Trong bối cảnh đó để tồn tạivà phát triển đòi hỏi doanh nghiệp trong nước phải năng động và mềm dẻo điềuchỉnh kịp thời phương thức sản xuất kinh doanh, sử dụng có hiệu quả c
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 2
1.1 Vốn trong doanh nghiệp: 2
1.1.1 Khái niệm: 2
1.1.2 Phân loại vốn: 3
1.1.3 Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp 15
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp 17
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn 17
1.2.2 Tầm quan trọng của việc bâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp 18
1.2.3 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn 19
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn 24
1.4.1 Nhóm các nhân tố chủ quan 24
1.4.2 Nhóm các nhân tố khách quan 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ & XÂY LẮP THÀNH AN 665 – BỘ QUỐC PHÒNG 30
2.1 Giới thiệu chung về Công ty cổ phần Đầu tư & Xây lắp Thành An 665 – Bộ Quốc Phòng: 30
2.1.1 Thông tin chung về Công ty Cổ phần Đầu tư & Xây lắp Thành An 665: .30
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty cổ phần Đầu tư & Xây lắp Thành An 665: 30
2.1.3 Ngành nghề kinh doanh chính: 32
2.1.4 Đặc điểm kinh doanh và tổ chức sản xuất kinh doanh ở Công ty cổ phần ĐT & Xây lắp Thành An 665 – Bộ Quốc Phòng: 33
Trang 22.1.5 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý ở Công ty cổ phần ĐT & XL Thành
An 665 34
2.1.6 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong ba năm gần đây (2009-2011) 39
2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Đầu tư & Xây lắp Thành An 665 42
2.2.1 Thực trạng vốn và tài sản tại Công ty Cổ phần Đầu tư & Xây lắp Thành An 665 42
2.2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại INCO665., JSC 45
2.3 Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần Đầu tư và Xây lắp Thành An 665 52
2.3.1 Những thành tựu đạt được 52
2.3.2 Hạn chế 53
2.3.3 Nguyên nhân hạn chế 54
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẨU TƯ & XÂY LẮP THÀNH AN 665 58
3.1 Định hướng hoạt động của Công ty cổ phần Đầu tư & Xây lắp Thành An 665: 58
3.2 Giải pháp 59
3.2.1 Giải pháp chung nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Đầu tư & Xây lắp Thành An 665 59
3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động 61
3.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định 65
3.3 Kiến nghị 66
3.3.1 Kiến nghị với Nhà nước: 66
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 67
3.3.3 Kiến nghị với chính quyền địa phương 68
3.3.4 Kiến nghị với Tổng công ty cổ phần Đầu tư & Xây lắp Thành An 69
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 3DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: Chu kỳ tuần hoàn của vốn lưu động 7
BẢNG BIỂU Bảng 1: Bảng cân đối kế toán rút gọn của INCO665., JSC từ 2009 - 2011 .39
Bảng 2: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh INCO665., JSC năm 2009-2011 40
Bảng 3: Báo cáo so sánh về các khoản thu nhập của INCO665., JSC 41
Bảng 4: Kết cấu vốn và nguồn vốn của INCO665., JSC năm 2009-2011 42
Bảng 5: Kết cấu Tài sản lưu động INCO665., JSC năm 2009 2010, 2011 .43
Bảng 6: Kết cấu Tài sản cố định INCO665., JSC năm 2009, 2010, 2011 44
Bảng 7: Hiệu quả sử dụng vốn cố định của INCO665 45
Bảng 8: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của INCO 665., JSC 47
Bảng 9: Hiệu quả sử dụng tổng vốn của INCO665., JSC 50
Bảng 10: Phân tích tỷ suất lợi nhuận tổng tài sản theo phương pháp DuPont: 51
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
INCO665.,JSC Công ty cổ phần Đầu tư và Xây lắp
Thành An 665 – Bộ Quốc Phòng
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong quá trình phát triển theo mô hình kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa và đang chủ động hội nhập, mở cửa thị trường, tạođiều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài và nhiều loại hình doanh nghiệp kháchoạt động phát triển một cách mạnh mẽ nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh lànhmạnh trên mọi ngành nghề và khắp mọi miền đất nước Trong bối cảnh đó để tồn tạivà phát triển đòi hỏi doanh nghiệp trong nước phải năng động và mềm dẻo điềuchỉnh kịp thời phương thức sản xuất kinh doanh, sử dụng có hiệu quả các nguồn lựchiện có Tuy nhiên bên cạnh các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì cũng cókhông ít những doanh nghiệp còn lúng túng trong hoạt động sản xuất kinh doanh,làm ăn thua lỗ kéo dài, doanh thu không đủ bù đắp chi phí đã bỏ ra Thực tế này là
do nhiều nguyên nhân, một trong số đó là do việc sử dụng vốn của doanh nghiệpcòn nhiều hạn chế
Do đó vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải huy động vốn, quản lí và sửdụng vụ́n đờ̉ đảm bảo sản xuất kinh doanh diễn ra thuận lợi và phải sử dụng vốn saocho hiệu quả ngày càng cao để doanh nghiệp đứng vững hơn trên thị trường, từ đómở rộng sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống cho ngườilao động Xuất phát từ tầm quan trọng và thực trạng sử dụng vốn, qua thời gian thựctập tại Công ty Cổ phần Đầu tư & Xây lắp Thành An 665 – Bộ Quốc Phòng trên cơsở nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu và được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ nhân
viên trong Công ty, em quyết định chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
của công ty cổ phần Đầu tư & Xây lắp Thành An 665” làm chuyên đề thực tập của
mình với mục đích để thực hành những kiến thức đã học và qua đó đưa ra một sốkiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty
Đề tài được chia làm ba chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanhnghiệp
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần Đầu tư &Xây lắp Thành An 665
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần Đầu
tư & Xây lắp Thành An 665
Trang 7CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP1.1 Vốn trong doanh nghiệp:
1.1.1 Khái niệm:
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập một doanh nghiệp và tiếnhành các hoạt động sản xuất – kinh doanh, chính vì vậy, quản lý vốn của doanhnghiệp có ý nghĩa quan trọng trong quản lý tài chính doanh nghiệp Tuy nhiên,trong quản lý nguồn vốn, chúng ta thường đề cập chủ yếu đến các hình thức huyđộng vốn, xem xét các ảnh hưởng của các nhân tố tới cách thức lựa chong nguồnvốn của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào hình thức sở hữumà quyền tự chủ trong kinh doanh được mở rộng trong mức độ cho phép tùy thuộcvào loại hình sở hữu đó Xét trên phương diện tài chính, việc doanh nghiệp lựachọn kờnh đờ̉ huy động vốn là khác nhau và chiến lược tài trợ cho hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường vốn,thị trường chứng khoán, sự ổn định của nền kinh tế, uy tín của doanh nghiệp, và khảnăng thích ứng của nhà quản lý trong từng tình hình cụ thể Trong bất cứ mụ ̣t khõunào của chu trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cũng có nhu cầu về vốn
Vậy vốn là gì? Dưới các giác độ khác nhau, khái niệm vốn cũng khác nhau.Các quan điểm này bổ sung cho nhau tạo nên một cách nhìn toàn diện về vốn
Về phương diện kỹ thuật, nếu xét trong phạm vi doanh nghiệp, vốn là cácloại hàng tham gia vào quá trình SXKD cùng với các nhân tố khác nhau (như laođộng, tài nguyên thiên nhiên, ) Xét trong phạm vi nền kinh tế, vốn là hàng hóa đểsản xuất ra hàng hóa khác lớn hơn chính nó về mặt giá trị
Về phương diện tài chính, vốn là tất cả tài sản bỏ ra lúc đầu, thường biểuhiện bằng tiền dùng trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp nhằm mục đích lợinhuận Hoặc có thể hiểu, vốn là khối lượng tiền tệ đưa vào lưu thông nhằm mụcđích sinh lời
Vốn được vận động và thường xuyên chuyển hóa dưới các hình thức khácnhau trong suốt quá trình SXKD Trong giai đoạn đầu tiên của quá trình sản xuất, từ
Trang 8hình thái tiền tệ ban đầu vốn chuyển sang hình thái hiện vật, khi đú nú đại diện chomột lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và vô hình mà doanh nghiệp đang thựcsự nắm giữ như: tư liệu sản xuất, nhà xưởng đất đai, nguyờn nhiờn vật liệu, chấtxám, thông tin… Đến giai đoạn sản xuất, vốn từ hình thái tư liệu sản xuất chuyểnsang hình thái thành phẩm Kết thúc giai đoạn này, tất cả chi phí mà doanh nghiệpứng ra sản xuất sản phẩm được tính toán thành giá thành sản phẩm và trở thành vốnthành phẩm Khi đến giai đoạn cuối cùng (giai đoạn lưu thông tiêu thụ sản phẩm)vốn lại chuyển về hình thái sơ khai của nó là hình thái tiền tệ Lượng tiền thu được
từ bán hàng lớn hơn vốn thành phẩm vì ngoài vốn ban đầu còn có giá trị sản phẩmthặng dư được sáng tạo ra trong quá trình sản xuất, nhưng chỉ qua quá trình lưuthông nó mới được thực hiện Đến đây, vốn hoàn thành chu trình luân chuyển và lạibước vào một quá trình luân chuyển mới
Tóm lại, vốn là điều kiện tiền đề của quá trình sản xuất kinh doanh, nó quyếtđịnh sự ổn định và liên tục của quá trình SXKD Vốn vận động và luôn luân chuyểnkhông ngừng cho nên mỗi doanh nghiệp cần tạo đủ số vốn đầu tư vào tất cả các giaiđoạn SXKD Tuy nhiên, quá trình tạo vốn của doan nghiệp cũng cần phải chú ý một
số vấn đề, trong đó đặc biệt chú ý giá trị thời gian của vốn, chi phí của vốn Cácnhân tố này chịu ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô thị trường (giá cả, lạm phát, tiếnbộ khoa học kỹ thuật…), đòi hỏi doanh nghiệp phải dự đoán và đưa ra các quyếtđịnh về vốn hợp lý, kịp thời
1.1.2 Phân loại vốn:
Phân loại vốn là yêu cầu cơ bản của công tác quản lý và sử dụng vốn Tùytheo mục đích quản lý của doanh nghiệp mà có nhiều cách phân loại khác nhau Cóthể phân loại vốn theo cỏc tiờu thức cụ thể như sau:
Dựa vào hình thái biểu hiện, vốn chia làm hai loại: Vốn bằng tiền và Vốn hiện vật
Dựa vào phương thức chu chuyển vốn, vốn chia thành hai loại: vốn cốđịnh và vốn lưu động
Dựa vào thời gian luân chuyển vốn, vốn chia làm hai loại: Vốn ngắn hạnvà Vốn dài hạn
Dựa vào quan hệ sở hữu vốn, vốn chia làm: Vốn chủ sở hữu và Nợ phải trả
Trang 9 Dựa vào phạm vi sử dụng vốn: Vốn đầu tư tại doanh nghiệp và Vốn đầu
tư ra bên ngoài
Trong phạm vi đề tài chỉ giới hạn đề cập tới việc phân chia vốn theo phươngthức chu chuyển vốn và nguồn hình thành của vốn
1.1.2.1 Dựa trên giác độ phương thức chu chuyển vốn
Tài sản là TSCĐ khi đáp ứng được tối thiểu hai điều kiện sau:
Thời gian sử dụng: Từ một năm trở lên
Tiêu chuẩn về giá trị: Phải có giá trị tối thiểu ở một mức nhất định doNhà nước quy định phù hợp với tình hình kinh tế của từng thời kỳ
Xét về mặt hiện vật, TSCĐ tham gia hoàn toàn nhiều lần vào nhiều chu trình
SXKD và nhìn chung không thay đổi hình thái hiện vật nhưng năng lực sản xuấtkèm theo giá trị của nó bị giảm dần Chính vì vậy khi bắt đầu tiến hành hoạt độngSXKD, doanh nghiệp chỉ cần phải bỏ vốn ban đầu để đầu tư hình thành TSCĐ sửdụng trong thời gian dài Để quản lý tốt TSCĐ, doanh nghiệp cần phải thườngxuyên tiến hành kiểm tra, đánh giá tình hình sử dụng tài sản, cần lưu ý tiến hành bảodưỡng, sửa chữa tài sản Đến một thời gian nhất định, TSCĐ hư hỏng hoàn toànphải loại bỏ khỏi quá trình SXKD và thay thế bằng tài sản mới Khi đó, vốn cố địnhlại tiếp tục đưa vào sản xuất dưới hình thái hiện vật
Xét về mặt giá trị, giá trị tài sản cố định tồn tại dưới hai hình thức.
Một bộ phận giá trị tồn tại dưới hình thái giá trị sử dụng của TSCĐ Bộ phậnnày giảm dần trong quá trình SXKD cùng với sự hao mòn của phần hiện vật Căncứ vào mức độ để xác định một lượng hao mòn tương ứng cho TSCĐ ở mỗi chu kỳsản xuất Thực chất đõy chớnh là khoản khấu hao TSCĐ Việc tiến hành trích lập,hình thành quỹ khấu hao có mục đích là để tái đầu tư lại TSCĐ khi chúng hư hỏnghoàn toàn nhằm duy trì năng suất của doanh nghiệp
Trang 10Một bộ phận giá trị chuyển vào sản phẩm trong giai đoạn sản xuất và sẽ đượcchuyển hóa trong giai đoạn tiêu thụ Quá trình chuyển hóa giá trị không diễn rahoàn toàn trong một chu trình mà tiến hành dần dần trong nhiều chu trình sản xuất,tiêu thụ Theo đó, bộ phận giá trị này tăng lên dần cho đến khi bằng giá trị ban đầucủa TSCĐ thì kết thúc quá trình vận động.
Từ đó có thể thấy giá trị đầu tư và đặc điểm của TSCĐ quyết định quy mô,đặc điểm tuần hoàn chu chuyển của vốn cố định Vốn cố định tham gia nhiều vàocác chu trình kinh doanh, được chuyển dần từng phần vào giá trị của các hàng hóatạo ra Hay nói cách khác, VCĐ được tách thành hai phần: một phần luân chuyểnvào giá trị SXKD của chu kỳ kinh doanh này và phần còn lại sẽ được cố định chờluân chuyển cho các chu kỳ kinh doanh tiếp theo Quá trình luân chuyển VCĐ đượctiếp diễn cho đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, chấm dứt một vòng tuần hoàn,lưu chuyển hết giá trị
Quá trình thu hồi VCĐ cũng xảy ra dần dần trong tiêu thụ sản phẩm, khoảnthu hồi tương ứng với khoản trích khấu hao trong kỳ trở thành chi phí sản xuất đượctính vào giá thành sản phẩm Như vậy, VCĐ tồn tại dưới hai hình thái: hình tháihiện vật và hình thái tiền tệ trong tiền bán sản phẩm Vì vậy, quản lý VCĐ phảiđược thực hiện trên hai phương diện: quản lý hiện vật và quản lý giá trị
Quản lý hiện vật đòi hỏi các doanh nghiệp phải có biện pháp tiến hành phânloại TSCĐ theo những tiêu thức khác nhau để từ đó có những biện pháp quản lý và
sử dụng có hiệu quả hơn Căn cứ vào hình thái biểu hiện và công dụng kinh tế,TSCĐ được phân chia thành: TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình TSCĐ hữu hình lànhững tài sản có hình thái vật chất cụ thể, như công trình kiến trúc, nhà cửa, máymóc, trang thiết bị, phương tiện vận tải…TSCĐ vô hình là những tài sản không cóhình thái vật chất cụ thể Thông thường TSCĐ vô hình bao gồm chi phí bằng phátminh sáng chế, chi phí về lợi thế thương mại, quyền sử dụng đất, chi phí thành lậpdoanh nghiệp…
Căn cứ vào quyền sở hữu, TSCĐ được phân thành: TSCĐ thuộc quyền sởhữu của doanh nghiệp, được hình thành bằng nguồn vốn chủ sở hữu; TSCĐ dodoanh nghiệp thuê ngoài
Căn cứ tình hình sử dụng, TSCĐ bao gồm: TSCĐ đang được sử dụng; TSCĐdự trữ, TSCĐ chờ thanh lý
Trang 11Quản lý giá trị gắn liền với công việc tính khấu hao, quản lý và sử dụng quỹkhấu hao của doanh nghiệp Khả năng tái tạo TSCĐ từ quỹ khấu hao phụ thuộc rấtlớn vào mức độ chính xác của việc tính khấu hao tài sản Số tiền khấu hao tích lũyđược sau khi VCĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn nếu không đủ để tái tạo TSCĐthì hậu quả là VCĐ không được bảo toàn.
b, Vốn lưu động
Vốn cố định và vốn lưu động đều là vốn sản xuất của doanh nghiệp Tuyvậy, trong khi VCĐ là số tiền ứng trước vào TSCĐ thì VLĐ lại là số vốn đầu tư vàoTSLĐ Vai trò của vốn lưu động là hết sức to lớn
Để quản lý và sử dụng có hiệu quả VLĐ thì cần tiến hành phân loại TSLĐtheo nhiều tiêu thức
Theo hình thái hiện vật, VLĐ bao gồm:
Vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán: Vốn bằng tiền bao gồm các khoảntiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển Vốn trong thanh toán gồmcác khoản phải thu khách hàng, các khoản tạm ứng và các khoản phải thu khác
Vốn vật tư hàng hóa: được tồn tại dưới hình thái hàng tồn kho bao gồm:nguyờn nhiờn vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm…
Vốn về chi phí trả trước: là những chi phí lớn phát sinh trong thực tế liênquan đến chu kỳ kinh doanh như chi phí thuê tài sản, chi phí nghiên cứu cải tiến, chiphí sửa chữa lớn TSCĐ Chi phí trả trước này được phân bổ vào giá thành phẩm củanhiều chu kỳ kinh doanh
Căn cứ vào vai trò của TSLĐ trong sản xuất, tài sản lưu động sản xuất kinhdoanh bao gồm:
Những tài sản ở khâu dự trữ như nguyờn nhiờn vật liệu, công cụ lao động nhỏ…
Tài sản ở khâu sản xuất như chi phí sản xuất dở dang, nửa thành phẩm,chi phí trả trước chờ phân bổ
Tài sản lưu thông của doanh nghiệp như hàng hóa chưa tiêu thụ, cáckhoản phải thu, tiền mặt, các khoản đầu tư ngắn hạn…
Đặc điểm của tài sản lưu động như vậy đã quyết định sự vận động của VLĐ:VLĐ chu chuyển không ngừng, luôn thay đổi hình thái biểu hiện, luân chuyển giá
Trang 12trị một lần và hoàn thành một vòng luân chuyển trong một chu kỳ SXKD Chu kỳvận động của VLĐ được mô tả ở Sơ đồ 1.
Sơ đồ 1: Chu kỳ tuần hoàn của vốn lưu động
Bắt đầu quá trình sản xuất, một lượng tài sản lưu động dự trữ (vật tư, nguyờnnhiờn vật liệu…) được đưa vào chế biến Vốn cố định ở giai đoạn này biểu hiệndưới dạng giá trị của các đầu vào (vốn sản xuất) Sau quá trình chế biến, các sảnphẩm được hình thành chuẩn bị đưa vào lưu thông Lượng vốn ban đầu đã chuyểndịch toàn bộ giá trị một lần và được bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện, lúcnày VLĐ thay đổi hình thái (vốn lưu thông) Tài sản lưu động nằm trong quá trìnhsản xuất và trong quá trình lưu thông thay chỗ lẫn nhau vận động không ngừng đảmbảo quá trình SXKD diễn ra liên tục thuận lợi
VLĐ là một bộ phận quyết định sự tăng trưởng và phát triển SXKD củadoanh nghiệp Chính vì vậy, việc sử dụng vốn hiệu quả có một ý nghĩa rất quantrọng trong quản lý doanh nghiệp Việc phân bổ hợp lý và sử dụng có hiệu quả trờncỏc giai đoạn luân chuyển là cơ sở để tạo nên hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.1.2.2 Dựa trên giác độ quan hệ sở hữu về vốn
a, Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc về các chủ sở hữu của doanh nghiệp cónghĩa là có đầy đủ quyền định đoạt, chiếm hữu và chi phối Đối với mọi loại hìnhdoanh nghiệp khác nhau, vốn chủ sở hữu bao gồm các bộ phận chủ yếu: Vốn tự có
Sản xuất
Hàng hóa Bán hàng
Phải thu Thu tiền
Trang 13và các quỹ được hình thành trong quá trình sản xuất kinh doanh (quỹ đầu tư pháttriển, quỹ dự phũng…).
Vốn góp ban đầu là số vốn nhất định mà các nhà đầu tư bỏ ra khi thành lậpdoanh nghiệp Đây là điều kiện tiên quyết được quy định trong Luật doanh nghiệp.Khi nói đến vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét đến hìnhthức sở hữu của doanh nghiệp đó, vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất vàhình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, vốn tự có chính là vốn đầu tư của Nhànước Chủ sở hữu chính của doanh nghiệp Nhà nước Hiện nay, cơ chế quản lý tàichính nói chung và quản lý vốn của các doanh nghiệp Nhà nước nói riêng đang cónhững thay đổi để phù hợp với tình hình thực tế
Đối với các doanh nghiệp, theo Luật doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải
có một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp Chẳng hạn,đối với công ty cổ phần, vốn của các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định hìnhthành nên công ty Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu công ty và chịu trách nhiệm hữuhạn trên phần vốn góp đó Tuy nhiên, các công ty cổ phần cũng có nhiều dạng khácnhau theo đó cách thức huy động vốn cũng khác nhau Các loại hình doanh nghiệpkhác như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài,nguồn vốn cũng tương tự như trên, tức là vốn có thể do chủ đầu tư bỏ ra hoặc docác bên tham gia, đối tác đúng gúp… Tỷ lệ và quy mô vốn góp của các bên thamgia phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố (luật pháp, đặc điểm kinh tế kỹ thuật, cơ cấu liêndoanh…) Vốn tự có được bổ sung từ lợi nhuận giữ lại
Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có thể tăng hoặc giảm tùy thuộc vào mụcđích của các nhà quản lý Giảm vốn bằng cách giảm vốn ngân sách Nhà nước hoặcmua lại cổ phiếu Tăng vốn bằng cách giữ lại lợi nhuận hoặc phát hành thêm cổphiếu mới
Lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận được sử dụng để tái đầu tư và mởrộng SXKD Nếu doanh nghiệp hoạt động một cách hiệu quả thì doanh nghiệp đó sẽ
có điều kiện thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn chủ Tự tài trợ bằng lợi nhuậnkhông chia là một phương thức để tạo nguồn tài chính khá quan trọng và hấp dẫncủa doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài.Chính vì thế, rất nhiều doanh nghiệp coi trọng chính sách tái đầu tư từ lợi nhuận giữ
Trang 14lại Trong mỗi kỳ SXKD, doanh nghiệp lại đặt ra mục tiêu phải có một khối lượngnhất định lợi nhuận giữ lại đủ lớn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng lên.
Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận chỉ có thể thực hiện được nếu như doanhnghiệp đã và đang hoạt động có hiệu quả và có lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu tư.Với các doanh nghiệp Nhà nước thì việc giữ lại lợi nhuận tái đầu tư không chỉ phụthuộc vào việc doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu lợi nhuận trong kỳ kế toán màcòn phụ thuộc nhiều vào chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước
Tuy nhiên, đối với các công ty cổ phần thì việc giữ lại lợi nhuận liên quanđến một vấn đề khá nhạy cảm của doanh nghiệp Khi công ty giữ lại một phần lợinhuận trong năm tái đầu tư nghĩa là giảm bớt lượng tiền dùng để chi trả cổ tức chocác cổ đông Trong ngắn hạn, do các cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức, điềunày làm giảm sức hấp dẫn của cổ phiếu Bù lại, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽtăng lên cùng với việc tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ, các cổ đông có quyền sởhữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty, điều này khuyến khích giữ lại cổ phiếucủa công ty trong dài hạn
Phát hành cổ phiếu được gọi là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp.Phát hành cổ phiếu chính là kênh huy động nguồn tài chính dài hạn hiệu quả chodoanh nghiệp Sở dĩ như vậy là do cổ phiếu mà doanh nghiệp phát hành sẽ trở thànhnhững chứng khoán quan trọng nhất được trao đổi và mua bán trên thị trường chứngkhoán Sau khi phát hành, phần lớn những cổ phiếu nằm trong tay các nhà đầu tư –các cổ đông, quyền sở hữu công ty bị phân tán Vì thế mặc dù việc phát hành cổphiếu có nhiều ưu thế hơn so với các phương thức huy động vốn khác nhưng trướcnhững hạn chế và ràng buộc của nó, doanh nghiệp cũng cần có những thận trọngnhất định và cân nhắc kỹ lưỡng trước mỗi đợt phát hành cổ phiếu
b, Vốn nợ
Nhu cầu vốn của doanh nghiệp thường xuyên phát sinh và không chỉ dừnglại ở một mức nhất định nào đó Một khi doanh nghiệp đi vào đầu tư máy móc thiếtbị, mở rộng sản xuất thì cũng đồng thời với đó xuất hiện nhu cầu về vốn Để bổsung vốn, doanh nghiệp có thể sử dụng nợ từ các nguồn tín dụng và phát hành tráiphiếu
Vai trò của tín dụng (bao gồm cả tín dụng ngân hàng và tín dụng thươngmại) là cung cấp vốn cho doanh nghiệp và các tổ chức có nhu cầu; tạo điều kiện
Trang 15thúc đẩy nền kinh tế quốc dân Có thể nói rằng đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớnvà quan trọng nhất trong tổng vốn của các doanh nghiệp Không một doanh nghiệpnào không vay vốn ngân hàng hoặc không sử dụng tín dụng thương mại nếu doanhnghiệp đó muốn tồn tại bền vững trên thương trường
Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay ngân hàng để đảmbảo nguồn tài chính cho hoạt động SXKD, đặc biệt đảm bảo đủ vốn cho các dự ánmở rộng hoặc đầu tư chiều sâu Tùy theo sự lựa chọn chính sách tài trợ phù hợp màdoanh nghiệp tiến hành vay dài hạn, trung hạn hay ngắn hạn Thường thì doanhnghiệp sẽ lấy những khoản vay ngắn hạn tài trợ cho tài sản ngắn hạn, và sử dụngkhoản vay dài hạn tài trợ cho tài sản dài hạn Cơ cấu tài trợ này nhằm đảm bảo antoàn tài chính cho doanh nghiệp Tuy nhiên, trong từng giai đoạn sản xuất khácnhau và với các mục tiêu khác nhau, chính sách tài trợ của doanh nghiệp có thể thayđổi Và cũng từ đó làm thay đổi luôn cả tỷ trọng vốn vay dài hạn, trung hạn và ngắnhạn trong tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp
Mặc dù nguồn vốn tín dụng ngân hàng có rất nhiều ưu điểm, nhưng nguồnvốn này cũng có những mặt hạn chế nhất định Đó là các hạn chế về điều kiện tíndụng, kiểm soát từ phí ngân hàng, chi phí sử dụng vốn (lãi vay)… Trong quá trìnhtrao đổi, mua bán không phải lúc nào doanh nghiệp cũng trả đủ tiền cho đối tác Khixuất hiện mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp thì tín dụng thương mại cũngđược hình thành từ đõy Nú tồn tại dưới hình thức các khoản phải trả của doanhnghiệp, có thể chiếm đến 20%, thậm chí là 40% tổng nguồn vốn
Đối với doanh nghiệp thì tín dụng thương mại là một phương thức tài trợ rẻ,linh hoạt và tiện dụng trong kinh doanh Nó tạo ra khả năng mở rộng các quan hệhợp tác kinh doanh lâu bền Các điều kiện ràng buộc có thể được ấn định khi haibên ký kết hợp đồng mua bán hay hợp đồng kinh tế nói chung Tuy nhiên, khi màquy mô tài trợ là khá lớn sẽ đi kèm với đó rủi ro thanh toán
Chi phí của tín dụng thương mại có thể ẩn dưới các hình thức thay đổi mứcgiá, tùy thuộc vào quan hệ và thỏa thuận cụ thể giữa cỏc bờn Trong xu thế pháttriển ngày nay, các hình thức tín dụng ngày càng đa dạng với tính chất cạnh tranhhơn, do đó các doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội hơn để có thể lựa chọn nguồnvốn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp
Trang 16Trái phiếu là một công cụ huy động nợ dài hạn của doanh nghiệp Tuy nhiên,vấn đề cần xem xét trước khi phát hành trái phiếu là việc lựa chọn loại trái phiếunào phù hợp nhất với điều kiện cụ thể cho doanh nghiệp và tình hình trên thị trườngtài chính Thị trường tài chính hiện nay thường lưu hành những loại trái phiếudoanh nghiệp như sau: Trái phiếu có lãi suất cố định, trái phiếu có lãi suất thả nổi,trái phiếu có thể thu hồi, trái phiếu chuyển đổi Mỗi trái phiếu lại có những ưu,nhược điểm riêng liên quan đến cách thức trả lãi và chi phí trả lãi, khả năng lưuhành và tính hấp dẫn của trái phiếu Điều này đặt doanh nghiệp trong sự lựa chọnloại trái phiếu mang lại hiệu quả phù hợp nhất với tình hình doanh nghiệp.
Đặc trưng của vốn vay là doanh nghiệp buộc phải tiến hành việc hoàn trả cảgốc và lãi trong một thời gian cố định Lãi suất – hay chi phí vốn vay được tính vàochi phí hợp lý của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được một khoảntiết kiệm về thuế Tuy vậy nó cũng đặt ra yêu cầu cho doanh nghiệp trong việc sửdụng hiệu quả nguồn vốn, đảm bảo khả năng thanh khoản
1.1.2.3 Dựa trên thời gian huy động.
Xét theo thời gian huy động thì vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chialàm hai loại:
a Nguồn tài trợ ngắn hạn
Đây là nguồn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng dài hạnvào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như đầu tư mua sắm TSCĐ và một bộphận tài sản lưu động tối thiểu cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp.Nú cú ưu điểm là giúp cho doanh nghiệp giải quyết được nhiều vấnđề có tính chất dài hạn mà không gặp khó khăn trong vấn đề thanh toán hoàntrả.nguồn tài trợ dài hạn có thể nhận được dưới hình thức vay nợ dài hạn,vốn cổphần hoặc mua bán trao đổi các công cụ tài trợ dài hạn trên thị trường vốn như:cổphiếu,trỏi phiếu và các hình thức tài trợ tín dụng khác
Cổ phiếu thường
Cổ phiếu thường là loại cổ phiếu thông dụng nhất vì nó có ưu thế trong việcphát hành ra công chúng và trong quá trình lưu hành trên thị trường chứng khoán.Cổ phiếu thường là chứng khoán quan trọng nhất được trao đổi, mua bán trên thịtrường chứng khoán, điều đó cũng đủ để minh chứng tầm quan trọng của nó so vớicác công cụ tài chính khác
Trang 17Mặc dù việc phát hành cổ phiếu có nhiều ưu thế so với các phương thức huy độngvốn khác nhưng cũng có những hạn chế và các ràng buộc cần được doanh nghiệp cân nhắc
kỹ lưỡng Giới hạn phát hành là một quy định ràng buộc có tính pháp lý Lượng cổ phiếu tối
đa mà công ty được quyền phát hành gọi là vốn cổ phiếu được cấp phép Đây là một trongnhững quy định của Ủy ban chứng khoán Nhà nước nhằm quản lý và kiểm soát chặt chẽ cáchoạt động phát hành và giao dịch chứng khoán
Tổng số lượng cổ phần tối đa mà công ty được phép phát hành gọi là vốn cổphần và:
Vốn cổ phần = Tổng giá trị tài sản - Các khoản nợ Các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường chính là những người sở hữu công ty,
có quyền tham gia kiểm soát và điều khiển các công việc của công ty tùy theo lượngcổ phần mà họ nắm giữ
Tuy nhiên trong mọi trường hợp phát hành cổ phiếu để huy động vốn công
ty cần phải lưu ý đến vấn đề bảo vệ công ty trước sự thôn tính bằng cổ phiếu củacác công ty khác điều đó có nghĩa là công ty phải tính đến lượng cổ phiếu tối thiểumà mỗi cổ đông được phép nắm giữ để duy trò tỉ lệ cân đối về sở hữu công ty
Cổ phiếu ưu tiên:
Cổ phiếu ưu tiên là loại cổ phiếu có tỉ lệ cổ tức cố định Người chủ của cổphiếu ưu tiên có quyền được thanh toán lãi trước các cổ đông thường Nếu số lợinhuận ròng chỉ đủ để trả cổ tức cho các cổ đông ưu tiên thỡ cỏc cổ đông thường sẽkhông được nhận cổ tức của kỳ đó Thông thường trong tổng số vốn huy động thì cổphiếu ưu tiên chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành.Nhưng trong trường hợp công ty muốn tăng vốn chủ sở hữu chống lại sự phá sảncủa công ty nhưng không mốn san sẻ quyền lãnh đạo thì cổ phiếu ưu tiên lại là công
cụ hữu hiệu nhất do đặc điểm của cổ phiếu ưu tiên là các cổ đông ưu tiên rất hiếmkhi có quyền bỏ phiếu đầy đủ như cổ đông cổ phiếu thường Chỉ trong trường hợpcác cổ phiếu ưu tiên không được trả cổ tức thỡ cỏc cổ đông ưu tiên mới có thể đượcquyền bỏ phiếu.v.v
Trái phiếu công ty:
Trái phiếu công ty là các giấy vay nợ dài hạn và trung hạn do công ty pháthành, thể hiện nghĩa vụ và sự cam kết của doanh nghiệp thanh toán số lợi tức và tiền
Trang 18vay vào những thời hạn đã xác định cho người nắm giữ Khi đưa ra phương án huyđộng vốn bằng cách phát hành trái phiếu thì một trong những vấn đề cần xem xéttrước khi phát hành là lựa chọn loại trái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện cụ thểcủa doanh nghiệp và tình hình trên thị trường tài chính Việc lựa chọn trái phiếuthích hợp là rất quan trọng và có liên quan đến chi phí trả lãi, khả năng lưu hành vàtính hấp dẫn của trái phiếu Tùy theo tập quán từng nước các công ty phát hành tráiphiếu với những kỳ hạn khác nhau Trên thực tế trái phiếu công ty có rất nhiều loạimỗi loại lại có những đặc điểm khác nhau như chi chí trả lãi, cách thức trả lãi, khảnăng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu Vì vậy trước khi phát hành nhà pháthành cần phải hiểu rõ đặc điểm và ưu nhược điểm của mỗi loại trái phiếu Nếu nhưdoanh nghiệp phát hành trái phiếu có lãi suất cố định (lãi suất được ghi ngay trênmặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó) Nhưng khi phát hànhloại trái phiếu này thì uy tín của doanh nghiệp cũng rất quan trọng.
b Nguồn tài trợ dài hạn.
Là nguồn tài trợ mà sau khi huy động thời gian sử dụng vốn ngắn (dưới 1
năm) , doanh nghiệp chỉ có thể sử dụng vốn huy động từ những nguồn này để đápứng nhu cầu tạm thời về vốn phát sinh bất thường trong quá trình hoạt đọng kinhdoanh Nguồn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngận hàng và các tổ chức tớndụng,cỏc khoản nợ người cung cấp, nợ tiền lương và bảo hiểm người lao động Tín dụng nhà cung cấp (tín dụng thương mại):
Tín dụng thương mại là các khoản mua chịu người cung cấp hoặc ứng trướccủa khách hàng mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng Tín dụng thương mại luôngắn với một luồng hàng hóa dịch vụ cụ thể, gắn với một quan hệ thanh toán cụ thểnờn nú chịu sự tác động của cơ chế thanh toán của chính sách tín dụng khách hàngmà doanh nghiệp được hưởng Công cụ để thực hiện loại tín dụng này phổ biến làdùng kỳ phiếu và hối phiếu Với sự phát triển của hệ thống ngân hàng những người
"cho vay" hoàn toàn có thể dễ dàng chiết khấu các thương phiếu để lấy tiền phục vụcho những nhu cầu riêng khi thương phiếu chưa đến hạn thanh toán
Đây là phương thức tài trợ linh hoạt trong kinh doanh và nú cũn có khả năng mởrộng quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền Tuy nhiên các khoản tín dụng thươngmại thường có thời hạn ngắn nhưng nếu doanh nghiệp biết quản lý một cách khoa học thì
có thể đáp ứng được phần nào nhu cầu vốn lưu động cho doanh nghiệp
Trang 19Vay theo hạn mức tín dụng:
Hạn mức tín dụng là một hạn mức vay do ngân hàng và khách hàng thỏa thuậntrước với nhau mà khi khách hàng có nhu cầu vay nằm trong hạn mức này thỡ ngõnhàng không cần phải thẩm định, khách hàng cũng không phải thế chấp Và cũng tronghạn mức tín dụng công ty có thể rút hoặc chi tiền vượt quá số dư trong tài khoản Hạnmức tín dụng được xác định dựa trên nhu cầu vốn bổ sung cảu doanh nghiệp và mức chovay tối đa mà ngân hàng có thể chấp nhận ngoài ra nú cũn phụ thuộc vào mối quan hệgiữa ngân hàng và khách hàng và sự hiểu biết tin tưởng giữa hai bên
Thư tín dụng:
Thư tín dụng là một bản cam kết trả tiền được sử dụng trong nhập khẩu hànghóa Khi nhà nhập khẩu hàng hóa không có tiền trên tài khoản thì có thể đề nghịngân hàng cung cấp tín dụng để mua hàng từ một nhà xuất khẩu nước ngoài dướihình thức mở thư tín dụng đảm bảo việc trả tiền cho nhà xuất khẩu thông qua ngânhàng phục vụ bên bán Khi nhận được thông báo của ngân hàng phục vụ mình là đó
cú thuờ tín dụng thì hàng hóa của nhà xuất khẩu được chuyển đi, còn việc thanhtoán sẽ là của ngân hàng phục vụ bên mua và bên bán
Cho vay theo hợp đồng:
Trong trường hợp này ngân hàng sẽ cho vay theo các hợp đồng được kí kếtgiữa công ty và khách hàng về sản xuất gia công Hình thức cho vay này tỏ ra tươngđối phù hợp đối với những doanh nghiệp nhỏ
Cho vay có đảm bảo:
Cho vay có đảm bảo có ba hình thức là tạo vốn bằng cách bán nợ, vay ngắnhạn bằng cách thế chấp khoản thu, vay thế chấp bằng hàng hóa và chiết khấuthương phiếu
Tạo vốn bằng cách bán nợ:
Công ty có thể gia tăng nguồn vốn ngắn hạn của mình bằng cách bán nhữngkhoản nợ mà các tác nhân kinh tế khác nợ mình, các tổ chức mức nợ thường là mộtngân hàng, một công ty tài chính hay một công ty mua nợ, lúc đó sẽ phát sinh mộtquan hệ kinh tế của người nợ cũ và chủ nợ mới là bên mua nợ, bên mua nợ sẽ căncứ vào chứng từ để thu hồi nợ Những khoản nợ được mua cao hay thấp tùy thuộcvào tính chất mà mức độ khú đũi
Trang 20Vay ngắn hạn bằng cách thế chấp khoản phải thu:
Theo phương thức này, công ty có thể đem hóa đơn thu tiền để làm vật bảođảm cho các khoản vay Số tiền mà các ngân hàng cho vay tùy thuộc vào mức độrủi ro của các hóa đơn thu tiền nhưng thông thường tỉ lệ giá trị cho vay chiếmkhoảng 30-90% giá trị danh nghĩa của hóa đơn thu tiền
Vay thế chấp bằng hàng hóa:
Cũng tương tự như các hóa đơn thu tiền hàng hóa cũng có thể được mang rathế chấp bảo đảm cho những khoản vay ngắn hạn Số tiền mà ngân hàng cho vaykhông chỉ phụ thuộc vào giá trị thực của hàng hóa thế chấp mà còn phụ thuộc vàotính chất chuyển đổi của hàng hóa thành tiền và tính ổn định về giá cả của các loạihàng húa đú Hàng hóa dễ vẫn chuyển và hàng hóa có giám định chất lượng thì độrủi ro cao hơn nên ngân hàng cho vay với tỉ lệ thấp so với giá trị của hàng hóa đemthế chấp
Chiết khấu thương hiệu:
Là nghiệp vụ qua đó ngân hàng dành cho khách hàng được quyền sử dụngcho đến kỳ hạn của thương phiếu một khoản tiền của thương phiếu sau khi đã trừkhoản lãi phải thu, tức tiền chiết khấu và các khoản chi phí chiết khấu
Cách phân loại ngồn tài trợ thành nguồn tài trợ ngắn hạn và nguồn tài trợ dàihạn như trên giúp cho doanh nghiệp có thể tiết kiệm được nhiều chi phí huy động.Phân bổ nguồn vốn huy động một cách hợp lý hơn tùy theo nhu cầu vốn lớn haynhỏ, thời gian ngắn hay dài Bên cạnh đú,thụng qua các nguồn tài trợ doanh nghiệpcòn có thể thiết lập một cơ cấu vốn tồi ưu cho phù hợp với đặc điểm kinh tế ký thuậtsản xuất, phù hợp với trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và trình độ quản lý đểtạo điều kiện tiền đề cho việc quản lý và sử dụng vốn một cách hợp lý và hiệu quảnhất
1.1.3 Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp
Trước hết vốn là tiền đề cho sự ra đời của doanh nghiệp Về phía nhà
nước,bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải đăng ký vốn điều lệ nộp cùng hồ sơxin đăng ký kinh doanh Vốn đầu tư ban đầu này sẽ là một trong những cơ sở quantrọng để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét liệu doanh nghiệp này có tồn tạitrong tương lai hay không và trên cơ sở đó, sẽ cấp hay không cấp giấy chứng nhận
Trang 21đăng ký kinh doanh Về phía doanh nghiệp Vốn điều lệ sẽ là nền móng cho doanhnghiệp đặt những viên gạch đầu tiên cho sự hình thành của doanh nghiệp trong hiệntại và phát triờ̉n trong tương lai.
Nếu nền móng vững chắc, vốn điều lệ càng lớn thì doanh nghiệp càng có cơhội phát triển Vốn thấp, nền móng yếu, doanh nghiệp phải đấu tranh với sự tồn tạicủa mình và dễ rơi vào tình trạng phá sản Nói tóm lại, vốn là lượn tiền đại diện choyếu tố đầu vào của doanh nghiệp Có yếu tố đầu vào của doanh nghiệp mới tiếp tụcsản xuất kinh doanh Trong gian đoạn sản xuất, doanh nghiệp phải trả lương chocông nhân viên, chi phí bảo trì máy móc , thành phẩm khi chưa bán cũng đều cầnđến vốn của doanh nghiệp Khách hàng khi mua chưa thanh toán ngay cũng chiếmdụng vốn của doanh nghiờp
1.1.3.1 Vốn là điều kiện tiền đề cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Một quá trình sản xuất kinh doanh sẽ được diễn ra khi có 3 yếu tố: vốn, laođộng và yếu tố công nghệ Trong ba yếu tố đú thỡ yếu tố vốn là điều kiện tiền đề cóvai trò quan trọng nhất, nó quyết định đầu tiên việc sản xuất kinh doanh có thànhcông hay không
Khi sản xuất, doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn để mua nguyên liệuđầu vào, thuê công nhân, mua thông tin trên thị trường, mua bằng phát minh sángchế Bởi vậy, có thể nói yếu tố vốn là điều kiện đầu tiên cho yếu tố cầu về lao độngvà công nghệ được đáp ứng đầy đủ
1.1.3.2 Vốn quyết định sự ổn định và liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh.
Khi yêu cầu về vốn, lao động, công nghệ được đảm bảo, để quá trình sảnxuất được diễn ra liên tục thì vốn phải được đáp ứng đầy đủ, kịp thời và liên tục Tathấy có rất nhiều loại hình doanh nghiệp nên có nhu cầu về vốn cũng khác nhau.Hơn nữa, các quá trình sản xuất cũng khác nhau nờn dựng vốn lưu động cũng khácnhau Nhu cầu vốn lưu động phát sinh thường xuyên như mua thờm nguyờn vậtliệu, mua thêm hàng để bán, để thanh toán, để trả lương, để giao dịch Hơn nũatrong quá trình sản xuất kinh doanh của mỡnh thỡ cỏc doanh nghiệp không phải lúcnào cũng có đầy đủ vốn Có khi thiếu, có khi thừa vốn,điều này là do bán hàng chưađược thanh toán kịp thời,hoặc hàng tồn kho quá nhiều chưa tiêu thụ được, hoặc domáy móc hỏng,chưa sản xuất được Những lúc thiếu hụt như vậy thì việc bổ sungvốn kịp thời là rất cần thiết vỡ nú đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh đượcliên hoàn
Trang 221.1.3.3 Vốn đối với sự phát triển của doanh nghiệp
Ngày nay, việc nước ta chuyển sang nền kinh tế thì trường đã xuất hiện nhiềuloại hình doanh nghiệp khác nhau Kinh doanh trờn cỏc lĩnh vự khỏc nhau.Vỡ vậy,muốn tồn tại thì doanh nghiệp phải phát triển, cạnh tranh được với các doanhnghiệp khỏch.trong khi các đối thủ cạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt Hơnnữa đòi hỏi của khách hàng ngày càng cao Vì vậy cần phải đầu tư cho công nghệhiện đại, tăng quy mô sản xuất, hạ giá thành nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sảnphẩm ngày càng tốt hơn Những yêu cầu tất yếu ấy đòi hỏi doanh nghiệp phải cạnhtranh để phát triển thì cần phải có vốn
Qua những phân tích trên ta thấy được tầm quan trọng của vốn Vốn tồn tạitrong mọi giai đoạn trong quá trình sản xuất
1.2 Hiợ̀tu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả là một thuật ngữ mang tính trừu tượng, do đó để hiểu chính xác thìphải gắn hiệu quả với một đối tượng nghiên cứu cụ thể Một cách tổng quát nhất,hiệu quả chính là mối tương quan giữa đầu vào của các yếu tố khan hiếm với đầu rahàng hóa dịch vụ Mối tương quan này có thể đo bằng hiện vật được gọi là hiệu quả
kỹ thuật, hoặc theo chi phí được gọi là hiệu quả kinh tế
Trong hoạt động SXKD, vốn được sử dụng nhằm thu lợi nhuận trong tươnglai nên hiệu quả SXKD thường được đánh giá trên sự so sánh tương đối giữa lợinhuận và vốn bỏ ra để có được lợi nhuận đó Như vậy, hiệu quả sử dụng vốn là mộtbộ phận của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sử dụng vốn thể hiện trên hai mặt, bảo toàn vốn và tạo ra được cáckết quả theo mục tiêu kinh doanh, trong đó đặc biệt là sức sinh lời của đồng vốn.Bảo toàn vốn có nghĩa là với một đồng vốn bỏ ra ban đầu, sau một quá trình sửdụng, doanh nghiệp phải thu hồi và bảo đảm hoàn trả cho các nhà đầu tư đúng sốvốn đó Phát triển vốn có nghĩa là doanh nghiệp dựa trên số vốn ban đầu đó để tạo
ra thêm giá trị, biểu hiện ở kết quả lãi lỗ trong kỳ
Kết quả lợi ích tạo ra do việc sử dụng vốn phải thỏa mãn hai yêu cầu là đápứng được lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích của nhà đầu tư ở mức độ mong muốncao nhất, đồng thời nâng cao lợi ích của nền kinh tế xã hội Lợi ích tạo ra cho chính
Trang 23doanh nghiệp được coi là lợi ích trực tiếp, lợi ích tạo ra cho xã hội là lợi ích giántiếp Hay nói cách khác thì hiệu quả sử dụng vốn bao gồm hiệu quả trực tiếp và hiệuquả gián tiếp Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, bất cứ một doanh nghiệp nàotạo ra nhiều lợi nhuận cho chính mình nhưng lợi nhuận đó lại đi ngược với đạo đứcxã hội, làm tổn hại đến lợi ích chung của toàn xã hội thì sẽ bị đào thải Nếu doanhnghiệp hoạt động mang lại lợi ích cho nền kinh tế nhưng bản thân lại bị lỗ thì doanhnghiệp đó bị phá sản Vậy sử dụng vốn có hiệu quả phải đảm bảo cân bằng giữa lợiích doanh nghiệp và lợi ích kinh tế xã hội.
Tóm lại, hiệu quả sử dụng vốn chỉ là một chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinhdoanh, song nó lại là chỉ tiêu quan trọng nhất Hiệu quả vốn là một phạm trù kinh tếphản ánh trình độ năng lực khai thác và sử dụng vốn, tài sản vào hoạt động SXKDnhằm mục đích tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí Muốn nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp phải đảm bảo các điều kiện khai thác vốn triệt để,tức là vốn phải vận động sinh lời không để nhàn rỗi Bên cạnh đó việc sử dụng vốnphải tiết kiệm và phù hợp với việc dùng vốn vào mục đích sao cho hiệu quả Quảnlý vốn chặt chẽ chống thất thoát, lạm dụng chức quyền vào việc sai mục đích
1.2.2 Tầm quan trọng của việc bâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Thứ nhất, nõng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo an toàn tài chính cho
doanh nghiệp.Việc sử dụng vốn có hiệu quả giúp doanh nghiệp có uy tín huy độngvốn tài trợ dễ dàng Khả năng thanh toán cao thì doanh nghiệp mới hạn chế nhữngrủi ro và mới phát triển được
Thứ hai, nõng cao hiệu quả sử dụng cốn giúp doanh nghiệp nâng cao uy ín
của mỡnh trờn thị trường, nâng cao mức sống của cán bộ công nhân viên Khidoanh nghiệp làm ăn có lãi thì tác động tích cực không chỉ đóng góp đầy đủ vàongân sách nhà nước mà cải thiện việc làm cho người lao động, tạo điều kiện thuậnlợi cho các cá nhân tự khẳng định mình trong môi trường cạnh tranh lành mạnh
Thứ ba, nõng cao hiệu quả sử dụng vốn tạo điều kiện giỳp cỏc doanh nghiệp
tăng khả năng cạnh tranh của mỡnh trờn thị trường Từ khi đất nước chuyển sangnên kinh tế thì trường thì kéo theo đó là sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt Canhtranh là quy luật tất yếu của thị trường, cạnh tranh để tồn tại Khi doanh nghiệp làm
ăn không hiệu quả,doanh nghiệp mở rộng quy mô, đầu tư vào công nghệ hiện đại để
Trang 24nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, đào tạo đội ngũ cán bộ chất lượng tay nghềcao
Vì vậy việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệpkhông những đem lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp và người lao động mà
nú cũn tác động tới cả nền kinh tế xã hội
1.2.3 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Như phần trên đã đề cập, hiệu quả sử dụng vốn thể hiện một mặt ở hiệu quảkinh tế, phản ánh trình độ quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp trong điều kiệncác nguồn lực đã được xác định phù hợp với mục tiêu kinh doanh Vậy bằng cáchnào để có thể đánh giá được việc sử dụng vốn của doanh nghiệp đã hiệu quả haychưa? Cần phải tiến hành phân tích dựa trên những số liệu từ báo cáo tài chính vàtùy theo những trường hợp nhất định, từng doanh nghiệp sẽ xác định các chỉ tiêuđánh giá hiệu quả sử dụng vốn dưới đây
1.2.3.1 Các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn cố định
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định (Sức sản xuất của TSCĐ): cho biết cứ một
đồng TSCĐ tham gia vào quá trình SXKD trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thuthuần
Hiệu suất sử dụng TSCĐ= Doanh thu thuần
TSCĐ sử dụng bình quân trong kỳTrong đó:
TSCĐ sử dụng bình quân trong kỳ= Nguyên giá TSCĐ đầu kỳ + Nguyên giá TSCĐ cuối kỳ
2
Sử dụng hiệu suất sử dụng tài sản cố định đo lường hiệu quả quản trị bộ phậntài sản dài hạn quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh trong các doanhnghiệp Thông thường một doanh nghiệp có hiệu suất sử dụng tài sản cố định giảm,thể hiện công tác quản lý tài sản cố định chưa tốt
Mức độ và xu hướng của hệ số này chịu ảnh hưởng của những nhân tố đặctrưng cấu thành nên nó: vòng đời của một công ty hoặc chu kì sống của sản phẩm,mức độ hiện đại hay lạc hậu của công nghệ, phương pháp khấu hao tài sản cố định,
Trang 25thời điểm hình thành nên TSCĐ… Bởi vậy, khi phân tích cần phải xem xét mộtcách thận trong xu hướng diễn biến của hệ số này.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định: cho biết một đồng VCĐ tham gia vào quá
trình SXKD có thể góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng caothì hiệu quả sử dụng vốn càng tốt
Hiệu suất sử dụng vốn cố định = Doanh thu thuần trong kỳ
Vốn cố định sử dụng bình quân trong kỳTrong đó:
Khấu hao lũy kế
cuối kỳ = Khấu hao đầu kỳ +
Khấu hao tăngtrong kỳ -
Khấu hao giảmtrong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định: phản ánh số lợ̀i nhuận tạo ra khi bỏ một
đồng VCĐ vào SXKD Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động càng có hiệu quả.
Tỷ suất lợi nhuận vốn
Trang 261.2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động Trong quá trìnhsản xuất kinh doanh, vốn lưu động của doanh nghiệp liên tục vận động qua các giaiđoạn khác nhau của chu kỳ sản suất kinh doanh Mỗi giai đoạn hình thức biểu hiệncủa vốn lưu động sẽ thay đổi, đầu tiên là vốn tiền lệ – vốn dự trữ sản xuất – vốn sảnxuất – vốn trong thanh toán và quay trở lại vốn tiền lệ
Vòng quay hàng tồn kho: chỉ tiêu này cho biết số lần trung bình hàng tồn kho
luân chuyển trong kỳ
Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quânMuụ́n biờ́t sụ́ ngày của một vòng quay hàng tồn kho có thể xác định bằngcông thức:
Số ngày 1 vòng quay hàng tồn kho = Số ngày trong kỳ phân tích
Vòng quay hàng tồn kho
Số ngày của một vòng quay hàng tồn kho là khoảng thời gian từ khi doanhnghiệp bỏ tiền mua nguyên vật liệu đến khi sản xuất xong sản phẩm, kể cả thời gianlưu kho
Các hệ số này được sử dụng để đánh giá hiệu quả quản trị hàng tồn kho củadoanh nghiệp
Kỳ thu tiền bình quân: chỉ tiêu này cho biết khoảng thời gian trung bình
từ khi doanh nghiệp xuất hàng đến khi doanh nghiệp thu đượ̀c tiờtn vờt Thông thường, khi chỉ tiêu Kỳ thu tiền bình quân thấp nói lên rằng doanh nghiệp đang quản lý các khoản phải thu hiệu quả, vốn đầu tư cho các khoản phải thu ít hơn.
Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu x Số ngày trong kỳ
Doanh thu thuần
Vòng quay vốn lưu động: phản ánh số lần luân chuyển của VLĐ trong năm.
Vòng quay VLĐ càng lớn, VLĐ luân chuyển càng nhanh, hoạt động kinh doanh của
Trang 27doanh nghiệp càng có hiệu quả Chỉ tiêu Vòng quay vốn lưu động càng cao thì sốngày cần thiết để vốn lưu động quay được 1 vòng càng giảm và ngược lại.
Vòng quay vốn lưu động= Doanh thu thuần
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Mức đảm nhiệm vốn lưu động: chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp cần phải
bỏ ra bao nhiêu đồng VLĐ để đạt được một đồng doanh thu Vì vậy chỉ tiêu nàycàng nhỏ càng tốt
Mức đảm nhiệm vốn lưu động= Vốn lưu động sử dụng bình quân trong kỳ
Doanh thu thuần
Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động: phản ánh khả năng sinh lợi của VLĐ, cho
biết cứ một đồng VLĐ bỏ ra trong kỳ sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Vì thếchỉ tiêu này càng cao càng tốt
Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu
động=
Lợi nhuận sau thuếVốn lưu động sử dụng bình quân trong kỳ
1.2.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá tổng vốn
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trước hết phải đánh giá một cách tổng hợp.Lợi nhuận hay rõ hơn là lợi nhuận sau thuế phản ánh một cách rất tổng quát kết quảhàng loạt các biện pháp quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp Vì vậy, để đánhgiá hiệu quả sử dụng vốn một cách tổng thể, doanh nghiệp thường sử dụng các hệ
số khả năng sinh lời
Các hệ số đo lường khả năng sinh lời chỉ ra các hiệu ứng kết hợp của thanhkhoản, quản lý tài sản và quản lý nợ đối với các kết quả hoạt động
Tỷ suất sinh lợi trên tài sản: chỉ tiêu này đo lường sức mạnh tạo thu nhập của
tài sản sau thuế và lãi vay, cứ một trăm đồng tài sản hiện có trong doanh nghiệpmang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế
Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) = Lợi nhuận Trước thuế
Tổng tài sản
Trang 28Tỷ suất sinh lợi vốn chủ sở hữu: phản ánh mức độ thu nhập của các khoản
đầu tư của cổ đông Chỉ tiêu này nói lên với một trăm đụ̀ng vụ́n chủ sở hữu đem đầu
tư mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Việc tăng mức doanh lợi vốn chủ làmột mục tiêu quan trọng trong hoạt động quản lý tài chính của doanh nghiệp Hệ sốnày càng cao, càng làm hài lòng chủ sở hữu
Mối quan hệ tương quan giữa hai tỷ suất sinh lời này có ảnh hưởng quan
Mô hình Du Pont rút gọn chỉ ra các mối quan hệ giữa ROI, hiệu suất sử dụngtài sản và doanh lợi doanh thu
Doanh thu Tổng tài sản
hay
Tỷ suất sinh lời
trên tổng tài sản = Doanh lợi doanh thu x
Hiệu suất sử dụngtổng tài sảnTỷ suất sinh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) = Lợi nhuận trước thuế
Vốn chủ sở hữu
Trang 29Tuy nhiên, cũng có những giới hạn và vấn đề cố hữu đối với phân tích hệ số.
Do vậy, đòi hỏi khi phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp chúng ta phảicẩn trọng và có những đánh giá và điều chỉnh cần thiết
Các hệ số thường không hữu ích cho việc phân tích hoạt động của các doanhnghiệp lớn, kinh doanh trong nhiều ngành khác nhau, bởi vì các hệ số so sánh làkhông có ý nghĩa
Việc sử dụng các con số bình quân của ngành có thể không tạo ra động lựcthách thức để đạt được kết quả cao
Lạm phát tác động vào chi phí khấu hao, chi phí hàng tồn kho, và vì thế tácđộng vào giá trị của cả các khoản mục trên bảng cân đối kế toán và lợi nhuận sauthuế Vì lý do này, việc phân tích một doanh nghiệp qua thời gian, hay so sánh cácdoanh nghiệp qua thời kỳ khác nhau có thể dẫn đến sai lầm
Các hệ số có thể bị bóp méo bởi các nhân tố có tính mùa vụ, hay bị biến dạngbởi các nhà quản lý để tạo ra ấn tượng về tình hình tài chính lành mạnh
Các chính sách họat động và các biện pháp thực hành kế toán khác nhauchẳng hạn như quyết định thuê chứ không phải là mua thiết bị có thể bóp méo (sailệch) các kết quả so sánh
Nhiều hệ số có thể được giải thích theo những cách khác nhau, và một hệ số
cụ thể là tốt hay xṍu nờn được dựa trên việc phân tích tài chính hoàn chỉnh, chứkhông phải chỉ dựa trên mức độ của chính hệ số đó tại một thời điểm
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn
1.4.1 Nhóm các nhân tố chủ quan
Trình độ bộ máy quản lý và nhân công lao động
Có thể nói, nhân tố con người là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến hiệu quả sửdụng vốn, gắn liền với trình độ quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp Nhân tốcon người ở trong mỗi doanh nghiệp chính là lực lượng lao động, bộ máy quản lýmà trước hết là người chủ doanh nghiệp Là người chịu trách nhiệm mọi vấn đề vềtài chính, chủ doanh nghiệp cần phải có những quyết định đúng đắn, phù hợp với xuhướng phát triển của doanh nghiệp Nếu như cách thức quản lý và sử dụng tiền vốn,tài sản của chủ doanh nghiệp hợp lý thì doanh nghiệp đó sẽ có lãi, vốn được sử
Trang 30dụng một cách tiết kiệm, mang lại hiệu quả cao nhất Ngược lại thì doanh nghiệpchỉ có thua lỗ, dẫn tới lãng phí nguồn vốn, thậm chí mất vốn.
Để có những quyết định đúng đắn, người chủ doanh nghiệp bắt buộc phải cósự hỗ trợ đắc lực từ đội ngũ tham mưu, đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp Vớimột đội ngũ giỏi, có trình độ chuyên môn, năng động sáng tạo, phản ánh đầy đủ vàkịp thời tình hình sản xuất, tình hình sử dụng vốn thì vấn đề quản lý và sử dụng vốnhiệu quả trở nên dễ dàng hơn
Bên cạnh đó là lực lượng trực tiếp tham gia sản xuất, một nhân tố hết sứcquan trọng trong doanh nghiệp Đõy chớnh là nhân tố tạo ra năng suất, chất lượngsản phẩm, hạ chi phí sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp Quản lý tốt đội ngũ tham gia sản xuất trực tiếp sẽ tạo nên ý thức tiết kiệm,thi đua lẫn nhau giữa các cá nhân, từ đó tạo ra năng suất lao động cao, tạo ra nhiềusản phẩm, hạ giá thành Sản phẩm được tạo ra có chất lượng với giá cả cạnh tranh
sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể nhanh chóng tiêu thụ sản phẩm, từ đó tăng nhanhtốc độ chu chuyển vốn
Nhân tố cơ cấu vốn
Cơ cấu vốn là thuật ngữ phản ánh một doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốnkhác nhau với một tỷ lệ nào đó của mỗi nguồn tài trợ cho tổng tài sản Nói cáchkhác, đó là tỷ trọng giữa các khoản nợ với tổng số vốn trong doanh nghiệp
Chính sách cơ cấu vốn liên quan tới mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro.Việc tăng sử dụng nợ làm tăng rủi ro đối với thu nhập và tài sản của chủ sở hữu, do
đó, các cổ đông sẽ có xu hướng đòi hỏi tỷ lệ lợi tức đền bù cao hơn Điều này làmgiảm giá của cổ phiếu Nhằm đáp ứng mục tiêu tối đa hoa giá trị tài sản của chủ sởhữu, cơ cấu vốn tối ưu cần đạt được sự cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận Có bốnnhân tố tác động những quyết định về cơ cấu vốn:
Thứ nhất, rủi ro kinh doanh Đây là loại rùi ro tiềm ẩn trong tài sản của
doanh nghiệp Rủi ro trong kinh doanh càng lớn, tỷ lệ nợ tối ưu càng thấp
Thứ hai, chính sách thuế Thuế thu nhập doanh nghiệp có ảnh hưởng đến chi
phí của nợ vay thông qua điều tiết phần tiết kiệm nhờ thuế Thuế suất cao sẽ khuyếnkhích doanh nghiệp sử dụng nợ do phần tiết kiệm nhờ thuế tăng lên
Trang 31Thứ ba, khả năng tài chính của doanh nghiệp, đặc biệt là khả năng tăng vốn
một cách hợp lý trong điều kiện có tác động xấu Các nhà quản lý tài chính biết rằngtài tợ vốn vững chắc là một trong những điều kiện cần thiết để doanh nghiệp hoạtđộng ổn định và có hiệu quả Họ cũng biết rằng khi thực hiện chính sách tiền tệ thắtchặt trong nền kinh tế hoặc khi một doanh nghiệp đang trải qua những khó khăntrong hoạt động, những nhà cung ứng vụ́n muụ́n tăng cường tài trợ cho nhữngdoanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh Như vậy, nhu cầu vốn tương lai vànhững hậu quả thiếu vốn có ảnh hưởng quan trọng đối với mục tiêu cơ cấu vốn
Thứ tư, sự “bảo thủ” hay phóng khoáng của nhà quản lý Một số nhà quản lý
sẵn sàng sử dụng nhiều nợ hơn, trong khi đó, một số khác lại muốn sử dụng vốn chủsở hữu
Bốn nhân tố này thay đổi một cách thường xuyên theo thời gian Với mỗidoanh nghiệp, cơ cấu vốn tối ưu tại mỗi thời điểm khác nhau là khác nhau Nhiệm
vụ của các nhà quản lý là xác định và bảo đảm kết cấu vốn tối ưu
Nhân tố chi phí vốn
Vốn là nhân tố cần thiết của quá trình sản xuất kinh doanh Cũng giống như bất
kỳ một nhân tố nào khác, khi huy động vốn thì doanh nghiệp cần phải bỏ ra một chi phínhất định Chi phí của những yếu tố cấu thành được gọi là chi phí nhân tố cấu thànhcủa loại vốn cụ thể đó Như vậy, chi phí vốn có thể hiểu là chi phí cơ hội của việc sửdụng vốn, được tính bằng số lợi nhuận kỳ vọng đạt được trên vốn đầu tư vào dự ánhoặc doanh nghiệp để giữ không làm số giảm lợi nhuận dành cho chủ sở hữu
Như vậy, chi phí vốn là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụngvốn Chi phí là căn cứ khi quyết định đầu tư, chính vì vậy mà nó quyết định quy môhuy động vốn của doanh nghiệp Khi huy động càng nhiều vốn thì chi phí của cácnhân tố cấu thành tăng lên theo đó chi phí bình quân gia quyền cũng tăng lên Đếnmột lúc nào đó, chi phí vốn sẽ bằng hoặc lớn hơn tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp.Khi đó, nếu cứ tiếp tục huy động, doanh nghiệp sẽ bị thua lỗ và sẽ không thể huyđộng được vốn trong tương lai Việc nghiên cứu hình thức cụ thể của chi phí vốnkhông chỉ giúp cho doanh nghiệp có thể lượng húa nú để đưa ra các quyết định đầu
tư mà cũn giỳp doanh nghiệp nắm bắt được tình hình sử dụng vốn huy động củamình, từ đó đưa ra biện pháp kịp thời, hợp lý nhằm giảm chi phí vốn, góp phầnnâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Trang 32Ngành nghề kinh doanh
Khi đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn, chúng ta trước hết phải đánh giá tiềmnăng lợi nhuận và mức độ cạnh tranh của mỗi ngành kinh doanh mà doanh nghiệpđang tham gia Mỗi một ngành nghề lại có những đặc trưng riêng biệt, trong đó nếuchỉ xét đến vốn thỡ đó cú sự khác biệt rất lớn về quy mô và cơ cấu Chính sự khácnhau này đã tạo ra hàng loạt các khác biệt về cách thức huy động vốn, cách sử dụng
hệ thống các chỉ tiêu đỏnh giỏ… và ảnh hưởng trực tiếp đến việc đánh giá hiệu quả
sử dụng vốn của từng doanh nghiệp thuộc mỗi nhóm ngành nghề
Chiến lược phát triển, kế hoạch quản lý tài sản doanh nghiệp
Bất cứ một doanh nghiệp nào khi kinh doanh đều phải đặt ra cho mình kếhoạch để phát triển thông qua các chiến lược ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Mặcdù có nhiều cách để mô tả chiến lược kinh doanh của một công ty nhưng nhìn chungthì có hai kiểu chiến lược cạnh tranh chủ yếu: chiến lược dẫn đầu về chi phí vàchiến lược khác biệt hóa Cả hai chiến lược này đều có thể giúp doanh nghiệp xâydựng được một lợi thế cạnh tranh bền vững Kế hoạch huy động cũng như sử dụngvốn của doanh nghiệp được lập nên dựa vào chiến lược phát triển của doanh nghiệp
Kế hoạch quản lý tài sản cũng như quản lý quỹ khấu hao giúp cho doanhnghiệp đảm bảo được việc tránh thất thoát vốn, tiết kiệm được tài sản, nâng cao hiệuquả sử dụng tài sản Bên cạnh đú, cỏch tớnh khấu hao hợp lý giúp cho vốn được lưuchuyển một cách nhanh chóng hơn
1.4.2 Nhóm các nhân tố khách quan
Nhân tố thị trường
Thị trường là nhân tố quan trọng quyết định tới hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp Trong đó, thị trường vốn quyết định tới việc huy động vốn của doanhnghiệp còn thị trường hàng hóa quyết định tới việc sử dụng vốn Thị trường tiêu thụsản phẩm có tác động lớn đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp Nếu các thịtrường này phát triển ổn định sẽ là nhân tố tích cực thúc đẩy doanh nghiệp tái sảnxuất mở rộng và tăng thị phần Do đó có thể nói yếu tố thị trường có ảnh hưởng hếtsức to lớn đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
Trạng thái nền kinh tế
Trạng thái nền kinh tế có ảnh hưởng gián tiếp tới tình hình tài chính củadoanh nghiệp Khi nền kinh tế phát triển một cách vững mạnh và ổn định sẽ tạo cho
Trang 33doanh nghiệp có nhiều cơ hội trong sản xuất kinh doanh như: huy động vốn, đầu tưvào các dự án lớn, có cơ hội lựa chọn bạn hàng
Khi nền kinh tế phát triển cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì hiệuquả hoạt động SXKD của doanh nghiệp cũng được tăng theo Bởi lẽ khi khoa họccông nghệ phát triển mạnh mẽ thỡ nú sẽ đặt doanh nghiệp vào môi trường cạnhtranh gay gắt Nếu như doanh nghiệp không thích ứng được môi trường này chắcchắn sẽ không thể tồn tại được Vì vậy, các doanh nghiệp luôn phải chú trọng việcđầu tư vào công nghệ Với những máy móc hiện đại không những tiết kiệm đượcsức lao động của con người mà còn tạo ra được khối lượng sản phẩm cao với giáthành thấp thoả mãn nhu cầu của khách hàng Do đó nó sẽ làm tăng doanh thu củadoanh nghiệp, lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên càng khuyến khích doanhnghiệp tích cực sản xuất, tình hình tài chính của doanh nghiệp được cải thiện ngàycàng tốt hơn Ngược lại, nếu trạng thái nền kinh tế đang ở mức suy thoái thì việcdoanh nghiệp muốn cải thiện tình hình tài chính là hết sức khó khăn
Nhân tố cơ chế chớnh sách kinh tế
Vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường là điều không thểthiếu Điều này được quy định trong các Nghị quyết Trung ương Đảng, các cơ chế,chính sách này có tác động không nhỏ tới tình hình tài chính của doanh nghiệp Ví
dụ như từ cơ chế giao vốn, đánh giá lại tài sản, sự thay đổi các chính sách thuế(Thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu ), chínhsách cho vay, bảo hộ và khuyến khích nhập khẩu công nghệ đều ảnh hưởng tớiquá trình SXKD của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng tới tình hình tài chính củadoanh nghiệp
Yếu tố nhà cung cấp
Doanh nghiệp nếu muốn đảm bảo cho hoạt động SXKD được diễn ra thườngxuyên liên tục thì cần phải được cung cấp các yếu tố đầu vào đầy đủ Một số yếu tốđầu vào như nguyờn nhiờn vật liệu, máy móc, thiết bị, công nghệ,… doanh nghiệpcần phải mua ở các doanh nghiệp khác Việc thanh toán các khoản chi cho các yếu
tố đầu vào này sẽ tác động trực tiếp lên tài chính của doanh nghiệp Ví dụ như nhàcung cấp đòi hỏi doanh nghiệp phải thanh toán tiền mặt ngay khi giao hàng thì sẽdẫn đến lượng tiền mặt hoặc tiền gửi ngân hàng của doanh nghiệp giảm đi, doanhnghiệp sẽ khó khăn hơn khi cần tiền mặt Hoặc doanh nghiệp phải vận chuyển hàng
Trang 34về kho sẽ làm tăng chi phí sản xuất từ đó làm giảm lợi nhuận thu được Ngược lại,nếu như doanh nghiệp được hưởng tín dụng thương mại từ nhà cung cấp, doanhnghiệp sẽ chiếm dụng được một phần vốn, lượng tiền mặt được giữ lại trong doanhnghiệp đảm bảo cho việc sử dụng vào các kế hoạch khác nhằm tăng thêm doanh thucho doanh nghiệp.
Yếu tố khách hàng
Bên cạnh yếu tố nhà cung cấp thì yếu tố khách hàng cũng là một yếu tố cóảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Khi kinh tế càngphát triển, nhu cầu sử dụng sản phẩm của khách hàng ngày càng cao sẽ đặt ra yêucầu đối với nhà cung cấp cần tạo ra những sản phẩm độc đáo, hấp dẫn hơn đối vớingười mua Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp cần phải làm sao để tạo ra những sảnphẩm chất lượng cao, phù hợp nhu cầu của người mua với giá cả hợp lý để thu đượclợi nhuận cao Để làm được như vậy, doanh nghiệp cần bỏ ra nguồn chi phí hợp lýđể nghiên cứu thị trường, tìm hiểu các mặt hàng, mẫu mó,… đang được ưa chuộng,
từ đó có quyết định sản xuất cho hiệu quả Bên cạnh đó là tín dụng thương mạitrong bán hàng cũng ảnh hưởng đến tình hình tài chính của công ty Các khách hàngyêu cầu tín dụng thương mại làm cho khoản phải thu của doanh nghiệp tăng lên.Vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng làm cho doanh nghiệp khó khăn hơn khi đảmbảo nhu cầu chi tiêu thường xuyên Doanh nghiệp cần có quy chế tín dụng thích hợpđối với khách hàng để thu được lợi nhuận cao nhất, đảm bảo cho đồng vốn được sửdụng một cách hiệu quả
Ngoài ra cũn cú sự tác động không nhỏ của thiên nhiên và môi trường ảnhhưởng tới quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa Các thiên tai, thảm họa thiênnhiên gây khó khăn cho hoạt động sản xuất lưu thông, làm giảm doanh thu Hơn thế
nú cũn gây ra tổn thất về tài sản của công ty, làm tăng chi phí đầu tư lại vào tài sảndẫn tới giảm lợi nhuận sau thuế
Trang 35CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ & XÂY LẮP THÀNH AN 665 – Bệ… QUễ́C PHÒNG
2.1 Giới thiệu chung về Công ty cổ phần Đầu tư & Xây lắp Thành An 665 – Bộ Quốc Phòng:
2.1.1 Thông tin chung về Công ty Cổ phần Đầu tư & Xây lắp Thành An 665:
Tên công ty: Công ty cổ phần Đầu tư & Xây lắp Thành An 665 – Bộ QuốcPhòng
Tên viết tắt : INCO665., JSC
Trụ sở chính : 21- Đường Lê Văn Lương – Nhân Chính – Thanh Xuân – HàNội
Điện thoại : 043 8581489 – 043 8587597
Fax: 04 8581825 - 04 5565943
Văn phòng khu vực:
Khu vực 1: Tổ 18, Cường Bắc, xã Nam Cường, thành phố Yên Bái, tỉnh YênBái
Khu vực 2: Thành phố Vinh – Nghệ An
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty cổ phần Đầu tư & Xây lắp Thành An 665:
Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Thành An 665 là một doanh nghiệpNhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực Xây dựng dân dụng côngnghiệp và sản xuất vật liệu Tiền thân của công ty là Công ty Xây lắp 665 – BộQuốc phòng, chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần tại Quyếtđịnh số: 72/QĐ-BQP ngày 08/ 01/ 2009 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, với vốnđiều lệ là 14.135.800.000 đồng
Công ty Xây lắp 665 ra đời, trưởng thành và phát triển từ cuối những năm 60của thế kỷ 20 Tháng 5/1968 Đoàn 600C được thành lập (sau này là Trung đoàn665), chuyên làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Lào, đã thi công nhiều công trình có ýnghĩa chính trị quân sự quan trọng: Học viện chính trị Mường Ngà, Nhà ga và đàichỉ huy sân bay Viờng chăn…
Trang 36Để tồn tại và phát triển trong hơn 40 năm qua, Công ty đã phải trải qua nhiềubước thăng trầm, đặc biệt là gian đoạn 1990-1991, do cơ chế quản lý của Nhà nước
có sự thay đổi, đứng trước thách thức của nền kinh tế thị trường, các công trìnhcông ty xõy dựng chủ yếu đã hoàn thành và đi vào bàn giao sử dụng, việc nhận thầucác công trình mới khó khăn, số lượng các hợp đồng kinh tế mà công ty thực hiệnngày một giảm, số lượng vật tư, máy móc thiết bị, dụng cụ phục vụ sản xuất nằmchờ phải chịu khấu hao vô hình, lao động dôi dư, không có việc làm, lương và cácchế độ cho người lao động rất khiêm tốn
Trước những khó khăn chồng chất đó, Công ty đã kịp thời chuyển hướng sắpxếp lại bộ máy quản lý, cắt giảm cỏc khõu trung gian, đẩy mạnh sản xuất kinhdoanh, bổ sung thêm nhiệm vụ, chức năng mới nhằm đảm bảo thực hiện phần kếhoạch pháp lệnh và đáp ứng nhu cầu thị trường Bên cạnh đó, Công ty thực hiện ràsoát lại định mức lao động, tiêu hao nguyên vật liệu, lập giá thành kế hoạch chotừng loại hình công việc cụ thể, từng hạng mục công trình, khoán gọn đến từngcông việc tổ đội cụ thể, từng hạng mục cụ thể kết hợp với việc sử dụng chặt chẽ,hợp lý đội ngũ cán bộ, công nhân theo đúng quy định phân công và phân cấp củaTổng công ty và chính sách cán bộ của Đảng, Nhà nước nhằm đảm bảo sự tập trung,thống nhất trong chỉ đạo sản xuất kinh doanh của công ty
Nhờ có những chính sách năng động và hợp lý, với phương châm đi lên mạnhdạn, táo bạo nhưng chắc chắn, Công ty đã từng bước mở rộng sản xuất tập trungnguồn lực cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường, tạo việc làm ổn định cho công nhân,tăng năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm, hoàn thành nghĩa vụ với Tổngcông ty cũng như Nhà nước
Trong những năm qua, đặc biệt sau Đại biểu Đảng bộ của Công ty lần thứ VIItháng 8 năm 1996, Công ty đã hoạt động theo đúng định hướng vừa củng cố hoànthiện tổ chức để trở thành một đơn vị mạnh, có đủ năng lực xây dựng những côngtrình có quy mô lớn trong nước và quốc tế vừa phát triển mở rộng sản xuất kinhdoanh, thực hiện đa dạng hóa nghành nghề sản phẩm, đồng thời phải tìm kiếm giảiquyết công ăn việc làm, ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ côngnhân viên Chính vì vậy, cho đến thời điểm hiện tại, Công ty đang là một công tylàm ăn có hiệu quả nhất trong các công ty thuộc Tổng công ty Xây dựng Thành An,đến ngày 23/5/2000 Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng đã ra quyết định số 888/QĐ côngnhận Công ty cổ phần ĐT & XL Thành An 665 là Doanh Nghiệp hạng 1
Trang 37Trong những năm xây dựng và phát triển, Công ty được tặng thưởng nhiềudanh hiệu cao quý:
- Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang năm 1985
- Huân chương ITXALA do Nhà nước CHDCND Lào tặng năm 2001
- Huân chương Lao động hạng Nhì (2002), hạng Ba (2003)
- Huân chương chiến công hạng Ba (Trung đoàn 665)
- Công đoàn Bộ XD tặng cờ Đơn vị đạt thành tích xuất sắc cuộc vận động đảmbảo nâng cao và chất lượng công trình, sản phẩm ngành XD 5 năm (2001-2005)
- Công đoàn Giao thông vận tải Việt Nam tặng cờ Đơn vị xuất sắc trongphong trào thi đua 4 nhất XD đường Hồ Chí Minh (2000-2004)
- Tổng cục Hậu cần tặng cờ "Đơn vị xuất sắc trong phong trào thi đua" cácnăm 2000, 2001, 2003, 2004
- UBND tỉnh Sơn La tặng Bằng khen "Đó có thành tích xuất sắc đóng gópvào sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Sơn La năm 2005"
Ngoài ra được Binh đoàn 11, nhiều địa phương, chủ đầu tư tặng các danhhiệu cao quý khác cho các tập thể, cá nhân trong đơn vị
2.1.3 Ngành nghề kinh doanh chính:
- Xây dựng các công trình công nghiệp, dân dụng, giao thông, thuỷ lợi, thuỷđiện, bưu chính viễn thông, sân bay, bến cảng, cầu đường, đường dây tảiđiện, trạm biến áp, các công trình cấp thoát nước, công trình hạ tầng, côngtrình công cộng và các công trình xây dựng cơ bản khác
- Trang trí nội thất, ngoại thất
- Lắp đặt thiết bị cho các công trình, lắp đặt thiết bị cơ điện lạnh, thông gió,cấp nhiệt, chiếu sáng
- Thí nghiệm, kiểm tra chất lượng công trình và vật liệu xây dựng
- Sản xuất cơ khí, SC sửa chữa thiết bị và các sản phẩm cơ khí phục vụ sảnxuất và tiêu dùng
- Tư vấn thi công, tư vấn đầu tư, quản lý dự án, tư vấn đấu thầu, thẩm định dự
án đầu tư (không bao gồm tư vấn pháp luật, tài chính)
- Sản xuất, mua bán vật liệu xây dựng, bê tông thương phẩm, vật tư, thiết bịxây dựng, phế liệu, hàng thanh xử lý
- Kinh doanh vật tư, thiết bị máy móc ngành công nghiệp, nông nghiệp, xâydựng, giao thông vận tải
- Xuất nhập khẩu các mặt hàng Công ty kinh doanh
Trang 382.1.4 Đặc điểm kinh doanh và tổ chức sản xuất kinh doanh ở Công ty cổ phần ĐT & Xây lắp Thành An 665 – Bộ Quốc Phòng:
Với ngành nghề kinh doanh chính là xây lắp, mặt hàng các công trình xây lắplà đơn chiếc, giá trị mặt hàng lớn và vị trí địa lý ở mọi vùng miền khác nhau, thờigian thực hiện hoàn thành một sản phẩm là kéo dài nên đặc điểm nổi bật trong côngtác tổ chức sản xuất kinh doanh ở Công ty là hình thức tổ chức sản xuất phân tán.Hiện nay, Công ty có địa bàn hoạt động xây lắp trên cả nước, và nước bạn Lào.Hình thức sản xuất hiệu quả là khoán gọn
Đặc điểm của sản phẩm xây lắp là có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian
sử dụng lâu dài, có giá trị lớn đòi hỏi các nhà xây dựng phải dự đoán trước xuhướng tiến bộ xã hội để tránh bị lạc hậu Phong cách kiến trúc và kiểu dáng một sảnphẩm cần phải phù hợp với văn hóa dân tộc, vùng miền Trên thực tế, đã có không ítcác công trình xây dựng trở thành biểu tượng của một quốc gia, một vùng miền, mộtdân tộc do đó chất lượng của các công trình cũng phải được đặc biệt chú ý Nókhông chỉ ảnh hưởng tới tuổi thọ của công trình mà còn ảnh hưởng tới sự an toàncho người sử dụng và niềm tự hào của một dân tộc một vùng miền, một quốc gia thểhiện nét văn hóa đặc thù riêng của nó
Sản phẩm xây lắp mang tính tổng hợp phát huy tác dụng về mặt kinh tế, chínhtrị, kế toán, nghợ̀ thuọ”t… Nó rất đa dạng nhưng lại mang tính độc lập, mỗi mộtcông trình được xây dựng theo một thiết kế, kỹ thuật riêng, có giá trị dự toán riêngvà tại một địa điểm nhất định, nơi sản xuất ra sản phẩm cũng đồng thời là nơi saunày khi sản phẩm hoàn thành được đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng Nhữngđặc điểm này có tác động lớn tới giá trị sản xuất ngành xây dựng Các công trình doCông ty đã và đang tham gia xây dựng được đưa và sử dụng với chất lượng cao nhưcông trình Đường Hồ Chí Minh, Trung tâm Đảm bảo kỹ thuật nghiệp vụ mật mãmiền Trung, Nhà chung cư cao tầng B3, B4, B5, A3 – Mỹ Đình I, Đường Sơn La,Đường nối Thủy điện Bản Chát – Thủy điện Huụ ̣i Quảng, … Các công trình doCông ty đảm nhận thi công đều có kiến trúc đẹp, chất lượng cao và giá thành hợp lýnên uy tín của Công ty ngày càng cao trên thị trường trong lĩnh vực xây lắp
Trong kinh doanh và nhập khẩu vật tư, thiết bị Công ty có đội ngũ cán bộ kỹthuật giàu kinh nghiệm đảm bảo cung ứng vật tư thiết bị và phụ tùng trong xâydựng, lắp đặt kịp thời với chất lượng, giá cả phù hợp đáp ứng nhu cầu của thịtrường
Trang 39Về gia công, sản phẩm cơ khí: Công ty đã tham gia thi công lắp dựng các sảnphẩm cơ khí tại nhiều công trình như: Nhà ga hàng không T1, Nhà điều hànhthương mại mặt đất Sân bay Quốc tế Nội Bài, Công trình Vietel, Viện Sinh TháiTrung tâm khoa học tự nhiờ̀n và công nghệ Quốc gia, Sáng chế, cải tạo nhiềuphương tiện vận tải, máy móc, giàn giáo phục vụ công tác xây dựng.
Về sản xuất vật liệu: Sản phẩm vật liệu xây dựng của Công ty chủ yếu là bêtông nhựa, bê tông thương phẩm, gạch đất sét nung và gạch Block Sản phẩm đượccung cấp cho các công trình mà Công ty và đơn vị thuộc Tổng công ty thi côngđồng thời tiêu thụ ra ngoài phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của thị trường
2.1.5 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý ở Công ty cổ phần ĐT & XL Thành An 665
Công ty cổ phần ĐT & XL Thành An 665 được tổ chức theo mô hình công ty
cổ phần