Chính vì vậy, nhu cầu về địa chỉ IP ngày càng lớn, thế hệ địa chỉ Internet đầu tiên là IPv4, sẽ không thể đáp ứng nổi sự phát triển của mạng Internet toàn cầu trong tương lai.. Hai vấn đ
Trang 1Luận văn
Tổng quan về IPv6 và triển khai IPv6 trên cơ sở hạ tầng
mạng IPv4
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH VẼ 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 6
MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA CHỈ IPv6 9
1.1 Nguyên nhân phát triển IPv6 10
1.2 Những giới hạn của IPv4 11
1.3 Vấn đề quản lý địa chỉ IPv4 12
1.4 Kiến trúc của IPv6 13
1.4.1 Tăng kích thước của tầm địa chỉ 13
1.4.2 Sự phân cấp địa chỉ toàn cầu 14
1.4.3 Một số tính năng mới nổi trội hơn so với IPv4 16
1.5 So sánh Header của IPv4 và IPv6 20
1.6 Định nghĩa cách biểu diễn địa chỉ IPv6 24
1.6.1 Các quy tắc biểu diễn 24
1.6.2 Sử dụng các địa chỉ IPv6 trong việc truy cập URL 25
1.7 Phân loại địa chỉ 26
1.7.1 Unicast Address 26
1.7.2 Multicast Address 28
1.7.3 Anycast Address 30
1.8 Các loại địa chỉ IPv6 đặc biệt 31
1.8.1 Địa chỉ không định danh và địa chỉ loopback 31
1.8.2 Địa chỉ IPv4-Compatible IPv6 31
1.8.3 Địa chỉ IPv4-Mapped IPv6 32
1.9 Thống kê các dạng địa chỉ IPv6 33
CHƯƠNG 2: TRIỂN KHAI IPv6 TRÊN CƠ SỞ HẠ TẦNG MẠNG IPv4 36
2.1 Thực trạng triển khai IPv6 37
2.1.1 Trên thế giới 37
2.1.2 Tại Việt Nam 37
Trang 32.2 Các phương pháp triển khai IPv6 38
2.2.1 Định dạng EUI-64 38
2.2.3 Tự động cấu hình phi trạng thái 39
2.2.4 DHCPv6 41
2.3 Mobile IPv6 43
2.4 Định tuyến cho liên mạng IPv6 43
2.4.1 Bảng định tuyến IPv6 44
2.4.2 Định tuyến tĩnh 47
2.4.3 Các giao thức định tuyến động trong IPv6 48
2.5 OSPFv3 cho IPv6 53
2.5.1 Hoạt động của OSPFv3 54
2.5.2 So sánh OSPFv3 và OSPFv2 55
2.5.3 Gói tin LSA cho IPv6 57
2.5.4 Cấu hình OSPFv3 trên thiết bị Cisco 58
2.6 Giới thiệu các cơ chế chuyển đổi giữa IPv4 và IPv6 63
2.6.1 Dual Stack 64
2.6.2 Tunneling 65
2.6.3 NAT-PT 68
CHƯƠNG 3: MÔ PHỎNG HỆ THỐNG MẠNG IPv6 71
3.1 Cài đặt và cấu hình trên GNS3 72
3.2 Lab 1 – Cấu hình OSPFv3 cho IPv6 73
3.3 Lab 2 – Manual IPv6 Tunnel 79
3.4 Lab 3 – Cấu hình 6to4 tunnel kết hợp định tuyến tĩnh 83
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 4DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sự cạn kiệt IPv4 qua các năm 10
Hình 1.2 Thế giới sẵn sàng cho IPv6 11
Hình 1.3 Số Bits trong IPv4 so với IPv6 13
Hình 1.4 Khác nhau cơ bản giữa IPv4 và IPv6 14
Hình 1.5 Kiến trúc quản lý việc cấp phát địa chỉ IPv6 lúc đầu 15
Hình 1.6 Kiến trúc quản lý việc cấp phát địa chỉ IPv6 hiện nay 15
Hình 1.7 IPv6 Mobility 18
Hình 1.8 Tổng hợp địa chỉ cho định tuyến 19
Hình 1.9 IPv4 Header và IPv6 Header 20
Hình 1.10 Chi tiết IPv6 Header 21
Hình 1.11 Thứ tự header trong gói tin IPv6 22
Hình 1.12 Truy cập website bằng địa chỉ IPv6 với port 8080 25
Hình 1.13 Cấu trúc địa chỉ Link-local 26
Hình 1.14 Xem địa chỉ Link-local của máy tính 27
Hình 1.15 Cấu trúc địa chỉ Site-local 28
Hình 1.16 Cấu trúc địa chỉ Multicast Address 28
Hình 1.17 Cấu trúc địa chỉ Anycast Address 30
Hình 1.18 Cấu trúc địa chỉ IPv4-Compatible IPv6 31
Hình 1.19 Cấu trúc địa chỉ 6to4 32
Hình 1.20 Cấu trúc địa chỉ IPv4-Mapped IPv6 33
Hình 2.1 Định dạng EUI-64 cho IPv6 38
Hình 2.2 Mô tả định dạng EUI-64 39
Hình 2.3 Mô tả định dạng EUI-64 (tt) 39
Hình 2.4 Stateles Autoconfiguration 40
Hình 2.5 Bước 1 của Stateless Autoconfiguration 41
Hình 2.6 Bước 2 của Stateless Autoconfiguration 41
Hình 2.7 Hoạt động của DHCPv6 42
Hình 2.8 Bảng định tuyến IPv6 trên Windows 46
Hình 2.9 Định dạng gói tin RIPng 49
Trang 5Hình 2.10 Next hop RTE 49
Hình 2.11 IPv6 prefix RTE 50
Hình 2.12 Cấu trúc phân cấp trong OSPFv3 54
Hình 2.13 OSPFv3 LSA header và OSPFv2 LSA header 57
Hình 2.14 OSPFv3 LSA header 57
Hình 2.15 Mô hình OSPFv3 đa vùng cơ bản 61
Hình 2.16 Sự chuyển đổi giữa mạng IPv4 và IPv6 63
Hình 2.17 Mô hình Dual-stack 64
Hình 2.18 Dual-stack trong Windows 64
Hình 2.19 Dual-stack trong Cisco 65
Hình 2.20 Công nghệ tunneling 65
Hình 2.21 Mô hình 6to4 tunneling 67
Hình 2.22 Cấu trúc địa chỉ IPv6 6to4 67
Hình 2.23 Mô hình Tunnel Broker 68
Hình 2.24 Công nghệ NAT-PT 69
Hình 3.1 Giao diện chương trình GNS3 72
Hình 3.2 Mô hình Lab 1 – OSPFv3 73
Hình 3.3 Mô hình Lab 2 – Manual IPv6 Tunnel 79
Hình 3.4 Mô hình Lab 3 – 6to4 Tunnel 83
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Bảng đặc tả cấp phát địa chỉ IPv6 trên toàn cầu 16
Bảng 1.2 Ví dụ về địa chỉ IPv6 Multicast 29
Bảng 1.3 Bảng mô tả các loại địa chỉ IPv6 Multicast 29
Bảng 1.4 Bảng thống kê các dạng địa chỉ IPv6 34
Bảng 2.1 Chức năng gói LSA 58
Bảng 2.2 Lệnh cấu hình OSPFv3 toàn cục 59
Bảng 2.3 Lệnh cấu hình OSPFv3 trên Interface 59
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AfriNIC African Network Information Centre
APNIC Asia-Pacific Network Information Centre
ARIN American Registry for Internet Numbers
ARPANET Advanced Research Projects Agency Network
BDR Backup Designated Router
CEF Cisco Express Forwarding
CIDR Classless Inter-Domain Routing
DHCP Dynamic Host Configuration Protocol
EIGRP Enhanced Interrior Gateway Routing Protocol
ESP Encapsulating Security Payload
EUI Extended Universal Identifier
GNS Graphical Network Simulator
GRU Globally Routable Unicast
IANA Internet Assigned Numbers Authority
IETF Internet Engineering Task Force
IPv4 Internet Protocol version 4
IPv6 Internet Protocol version 6
IS-IS Intermediate System to Intermediate System
ISP Internet Service Provider
LACNIC Latin America and Caribbean Network Information Centre
LSA Link-state Advertisement
LSDB Link-state Database
Trang 8OSPF Open Shortest Path First
OSPFv3 Open Shortest Path First Version 3
RIPE Réseaux IP Européens Network Coordination Centre
RIPng Routing Information Protocol next generation
RIR Regional Internet Registry
SLA Site Level Aggregator
SPF Shortest Path First
VNNIC Viet Nam Network Information Center
Trang 9MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Với tiền thân là mạng ARPANET, ngày nay mạng INTERNET đã phát triển với tốc độ nhanh chóng và trở thành mạng lớn nhất trên thế giới Các dịch vụ trên Internet không ngừng phát triển, cơ sở hạ tầng mạng được nâng cao về băng thông và chất lượng dịch vụ Chính vì vậy, nhu cầu về địa chỉ IP ngày càng lớn, thế hệ địa chỉ Internet đầu tiên là IPv4, sẽ không thể đáp ứng nổi sự phát triển của mạng Internet toàn cầu trong tương lai Do đó, một thế hệ địa chỉ Internet mới sẽ được triển khai để bắt kịp, đáp ứng và thúc đẩy mạng lưới toàn cầu tiến sang một giai đoạn phát triển mới Chính vì lý do cấp thiết chuyển sang sử dụng “IPv6”, nên tôi đã chọn vấn đề này
để nghiên cứu và làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
II Mục tiêu
Mục tiêu đạt được sau khi hoàn thành khóa luận:
Hiểu rõ đặc điểm và cấu trúc của IPv6
Nắm vững những tính năng mới của IPv6 so với IPv4
Các cách thức để triển khai IPv6
Triển khai thành công hệ thống mạng IPv6 được giả lập trên phần mềm GNS3 và nền tảng công nghệ của Cisco System
III Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi của IPv6 rất rộng, từ cơ sở hạ tầng cho đến các dịch vụ mạng Khóa luận này nghiên cứu tổng quan về địa chỉ IPv6, các cách thức triển khai trên cơ sở hạ tầng mạng lớp 3 - lớp Network mà cụ thể là vấn đề định tuyển và chuyển đổi qua lại giữa môi trường IPv4 và IPv6
IV Bố cục
Nội dung của khóa luận chia thành 3 chương :
Chương 1: Tổng quan về địa chỉ IPv6
Chương 2: Triển khai IPv6 trên cơ sở hạ tầng mạng IPv4
Chương 3: Mô phỏng hệ thống mạng IPv6
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA CHỈ IPv6
Ngày 03-02-2011, nguồn cung địa chỉ Internet IPv4 đã chính thức cạn kiệt sau
30 năm sử dụng Tổ chức quản lý địa chỉ Internet toàn cầu (IANA) đã phân bổ những khối địa chỉ IPv4 cuối cùng cho các nhà cấp phát địa chỉ Internet khu vực (RIR) Điều
đó không có nghĩa mọi thứ trên thế giới đã chấm dứt, cũng không có nghĩa Internet đã đến ngày tận thế Địa chỉ IPv6 là sẽ là phiên bản thế hệ tiếp theo Internet Đây là phiên bản thiết kế nhằm khác phục những hạn chế của giao thức IPv4 và bổ sung những tính năng mới cần thiết trong hoạt động và dịch vụ mạng thế hệ sau
Chương 1 của khóa luận gồm những nội dung chính sau :
Các giới hạn của địa chỉ IPv4 và nguyên nhân phát triển địa chỉ IPv6.
Cấu trúc của địa chỉ IPv6.
Cách biểu diễn địa chỉ IPv6.
Các dạng địa chỉ của IPv6.
Trang 111.1 Nguyên nhân phát triển IPv6
Năm 1973, TCP/IP được giới thiệu và ứng dụng vào mạng ARPANET Vào thời điểm đó, mạng ARPANET chỉ có khoảng 250 Site kết nối với nhau, với khoảng
750 máy tính Internet đã và đang phát triển với tốc độ khủng khiếp, đến nay đã có hơn 60 triệu người dùng trên toàn thế giới Theo tính toán của giới chuyên môn, mạng Internet hiện nay đang kết nối hàng trăm ngàn Site với nhau, với hàng trăm triệu máy tính Trong tương lai không xa, những con số này không chỉ dừng lại ở đó Sự phát triển nhanh chóng này đòi hỏi phải kèm theo sự mở rộng, nâng cấp không ngừng của
cơ sở hạ tầng mạng và công nghệ sử dụng
Hình 1.1 Sự cạn kiệt IPv4 qua các năm
Bước sang những năm đầu của thế kỷ XXI, ứng dụng của Internet phát triển nhằm cung cấp dịch vụ cho người dùng trên các thiết bị mới ra đời: Notebook, Cellualar modem, Tablet, Smart-Phone, Smart TV… Để có thể đưa những khái niệm mới dựa trên cơ sở TCP/IP này thành hiện thực, TCP/IP phải mở rộng Nhưng một thực tế mà không chỉ giới chuyên môn, mà ngay cả các ISP cũng nhận thức được đó là tài nguyên mạng ngày càng hạn hẹp Việc phát triển về thiết bị, cơ sở hạ tầng, nhân lực… không phải là một khó khăn lớn Vấn đề ở đây là địa chỉ IP, không gian địa chỉ
IP đã cạn kiệt, địa chỉ IP (IPv4) không thể đáp ứng nhu cầu mở rộng mạng đó Bước
Trang 12tiến quan trọng mang tính chiến lược đối với kế hoạch mở rộng này là việc nghiên cứu cho ra đời một thế hệ sau của giao thức IP, đó chính là IP version 6
Hình 1.2 Thế giới sẵn sàng cho IPv6
IPv6 ra đời không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn IPv4 (công nghệ mà hạ tầng mạng chúng ta đang dùng ngày nay) Vì là một phiên bản hoàn toàn mới của công nghệ IP, việc nghiên cứu, ứng dụng vào thực tiễn luôn là một thách thức rất lớn Một trong những thách thức đó liên quan đến khả năng tương thích giữa IPv6 và IPv4, liên quan đến việc chuyển đổi từ IPv4 lên IPv6, làm thế nào mà người dùng có thể khai thác những thế mạnh của IPv6 nhưng không nhất thiết phải nâng cấp đồng loạt toàn
bộ mạng (LAN, WAN, Internet…) lên IPv6
1.2 Những giới hạn của IPv4
IPv4 hỗ trợ trường địa chỉ 32 bit, IPv4 ngày nay hầu như không còn đáp ứng được nhu cầu sử dụng của mạng Internet Hai vấn đề lớn mà IPv4 đang phải đối mặt là việc thiếu hụt các địa chỉ, đặc biệt là các không gian địa chỉ tầm trung (lớp B) và việc phát triển về kích thước rất nguy hiểm của các bảng định tuyến trong Internet
Thêm vào đó, nhu cầu tự động cấu hình (Auto-config) ngày càng trở nên cần thiết Địa chỉ IPv4 trong thời kỳ đầu được phân loại dựa vào dung lượng của địa chỉ
đó (số lượng địa chỉ IPv4) Địa chỉ IPv4 được chia thành 5 lớp A, B, C, D 3 lớp đầu tiên được sử dụng phổ biến nhất Các lớp địa chỉ này khác nhau ở số lượng các bit dùng để định nghĩa Network ID
Ví dụ: Địa chỉ lớp B có 16 bit đầu dành để định nghĩa Network ID và 16 bit
Trang 13cuối cùng dành cho Host ID Trong khi địa chỉ lớp C có 21 bit dành để định nghĩa Network ID và 8 bit còn lại dành cho Host ID… Do đó, dung lượng của các lớp địa chỉ này khác nhau
1.3 Vấn đề quản lý địa chỉ IPv4
Bên cạnh những giới hạn đã nêu ở trên, mô hình này còn có một hạn chế nữa chính là sự thất thoát địa chỉ nếu sử dụng các lớp địa chỉ không hiệu quả Mặc dù lượng địa chỉ IPv4 hiện nay có thể đáp ứng nhu cầu sử dụng trên thế giới, nhưng cách thức phân bổ địa chỉ IPv4 không thực hiện được chuyện đó
Ví dụ: một tổ chức có nhu cầu triển khai mạng với số lượng Host khoảng 300
Để phân địa chỉ IPv4 cho tổ chức này, người ta dùng địa chỉ lớp B Tuy nhiên, địa chỉ lớp B có thể dùng để gán cho 65536 Host Dùng địa chỉ lớp B cho tổ chức này làm thừa hơn 65000 địa chỉ Các tổ chức khác sẽ không thể nào sử dụng khoảng địa chỉ này Đây là điều hết sức lãng phí
Trong những năm 1990, kỹ thuật Classless Inter-Domain Routing (CIDR) được xây dựng dựa trên khái niệm mặt nạ địa chỉ (address mask) CIDR đã tạm thời khắc phục được những vấn đề nêu trên Khía cạnh tổ chức mang tính phân cấp (Hierachical) của CIDR đã cải tiến khả năng mở rộng của IPv4 Phương pháp này giúp hạn chế ảnh hưởng của cấu trúc phân lớp địa chỉ IPv4 Phương pháp này cho phép phân bổ địa chỉ IPv4 linh động hơn nhờ vào subnet mask Độ dài của Network
ID vào Host ID phụ thuộc vào số bit 1 của subnet mask, do đó, dung lượng của địa chỉ
IP trở nên linh động hơn
Ví dụ: sử dụng địa chỉ IP lớp C với độ dài Subnet Mask 23 (x.x.x.x/23) cho tổ chức trên Địa chỉ này có Host ID được định nghĩa bởi 9 bit, tương đương với 512 Host Địa chỉ này là phù hợp Tuy nhiên, CIDR có nhược điểm là Router chỉ có thể xác định được Network ID và Host ID nếu biết được Subnet mask
Mặc dù có thêm nhiều công cụ khác ra đời như kỹ thuật Subnetting (1985), kỹ thuật VLSM (1987) và CIDR (1993), các kỹ thuật trên đã không cứu vớt IPv4 ra khỏi
một vấn đề đơn giản: không có đủ địa chỉ cho các nhu cầu tương lai Có khoảng 4 tỉ
địa chỉ IPv4 nhưng khoảng địa chỉ này là sẽ không đủ trong tương lai với những thiết
bị kết nối vào Internet và các thiết bị ứng dụng trong gia đình yêu cầu địa chỉ IP
Trang 14Một vài giải pháp ngắn hạn, chẳng hạn như ứng dụng RFC 1918 (Address
Allocation for Private Internets) trong đó dùng một phần không gian địa chỉ làm các
địa chỉ dành riêng và NAT là một công cụ cho phép hàng ngàn Host truy cập vào Internet chỉ với một vài IP hợp lệ Tuy nhiên, giải pháp mang tính dài hạn là việc đưa vào IPv6 với cấu trúc địa chỉ 128 bit Không gian địa chỉ rộng lớn của IPv6 không chỉ cung cấp nhiều không gian địa chỉ hơn IPv4 mà còn có những cải tiến về cấu trúc
Với 128 bit, sẽ có 340.282.366.920.938.463.463.374.607.431.768.211.456 địa chỉ Một con số khổng lồ Trong năm 1994, IETF đã đề xuất IPv6 trong RFC 1752
(The Recommendation for the IP Next Generation Protocol) IPv6 khắc phục một số
vấn đề như thiếu hụt địa chỉ, chất lượng dịch vụ, tự động cấu hình địa chỉ, vấn đề xác thực và bảo mật
1.4 Kiến trúc của IPv6
Khi phát triển phiên bản địa chỉ mới, IPv6 hoàn toàn dựa trên nền tảng IPv4 Nghĩa là hầu hết những chức năng của IPv4 đều được tích hợp vào IPv6 Tuy nhiên, IPv6 đã lượt bỏ một số chức năng cũ và thêm vào những chức năng mới tốt hơn
Ngoài ra IPv6 còn có nhiều đặc điểm hoàn toàn mới
1.4.1 Tăng kích thước của tầm địa chỉ
Hình 1.3 Số Bits trong IPv4 so với IPv6
Một so sánh thú vị là nếu nói IPv4 là một trái banh golf thì IPv6 là một mặt trời
IPv6 sử dụng 128 bit địa chỉ, tăng gấp 4 lần số bit so với IPv4 (32bit) Nghĩa là trong khi IPv4 chỉ có 232 ~ 4,3 tỷ địa chỉ, thì IPv6 có tới 2128 ~ 3,4 * 1038 địa chỉ IP Gấp 296 lần so với địa chỉ IPv4 Với số địa chỉ của IPv6 nếu rãi đều trên bề mặt trái đất (diện tích bề mặt trái đất là 511263 tỷ mét vuông) thì mỗi mét vuông có khoảng 665.570 tỷ tỷ địa chỉ
Trang 15Hình 1.4 Khác nhau cơ bản giữa IPv4 và IPv6
Địa chỉ IPv6 được biểu diễn bởi ký tự Hexa với tổng cộng 8 Octet Mỗi Octet chứa 4 ký tự Hexa tương ứng với 16 bit nhị phân Dấu hai chấm ngăn cách giữa các octet
Giao thức IPv4 hiện tại được duy trì bởi kỹ thuật NAT và cấp phát địa chỉ tạm thời Tuy nhiên vì vậy mà việc thao tác dữ liệu trên payload của các thiết bị trung gian
là một bất lợi các lợi ích về truyền thông ngang hàng (peer-peer), bảo mật đầu cuối và chất lượng dịch vụ (QoS) Với số lượng cực kỳ lớn địa chỉ IPv6 thì sẽ không cần đến
kỹ thuật NAT hay cấp phát địa chỉ tạm thời nữa Vì lúc đó, mỗi thiết bị (Máy tính, điện thoại, tivi, robot, thiết bị dân dụng…) đều sẽ có một địa chỉ IP toàn cầu
Đây là một không gian địa chỉ cực lớn với mục đích không chỉ cho Internet mà còn cho tất cả các mạng máy tính, hệ thống viễn thông, hệ thống điều khiển và thậm chí cho từng vật dụng trong gia đình Trong tương lai, mỗi chiếc điều hòa, tủ lạnh, máy giặt hay nồi cơm điện… của mọi gia định trên thế giới cũng sẽ mang một địa chỉ IPv6 để chủ nhân của chúng có thể kết nối và ra lệnh từ xa Nhu cầu hiện tại chỉ cần 15% không gian địa chỉ IPv6, còn 85% dự phòng cho tương lai
1.4.2 Sự phân cấp địa chỉ toàn cầu
a) Phân cấp địa chỉ lúc ban đầu
Trang 16Hình 1.5 Kiến trúc quản lý việc cấp phát địa chỉ IPv6 lúc đầu
Trong đó:
FP – Format Prefix : 3 bit 001 để nhận dạng là địa chỉ toàn cầu
TLA ID – Top Level Aggregate ID : Nhận dạng tổng hợp cấp cao nhất
Res – Reserved : Dự phòng cho tương lai
NLA ID – Next Level Aggregator ID : Nhận dạng tổng hợp cấp tiếp theo
SLA ID – Site Level Aggregator ID : Nhận dạng tổng hợp cấp vùng
Interface ID : Địa chỉ định danh interface của 1 node trong 1 mạng con
b) Phân cấp địa chỉ hiện nay
Địa chỉ IPv6 sử dụng một giải pháp gọi là prefix (tiền tố) để phân cấp một địa
chỉ thành các khối xác định
Hình 1.6 Kiến trúc quản lý việc cấp phát địa chỉ IPv6 hiện nay
Địa chỉ IPv6 hiện nay do tổ chức cấp phát địa chỉ Internet quốc tế IANA cấp
phát Bảng 1.1 mô tả chi tiết việc cấp phát địa chỉ IPv6 theo prefix
Trang 17Bảng 1.1 Bảng đặc tả cấp phát địa chỉ IPv6 trên toàn cầu
/3 3 bit Luôn là 001 được dành cho các địa chỉ khả định tuyến toàn cầu
(Globally Routable Unicast –GRU)
/23 20 bit
Xác định cấp cao nhất là tổ chức IANA IANA phân phối tiếp cho 5 RIR - tổ chức cấp khu vực cấp phát địa chỉ IP, bao gồm: AfriNIC (Châu Phi), ARIN (Bắc Mỹ và Caribe), APNIC (Châu
Á Thái Bình Dương), RIPE (Châu Âu, Trung Đông và Trung Á)
/32 9 bit
Xác định cấp khu vực hoặc quốc gia Được các RIR cấp cho các ISP cao nhất trong hệ thống các nhà cung cấp dịch vụ của mỗi quốc gia
/48 16 bit Xác định cấp vùng Là các nhà cung cấp dịch vụ ở mỗi vùng
của mỗi quốc gia hoặc các tổ chức lớn
/64 16 bit Xác định cấp thấp nhất Được các ISP cấp phát đến khách hàng
64 bit cuối là phần địa chỉ Host, ứng với mỗi interface (giao diện) trong mạng cục bộ của khách hàng
1.4.3 Một số tính năng mới nổi trội hơn so với IPv4
Đơn giản hóa việc đặt địa chỉ Host
IPv6 sử dụng 64 bit sau cho địa chỉ Host Một kỹ thuật gọi là EUI-64 làm đơn giản việc đặt địa chỉ host rất nhiều so với IPv4 Kỹ thuật này tận dụng 48 bit địa chỉ MAC để làm địa chi host.Và chèn thêm chuỗi “FFFE” vào giữa mỗi 16 bit của địa chỉ MAC để hoàn chỉnh 64 bit phần địa chỉ host Bằng cách này, mọi Host sẽ có một Host
ID duy nhất trong mạng Phần này sẽ được nói rõ hơn ở Chương 2
Tự động cấu hình địa chỉ
Để đơn giản cho việc cấu hình các trạm, IPv6 hỗ trợ cả việc tự cấu hình địa chỉ Stateful như khả năng cấu hình DHCP server hoặc tự cấu hình Stateless (phi trạng thái).Với khả năng cấu hình phi trạng thái, các máy trạm trong mạng tự động liên kết với Router và nhận về địa chỉ prefix của phần mạng Thậm chí nếu không có Router, các máy trạm trên cùng một liên kết có thể tự cấu hình và giao tiếp với nhau mà không
Trang 18cần bất kỳ một thiết lập thủ công nào khác
Hiệu suất cao hơn
Với IPv4 có sử dụng private address để tránh hết địa chỉ Do đó, xuất hiện kỹ thuật NAT để chuyển đổi địa chỉ, dẫn đến tăng Overhead cho gói tin Trong IPv6 do không thiếu địa chỉ nên không cần đến private address, do đó NAT được loại bỏ Giảm được thời gian xử lý Header, giảm Overhead vì chuyển dịch địa chỉ
Giảm được thời gian xử lý định tuyến: nhiều khối địa chỉ IPv4 được phân phát cho các user nhưng lại không tóm tắt được, nên phải cần các entry trong bảng định tuyến làm tăng kích thước của bảng định tuyến và thêm Overhead cho quá trình định tuyến Ngược lại, các địa chỉ IPv6 được cấp phát qua các ISP theo một kiểu phân cấp địa chỉ giúp giảm được Overhead
Trong IPv4 sử dụng nhiều Broadcast như ARP Request, trong khi IPv6 sử dụng Neighbor Discovery Protocol để thực hiện chức năng tương tự trong quá trình tự cấu hình mà không cần sử dụng Broadcast Bên cạnh đó, Multicast có giới hạn trong IPv6, một địa chỉ Multicast có chứa một trường scope (phạm vi) có thể hạn chế các gói tin Multicast trong các node, trong các link, hay trong một tổ chức
Hỗ trợ tốt tính năng di động
Tính di động (Mobility) là một tính năng rất quan trọng trong hệ thống mạng ngày nay Mobile IP là một tiêu chuẩn của IETF cho cả IPv4 và IPv6 Mobile IP cho phép thiết bị di chuyển mà không bị đứt kết nối, vẫn duy trì được kết nối hiện tại Trong IPv4, mobile IP là một tính năng mới cần phải được thêm vào nếu cần sử dụng Ngược lại với IPv6, tính di động được tích hợp sẵn, có nghĩa là bất kỳ node IPv6 nào
cũng có thể sử dụng được khi cần thiết
Trang 19Hình 1.7 IPv6 Mobility
Thêm vào đó phần header của định tuyến trong IPv6 làm cho Mobile IPv6 hoạt động hiệu quả hơn Mobile IPv4 Chính vì vậy, trong tương lai các thiết bị di động như laptop, máy tính bảng, smartphone… sẽ dùng địa chỉ IPv6 tích hợp sử dụng trên cơ sở
hạ tầng của mạng viễn thông
Bảo mật cao
IPSec (IP Security) là một tiêu chuẩn do IETF đưa ra cho lĩnh vực an ninh mạng IP, được sử dụng cho cả IPv4 và IPv6 Mặc dù các chức năng cơ bản là giống hệt nhau trong cả hai môi trường, nhưng với IPv6 thì IPSec là tính năng bắt buộc IPsec được kích hoạt trên tất cả các node IPv6 và sẵn sàng để sử dụng Tính sẵn sàng của IPsec trên tất cả các node làm cho IPv6 Internet an toàn hơn
Header đơn giản hơn
Header của IPv6 đơn giản và hợp lý hơn IPv4 IPv6 chỉ có 6 trường và 2 địa chỉ, trong khi IPv4 chứa 10 trường và 2 địa chỉ Do vậy các gói tin IPv6 di chuyển nhanh hơn trong mạng Dẫn đến tốc độ mạng sẽ được cải thiện
Tổng hợp địa chỉ (Addresss Aggregation)
Trang 20Hình 1.8 Tổng hợp địa chỉ cho định tuyến
Addresss Aggregation là kỹ thuật tương tự với kỹ thuật Address Summarize trong IPv4 Một ISP sẽ tổng hợp tất cả các prefix của các khách hàng thành một tiền tố duy nhất và thông báo tiền tố này với cấp cao hơn
Việc tổng hợp địa chỉ sẽ làm cho bảng định tuyến gọn hơn và khả năng mở rộng định tuyến nhiều hơn trên các Router Dẫn đến sự mở rộng hơn các chức năng mạng như tối ưu hóa băng thông và tăng thông lượng sử dụng để kết nối được tới nhiều hơn các thiết bị và dịch vụ trên mạng như: VoIP, tryền hình theo yêu cầu, Video
độ nét cao, ứng dụng thời gian thực, game-online, học tập hay hội thảo qua mạng…
Đánh số lại thiết bị IPv6 (Renumbering)
Đánh số lại mạng IPv4 là điều những nhà quản trị rất quan ngại Nó ảnh hưởng tới hoạt động mạng lưới và tiêu tốn nhân lực cấu hình lại thông tin cho thiết bị trên mạng
Địa chỉ IPv6 được thiết kế có một cách thức đánh số lại mạng một cách dễ dàng hơn Một địa chỉ IPv6 gán cho node sẽ có hai trạng thái, đó là “còn được sử dụng
- preferred” và “loại bỏ - deprecated” tùy theo thời gian sống của địa chỉ đó Máy tính luôn cố gắng sử dụng các địa chỉ có trạng thái “còn được sử dụng” Thời gian sống của địa chỉ được thiết lập từ thông tin quảng bá của router Do vậy, các máy tính trên mạng IPv6 có thể được đánh số lại nhờ thông báo của router đặt thời gian hết hạn có
Trang 21thể sử dụng cho một prefix Sau đó, router thông báo prefix mới để các máy tính tạo
lại địa chỉ IP Trên thực tế, các máy tính có thể duy trì sử dụng địa chỉ cũ trong một
khoảng thời gian nhất định trước khi xóa bỏ hoàn toàn
1.5 So sánh Header của IPv4 và IPv6
Hình 1.9 IPv4 Header và IPv6 Header
Header của IPv6 có 40 octet (hay độ lớn 40 byte) trái ngược với 20 octet trong
IPv4 Tuy nhiên IPv6 có một số lượng các trường ít hơn, nên giảm được thời gian xử
lý Header, tăng độ linh hoạt Trường địa chỉ lớn hơn 4 lần so với IPv4
Không có Header checksum: Trường checksum của IPv4 được bỏ đi vì các liên
kết ngày nay nhanh hơn và có độ tin cậy cao hơn vì vậy chỉ cần các Host tính
checksum còn Router thì khỏi cần Ngoài ra Header checksum là 1 tham số sử dụng
để kiểm tra lỗi trong thông tin header, được tính toán ra dựa trên những con số của
header Tuy nhiên, có một vấn đề nảy sinh là header chứa trường TTL (Time to Live),
giá trị trường này thay đổi mỗi khi gói tin được truyền qua 1 router Do vậy, header
checksum cần phải được tính toán lại mỗi khi gói tin đi qua 1 router Nếu giải phóng
router khỏi công việc này, chúng ta có thể giảm được trễ
Không có sự phân đoạn theo từng hop Trong IPv4, khi các packet quá lớn thì
Router có thể phân đoạn nó Tuy nhiên, việc này sẽ làm tăng thêm Overhead cho
packet Trong IPv6 chỉ có Host nguồn mới có thể phân đoạn một packet theo các giá
Trang 22trị thích hợp dựa vào một MTU path mà nó tìm được Do đó, để hỗ trợ Host thì IPv6 chứa một hàm giúp tìm ra MTU từ nguồn đến đích
Hình 1.10 Chi tiết IPv6 Header
Các trường có trong IPv6 Header :
Version : Trường chứa 4 bit 0110 ứng với số 6 chỉ phiên bản của IP
Traffic Class : Trường 8 bit tương ứng với trường Type of Service (ToS) trong
IPv4 Trường này được sử dụng để biểu diễn mức ưu tiên của gói tin, ví dụ có nên được truyền với tốc độ nhanh hay thông thường, cho phép thiết bị có thể
xử lý gói một cách tương ứng
Flow Label : Trường hoàn toàn mới trong IPv6, có 20 bit chiều dài Trường
này biểu diễn luồng cho gói tin và được sử dụng trong các kỹ thuật chuyển mạch đa lớp (multilayer switching), nhờ đó các gói tin được chuyển mạch nhanh hơn trước Bằng cách sử dụng trường này, nơi gửi gói tin hoặc thiết bị hiện thời có thể xác định một chuỗi các gói tin, ví dụ VoIP, thành 1 dòng, và yêu cầu dịch vụ cụ thể cho dòng đó Ngay cả trong IPv4, một số các thiết bị giao tiếp cũng được trang bị khả năng nhận dạng dòng lưu lượng và gắn mức
ưu tiên nhất định cho mỗi dòng Tuy nhiên, những thiết bị này không những kiểm tra thông tin tầng IP ví dụ địa chỉ nơi gửi và nơi nhận, mà còn phải kiểm tra cả số port là thông tin thuộc về tầng cao hơn Trường Flow Label trong IPv6
cố gắng đặt tất cả những thông tin cần thiết vào cùng nhau và cung cấp chúng
Trang 23tại tầng IP
Payload Length : Trường 16 bit Tương tự trường Toal Length trong IPv4, xác
định tổng kích thước của gói tin IPv6 (không chứa header)
Next Header : Trường 8 bit Trường này sẽ xác định xem extension header có
tồn tại hay không, nếu không được sử dụng, header cơ bản chứa mọi thông tin
tầng IP Nó sẽ được theo sau bởi header của tầng cao hơn, tức là header của
TCP hay UDP, và trường Next Header chỉ ra loại header nào sẽ theo sau
Hop Limit : Trường 8 bit Trường này tương tự trường Time to live của IPv4
Nó có tác dụng chỉ ra số hop tối đa mà gói tin IP được đi qua Qua mỗi hop hay
router, giá trị của trường sẽ giảm đi 1
Source Address : Trường này gồm 16 octet (hay 128 bit), định danh địa chỉ
nguồn của gói tin
Destination Address : Trường này gồm 16 octet (hay 128 bit), định danh địa
chỉ đích của gói tin
Ngoài ra IPv6 Header còn có thêm Extension Headers, là phần Header mở
rộng.IPv6 ứng dụng một hệ thống tách biệt các dịch vụ gia tăng khỏi các dịch vụ cơ
bản và đặt chúng trong header mở rộng (extension header), phân loại các header mở
rộng theo chức năng của chúng Làm như vậy, sẽ giảm tải nhiều cho router, và thiết
lập nên được một hệ thống cho phép bổ sung một cách linh động các chức năng
Hình 1.11 Thứ tự header trong gói tin IPv6
Extension Headers bao gồm 6 loại, khi sử dụng cùng lúc nhiều extension
header, thường có một khuyến nghị là đặt chúng theo thứ tự sau: Hop-by-Hop
Trang 24Options, Destination Options, Routing, Fragment, Authentication and Encapsulating Security Payload, Upper-layer
Hop-by-Hop options header : Header này (giá trị = 0) xác định một chu trình
mà cần được thực hiện mỗi lần gói tin đi qua một router
Destination Options header : Header này (giá trị = 60) được sử dụng nếu có
Routing Header Để xác định chu trình cần thiết phải xử lý bởi node đích Có thể xác định tại đây bất cứ chu trình nào Thông thường chỉ có những node đích
xử lý header mở rộng của IPv6 Như vậy thì các header mở rộng khác ví dụ Fragment header có thể cũng được gọi là Destination Option header Tuy nhiên, Destination Option header khác với các header khác ở chỗ nó có thể xác
định nhiều dạng xử lý khác nhau Mobile IP thường sử dụng Header này
Routing header : Routing header (giá trị = 43) được sử dụng để xác định
đường dẫn định tuyến Ví dụ, có thể xác định nhà cung cấp dịch vụ nào sẽ được
sử dụng, và sự thi hành bảo mật cho những mục đích cụ thể Node nguồn sử dụng Routing header để liệt kê địa chỉ của các router mà gói tin phải đi qua Các địa chỉ trong liệt kê này được sử dụng như địa chỉ đích của gói tin IPv6 theo thứ tự được liệt kê và gói tin sẽ được gửi từ router này đến router khác
tương ứng
Fragment header : Fragment header được sử dụng khi nguồn gửi gói tin IPv6
gửi đi gói tin lớn hơn Path MTU, để chỉ xem làm thế nào khôi phục lại được gói tin từ các phân mảnh của nó MTU (Maximum Transmission Unit) là kích thước của gói tin lớn nhất có thể gửi qua một đường dẫn cụ thể nào đó Trong môi trường mạng như Internet, băng thông hẹp giữa nguồn và đích gây ra vấn
đề nghiêm trọng Cố gắng gửi một gói tin lớn qua một đường dẫn hẹp sẽ làm quá tải Trong địa chỉ IPv4, mối router trên đường dẫn có thể tiến hành phân mảnh (chia) gói tin theo giá trị của MTU đặt cho mỗi interface Tuy nhiên, chu trình này áp đặt một gánh nặng lên router Bởi vậy trong địa chỉ IPv6, router không thực hiện phân mảnh gói tin (các trường liên quan đến phân mảnh trong header IPv4 đều được bỏ đi)
Authentication and Encapsulating Security Payload header :
Authentication header (giá trị = 51) và ESP header (giá trị = 50) được sử dụng
Trang 25trong IPSec để xác thực, đảm bảo tính toàn vẹn và tính bảo mật của 1 gói tin,
được sử dụng để xác định những thông tin liên quan đến mã hoá dữ liệu
Upper-layer header : Trường này được xem là header quy định trường ở trên
tầng IP, xác định cách thức dịch chuyển gói tin 2 giao thức dịch chuyển chính
là TCP (giá trị = 6) và UDP (giá trị = 17)
1.6 Định nghĩa cách biểu diễn địa chỉ IPv6
1.6.1 Các quy tắc biểu diễn
128 bit của IPv6, được chia ra thành 8 Octet, mỗi Octet chiếm 2 byte (4 bit), gồm 4 số được viết dưới hệ cơ số Hexa, và mỗi nhóm được ngăn cách nhau bằng dấu hai chấm
IPv6 là 1 địa chỉ mới nên chúng ta không xài hết 128 bit, vì vậy sẽ có nhiều số
0 ở các bit đầu nên ta có thể viết rút gọn để lược bỏ số 0 này
Ví dụ địa chỉ : 1088:0000:0000:0000:0008:0800:200C:463A
Ta có thể viết 0 thay vì phải viết là 0000, viết 8 thay vì phải viết 0008, viết 800
thay vì phải viết là 0800 Địa chỉ đã được rút gọn: 1088:0:0:0:8:800:200C:463A
IPv6 còn có một nguyên tắc nữa là chúng ta có thể nhóm các số 0 lại thành 2
dấu hai chấm “::”, địa chỉ ở trên, chúng ta có thể viết lại như sau: 1088::8:800:200C:463A
Qua ví dụ trên, ta sẽ rút ra được 3 nguyên tắc:
Trong dãy địa chỉ IPv6, nếu có số 0 đứng đầu có thể loại bỏ Ví dụ 0800 sẽ được viết thành 800, hoặc 0008 sẽ được viết thành 8
Trong dãy địa chỉ IPv6, nếu có các nhóm số 0 liên tiếp, có thể đơn giản các nhóm này bằng 2 dấu :: (chỉ áp dụng khi dãy 0 liên tiếp nhau)
Trong IPv6, chúng ta chỉ có thể sử dụng 2 dấu hai chấm một lần với địa chỉ Không được viết ::AB65:8952::, vì nếu viết như thế sẽ gây nhầm lần khi dịch
ra đầy đủ
Ví dụ tổng hợp :
2031:0000:130F:0000:0000:09C0:876A:130B ĐÚNG
Trang 26 2031::130f::9c0:876a:130b SAI (chỉ được dùng 1 lần dấu 2 chấm)
FEC0:CD:FXB9:0067::2A4 SAI (không tồn tại X trong hệ Hexa)
FF01:0:0:0:0:0:0:1 FF01::1
0:0:0:0:0:0:0:1 ::1 (địa chỉ Loopback trong IPv6)
0:0:0:0:0:0:0:0 :: (địa chỉ đặc biệt)
1.6.2 Sử dụng các địa chỉ IPv6 trong việc truy cập URL
Chúng ta có thể truy cập một trang web bằng tên hoặc bằng địa chỉ IP Ví dụ
trang web dtu.edu.vn , có địa chỉ ip tương ứng là 222.255.128.204 Vậy chúng ta hoàn toàn có thể vào website bằng cách gõ: http:// 209.85.175.106
Tương tự như vậy chúng ta có thể truy cập một trang web bằng địa chỉ IPv6
nhưng phải để nó trong cặp dấu [ ] Ví dụ:
Trang 271.7 Phân loại địa chỉ
Địa chỉ IPv6 dược chia ra thành 3 loại chính sau đây:
Unicast Address: Unicast Address dùng để xác định một interface trong phạm
vi các Unicast Address Gói tin (Packet) có đích đến là Unicast Address sẽ thông qua Routing để chuyển đến 1 interface duy nhất
Anycast Address: Anycast Address dùng để xác định nhiều Interfaces Tuy
vậy, packet có đích đến là Anycast Address sẽ thông qua Routing để chuyển đến một interface trong số các interface có cùng Anycast Address, thông thường là interface gần nhất Chữ “gần nhất” ở đây được xác định thông qua giao thức định tuyến đang sử dụng
Multicast Address: Multicast Address dùng để xác định nhiều interfaces
Packet có đích đến là Multicast Address sẽ thông qua Routing để chuyển đến tất cả các interfaces có cùng Multicast Address
Trong IPv6 địa chỉ Broadcast đã bị loại bỏ và được thay bằng địa chỉ Multicast
1.7.1 Unicast Address
a) Global Unicast Address:
Địa chỉ này được các ISP cấp cho người sử dụng có nhu cầu kết nối Internet Global Unicast Address giống như địa chỉ Public của IPv4 Cấu trúc của địa chỉ
Global Unicast Address đã được trình bày chi tiết ở mục 1.4.2
Trang 28Theo hình 1.13 :
10 bits đầu là giá trị cố định 1111 1110 10 (Prefix FE80::/10)
54 bits kế tiếp có giá trị bằng 0
64 bits cuối : là địa chỉ của interface
Kết luận : Trong Link Local Address: 64 bit đầu là giá trị cố định không thay đổi
tương ứng với prefix là FE80::/10
Vào cmd, gõ lệnh “ netsh interface ipv6 show addresses ” để xem
giá trị Link-Local Address
Hình 1.14 Xem địa chỉ Link-local của máy tính
Có một lưu ý là Router không thể chuyển bất kỳ gói tin nào có địa chỉ nguồn hoặc địa chỉ đích là Link Local Address
c) Site-local Addresses:
Site-Local Addresses được sử dụng trong hệ thống nội bộ (Intranet) tương tự các địa chỉ Private IPv4 (10.X.X.X, 172.16.X.X, 192.168.X.X) Phạm vi sử dụng Site-Local Addresses là trong cùng 1 Site
Trang 29Hình 1.15 Cấu trúc địa chỉ Site-local
Theo hình 1.15 :
10 bits đầu là giá trị cố định 1111 1110 11 (Prefix FEC0::/10)
38 bits kế tiếp toàn bộ là bit 0
16 bits kế tiếp là giá trị Subnet ID
64 bits cuối là địa chỉ của interface
Kết luận: Trong Site-local Address: 10 bit đầu là giá trị cố định không thay đổi
tương ứng với prefix là FEC0::/10
1.7.2 Multicast Address
Trong địa chỉ IPv6 không còn tồn tại khái niệm địa chỉ Broadcast Mọi chức
năng của địa chỉ Broadcast trong IPv4 được đảm nhiệm thay thế bởi địa chỉ IPv6
Multicast
Hình 1.16 Cấu trúc địa chỉ Multicast Address
Địa chỉ IPv6 Multicast được định nghĩa với prefix là FF::/8
Từ FF00:: đến FF0F:: là địa chỉ dành riêng được quy định bởi IANA để sử
dụng cho mục đích multicast
Octet thứ hai chỉ ra cờ (flag) và phạm vi (Scope) của địa chỉ multicast
Flag xác định thời gian sống của địa chỉ Có 2 giá trị của flag :
Trang 30 Flag = 0 : Địa chỉ multilcast vĩnh viễn
Flag = 1 : Địa chỉ multilcast tạm thời
Scope chỉ ra phạm vi hoạt động của địa chỉ Có 7 giá trị của Scope :
FF1E::/16 Tạm thời Global (toàn cầu)
Ngoài ra địa chỉ IPv6 Multicast còn có quy định giá trị của các bit cuối để xác định đối tƣợng thuộc phạm vi của Multicast Address
Bảng 1.3 Bảng mô tả các loại địa chỉ IPv6 Multicast
Trang 31(thay cho ARP của IPv4) dùng để phân giải địa chỉ IPv6 thành địa chỉ MAC của
các node trong cùng 1 vùng (ở đây vùng trong ví dụ là Link-local)
1.7.3 Anycast Address Anycast là địa chỉ hoàn toàn mới trong IPv6 Còn được gọi là địa chỉ One-to-
nearest (một đến gần nhất)
Hình 1.17 Cấu trúc địa chỉ Anycast Address
Địa chỉ Anycast là một địa chỉ Global Unicast được gán cho nhiều interface của
nhiều Router khác nhau trong cùng một WAN Scope, gói tin chuyển đến
Anycast Address sẽ được hệ thống định tuyến chuyển đến router có metric tốt
nhất (router gần nhất)
Hiện nay, địa chỉ Anycast được sử dụng rất hạn chế, rất ít tài liệu nói về cách sử
dụng loại địa chỉ này Hầu như Anycast addresss chỉ được dùng để đặt cho
Router, không đặt cho Host, lý do là bởi vì hiện nay địa chỉ này chỉ được sử
dụng vào mục đích cân bằng tải
Ví dụ : khi một nhà cung cấp dịch vụ mạng có rất nhiều khách hàng muốn truy
cập dịch vụ từ nhiều nơi khác nhau, nhà cung cấp muốn tiết kiệm nên chỉ để một Server
trung tâm phục vụ tất cả, họ xây dựng nhiều Router kết nối khách hàng với Server trung
tâm, khi đó mỗi khách hàng có thể có nhiều con đường để truy cập dịch vụ Nhà cung
cấp dịch vụ đặt địa chỉ Anycast cho các Router kết nối đến Server trung tâm, bây giờ
mỗi khách hàng chỉ việc ghi nhớ và truy cập vào một địa chỉ Anycast duy nhất, tự động
họ sẽ được kết nối tới Server thông qua Router gần nhất Đây thật sự là một cách xử lý
đơn giản và hiệu quả
Địa chỉ Anycast không bao giờ được sử dụng như là địa chỉ nguồn của một gói
tin
Trang 321.8 Các loại địa chỉ IPv6 đặc biệt
1.8.1 Địa chỉ không định danh và địa chỉ loopback
IPv6 sử dụng hai địa chỉ đặc biệt sau trong giao tiếp :
0:0:0:0:0:0:0:0 hay được viết gọn thành “::” là loại địa chỉ
không định danh được node IPv6 sử dụng để thể hiện rằng hiện tại nó không có địa chỉ
Địa chỉ “::” được sử dụng làm địa chỉ nguồn cho các gói tin trong quy trình hoạt động
của một node IPv6 khi tiến hành kiểm tra xem có một node nào khác trên cùng đường kết nối đã sử dụng địa chỉ IPv6 mà nó đang dự định dùng hay chưa Địa chỉ này không bao giờ được gán cho một interface hoặc được sử dụng làm địa chỉ đích
0:0:0:0:0:0:0:1 hay “::1” được sử dụng làm địa chỉ xác định
interface loopback, tương đương với dãi địa chỉ 127.0.0.0 của IPv4 Địa chỉ này dùng
để kiểm tra xem một máy tính có hoạt động được IPv6 hay không Bên cạnh đó, với các
router thì địa chỉ ::1 không bao giờ được gửi trên một đường kết nối hay chuyển tới
bởi router Phạm vi của dạng địa chỉ này là phạm vi node
1.8.2 Địa chỉ IPv4-Compatible IPv6
IPv4-Compatible IPv6 là địa chỉ tương thích của một IPv4 với một IPv6 Node Khi sử dụng IPv4-Compatible như một IPv6 Destination, gói tin sẽ được đóng gói (Packet) với IPv4 Header để truyền trong môi trường IPv4
Hình 1.18 Cấu trúc địa chỉ IPv4-Compatible IPv6
Trang 33cơ sở hạ tầng mạng IPv4
Địa chỉ 6to4 là dạng địa chỉ IPv4-Compatible được sử dụng phổ biến hiện nay trong
công nghệ tạo đường hầm - tunnel động
Hình 1.19 Cấu trúc địa chỉ 6to4
Phần này được trình bày chi tiết ở phần 2.7.2 của khóa luận
1.8.3 Địa chỉ IPv4-Mapped IPv6
IPv4-Mapped IPv6 được tạo nên từ 32 bit địa chỉ IPv4 theo cách thức gắn 80 bit
0 đầu tiên, tiếp theo là 16 bit có giá trị hexa FFFF với 32 bit địa chỉ IPv4 Địa chỉ Mapped được sử dụng để biểu diễn một node thuần IPv4 thành một node IPv6 để phục
IPv4-vụ trong công nghệ biên dịch địa chỉ IPv4 – IPv6 (ví dụ công nghệ NAT-PT, phục IPv4-vụ giao tiếp giữa mạng thuần IPv4 và mạng thuần IPv6) Địa chỉ IPv4-mapped không bao giờ được dùng làm địa chỉ nguồn hay địa chỉ đích của một gói tin IPv6
Trang 34Hình 1.20 Cấu trúc địa chỉ IPv4-Mapped IPv6
Format : 0:0:0:0:0:FFFF:w.x.y.z
Trong đó w,x,y,z là các địa chỉ IPv4
Ví dụ : 0:0:0:0:0:FFFF:192.168.1.2
1.9 Thống kê các dạng địa chỉ IPv6
Địa chỉ IPv6 được biểu diễn dưới dạng chữ số Hexa nên có phần khó nhớ hơn địa chỉ IPv4 Những mục trước đã đề cập và mô tả nhiều dạng địa chỉ IPv6 Phần này,
sẽ tóm tắt và thống kê các dạng địa chỉ IPv6 đã và đang được sử dụng
Trang 35Bảng 1.4 Bảng thống kê các dạng địa chỉ IPv6
không có địa chỉ IPv6 nào được gán
127.0.0 của IPv4
FE80::/10 Địa chỉ Link-local Giao tiếp giữa các node
trong cùng đường liên kết
2000::/3 Địa chỉ định danh toàn cầu Được cấp phát bởi các tổ
chức quản lý Internet
đích và thay thế địa chỉ Broadcast của IPv4
::w.x.y.z Địa chỉ IPv4-Compatible IPv6 Dùng trong công nghệ
tunnel động
::FF:w.x.y.z Địa chỉ IPv4-Mapped IPv6 Dùng trong biên dịch địa
chỉ IPv6-IPv4
Trang 36Chương 1 đã trình bày từ khái quát đến chi tiết về không gian địa chỉ và cấu trúc gói tin của IPv6 Địa chỉ IPv6 được đánh số lại và biểu diễn dưới dạng Hexa với không gian địa chỉ lớn hơn, bên cạnh đó là cách thức phân bố địa chỉ hợp lý hơn, giúp các nhà cung cấp Internet dễ dàng quản lý không gian địa chỉ và tối ưu hóa băng thông, khả năng định tuyến trên mạng Các điểm chính trong chương :
Cấu trúc gói tin 128 bit cho không gian địa chỉ IPv6 rất lớn
Loại bỏ được các nhược điểm của mạng IPv4 như NAT, bảo mật kém
Tái đánh số địa chỉ IP, sử dụng hệ cơ số Hexa để biểu diễn địa chỉ
Sự phân cấp địa chỉ toàn cầu rõ ràng dựa trên prefix
Header tối ưu hơn
Địa chỉ Unicast, Multicast, Anycast
Các địa chỉ đặc biệt: địa chỉ không định danh, địa chỉ Loopback, địa chỉ Compatible, địa chỉ IPv4-Mapped
Trang 37IPv4-CHƯƠNG 2: TRIỂN KHAI IPv6 TRÊN CƠ SỞ HẠ TẦNG MẠNG IPv4
Triển khai, chuyển đổi và thay thế một giao thức Internet không phải là điều dễ dàng Trong lịch sử hoạt động Internet toàn cầu, địa chỉ IPv6 không thể tức khắc thay thế IPv4 trong thời gian ngắn mà phải trãi qua một quá trình Thế hệ địa chỉ IPv6 phát triển khi IPv4 đã hoàn thiện và hoạt động trên mạng lưới rộng khắp toàn cầu Trong thời gian đầu phát triển, kết nối IPv6 cần thực hiện trên cơ sở hạ tầng mạng của IPv4 Mạng IPv6 và IPv4 sẽ cùng song song tồn tại trong thời gian dài, thậm chí mãi mãi Trong Chương 2 sẽ trình bày về thực trạng triển khai IPv6 hiện nay, các công nghệ triển khai IPv6 và chuyển đổi giữa IPv6 – IPv4 Đồng thời trong chương này sẽ giới thiệu về các giao thức định tuyến hoạt động trên IPv6 và phân tích giao thức định tuyến OSPFv3
Chương 2 của khóa luận gồm những nội dung chính sau :
Thực trạng triển khai IPv6
Một số công nghệ triển khai IPv6
Các giao thức định tuyến IPv6
Giao thức định tuyến OSPFv3
Các kỹ thuật chuyển đổi IPv6 – IPv4
Trang 382.1 Thực trạng triển khai IPv6
2.1.1 Trên thế giới
Tại châu Á, sự hạn chế về địa chỉ IPv4 đã đặt một cản trở nhất định đối với sự phát triển của Internet tại những khu vực kinh tế quan trọng như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc Những quốc gia này xác định IPv6 là công nghệ của mạng thế hệ sau, đầy tiềm năng Việc phát triển IPv6 và vươn lên vị trí đi đầu về công nghệ mạng thế hệ sau được chính phủ các nước định hướng rõ ràng Trung Quốc đặt mục tiêu xây dựng mạng IPv6 lớn nhất toàn cầu
Tại Châu Âu, ứng dụng địa chỉ IPv6 chưa có được sự định hướng từ chính phủ, song lại được phát triển mạnh mẽ bởi rất nhiều dự án nghiên cứu lớn, xây dựng những mạng IPv6 kết nối nhiều quốc gia châu Âu, kết nối châu Âu và các châu lục khác
Mỹ vốn là nơi khởi nguồn mạng Internet, cũng là quốc gia sở hữu phần lớn không gian địa chỉ IPv4 Do vậy nhu cầu địa chỉ không phải là vấn đề cấp bách Tuy nhiên do những đặc tính ưu việt về bảo mật của IPv6, trong năm 2008 bộ Quốc Phòng
Mỹ đã quyết định triển khai IPv6 cho toàn bộ hệ thống trong mạng quốc phòng
2.1.2 Tại Việt Nam
Tại Việt nam, Ban Công tác Thúc đẩy IPv6 Quốc gia đã được thành lập từ ngày
06/01/2009 Sau gần hai năm nghiên cứu xây dựng trên cơ sở ý kiến đóng góp của giới chuyên gia, bộ ngành liên quan và tham khảo kinh nghiệm triển khai của quốc tế, ban công tác đã hoàn thiện và trình Bộ Thông Tin – Truyền Thông kế hoạch hành động quốc gia về chuyển đổi địa chỉ IPv6
Với các định hướng, mục tiêu, lộ trình cụ thể, bản kế hoạch là cơ sở để các doanh nghiệp Internet xây dựng kế hoạch chuyển đổi, ứng dụng IPv6 cho phù hợp với tình hình thực tế và mạng lưới của đơn vị mình Đồng thời, các cơ sở đào tạo về lĩnh vực CNTT trong nước cũng sẽ có kế hoạch cụ thể lồng ghép nội dung về IPv6 trong các chương trình giảng dạy Cùng với việc ban hành Kế hoạch Hành động Quốc gia, Bộ trưởng cũng yêu cầu các ISP phải nhanh chóng xây dựng, triển khai kế hoạch hành động IPv6 cụ thể của mình, phù hợp với kế hoạch chung quốc gia Ban Công tác cần chuẩn bị nguồn nhân lực được đào tạo cơ bản về IPv6 để đảm bảo cho quá trình chuyển
Trang 39đổi tại Việt Nam
Lộ trình chuyển đổi IPv6 tại Việt Nam chia thành ba giai đoạn:
Giai đoạn 1 (Từ 2011- đến 2012): Giai đoạn chuẩn bị
Giai đoạn 2 (Từ 2013- đến 2015): Giai đoạn khởi động
Giai đoạn 3 (Từ 2016- đến 2019): Giai đoạn chuyển đổi
Mục tiêu chung là bảo đảm trước năm 2020, toàn bộ mạng lưới và dịch vụ
Internet Việt Nam sẽ được chuyển đổi để hoạt động một cách an toàn, tin cậy với địa chỉ IPv6
2.2 Các phương pháp triển khai IPv6
Interface định danh được sử dụng trong địa chỉ global unicast và các loại địa chỉ IPv6 khác phải có 64 bits chiều dài và được xây dựng trong 1 định dạng do IEEE đưa ra
là Extended Universal Identifier (EUI) - 64 EUI-64 định dạng ID interface có nguồn
gốc từ 48 bit của địa chỉ MAC trên interface Do địa chỉ MAC mang tính duy nhất nên
chỉ cần chèn thêm chuỗi Hexa là FFFE vào giữa 3 byte của địa chỉ MAC để tạo ra 64
bit của phần interface ID
Hình 2.1 Định dạng EUI-64 cho IPv6
Trang 40Để chắc rằng địa chỉ sinh ra từ địa chỉ Ethernet MAC là duy nhất, bit thứ 7 trong octet đầu tiên (bit U) là 1 hoặc 0 ứng với giá trị duy nhất trong toàn thể hoặc giá trị duy nhất trong cục bộ Còn bit thứ 8 (bit G) là bit nhóm/cá nhân, với mục đích quản lý các nhóm
Ví dụ: Ban đầu ta có địa chỉ MAC Adderss 48 bit sau: 0090:2717:FC0F