của chính phủ để bù đắpchi và khoản huy động vốn đầu tư trong nước của tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương
+ Các khoản thu khác theo qui định của pháp luật: Các khoản di sảnnhà nước được hưởng; Thu hồi dự trữ nhà nước; Thu chênh lệch giá, phụ thu;Thu chuyển nguồn NS từ năm trước chuyển sang; Các khoản thu khác [30]
Trang 282.1.2.3 Nội dung về chi Ngân sách Nhà nước
Chi ngõn sách, một công cụ của chính sách tài chính quốc gia có tácđộng rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế Chi ngân sách bao gồm chicho đầu tư phát triển, chi tiêu dùng thường xuyên và chi trả nợ gốc tiền chínhphủ vay Chi NSNN bao gồm:
- Chi đầu tư phát triển: Đầu tư xây dựng các công trình kết cầu hạ tầngkinh tế xã hội không có khả năng thu hồi vốn; Đầu tư và hỗ trợ vốn cho cácdoanh nghiệp nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệpthuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của nhà nước theo quy định của phápluật; Chi chi hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển đối vớichương trình, dự án phát triển kinh tế; Dự trữ nhà nước; Cho vay của chínhphủ để đầu tư phát triển
- Chi thường xuyên về: Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế,
xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, sự nghiệp khoa học, công nghệ vàmội trường và các sự nghiệp khỏc; Cỏc hoạt động sự nghiệp kinh tế; Quốcphòng an ninh và trật tự an toàn xã hội; Hoạt động của các cơ quan nhà nước;Hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam; Hoạt động của Mặt trận tổ quốcViệt Nam, Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản HồChính Minh, Hội cựu chiến binh Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam,Hội nông dân Việt Nam; Trợ giỏ theo chính sách của nhà nước; Các chươngtrình quốc gia; Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội theo qui định của chính phủ; Trợcấp cho các đối tượng chớn sỏch xã hội; Tài trợ cho các tổ chức xã hội, nghềnghiệp theo qui định của pháp luật; Trả lãi tiền vay do nhà nước vay; Viện trợcho cỏc chớnh phủ và các tổ chức nước ngoài; Các khoản chi khác theo quiđịnh của pháp luật
- Chi trả nợ gốc và lói cỏc khoản tiền vay do chính phủ vay
- Chi viện trợ của NSTƯ cho chính phủ và các tổ chức ngoài nước
- Chi cho vay của NSTƯ
Trang 29- Chi trả nợ gốc và lói cỏc khoản huy động đầu tư xây dựng kết cấu hạtầng theo qui định của luật NSNN.
- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính
- Chi bổ sung ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới
- Chi chuyển nguồn NS từ NS năm trước sang NS năm sau [30]
2.1.2.4 Nội dung về cân đối Ngân sách Nhà nước
- NSNN là công cụ tài chính quan trọng được nhà nước sử dụng đểphân phối thu nhập quốc dân Chức năng phân phối của ngân sách được thểhiện trong quá trình huy động và sử dụng các nguồn tài chính để hình thànhnờn cỏc khoản thu và các khoản chi ngân sách Về nội dung, các khoản thu vàchi này có quan hệ hữu cơ với nhau và dựa trên nguyên tắc hai bộ phận nàyphải được cân đối
- Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, việc cân đối NSNN được thựchiện theo nguyên tắc: Ưu tiên cho các khoản chi đầu tư phát triển sau đó mớidành cho chi tiêu dùng thường xuyên Trong thực tế, do số thu thường thấp,thậm chí nhiều khi không đủ cho chi đầu tư phát triển nên việc cân đối ngânsách luôn lâm vào tình trạng bị động, trong khi đó nhu cầu chi tiêu dùngthường xuyên lại rất cấp bách Do đó, chính phủ thường phải phát hành tiềnngoài dự kiến là nguyên nhân gây ra lạm phát
- Trong cơ chế thị trường, yêu cầu đổi mới hoạt động của NSNN đòihỏi phải xây dựng mô hình quản lý ngân sách thích hợp và phù hợp với thông
lệ quốc tế, mô hình này cho phép xác định cơ cấu ngân sách với nội dung cáckhoản thu và chi để đảm bảo sự cân đối của NSNN Cụ thể, mô hình quản lýNSNN được xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng:
+ Thu NSNN từ thuế, phí, lệ phí và một số khoảng thu không mangtính chất thuế như: thu lợi tức cổ phần nhà nước, thu từ cho thuê và bán cổphần thuộc sở hữu tài sản nhà nước… là những khoản thu thường xuyên củanhà nước và được hình thành theo nguyên tắc không hoàn trả Các khoản thu
Trang 30này còn được gọi là các khoản thu trong cân đối ngân sách được sử dụng ưutiên cho các khoản chi tiêu dùng thường xuyên của chính phủ, phần còn lại sẽdành cho chi đầu tư phát triển.
+ Thu từ các khoản viện trợ và vay nợ của chính phủ, nguồn thu nàydùng để bù đắp số thiếu hụt của NSNN do chênh lệch giữa tổng số chi và tổng
số thu trong cân đối NS để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế Do đó, cáckhoản thu viện trợ và vay nợ của chính phủ được gọi là các khoản thu bù đắpthiếu hụt của NS
- Cơ chế cân đối NSNN này tạo ra thế chủ động rất lớn cho chính phủcho phép giải quyết trước hết các nhu cầu cấp bách để ổn định đời sống vàtrật tự xã hội, hơn nữa nó cũng vạch ra một ranh giới rõ ràng về phạm vi tiêudùng nằm trong giới hạn các khoản thu nhập do nền kinh tế tạo ra Các khoảnthu bù đắp thiếu hụt (vay) chỉ phục vụ cho chi đầu tư phát triển nhằm đảmbảo khả năng trả nợ cho Chính phủ [30], [16]
2.1.2.5 Nội dung về quản lý nợ công
Theo Nghị định số 79/2010/NĐ-CP về nghiệp vụ quản lý nợ công vừađược Chính phủ ban hành ngày 14/7/2010, Chính phủ thống nhất toàn diện nợcông thông qua các công cụ: Chiến lược dài hạn về nợ công; Chương trìnhquản lý nợ trung hạn; Kế hoạch vay và trả nợ chi tiết hàng năm của Chínhphủ; Các chỉ tiêu an toàn giám sát nợ công.[15]
- Thứ nhất, chiến lược dài hạn về nợ công gồm các nội dung như đánhgiá thực trạng nợ công và công tác quản lý nợ công trong giai đoạn thực hiệnChiến lược đó; mục tiêu định hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợcụng… Căn cứ để xây dựng chiến lược dài hạn về nợ công là kế hoạch pháttriển KT - XH 05 năm và 10 năm, các kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực,vùng lãnh thổ cũng như các nghị quyết, quyết định về chủ trương huy động,
sử dụng vốn vay và quản lý nợ của Đảng, Nhà nước và Chính phủ…
- Thứ hai, chương trình quản lý nợ trung hạn gồm các mục tiêu, nhiệm
Trang 31vụ và giải pháp huy động, sử dụng vốn vay, trả nợ và cơ chế, chính sách, tổchức quản lý nợ trong giai đoạn 03 năm liền kề để thực hiện các chỉ tiêu antoàn về nợ đã được Quốc hội xác định trong mục tiêu, định hướng huy động,
sử dụng vốn vay và quản lý nợ công
- Thứ ba, kế hoạch vay, trả nợ chi tiết hàng năm của Chính phủ có nộidung gồm: Kế hoạch vay trong nước (gồm kế hoạch huy động vốn cho NSNN
và kế hoạch huy động vốn cho đầu tư phát triển); Kế hoạch vay nước ngoài,được thực hiện thông qua các hình thức huy động, gồm vay ODA, vay ưu đãi,vay thương mại và được chi tiết theo chủ nợ, có phân định trả nợ gốc và trả
nợ lãi, trả nợ trong nước và trả nợ nước ngoài
- Thứ tư, là các chỉ tiêu an toàn và giám sát nợ công Theo Nghị định số60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 có 8 chỉ tiêu giám sát nợ công, nợ nướcngoài của Quốc gia, bao gồm: Nợ công so với tổng sản phẩm quốc dân(GDP); Nợ nước ngoài của Quốc gia so với GDP; Nghĩa vụ trả nợ nước ngoàicủa Quốc gia so với tổng kim ngạch xuất khẩu; Nợ Chính phủ so với GDP;
Nợ Chính phủ so với thu NSNN; Nghĩa vụ trả nợ Chính phủ so với thuNSNN; Hạn mức vay thương mại nước ngoài; Bảo lãnh vay nước ngoài củaChính phủ [14]
- Bộ tài chính là cơ quan chủ trì thực hiện việc giám sát tình trạng nợcông, chịu trách nhiệm hướng dẫn phương pháp tính toán hệ thống các chỉtiêu giám sát nợ; chủ trì tiến hành phân tích, đánh giá bền vững nợ; điều hànhhạn mức nợ công, hạn mức vay thương mại nước ngoài và bảo lãnh vay nướcngoài của Chính phủ; phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, giám sáttình hình vay và trả nợ công [30]
2.1.3 Sự cần thiết của cơ chế phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước
2.1.3.1 Sự cần thiết của phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước
- Trong nền KTTT NSNN trở thành công cụ quan trọng giúp nhà nướcđiều hành nền KT-XH Hoạt động của NS nằm trong sự vận động của thị
Trang 32trường Tạo nguồn thu cho NS phải gắm với mục tiêu ổn định và tăng trưởngkinh tế, các khoản chi của ngân sách phải gắn với nhiệm vụ phát triển KT-XHcủa đất nước trong từng thời kỳ Do đó việc xác định cơ cấu thu, chi của cáccấp NS cũng như phương pháp quản lý các cấp NS là rất cần thiết.
- Phân định nguồn thu và các khoản chi của mỗi cấp NS là một nộidung cơ bản của phân cấp quản lý NS nhằm tạo điều kiện về tài chính chochính quyền nhà nước các cấp tham gia vào quá trình tổ chức, huy động, phânphối và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để thực hiện chứcnăng nhiệm vụ xác định Khi phân cấp cần phải tuân thủ các nguyên tắc cơbản sau:
+ Đảm bảo vai trò chủ đại của NSTƯ và vị trí độc lập của NSĐP trong
hệ thống NSNN thống nhất
+ Xác định cụ thể trách nhiệm và quyền hạn thu chi giữa các cấp NS.+ Đảm bảo sự hợp lý và cân bằng NSĐP [30]
2.1.3.2 Phương pháp và nội dung phân cấp quản lý Ngõn sách Nhà nước
2.1.3.2.1 Phân định nguồn thu giữa các cấp Ngân sách Nhà nước: Có 4
phương pháp thực hiện phân phối nguồn thu giữa các cấp ngân sách
- Phương pháp thu đủ, chi đủ: Nội dung của phương pháp này là toàn
bộ số thu và các nhiệm vụ chi của NS đều do NSTƯ đảm nhận Phương phápnày đảm bảo cho TƯ quyền chủ động nhưng hạn chế khả năng sáng tạo củađịa phương
- Phương pháp khoán gọn: TƯ giao cho ĐP được thu một số khoản thuxác định để đảm bảo nhiệm vụ chi cho địa phương Phương pháp này khuyếnkhích ĐP quan tâm và bồi dưỡng nguồn thu của mình nhưng không chú ý đếnnguồn thu của trung ương
- Phương pháp dự phần: Theo phương pháp này NSĐP được hưởngmột phần từ các khoản thu chung được xác định theo tỷ lệ phần trăm hay còngọi là tỷ lệ điều tiết Phương pháp này khuyến khích ĐP quan tâm đến khoản
Trang 33thu nhưng phân định nguồn thu giữa các cấp ngân sách rất phức tạp và hàngnăm phải điều chỉnh.
- Phương pháp hỗn hợp: Là phương pháp áp dụnh hỗn hợp cả baphương pháp trên, nguồn thu của NSĐP gồm 3 phần chính: Các khoản thu ổnđịnh; các khoản thu điều tiết và các khoản trợ cấp từ NSTƯ Theo LuậtNSNN Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số Điều phân định nguồn thu giữa cáccấp NS của nước ta thực hiện theo phương pháp hỗn hợp [30]
2.1.3.2.2 Phân định chi giữa các cấp Ngân sách Nhà nước:
- Phân công quản lý nhà nước về KT-XH giữa các cấp chính quyền là
cơ sở để phân định chi giữa các cấp NS Trong cơ chế thị trường, nhà nước sửdụng NSNN làm công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế thì phân cấpquản lý chi giữa các cấp NS được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
+ NSTƯ đảm nhận nhiện vụ chi theo các chương trình quốc gia hoặccác dự án phát triển nhằm hình thành thế cân đối cho nền kinh tế và tạo môitrường thuận lợi kích thích quá trình tích tụ và đầu tư vốn cho sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp và dân cư
+ NSĐP thực hiện các khoản chi gắn với việc thực hiện chức năng,nhiệm vụ chính trị của địa phương [30]
2.1.3.3 Quá trình hoạt động Ngõn sánh Nhà nước
- Quá trình ngõn sách là một quá trình gồm 03 giai đoạn: Lập và phêchuẩn ngân sách, chấp hành ngân sách và quyết toán Ngân sách Quá trìnhngân sách cho thấy toàn bộ hoạt động của một ngân sách từ khi bắt đầu hìnhthành cho tới khi kết thúc để chuyển sang ngân sách của năm tài chính mới.Thời gian của quá trình ngân sách dài hơn so với năm tài chính (còn gọi lànăm ngân sách hay năm tài khoá) điều đó được thể hiện ở chổ giai đoạn lập
và phê chuẩn ngân sách được bắt đầu trước năm tài chính là thời gian chấphành NS Quá trình NS của nước ta được qui định trong luật NSNN [30]
- Lập và phê chuẩn ngân sách nhà nước: Mục tiêu của giai đoạn này là
Trang 34xác định nhiệm vụ động viên, phân phối tối ưu các nguồn vốn nhằm bảo đảmtính vững chắc, tính khả thi của ngân sách Giai đoạn này bao gồm:
+ Lập dự toán ngân sách: Hàng năm vào thời điểm qui định trước khi
năm tài chính bắt đầu Chính phủ và Bộ tài chính ra thông báo về yêu cầu, nộidung và hướng dẫn lập dự toán NS cho các ngành, các cấp Các đơn vị căn cứvào hướng dẫn của Bộ tài chính lập dự toán NS cho đơn vị mình dựa trên hệthống luật, định hướng phát triển KT-XH của năm kế hoạch và các chính sáchđịnh mức tài chính
Các Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổng hợp dự toán ngânsách ở phạm vi mình quản lý gửi cho Bộ tài chính Bộ tài chính sẽ xem xét dựtoán thu chi của các Bộ và địa phương, tính toán kế hoạchả năng thu chi, cácgiải pháp cân đối ngân sách và tổng hợp thành dự toán ngân sách của năm tàichính và trình Chính phủ Chính phủ xem xét, thảo luận, điều chỉnh lại cáckhoản thu chi nếu thấy cần thiết và trình Quốc hội
+ Phê chuẩn ngõn sách: Dự toán NSNN trước hết sẽ được Ủy ban kinh
tế và Ngân sách của Quốc hội nghiên cứu, xem xét, điều chỉnh và trình Quốchội Quốc hội sẽ thảo luận dự toán NSNN về các nội dung: điều chỉnh tănggiảm các khoản thu trên cơ sở sửa đổi luật thuế, điều chỉnh tăng giảm cáckhoản chi dựa trên các giải pháp đảm bảo cân đối ngân sách Sau khi thảoluận và thông qua Quốc hội ra nghị quyết phê chuẩn dự toán NSNN và dựtoán NSNN trở thành một đạo Luật của Nhà nước mà mọi pháp nhân và thểnhân trong xã hội đều có trách nhiệm thực hiện [30]
+ Công bố ngân sách: Sau khi dự toán NSNN được Quốc hội phê chuẩn
sẽ được chuyển sang cho nguyên thủ quốc gia: Chủ tịch nước để công bố vàgiao cho Chính phủ thực hiện bằng cách uỷ nhiệm cho Bộ tài chính giao cácchỉ tiêu pháp lệnh về thu và chi NS cho từng Bộ, từng ĐP để thi hành
- Chấp hành ngõn sách: Dự toán ngân sách được phê chuẩn và được
thực hiện khi năm tài chính bắt đầu Nội dung của giai đoạn này là tập trung
Trang 35đầy đủ, kịp thời mọi nguồn thu vào NS và cấp phát cho các nhiệm vụ chi đãxác định nhằm động viên, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính của xãhội để thực hiện cỏc mỳc tiờu phát triển KT-XH trong năm tài chính Chấphành NSNN bao gồm: chấp hành thu NSNN và chấp hành chi NSNN.
+ Chấp hành thu NSNN: là quá trình tổ chức và quản lý nguồn thuNSNN Hệ thống tổ chức thu NSNN hiện nay ở nước ta có cơ quan thuế vàcác cơ quan khác được giao nhiệm vụ thu Các cơ quan này có trách nhiệmkiểm soát các nguồn thu NSNN, xác định và thông báo số phải nộp cho cácpháp nhân và thể nhân Cơ quan Tài chính, KBNN phối hợp với ngành thuế
và các quan được giao nhiệm vụ thu để tổ chức thực hiện thu nộp cho NSNN
và trích chuyển kịp thời các khoản thu giữa các cấp NSNN theo qui định
+ Chấp hành chi NSNN: là quá trình tổ chức và quản lý các khoản chicủa NSNN Tham gia vào chấp hành chi NSNN gồm có các đơn vị sử dụngvốn NSNN Việc cấp kinh phí từ NSNN được thực hiện theo qui định:
- Căn cứ vào dự toán NS được giao, các đơn vị thụ hưởng lập kế hoạchchi gửi cơ quan tài chính cùng cấp và KBNN nơi giao dịch để được cấp phát
- Cơ quan tài chính xem xét kế hoạch chi của đơn vị, căn cứ vào khảnăng của ngân sách để bố trí số chi hàng quý thông báo cho đơn vị thụ hưởng
và KBNN để thực hiện
+ Quyết toán Ngân sách: Nội dung của giai đoạn này là nhằm phản ảnh,
đánh giá và kiểm tra lại quá trình hình thành và chấp hành NSNN Sau khi kếtthúc năm tài chính, các đơn vị sử dụng vốn NSNN phải khoá sổ kế toán và lậpquyết toán NSNN theo số thực thu, thực chi theo hướng dẫn của Bộ tài chính
Căn cứ vào hướng dẫn của Bộ tài chính các đơn vị thụ hưởng ngân sáchlập quyết toán thu chi của đơn vị mình gửi cơ quan quản lý cấp trên, số liệuquyết toán phải được đối chiếu và được KBNN nơi giao dịch xác nhận Thủtrưởng các cơ quan nhà nước có trách nhiệm kiểm tra, xử lý thu chi NSNNcủa các đơn vị trực thuộc, lập quyết toán thu chi ngân sách thuộc phạm vi
Trang 36mình quản lý gửi cho cơ quan tài chính cùng cấp Cơ quan tài chính các cấp ở
ĐP xét duyệt quyết toán thu chi ngân sách của các cơ quan cùng cấp, thẩm traquyết toán ngân sách cấp dưới, tổng hợp lập quyết toán NSĐP trình UBNDcùng cấp để UBND cùng cấp xột trỡnh hội đồng nhân dân cùng cấp phêchuẩn và gửi cho Bộ Tài chính Bộ Tài chính xem xét và tổng hợp quyết toánthu, chi ngân sách của các Bộ, ngành ở Trung ương, kiểm tra, xem xét quyếttoán ngân sách của các ĐP, sau đó tổng hợp và lập tổng quyết toán NSNNtrình Chính phủ để Chính phủ đệ trình Quốc hội Quốc hội sau khi nghe báocáo kiểm tra của cơ quan Tổng kiểm toán quốc gia sẽ xem xét và phê chuẩntổng quyết toán NSNN [30]
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NSNN VÀ QUẢN LÝ NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC
2.2.1 Sự ra đời và phát triển của Kho bạc Nhà nước
- Kho bạc Nhà nước (State Treasury) đã có từ lâu Thuật ngữ 'Treasury'
theo nguồn gốc La tinh có nghĩa là 'vật quý' hay 'kho báu' Cùng với sự pháttriển của xã hội loài người, những vật quý tìm được ngày một nhiều hơn, dầndần được tập trung vào tay những người có thế lực, hình thành các kho cất giữchâu báu ở dạng phân tán Khi các bộ tộc xuất hiện, kho báu chính là nơi cấtgiữ tập trung các tài sản quý của cộng đồng bộ tộc
- Cùng với sự ra đời của Nhà nước cổ đại, bộ máy quản lý tài sản củaNhà nước cũng được hình thành, theo đó, xuất hiện các tổ chức chuyên quản
lý các loại tài sản quý của Nhà nước và các khoản thu nhập cụng (tụ, thuế)
Tổ chức này dần dần hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy đểtrở thành Ngân khố quốc gia hay KBNN sau này
- Dưới chế độ phong kiến, các vua chúa thường chọn những người ruộtthịt, thân tín cho làm quan coi giữ các kho châu báu, tiền bạc, vũ khí để củng
cố sức mạnh của Nhà nước và quân đội Trong thế giới tư bản, cùng với sự
Trang 37phát triển về kinh tế - tài chính, bộ máy KBNN trở thành một loại công sở đặcbiệt, với chức năng chủ yếu là quản lý các khoản thu, chi của NSNN; các loạitài sản quý hiếm; các nguồn dự trữ tài chính - tiền tệ của Nhà nước.
- Ngày nay, mặc dù còn có nhiều khác biệt về lịch sử và kinh tế, songhầu hết các nước đều có cơ quan KBNN Ở các nước phát triển, bộ máyKBNN được thành lập khá sớm và hoàn chỉnh như Vương quốc Anh và Hoa
Kỳ năm 1789 – 1790; Pháp năm 1800; Canada năm 1867
- Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy kho bạc nói chung: KBNN
cú các mô hình tiêu biểu sau đây:
+ KBNN được tổ chức như một Bộ trực thuộc Chính phủ Mô hình nàyphổ biến ở Mỹ, Anh, Canada, Australia Ngoài nhiệm vụ chính là lập cân đốithu chi tiền tệ, phát hành tiền, quản lý nợ quốc gia và các loại tài sản quýhiếm, Kho bạc một số nước còn làm nhiệm vụ quản lý biên chế công chứcNhà nước, tổ chức bảo vệ Tổng thống
+ KBNN trực thuộc Bộ Tài chính (Bộ Kinh tế-Tài chính) gồm phần lớncác nước ở Tây Âu và Trung Âu, điển hình là Pháp, Ðức, Italia và các nước
ở éụng Nam á như Indonexia, Malayxia, Thái Lan, KBNN còn có tên gọikhác như Vụ quản lý tài chính công, Vụ Kế toán công, trong đó cú cỏc nghiệp
vụ quản lý quỹ NSNN, kế toán và quyết toán NSNN, quản lý nợ công
+ KBNN trực thuộc Ngân hàng TƯ như ở Nga, Trung Quốc, các nướcéụng Âu và Châu Phi Trong bộ máy của Ngân hàng TƯ có một đơn vị làmnhiệm vụ quản lý Quỹ NSNN, đặc trách theo dõi và giúp Bộ Tài chính quản
lý các khoản thu chi NSNN, phối hợp với Vụ NSNN của Bộ Tài chính làmnhiệm vụ kế toán và quyết toán NSNN
+ KBNN trực thuộc một Bộ của Chính phủ éõy là một mô hình kháđặc biệt, tồn tại ở một số nước thuộc khu vực Trung Cận éụng và Tây á ỞThổ Nhĩ Kỳ, ngoài một số Bộ được gọi là “siờu bộ” như Tài chính, Ngoạigiao, Quốc phòng, các cơ quan còn lại được phân thành cỏc nhúm để hình
Trang 38thành các Bộ 1, 2, 3 của Chính phủ Theo mô hình này, Bộ 1 của Chính phủgồm có các cơ quan NHNN, KBNN, Thương mại, Kế hoạch - Thống kê.
- Như vậy, có thể thấy rằng KBNN ở các nước ra đời khá sớm, hầu hếtđược chia tách và phát triển từ cơ quan Tài chính, chuyên môn hoá công tácquản lý NSNN Tuy nhiên, mô hình tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụcủa KBNN ở các nước còn có nhiều điểm khác nhau
2.2.2 Sự ra đời và phát triển của Kho bạc Nhà nước Việt Nam
- Ở Việt Nam, thời kỳ phong kiến, các tài liệu về KBNN không cònđược lưu giữ đầy đủ, song cũng không có nhiều khác biệt so với thông lệ quốc
tế Trong thời kỳ thực dân Pháp cai trị, Chính phủ thuộc địa Pháp thành lậpNgân khố éụng Dương, một cơ quan tương đương Bộ, với chức năng chủ yếu
là quản lý và điều hành ngân quỹ quốc gia, tổ chức in tiền (chủ yếu là tiềngiấy và tiền kim loại mệnh giá nhỏ) và cùng với Ngân hàng éụng Dương quản
lý kho tiền của Chính phủ thuộc địa Chính quyền cũ ở miền Nam cũng tổchức kho bạc gọi là Tổng nha ngân khố quốc gia trực thuộc Bộ Tài Chính
- Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, cùng với sự ra đời củaChính phủ Cách mạng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày 28/8/1945,ngành Tài chính của nước Việt Nam chính thức được thành lập Nhiệm vụ cấpbách của ngành Tài chính lúc này là chuẩn bị tiền để giải quyết các nhu cầuchi tiêu của bộ máy Nhà nước và quân đội Chính phủ giao cho Bộ Tài chínhgấp rút chuẩn bị phát hành một loại tiền mới, vừa để đáp ứng các nhu cầu chitiêu cấp bách, vừa là bước chuẩn bị để xây dựng một chế độ tiền tệ độc lập tựchủ Cuối năm 1945, tiền hào lẻ của Ngân hàng éụng dương trên thị trườngrất khan hiếm éõy chớnh là điều kiện thuận lợi để phát hành thờm cỏc loạitiền có mệnh giá nhỏ vào lưu thông Ngày 1/12/1945, Bộ Tài chính đã chophát hành loại tiền đúc bằng nhôm đầu tiên ra thị trường (loại 2 hào, 5 hào và
1 đồng ) Tình hình rất khả quan, tiền tài chớnh đó được nhân dân tín nhiệm
và sử dụng Từ kết quả bước đầu này, ngày 03/02/1946 Chính phủ đã quyết
Trang 39định phát hành tờ giấy bạc tài chính đầu tiên có in hình Chủ tịch Hồ Chí Minh
ở các tỉnh thuộc khu vực Trung Bộ Sau đó, tiền của ta đã nhanh chóng lanrộng ra các tỉnh miền Bắc và Nam bộ Với thắng lợi này, ngày 03/4/1946,Quốc hội đã biểu quyết cho phép lưu hành giấy bạc tài chính của Việt Namtrên phạm vi cả nước éõy là một thắng lợi hết sức quan trọng của ngành Tàichính trên lĩnh vực tài chính tiền tệ; góp phần quan trọng trong việc tạo nguồntài chính, phục vụ công cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Ðể có một
cơ quan chuyên môn, đặc trách nghiên cứu và giải quyết các vấn đề ngân sách
và tiền tệ, ngày 29/5/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số: 75/SLthành lập Nha ngân khố trực thuộc Bộ Tài chính éõy là mốc lịch sử quantrọng đầu tiên đối với sự ra đời của KBNN Việt Nam
- Theo Sắc lệnh Số: 75/SL, nhiờm vụ chủ yếu của Nha ngân khố là:+ Tập trung quản lý các khoản thu về thuế, tiền thu công phiếu khángchiến; đảm phụ quốc phòng (tiền ủng hộ quân đội);
+ Quản lý và giám sát các khoản cấp phát theo dự toán được duyệt;chịu trách nhiệm về việc xác nhận và thanh toán kinh phí cho các đơn vị sửdụng ngân sách; làm thủ tục quyết toán với cơ quan tài chính;
+ Tổ chức phát hành giấy bạc Việt Nam trong toàn quốc;
+ Ðấu tranh trên mặt trận tiền tệ, thu hẹp và loại bỏ dần phạm vi lưuhành của tiền Ngân hàng éụng dương và các loại tiền khác của địch;
+ Tích cực đấu tranh để thực hiện các nguyên tắc cơ bản về thể lệ thu,chi và kế toán đại cương nhằm tăng cường công tác quản lý tài chính ngaytrong điều kiện đất nước đang có chiến tranh
- Trong thời gian 05 năm tồn tại và hoạt động (1946 - 1951), Nha Ngânkhố đã gắn bó mật thiết với những thời kỳ khó khăn nhất của cuộc khángchiến giải phóng dân tộc, đồng thời đã hoàn thành các trọng trách đã đượcChính phủ giao phó Nha Ngân khố còn tổ chức phát hành các loại tiền dướihình thức tín phiếu để giải quyết các nhu cầu chi tiêu của cán bộ, bộ đội và
Trang 40nhân dân ở cỏc vựng mới giải phóng Ðặc biệt, trong các năm 1946, 1948 và
1950, Nha Ngân khố đã phối hợp tổ chức phát hành một số đợt công trái vàcông phiếu kháng chiến ghi thu bằng tiền và bằng thóc nhằm thực hiện chủtrương thu hồi một phần số tiền tài chính đã phát hành quá mức những nămtrước đõy đó đẩy giá hàng tiêu dùng lên cao; đồng thời là công cụ để huyđộng tiền nhàn rỗi trong nhân dân, phục vụ đắc lực và kịp thời nhu cầu sảnxuất và chiến đấu Tiền tín phiếu cũng đồng thời là một phương tiện dự trữcủa chính quyền ĐP để sử dụng trong trường hợp đứt liên lạc hoặc tạm thờithiếu nguồn tài chính hỗ trợ của TƯ
- Từ tình hình nói trên, đòi hỏi Chính phủ phải nghiên cứu và ban hànhcác chính sách mới về quản lý kinh tế - tài chính, tiền tệ - tín dụng, đồng thờiphải phát triển và hoàn thiện dần bộ máy của các cơ quan của Chính phủ,trong đó có nhiệm vụ cấp bách là thay đổi tổ chức bộ máy của Bộ Tài chính
và Ngân hàng quốc gia Việt Nam Giai đoạn năm 1951-1963 thực hiện chủtrương nói trên, đồng thời để cụ thể hoá chức năng và nhiệm vụ của cơ quanquản lý Quỹ NSNN, hai tháng sau khi thành Ngân hàng Quốc gia Việt Nam(tháng 5 năm 1951), ngày 20/7/1951, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định
số 107/TTg (ngày nay gọi là Quyết định) thành lập KBNN đặt trong Ngânhàng Quốc gia Việt nam và thuộc quyền quản trị của Bộ Tài chính éõy làmốc lịch sử quan trọng thứ hai đối với sự ra đời của KBNN Việt Nam TheoNghị định số 107/TTg, nhiệm vụ chủ yếu của KBNN là quản lý thu chi QuỹNSNN ở TƯ và địa phương
- Hệ thống KBNN được tổ chức như sau:
+ Ở TƯ có Kho bạc Trung ương;
+ Tại các Liên khu có Kho bạc Liên khu;
+ Tại các Tỉnh (hay Thành phố) có Kho bạc Tỉnh, Thành phố
+ Riêng Liên khu Việt Bắc không thành lập KB Liên khu KB TƯ trựctiếp điều khiển các KB tỉnh hay thành phố trong Liên khu Việt Bắc Công