1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các khó khăn về tự chăm sóc trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại nhà của bà mẹ tại huyện vụ bản, tỉnh nam định

76 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các khó khăn về tự chăm sóc trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại nhà của bà mẹ tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
Tác giả Đỗ Thị Hòa
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Y học Public Health
Thể loại báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 756,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1.3. Các biểu hiện lâm sàng (10)
  • 1.1.4. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ (11)
  • 1.1.5. Chăm sóc trẻ tại nhà (12)
  • 1.1.6. Phòng bệnh (16)
  • 1.2. Tình hình NKHHCT trên thế giới và Việt Nam (16)
    • 1.2.1. Tình hình NKHHCT ở trẻ em trên thế giới (16)
    • 1.2.2. Tình hình NKHHCT ở trẻ em tại Việt Nam (18)
  • 1.3. Thực hành chăm sóc và các khó khăn của bà mẹ về chăm sóc trẻ (19)
    • 1.3.1. Các nghiên cứu trên thế giới (19)
    • 1.3.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam (20)
  • 1.4. Học thuyết nghiên cứu (0)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (0)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (22)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (23)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (23)
    • 2.4. Mẫu và phương pháp chọn mẫu (23)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu và công cụ thu thập số liệu (24)
    • 2.6. Các biến số nghiên cứu (25)
    • 2.7. Phương pháp phân tích số liệu (26)
    • 2.8. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu (26)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (0)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (26)
    • 3.2. Nhận xét về khả năng tự chăm sóc trẻ của bà mẹ (28)
    • 3.3. Thực trạng các khó khăn của bà mẹ khi chăm sóc trẻ mắc NKHHCT (42)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (0)
    • 4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (53)
    • 4.2. Nhận xét về khả năng tự chăm sóc trẻ của bà mẹ (53)
    • 4.3. Các vấn đề khó khăn của bà mẹ khi chăm sóc trẻ mắc NKHHCT (59)
    • 4.4. Hạn chế của nghiên cứu (62)
  • Hộp 3.1. Tình trạng bệnh NKHHCT của trẻ và cách nhận biết bệnh của trẻ (0)
  • Hộp 3.2. Các thực hành chăm sóc của bà mẹ để giảm tình trạng bệnh cho trẻ (0)
  • Hộp 3.3. Sự tự tin của bà mẹ khi chăm sóc trẻ tại nhà (0)
  • Hộp 3.4. Các thực hành theo dõi tình trạng bệnh của trẻ (0)
  • Hộp 3.5. Các dấu hiệu bệnh cần đưa trẻ nhập viện hay phải tìm đến bác sĩ điều trị (0)
  • Hộp 3.6. Cảm nhận của bà mẹ khi trao đổi với bác sỹ điều trị (0)
  • Hộp 3.7. Khó khăn, thách thức khi chăm sóc trẻ tại nhà (xã Tam Thanh) (0)
  • Hộp 3.8. Khó khăn, thách thức khi chăm sóc trẻ bệnh tại nhà (xã Trung Thành) (0)
  • Hộp 3.9. Hành động để giải quyết các vấn đề khó khăn của các bà mẹ tại 2 xã (0)
  • Hộp 3.10. Các hỗ trợ cần thiết cho bà mẹ khi chăm sóc trẻ bệnh tại nhà (0)
  • Hộp 3.11. Các hỗ trợ cần thiết cho bà mẹ khi chăm sóc trẻ bệnh tại nhà (0)
  • Hộp 3.12. Người hỗ trợ và sự hài lòng về hiệu quả đem lại (0)

Nội dung

Các biểu hiện lâm sàng

+ Trẻ < 2 tháng: nhịp thở ≥ 60 lần/phút là thở nhanh

+ Trẻ 2 - 12 tháng: nhịp thở ≥ 50 lần/phút là thở nhanh + Trẻ 12 tháng - 5 tuổi: nhịp thở ≥ 40 lần/phút là thở nhanh Rút lõm lồng ngực (RLLN):

+ Rút lõm lồng ngực là lồng ngực phía dưới bờ sườn hoặc phần dưới của xương ức rút lõm xuống trong thì hít vào

Ở trẻ dưới 2 tháng tuổi, nếu chỉ có rối loạn nhịp thở nhẹ, điều này chưa đủ để chẩn đoán do lồng ngực của trẻ còn mềm Chỉ khi rối loạn nhịp thở mạnh và sâu thì mới có giá trị chẩn đoán.

+ Tiếng thở khò khè nghe ở thì thở ra

+ Tiếng khò khè xuất hiện khi lưu lượng không khí bị tắc lại ở trong phổi vì thiết diện các phế quản nhỏ bị hẹp lại

+ Khò khè hay gặp trong hen phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi

+ Tiếng thở rít nghe ở thì hít vào

+ Tiếng thở rít xuất hiện khi luồng khí đi qua chỗ hẹp ở thanh – khí quản

+ Hay gặp trong mềm sụn thanh quản bẩm sinh, viêm thanh quản rít, dị vật đường thở

*Dấu hiệu nguy kịch ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi

- Trẻ không uống được hoặc bỏ bú

Trẻ ngủ li bì hoặc khó đánh thức khi gọi hoặc gây tiếng động mạnh nhưng vẫn không tỉnh dậy, hoặc chỉ mở mắt rồi lại nhanh chóng chìm vào giấc ngủ.

- Thở rít khi nằm yên

* Dấu hiệu nguy kịch ở trẻ dưới 2 tháng tuổi

- Bú kém hoặc bỏ bú

- Ngủ li bì hoặc khó đánh thức

- Thở rít khi nằm yên

- Sốt hoặc hạ nhiệt độ.

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

1.1.4.1 Nguyên nhân Nguyên nhân gây NKHHCT do virus và vi khuẩn Virus là nguyên nhân chủ yếu gây NKHHCT ở trẻ em vì:

Virus có ái lực với đường hô hấp

Khả năng lây lan của virus dễ dàng

Tỷ lệ người lành mang virus cao

Khả năng miễn dịch với virus ngắn và yếu

Virus phổ biến nhất gây nhiễm trùng hô hấp là virus hợp bào hô hấp (RSV), tiếp theo là Adenovirus, virus cúm và á cúm Tại các quốc gia đang phát triển, vi khuẩn vẫn đóng vai trò quan trọng trong nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính.

Vi khuẩn hay gặp nhất là các vi khuẩn phế cầu và H.influenzae, sau đó đến tụ cầu, liên cầu và các vi khuẩn khác

Các nguyên nhân gây nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) ở trẻ em bao gồm nấm và ký sinh trùng, mặc dù chúng ít gặp hơn Mycoplasma thường gây NKHHCT ở trẻ em trên 5 tuổi, trong khi Pneumocystic carinii thường xuất hiện ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi.

1.1.4.2 Các yếu tố nguy cơ [17]

Nhiều nghiên cứu tại các nước đang phát triển, bao gồm cả Việt Nam, đã chỉ ra những yếu tố nguy cơ dễ gây nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em.

Trẻ sơ sinh có cân nặng dưới 2500g có nguy cơ tử vong do viêm phổi cao hơn so với trẻ có cân nặng trên 2500g Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chết ở trẻ dưới 1 tuổi trong nhóm này là đáng kể.

Trẻ không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ có nguy cơ tử vong do viêm phổi cao hơn so với trẻ được nuôi bằng sữa mẹ.

Ô nhiễm nội thất và khói bụi trong nhà có thể gây hại cho niêm mạc hô hấp, làm giảm hiệu quả của các lông rung và quá trình tiết chất nhầy, đồng thời ảnh hưởng đến hoạt động của đại thực bào và sự sản sinh Globulin miễn dịch Điều này khiến trẻ em dễ mắc các bệnh liên quan đến hô hấp.

- Khói thuốc lá cũng là một yếu tố gây ô nhiễm không khí rất nguy hiểm cho trẻ nhỏ

- Thời tiết lạnh, thay đổi là điều kiện thuận lợi gây NKHCT ở trẻ em

- Ngoài các yếu tố trên, nhà ở chật chội, thiếu vệ sinh, đời sống kinh tế thấp, thiếu vitamin A cũng là điều kiện làm trẻ dễ mắc NKHHCT

Thiếu vitamin A làm suy giảm đáp ứng miễn dịch và khả năng biệt hóa của các tổ chức biểu mô, dẫn đến tình trạng dễ gây sừng hóa niêm mạc, đặc biệt là ở niêm mạc đường hô hấp và tiêu hóa, khiến trẻ em dễ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT).

Chăm sóc trẻ tại nhà

1.1.5.1 Chăm sóc trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi [9]

+ Cho trẻ ăn tốt hơn khi ốm, bồi dưỡng thêm khi trẻ khỏi bệnh đề phòng suy dinh dưỡng

+ Tiếp tục cho trẻ ăn lúc bệnh

+ Thức ăn giàu dinh dưỡng, dễ tiêu

+ Chia làm nhiều bữa trong ngày, mỗi bữa một ít vì trẻ bị chán ăn

+ Không kiêng trong chế độ ăn như: tôm, cua, dầu, mỡ…

Để bù đắp lượng nước mất do sốt, thở nhanh, nôn trớ và tiêu chảy, cha mẹ nên cho trẻ uống nhiều nước như nước chín, nước chanh và nước cam Ngoài ra, việc bú mẹ nhiều lần cũng rất quan trọng, vì nước còn giúp làm loãng đàm, hỗ trợ sức khỏe cho trẻ.

- Giảm ho, làm dịu đau họng bằng các loại thuốc đông y không gây độc hại như quất hấp đường, hoa hồng hấp đường, mật ong,…

- Lau sạch làm thông mũi

- Vấn đề quan trọng nhất là theo dõi và đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế nếu thấy 1 trong các dấu hiệu sau:

+ Thở nhanh hơn + Khó thở hơn + Không uống được nước + Trẻ mệt hơn

1.1.5.2 Chăm sóc trẻ dưới 2 tháng tuổi [8], [17]

- Cho trẻ bú mẹ nhiều hơn bình thường

+ Trẻ dưới 1 tháng tuổi, tăng cường bú mẹ bằng cách cho bú nhiều bữa hơn trong ngày hoặc bú với một lượng nhiều hơn trong một lần bú

- Làm sạch và thông thoáng mũi nếu trẻ bị chảy mũi, tắc mũi ảnh hưởng đến việc ăn, bú của trẻ

Sử dụng giấy thấm hoặc vải thấm để quấn thành sâu kèn, sau đó đặt sâu kèn vào mũi khi nó đã thấm ướt Lấy ra và thay bằng sâu kèn khác cho đến khi khô.

- Giữ ấm cho trẻ nhất là về mùa lạnh

- Quan trọng nhất là theo dõi và đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế nếu thấy 1 trong các dấu hiệu sau:

+ Bú kém hơn (khi trẻ bú ít hơn phân nửa lượng sữa hàng ngày)

1.1.5.3 Hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ mắc NKHHCT tại nhà [8], [9]:

* Chăm sóc về dinh dưỡng cho trẻ mắc NKHHCT tại nhà (Theo khuyến cáo của Viện dinh dưỡng Quốc gia):

Trẻ nhỏ còn bú mẹ nên được cho bú nhiều lần hơn và thời gian mỗi lần bú cũng cần kéo dài hơn bình thường Nếu trẻ không thể ngậm bú, mẹ có thể vắt sữa vào cốc và dùng thìa để cho trẻ uống.

Trẻ lớn hơn nên được ăn các thức ăn mềm, đa dạng và dễ tiêu hóa, chia thành nhiều bữa nhỏ để khuyến khích trẻ ăn nhiều hơn Việc thay đổi thực đơn và cho trẻ ăn những món mà trẻ thích sẽ giúp kích thích cảm giác thèm ăn Cần lưu ý phòng ngừa suy dinh dưỡng, vì trẻ bị suy dinh dưỡng khi mắc viêm phổi thường có bệnh nặng và kéo dài, dễ dẫn đến nguy cơ tử vong.

Để giúp trẻ hồi phục nhanh chóng sau khi bị sốt và ho, cha mẹ nên cho trẻ uống nhiều nước, nước hoa quả tươi và ăn thêm hoa quả nhằm bù đắp lượng nước mất đi và cung cấp vitamin A, C cần thiết Sau khi trẻ khỏi bệnh, cần tăng cường bữa ăn và bổ sung các thực phẩm giàu dinh dưỡng để hỗ trợ quá trình hồi phục của trẻ.

Sau khi cai sữa, trẻ cần một chế độ ăn uống thay thế đầy đủ dinh dưỡng, đặc biệt là protein từ thịt, cá, trứng, sữa và đậu đỗ, cùng với chất béo từ dầu mỡ và các loại rau quả để đảm bảo sức khỏe và sự phát triển.

* Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ tại nhà (Theo tài liệu IMCI của Bộ y tế, 2017):

- Các hướng dẫn nuôi dưỡng trẻ dưới 6 tháng tuổi:

Trẻ nên được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời, chỉ sử dụng sữa mẹ mà không bổ sung bất kỳ thức ăn hay nước uống nào khác, trừ khi có sự chỉ định từ bác sĩ.

Cho bú bất kỳ lúc nào trẻ muốn, cả ngày lẫn đêm, ít nhất 8 lần/ ngày

- Các hướng dẫn nuôi dưỡng trẻ dưới 6 -12 tháng tuổi:

Cho trẻ bú mẹ theo nhu cầu bất cứ lúc nào, cả ngày lẫn đêm Bên cạnh đó, cần cung cấp cho trẻ chế độ ăn bổ sung với đầy đủ dinh dưỡng từ 4 nhóm thực phẩm: thịt, cá, trứng, rau củ, bột và dầu ăn.

Mỗi lần ăn ắ đến 1 bỏt

Số lượng bữa ăn: Cho ăn 3 bữa/ ngày cho trẻ còn bú mẹ Nếu trẻ không còn bú mẹ cho ăn 5 bữa/ ngày Ăn thêm hoa quả (trái cây)

- Các hướng dẫn nuôi dưỡng trẻ dưới 12 tháng - 2 tuổi:

Tiếp tục cho trẻ bú mẹ bất cứ khi nào trẻ muốn

Cháo đặc, cơm với đủ 4 nhóm thức ăn

Số lượng: 4 bữa/ ngày Mỗi bữa ít nhất 1-1,5 bát Ăn thêm trái cây

- Các hướng dẫn nuôi dưỡng trẻ 2 tuổi và lớn hơn: Ăn 3 bữa cùng gia đình, ưu tiên chất nhiều dinh dưỡng cho trẻ, đảm bảo 4 nhóm thức ăn

Bổ sung thêm 2 bữa phụ với sữa và bánh Ăn thêm trái cây

Hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ ho hoặc khó thở tại nhà là rất quan trọng Đối với trẻ em có triệu chứng ho hoặc khó thở được chỉ định chăm sóc tại nhà, cán bộ y tế cần cung cấp các hướng dẫn cụ thể dựa trên phân loại tình trạng sức khỏe của trẻ.

- Uống kháng sinh tại nhà

- Làm giảm đau họng bằng thuốc ho an toàn

- Sử dụng thuốc giãn phế quản nếu trẻ khò khè

- Khi nào cần đưa trẻ đến khám lại ngay

- Hẹn khi nào cần đưa trẻ đến khám lại

* Chăm sóc trẻ bị sốt [10]:

- Đặt trẻ nằm phòng thoáng mát

- Nới rộng quần áo, tã lót

- Cho trẻ uống nhiều nước

- Khi trẻ sốt ≥ 38,5 0 C dùng thuốc hạ sốt Paracetamol 10 – 15mg/kg/lần Thời gian dùng thuốc cách 4h – 6h

* Hướng dẫn bà mẹ cho trẻ uống thuốc tại nhà [9]

Các loại thuốc uống được chỉ định cho các vấn đề sức khỏe khác nhau với liều lượng và thời gian sử dụng khác nhau Tuy nhiên, phương pháp cho trẻ uống thuốc cơ bản là tương tự nhau Cán bộ y tế cần hướng dẫn bà mẹ theo các chỉ dẫn cụ thể cho từng loại thuốc.

- Bước 1: Xác định loại thuốc và liều lượng phù hợp với cân nặng hoặc tuổi của trẻ

- Bước 2: Giải thích cho bà mẹ lý do phải cho trẻ uống thuốc và cách cho trẻ uống thuốc

- Bước 3: Hướng dẫn và làm mẫu cách lường liều thuốc + Kiểm tra nhãn hộp thuốc và tên thuốc

+ Kiểm tra hạn sử dụng của thuốc Không sử dụng những thuốc đã quá hạn + Đếm đủ lượng thuốc cần dùng cho trẻ

+ Lường liều thuốc Nếu dùng thuốc viên:

Chỉ cho bà mẹ lượng thuốc dùng mỗi lần Nếu cần, chỉ cho bà mẹ biết cách chia viên thuốc cho trẻ uống

Nếu cần nghiền nhỏ thuốc cho trẻ, hãy thêm vài giọt nước và chờ vài phút để thuốc bở ra, giúp việc nghiền dễ dàng hơn.

Hướng dẫn bà mẹ về liều lượng vitamin A cho trẻ, đặc biệt nếu liều cần dùng nhỏ hơn trong viên nang Bạn nên chỉ dẫn cách mở viên nang và bóp một phần viên nang vào miệng trẻ để đảm bảo trẻ nhận đủ lượng vitamin cần thiết.

- Bước 4: Đề nghị bà mẹ tự lường liều thuốc và quan sát

Bước 5: Khuyến khích bà mẹ cho trẻ uống liều thuốc đầu tiên, ngay cả khi trẻ có thể nôn ra Giải thích rằng nếu trẻ bị nôn, vẫn cần cho trẻ uống thuốc và theo dõi trong 30 phút sau khi uống Nếu trẻ nôn và mất nước, hãy chờ đến khi trẻ được bù nước trước khi cho uống lại thuốc.

- Bước 6: Giải thích rõ cho bà mẹ cách cho trẻ uống thuốc, ghi nhãn lên túi thuốc và cho thuốc vào túi

- Bước 7: Đưa thuốc cho bà mẹ Dặn bà mẹ để thuốc ở nơi khô ráo, không có chuột và côn trùng, đặc biệt là ngoài tầm tay của trẻ.

Phòng bệnh

- Làm tốt công tác quản lý thai nghén để đảm bảo trẻ không bị đẻ non, đẻ thấp cân

Tổ chức cuộc đẻ an toàn, không để trẻ hít phải nước ối, không bị ngạt

Để đảm bảo sức khỏe cho trẻ, mẹ nên cho trẻ bú sữa mẹ ngay sau khi sinh và thực hiện chế độ ăn khoa học, đảm bảo cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và vitamin, đặc biệt là vitamin A.

- Tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch

Vệ sinh cá nhân và giữ gìn môi trường sạch sẽ là rất quan trọng Nhà ở và lớp học của trẻ cần được thông thoáng vào mùa hè và ấm áp vào mùa đông Cần tránh việc đun bếp trong nhà và không hút thuốc lá trong không gian của trẻ.

- Giữ ấm cho trẻ về mùa đông và khi thay đổi thời tiết

- Phát hiện sớm và xử lý đúng các trường hợp mắc bệnh NKHHCT theo phác đồ

- Tuyên truyền GDSK cho bà mẹ về cách phát hiện, chăm sóc nuôi dưỡng trẻ khi bị NKHHCT

- Khi trẻ bị viêm đường hô hấp cần được khám bệnh và theo dõi kịp thời

- Cách ly trẻ với người đang mắc bệnh hô hấp để tránh lây lan.

Tình hình NKHHCT trên thế giới và Việt Nam

Tình hình NKHHCT ở trẻ em trên thế giới

Nghiên cứu của tác giả Marc P.G và cộng sự chỉ ra rằng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính vẫn là nguyên nhân chính gây ra tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn cầu.

[40] Theo nghiên cứu của tác giả Harish Naire và các cộng sự ước tính có 66 000-199

Trong năm 2005, có 000 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong do nhiễm trùng đường hô hấp dưới cấp liên quan đến virus, với 99% các ca tử vong xảy ra ở các nước đang phát triển Viêm phổi là nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em trên toàn cầu Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính vẫn tiếp tục ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nước đang phát triển, dẫn đến nhiều ca tử vong.

Khoảng 3 triệu trẻ em, tương đương 15,5% tổng số tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi, đã tử vong do nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới, trong đó viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu theo WHO năm 2013 Viêm phổi là nguyên nhân gây ra khoảng 750.000 ca tử vong mỗi năm ở trẻ em tại các nước châu Phi, đặc biệt là vùng hạ Sahara Việc tiêm vaccine phòng các bệnh phổ biến ở trẻ được xác định là một trong những biện pháp hiệu quả nhất để ngăn ngừa viêm phổi Thiếu khả năng tiếp cận tư vấn và điều trị hiệu quả đóng góp đáng kể vào gánh nặng tử vong này.

Theo báo cáo của UNICEF và WHO năm 2006, tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHCT) có sự biến động theo mùa Cụ thể, ở vùng nhiệt đới, tỷ lệ này tăng cao trong mùa mưa, trong khi ở vùng ôn đới, tỷ lệ cao nhất thường xảy ra vào mùa đông Khoảng 30-60% các trường hợp bệnh nhân đến khám và điều trị ngoại trú là do NKHHCT Đặc biệt, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp chiếm 19% tổng số ca tử vong ở nhóm tuổi này, đứng sau là tiêu chảy với 17%, trong khi ở các nước đang phát triển, tỷ lệ tử vong do NKHHCT có thể lên tới 20%.

Tỷ lệ trẻ tử vong do viêm phổi dưới 5 tuổi không bao gồm trẻ sơ sinh dưới 4 tuần tuổi, với sự khác biệt rõ rệt giữa các khu vực: Nam châu Á và Sahara Nam Phi có tỷ lệ cao nhất 21%, Đông Nam Á là 15% và Mỹ La tinh là 14% Mỗi năm, 3/4 các trường hợp viêm phổi ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn cầu xảy ra tại 15 quốc gia, trong đó Việt Nam đứng thứ 15 với khoảng 2 triệu ca mắc Nghiên cứu từ Bangladesh, Chile và Gambia cho thấy vi khuẩn Hib gây ra khoảng 20% các trường hợp viêm phổi nặng.

Viêm phổi là một vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng tại Ấn Độ, ảnh hưởng lớn đến tình trạng kinh tế - xã hội, với tỷ lệ tử vong do viêm phổi chiếm gần 1/3 tổng số trẻ tử vong dưới 5 tuổi Nghiên cứu của Eric A F, Simoes và cộng sự chỉ ra rằng trẻ em mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ngoài cộng đồng thường có tỷ lệ viêm đường hô hấp trên cao, chiếm 2/3 tổng số trường hợp Ngoài ra, nghiên cứu của Meganathan P và Awasthi S vào năm 2019 cho thấy viêm phổi có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như nhiễm trùng khác, hạ đường huyết, và ảnh hưởng đến các chỉ số máu và huyết thanh, với độ chính xác chẩn đoán cao của điểm GMU-CPE.

Nghiên cứu của Desai và cộng sự (2020) cho thấy chỉ có 16,5% trẻ em mắc bệnh về nhiễm khuẩn hô hấp được điều trị bởi chuyên gia Nhi khoa, trong đó 3,8% trẻ được kê đơn kháng sinh, với Cephalosporins thế hệ 1 là loại phổ biến nhất (24,5%) Tỷ lệ sử dụng kháng sinh không thích hợp sau xuất viện ở trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) thấp hơn so với các báo cáo khác Nghiên cứu của Shivaprakash N.C và Kutty D.N (2017) chỉ ra rằng trẻ được bú mẹ, có tình trạng dinh dưỡng tốt và tiêm phòng đầy đủ có nguy cơ mắc NKHHCT thấp hơn Theo WHO (2013), chương trình tiêm phòng toàn cầu đã giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở trẻ em mắc nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới.

Nghiên cứu của Gombojav N và cộng sự (2009) chỉ ra rằng trẻ mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế, và sự hỗ trợ dành cho người chăm sóc trẻ còn hạn chế.

Cần tăng cường công tác truyền thông và giáo dục sức khỏe cho những người chăm sóc trẻ sơ sinh trong việc quản lý nhiễm khuẩn hậu sản, đặc biệt là đối với những người trẻ tuổi.

Tình hình NKHHCT ở trẻ em tại Việt Nam

Viêm phổi là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tử vong ở trẻ sơ sinh, với tỷ lệ tử vong cao, chiếm 31,3% tổng số ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi, gấp 6 lần so với tử vong do tiêu chảy Một nghiên cứu tại Bệnh viện Đa Khoa Trung ương Thái Nguyên cho thấy 2821 trẻ sơ sinh có tỷ lệ mắc viêm phổi cao và thường xuyên tái phát, gây gánh nặng cho ngành y tế và ảnh hưởng đến năng suất lao động của các bà mẹ Chỉ 52% trẻ tử vong do viêm phổi được chăm sóc y tế trước khi qua đời, do các bà mẹ không nhận biết được dấu hiệu bệnh hoặc không điều trị kịp thời Theo Niên giám Thống kê Y tế năm 2017, viêm phổi đứng đầu trong số các bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất và đứng thứ hai trong số các bệnh có tỷ lệ tử vong cao nhất trên toàn quốc Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi, với 3% trẻ em trong độ tuổi này có triệu chứng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trong vòng 2 tuần trước khi phỏng vấn.

Tỷ lệ điều trị tại cơ sở y tế tư nhân cao hơn so với cơ sở y tế nhà nước, với 56,4% và 42,6% tương ứng Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) ở trẻ em không có xu hướng giảm trong những năm gần đây Nghiên cứu của Trần Thị Kiệm trên 759 trẻ em tại Thanh Hà, Hải Dương cho thấy tỷ lệ viêm VA và cảm cúm phổ biến nhất là 11,6%, trong khi viêm họng chiếm 57,1% ở trẻ 7-12 tháng và viêm phế quản 72,7% ở trẻ từ 2-7 tháng Nghiên cứu của Đào Minh Tuấn năm 2011 chỉ ra rằng tỷ lệ trẻ mắc viêm phổi do vi khuẩn cao nhất ở độ tuổi 6-12 tháng, với tỷ lệ 44,7% Theo nghiên cứu của Nguyễn Thành Nhôm năm 2014, triệu chứng ho và sốt là phổ biến nhất ở trẻ mắc viêm phổi nặng, với tỷ lệ tương ứng là 97,7% và 84,6%.

Thực hành chăm sóc và các khó khăn của bà mẹ về chăm sóc trẻ

Các nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu từ các tác giả nước ngoài chỉ ra rằng việc chăm sóc trẻ mắc NKHHCT gặp nhiều khó khăn, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của các thực hành chăm sóc hiệu quả để cải thiện tình trạng sức khỏe của trẻ.

Nghiên cứu của Kumar R (2012) cho thấy 72% bà mẹ biết đến chương trình ARI, trong khi 28% chưa biết 56% cho rằng ARI là bệnh nghiêm trọng, nhưng 44% lại cho rằng không nghiêm trọng 76% bà mẹ khuyến nghị cho trẻ ăn bú nhiều hơn trong thời gian mắc bệnh, 36% tự điều trị tại nhà, và 64% đưa trẻ đi khám tại cơ sở y tế, trong khi 95% thực hiện theo lời khuyên của bác sĩ Nghiên cứu của Siswanto E (2007) tại Thái Lan cho thấy chỉ có 19% bà mẹ có kiến thức tốt về viêm phổi, còn 15% có kiến thức kém.

V V năm 2017 đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành về NKHHCT của các bà mẹ ở vùng nông thôn của Maharashtra [45], chỉ ra kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ về NKHHCT còn rất thấp Bà mẹ có kiến thức kém chiếm 68,9%, thái độ kém là 74,3%, thực hành kém là 68,9% Số bà mẹ có kiến thức, thái độ và thực hành kém chiếm tỷ lệ cao là 71,6%, trung bình là 20,3%, số bà mẹ có kiến thức, thái độ và thực hành tốt còn thấp chỉ đạt 8,1% Vì vậy, cần phải nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ về NKHHCT Hơn nữa, bà mẹ là người chăm sóc chính cho trẻ trong xã hội nên kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ có ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng bệnh và sự sống còn của trẻ

Một nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 132 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại Nepal năm

Năm 2014, nghiên cứu về kiến thức và thực hành quản lý bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) cho thấy phần lớn các bà mẹ trong độ tuổi 20-24 là nội trợ, với 93% có thông tin về bệnh, trong đó 30% từ nhân viên y tế Hai dấu hiệu bệnh được biết đến nhiều nhất là ho (78%) và chảy nước mũi (71%), tuy nhiên chỉ có 48% bà mẹ nhận thức đúng về các dấu hiệu nguy hiểm của bệnh.

Thiếu kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm của bệnh đã dẫn đến việc đề xuất một chương trình giáo dục cộng đồng cho các bà mẹ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT).

Nghiên cứu của Peker E và cộng sự năm 2014 cho thấy 58,1% trẻ mắc NKHHCT có triệu chứng ho và 40,9% có biểu hiện sốt Trong số 122 bà mẹ có con từ 2 đến 16 tuổi, chỉ có 28,6% sử dụng kháng sinh và 27,8% dùng thuốc hạ sốt trước khi gặp bác sĩ Tỷ lệ sử dụng kháng sinh không được kê đơn là 12,3%, trong khi các phương pháp điều trị truyền thống và thay thế chiếm 57,4% Kết quả cho thấy kiến thức của các bà mẹ về việc sử dụng thuốc cho trẻ còn hạn chế, đặc biệt là trong việc sử dụng kháng sinh không theo đơn.

Các nghiên cứu tại Việt Nam

Tỷ lệ bà mẹ có thực hành kém trước can thiệp là 81,3%, nhưng sau can thiệp, tỷ lệ này giảm xuống còn 14,5% ở nhóm can thiệp và 77,6% ở nhóm đối chứng, với p < 0,01 Hiệu quả can thiệp đạt 86,67%.

Việc chăm sóc và phòng bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHC) không chỉ phụ thuộc vào cán bộ y tế mà còn vào thực hành của bà mẹ Sự phát hiện sớm và đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời là rất quan trọng Nếu bà mẹ thiếu kiến thức và thái độ đúng đắn, có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như bệnh nặng hoặc tử vong Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), 75% bệnh NKHHC được điều trị tại nhà Do đó, việc nâng cao hiểu biết của bà mẹ về bệnh và thái độ đúng đắn trong việc chăm sóc trẻ là rất cần thiết Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương và cộng sự năm 2008 cho thấy chỉ có 34% bà mẹ có kiến thức tốt về NKHHC ở huyện Quảng Trạch, Quảng Bình.

Theo nghiên cứu về thực hành của các bà mẹ khi trẻ mắc NKHHCT, có 3,9% bà mẹ không thực hiện biện pháp nào, trong khi 71,6% đưa trẻ đi khám tại cơ sở y tế Nhà Nước Chỉ 7,8% tự mua thuốc cho trẻ, và 16,7% chọn khám tại y tế tư nhân Đáng chú ý, 54,9% bà mẹ có kiến thức đúng về dinh dưỡng, cho trẻ ăn nhiều hơn bình thường để đảm bảo đủ dinh dưỡng trong quá trình điều trị, và 54,5% hiểu cần cung cấp đủ nước cho trẻ, đặc biệt khi trẻ có triệu chứng sốt và thở nhanh Nghiên cứu của Helena Hildenwall cho thấy một số bà mẹ chăm sóc trẻ tại nhà bằng cách giữ ấm, như không cho trẻ dậy khi trời lạnh và cung cấp thức ăn, đồ uống ấm để tránh cảm lạnh Nghiên cứu của Nguyễn Minh Hiếu năm 2012 cũng đánh giá hiệu quả can thiệp cộng đồng trong xử trí NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi tại Hà Nội.

[13] Đây là nghiên cứu can thiệp có đối chứng, nhóm can thiệp là 301 bà mẹ tại huyện

Nghiên cứu tại huyện Ba Vì với 324 bà mẹ có con dưới 36 tháng tuổi cho thấy hiệu quả cao trong việc thay đổi hành vi chăm sóc trẻ ốm tại nhà Tất cả bốn chỉ số đánh giá, bao gồm tăng cường cho ăn, cho uống, thông thoáng mũi họng, và giữ ấm hoặc làm mát cho trẻ, đều tăng sau can thiệp với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Ngược lại, nhóm đối chứng tại huyện Đan Phượng lại ghi nhận sự giảm sút ở các chỉ số này Từ kết quả nghiên cứu, tác giả khuyến nghị cần tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe về phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và các bà mẹ có con dưới 5 tuổi, đặc biệt là về nhận biết triệu chứng, dấu hiệu nguy hiểm, và kiến thức chăm sóc trẻ khi bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính.

Tình hình mắc và tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam và các nước đang phát triển vẫn còn cao Thực hành chăm sóc trẻ mắc NKHHCT của các bà mẹ còn hạn chế, trong khi vai trò của họ rất quan trọng trong việc giảm tỷ lệ mắc và tử vong Hiện chưa có nghiên cứu nào đề cập đến những khó khăn mà các bà mẹ gặp phải khi chăm sóc trẻ mắc NKHHCT Do đó, cần thiết phải nghiên cứu vấn đề này và đề xuất các giải pháp hỗ trợ nhằm giảm bớt khó khăn cho các bà mẹ trong quá trình chăm sóc trẻ.

Mô hình nâng cao sức khỏe của Pender [44], [47]

Mô hình thúc đẩy sức khỏe – Health Promotion Model (HPM) của Nola Pender

Mô hình thúc đẩy sức khỏe (HPM) được giới thiệu vào năm 1996 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển các nguồn lực để duy trì và nâng cao sức khỏe cá nhân HPM bao gồm hai giai đoạn: ra quyết định và hành động Trong giai đoạn ra quyết định, mô hình xác định 7 yếu tố nhận thức và 5 yếu tố có thể thay đổi, ảnh hưởng đến hành vi thúc đẩy sức khỏe Giai đoạn hành động tập trung vào những rào cản mà bà mẹ gặp phải trong việc chăm sóc trẻ, đồng thời nhận thức về lợi ích của việc cải thiện thực hành chăm sóc trẻ tại nhà Đánh giá sức khỏe và hành vi sức khỏe là cơ sở để điều chỉnh kế hoạch phòng ngừa và nâng cao sức khỏe cho trẻ, cung cấp dữ liệu cho các đánh giá lâm sàng và can thiệp hiệu quả.

NHỮNG NHẬN THỨC VỀ HÀNH VI CỤ THỂ VÀ TÁC ĐỘNG CẢM XÚC CỦA NÓ

Hình 1.2 Mô hình nâng cao sức khỏe của Pender

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại 2 xã, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Lợi ích nhận thức được: nâng cao thực hành tự chăm sóc trẻ và sức khỏe của trẻ

Rào cản nhận thức được: Khó khăn khi chăm sóc trẻ

Tác động cảm xúc liên quan đến hành vi:

Yếu tố thay đổi thực hành chăm sóc

Tác động giữa con người với con người (cán bộ y tế, người tư vấn, bà mẹ và trẻ)

Sự tự tin nhận thức được: Sự tự tin của bà mẹ trong chăm sóc và theo dõi trẻ bệnh

Tác động giữa con người với môi trường (nơi cư trú, thông tin tư vấn, phương tiện, hỗ trợ xã hội)

Hành vi trước đây: thói quen, thực hành phòng và chăm sóc trẻ mắc NKHHCT

Các yếu tố cá nhân (tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi ở )

Thực hành phòng và chăm sóc trẻ của bà mẹ (có khả năng kiểm soát cao)

Cam kết thực hiện hành vi

Nâng cao hành vi tự chăm sóc trẻ mắc NKHHCT của bà mẹ

* Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại 2 xã, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định trong thời gian từ tháng 10/2020 đến tháng 2/2021

Các bà mẹ có con được chẩn đoán mắc NKHHCT tại các cơ sở y tế, theo sổ khám bệnh hoặc danh sách khám tại trạm, và đã có ít nhất một lần nhập viện với chẩn đoán trẻ mắc NKHHCT.

* Bà mẹ không có khả năng nhận thức và giao tiếp

* Bà mẹ không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

- Địa điểm nghiên cứu: Tại xã Tam Thanh và xã Trung Thành, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2020 đến tháng 12/2021 2.3 Thiết kế nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu bán cấu trúc

Lựa chọn đối tượng nghiên cứu

Thuyết phục đối tượng tham gia nghiên cứu

Phỏng vấn bà mẹ các thông tin chung về tự chăm sóc trẻ tại nhà

Phỏng vấn bà mẹ các khó khăn về chăm sóc trẻ tại nhà

Hình 2.1 Qui trình nghiên cứu 2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu:

Đối tượng nghiên cứu trong bài viết này bao gồm các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Trung Thành và xã Tam Thanh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, được lựa chọn theo tiêu chuẩn chọn mẫu.

Nghiên cứu hiện tượng học yêu cầu sự tìm hiểu sâu sắc về hiện tượng quan tâm Để thực hiện nghiên cứu này, tất cả đối tượng tham gia cần có kinh nghiệm liên quan đến hiện tượng và khả năng kết nối giữa cuộc sống của họ với chủ đề nghiên cứu Do đó, cỡ mẫu trong nghiên cứu hiện tượng thường dao động từ 10 người trở lên.

Nghiên cứu bao gồm 15 đối tượng, nhưng cỡ mẫu có thể thay đổi tùy thuộc vào việc thu thập thông tin mới Cỡ mẫu có thể giảm nếu không có thông tin bổ sung hoặc tăng lên nếu nhà nghiên cứu muốn khám phá sâu hơn về hiện tượng Phương pháp chọn mẫu được thực hiện theo chỉ dẫn của cán bộ y tế xã từ danh sách các bà mẹ có con mắc bệnh NKHHCT trong khoảng thời gian nhất định.

Giải nén băng, phân tích và đánh giá theo mục tiêu

Trong khoảng thời gian từ 1 tuần đến 3 tháng trước cuộc phỏng vấn, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn sâu 17 bà mẹ tại mỗi xã Tổng cộng, có 34 bà mẹ đã tham gia phỏng vấn sâu tại 2 xã.

2.5 Phương pháp thu thập số liệu và công cụ thu thập số liệu 2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu:

- Phỏng vấn sâu được thực hiện trên 34 bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc NKHHCT tại xã Tam Thanh và Trung Thành, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Trong mỗi buổi phỏng vấn sâu, nghiên cứu viên cần chuẩn bị đầy đủ dụng cụ và thiết bị cần thiết như bút ghi, sổ tay và máy ghi âm để đảm bảo quá trình phỏng vấn diễn ra suôn sẻ.

- Thời gian cho mỗi cuộc phỏng vấn từ 25 – 30 phút

- Nguồn số liệu này do nghiên cứu viên trực tiếp phỏng vấn, gỡ băng và có biên bản phỏng vấn kèm theo

Trong quá trình thu thập thông tin, nhóm nghiên cứu luôn thảo luận kỹ lưỡng về các ý kiến trái chiều trước khi đưa ra quyết định cuối cùng.

Thông tin thu thập sẽ được xử lý qua phân tích nội dung Sau khi thu thập dữ liệu từ 5 người tham gia đầu tiên, nhà nghiên cứu sẽ tiến hành phân tích kết quả để xác định các chủ đề bằng cách nhóm các nội dung tương đồng từ các cuộc phỏng vấn Các cuộc phỏng vấn tiếp theo sẽ cung cấp thêm thông tin cho các chủ đề hiện có hoặc tạo ra các chủ đề mới Quá trình phỏng vấn sẽ kết thúc khi không còn thông tin mới được thu thập.

Trước khi tiến hành phỏng vấn sâu, chúng tôi sẽ thu thập thông tin nhân khẩu học của bà mẹ Những thông tin này sẽ được trình bày trong bảng để dễ dàng so sánh và phân tích.

2.5.2 Các bước thu thập số liệu:

+ Bước 1: Lựa chọn ngẫu nhiên các bà mẹ theo danh sách và tiêu chuẩn chọn mẫu + Bước 2: Giải thích, thuyết phục bà mẹ tham gia nghiên cứu

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 27/08/2023, 20:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn An và Nguyễn Thị Anh Phương (2008). Chăm sóc trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, Điều dưỡng Nhi khoa, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, 166 - 174 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
Tác giả: Lê Văn An, Nguyễn Thị Anh Phương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
Năm: 2008
2. Thái Lan Anh, Phạm Thị Thu và Phạm Thanh Bình (2015). Thực trạng về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Ngũ Đoan huyện Kiến Thụy, Hải Phòng. Tạp chí Dinh Dưỡng và Thực Phẩm 11(2), 45 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Ngũ Đoan huyện Kiến Thụy, Hải Phòng
Tác giả: Thái Lan Anh, Phạm Thị Thu, Phạm Thanh Bình
Nhà XB: Tạp chí Dinh Dưỡng và Thực Phẩm
Năm: 2015
3. Bệnh viện Lao và bệnh Phổi Trung ương (2007). Hội thảo triển khai kế hoạch hoạt động dự án NKHHCT trẻ em các tỉnh trọng điểm năm 2007 và giai đoạn 2007 - 2010. Dự án nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em, Bệnh viện Lao và bệnh Phổi Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo triển khai kế hoạch hoạt động dự án NKHHCT trẻ em các tỉnh trọng điểm năm 2007 và giai đoạn 2007 - 2010
Tác giả: Bệnh viện Lao và bệnh Phổi Trung ương
Nhà XB: Bệnh viện Lao và bệnh Phổi Trung ương
Năm: 2007
4. Bộ Y tế (2006). Hội thảo định hướng xây dựng kế hoạch hoạt động năm 2006 và giai đoạn 2006 – 2010. Dự án nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo định hướng xây dựng kế hoạch hoạt động năm 2006 và giai đoạn 2006 – 2010
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Dự án nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em
Năm: 2006
5. Bộ Y tế (2014). Chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (ARI). Y tế - Sức khoẻ, tr. 150 - 158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (ARI)
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Y tế - Sức khoẻ
Năm: 2014
6. Bộ Y tế (2016). Kế hoạch hành động Quốc gia về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em giai đoạn 2016- 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch hành động Quốc gia về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em giai đoạn 2016- 2020
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2016
7. Bộ Y tế (2017). Các bệnh mắc cao nhất trên toàn, Niên giám thống kê y tế năm 2015, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bệnh mắc cao nhất trên toàn
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2017
8. Bộ Y tế (2017). Xử trí lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh từ 0 đến 2 tháng, Tài liệu đào tạo kỹ năng xử trí lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh cho cán bộ y tế cho tuyến y tế cơ sở, 10 - 14, 31 - 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử trí lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh từ 0 đến 2 tháng
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Tài liệu đào tạo kỹ năng xử trí lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh cho cán bộ y tế cho tuyến y tế cơ sở
Năm: 2017
9. Bộ Y tế (2017). Xử trí lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh từ 2 tháng đến 5 tuổi, Tài liệu đào tạo kỹ năng xử trí lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh cho cán bộ y tế cho tuyến y tế cơ sở, 7 - 41, 78 - 124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử trí lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh từ 2 tháng đến 5 tuổi
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Tài liệu đào tạo kỹ năng xử trí lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh cho cán bộ y tế cho tuyến y tế cơ sở
Năm: 2017
10. Đinh Ngọc Đệ (2012). Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em. Chăm sóc sức khoẻ trẻ em, Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam, tr. 150 - 160 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em
Tác giả: Đinh Ngọc Đệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam
Năm: 2012
11. Nguyễn Kim Hà (2012). Nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em, Điều dưỡng Nhi khoa, Nhà xuất bản y học Hà Nội, 181 - 204 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em
Tác giả: Nguyễn Kim Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản y học Hà Nội
Năm: 2012
12. Phạm Ngọc Hà (2005). Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của những bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn Tân Túc huyện Bình Chánh-thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của những bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn Tân Túc huyện Bình Chánh-thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Ngọc Hà
Nhà XB: Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
13. Nguyễn Thị Minh Hiếu (2012). Can thiệp cộng đồng thay đổi hành vi chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ. Tạp chí Y học thực hành, 1(804), 55 - 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can thiệp cộng đồng thay đổi hành vi chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Hiếu
Nhà XB: Tạp chí Y học thực hành
Năm: 2012
14. Thành Minh Hùng, Đinh Văn Hưng, Y Phan và các cộng sự (2016). Đặc điểm nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi điều trị tại Khoa Nhi, Bệnh viện Đa Khoa khu vực Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, tr. 24 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi điều trị tại Khoa Nhi, Bệnh viện Đa Khoa khu vực Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum
Tác giả: Thành Minh Hùng, Đinh Văn Hưng, Y Phan
Năm: 2016
15. Nguyễn Thị Thanh Hương (2008). Thực hành chăm sóc tại nhà trẻ dưới 5 tuổi bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ tại huyện Quảng Trạch, Quảng Bình.Tạp chí Y học thực hành, 8, 614 - 615 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành chăm sóc tại nhà trẻ dưới 5 tuổi bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ tại huyện Quảng Trạch, Quảng Bình
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: Tạp chí Y học thực hành
Năm: 2008
16. Nguyễn Thị Xuân Hương, Hoàng Thị Huế, Phạm Trung Kiên và cộng sự (2012). Tình hình bệnh tật và tử vong sơ sinh tại khoa Nhi, Bệnh viện Đa Khoa Trung ương Thái Nguyên trong 3 năm (2008 - 2010). Tạp chí Y học thực hành, 3(810), 7 - 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh tật và tử vong sơ sinh tại khoa Nhi, Bệnh viện Đa Khoa Trung ương Thái Nguyên trong 3 năm (2008 - 2010)
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân Hương, Hoàng Thị Huế, Phạm Trung Kiên, cộng sự
Nhà XB: Tạp chí Y học thực hành
Năm: 2012
17. Nguyễn Gia Khánh và cộng sự (2013). Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, Bài giảng Nhi Khoa - tập 1, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 380 - 389 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
Tác giả: Nguyễn Gia Khánh, cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2013
18. Trần Thị Kiệm (2013). Đánh giá mô hình bệnh nhiễm khuẩn hô hấp trẻ em dưới một tuổi tại Thanh Hà, Hải Dương. Tạp chí Y học thực hành, 859(2), 74 - 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá mô hình bệnh nhiễm khuẩn hô hấp trẻ em dưới một tuổi tại Thanh Hà, Hải Dương
Tác giả: Trần Thị Kiệm
Nhà XB: Tạp chí Y học thực hành
Năm: 2013
19. Chu Thị Thuỳ Linh (2016). Kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính dưới 5 tuổi của các bà mẹ tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên năm 2016, Luận văn thạc sĩ Điều dưỡng, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính dưới 5 tuổi của các bà mẹ tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên năm 2016
Tác giả: Chu Thị Thuỳ Linh
Nhà XB: Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Năm: 2016
20. Lý Thị Chi Mai và Huỳnh Thanh Liêm (2011). Nghiên cứu tình hình mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh, Trung tâm y tế dự phòng Trà Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh
Tác giả: Lý Thị Chi Mai, Huỳnh Thanh Liêm
Nhà XB: Trung tâm y tế dự phòng Trà Vinh
Năm: 2011

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w