1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC NINH

28 421 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 617,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, từ xuất phát điểm nước ta là một nước nông nghiệp, với hơn 60% lao động hiện nay vẫn làm nghề nông và nông nghiệp vẫn có vị trí quan trọng trong việc góp phần ổn định kinh tế

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN MINH TÂN

CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI CHUYỂN GIAO

CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC NINH

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2013

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình công nghiệp hoá, giá trị sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm dần và chiếm tỷ trọng ngày càng thấp trong cơ cấu kinh tế Tuy nhiên, từ xuất phát điểm nước ta là một nước nông nghiệp, với hơn 60% lao động hiện nay vẫn làm nghề nông và nông nghiệp vẫn có vị trí quan trọng trong việc góp phần ổn định kinh tế thì việc tăng cường đầu tư, chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ (KH&CN) nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất của lĩnh vực này vẫn luôn là đòi hỏi đối với các nhà quản lý, các nhà khoa học và đối với cả nông dân

Hoạt động CGCN trong lĩnh vực nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua đã được quan tâm; tuy nhiên hiệu quả công tác chuyển giao, ứng dụng chưa cao, thiếu các biện pháp huy động các nguồn lực cho công tác chuyển giao (đội ngũ cán bộ KH&CN làm nhiệm vụ chuyển giao, sự tham gia của các tổ chức KH&CN, việc huy động vốn đầu

tư, việc liên kết “các nhà”…) Thực tiễn trên đây đặt ra vấn đề phải nghiên cứu, phân tích, đánh giá để chỉ ra những tồn tại, nguyên nhân nhằm đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động CGCN trong lĩnh vực nông nghiệp Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên

đây xin được chọn đề tài Chính sách khuyến khích các tổ chức nghiên cứu và triển khai

CGCN phục vụ phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh làm Luận văn Thạc sĩ của tác giả

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

- Các tác giả Phạm Đỗ Chí, Đặng Kim Sơn, Trần Nam Bình, Nguyễn Tiến Triển đã

tổng kết trong cuốn sách Làm gì cho nông thôn Việt Nam (Nxb TP Hồ Chí Minh, 2005),

trong đó có đề xuất việc khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức nghiên cứu và triển khai CGCN cho nông nghiệp, tuy nhiên đề cập ở phạm vi cả nước, không bàn đến điều kiện đặc thù của từng địa phương

- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Phạm Xuân Thăng (Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn) trong đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động các mô hình chuyển giao kỹ thuật và

công nghệ tiến bộ trong sản xuất nông nghiệp của thanh niên nông thôn tỉnh Hải Dương”

đã khảo sát các mô hình CGCN trong sản xuất nông nghiệp của thanh niên nông thôn tỉnh Hải Dương, nhưng chỉ giới hạn trong đối tượng tiếp nhận CGCN là thanh niên, chưa đề cập nhiều đến các chủ thể CGCN cũng như các chính sách để khuyến khích các hoạt động

CGCN cho nông nghiệp

- Ở tỉnh Bắc Ninh, năm 2001, tác giả Nguyễn Tiến Thịnh đã thực hiện đề tài Xã hội

hoá các hoạt động chuyển giao và ứng dụng tiến bộ KH&CN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Tuy nhiên, đề tài thực hiện ở phạm vi rộng hơn và hướng nhiều vào các giải pháp huy động các lực lượng xã hội tham gia vào công tác nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến

Trang 3

bộ KH&CN phục vụ sản xuất và đời sống Tác giả không đi sâu nghiên cứu về các hoạt động CGCN trong lĩnh vực nông nghiệp

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất được các chính sách nhằm khuyến khích các tổ chức nghiên cứu và triển khai chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh

4 Phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các tổ chức nghiên cứu và triển khai hoạt động chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh; các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, các hộ nông dân

- Thời gian nghiên cứu: giai đoạn 2007-2011

5 Mẫu khảo sát

- Cơ quan nghiên cứu và triển khai ở Trung ương khảo sát 10 đơn vị;

- Các đơn vị thực hiện chức năng CGCN của địa phương khảo sát 10 đơn vị;

- Các hợp tác xã, doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh: khảo sát 10 đơn vị;

- Các hộ nông dân có tiếp nhận CGCN vào sản xuất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh: 30 hộ;

- Phỏng vấn một số cán bộ quản lý ở các Sở, ngành: Sở Nông nghiệp và PTNT, Hội Nông dân; UBND, Phòng Kinh tế, Phòng Công thương, Phòng Nông nghiệp và PTNT các huyện/thị xã…

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc gì đòi hỏi phải có những chính sách hỗ trợ của địa phương trong việc huy động các cơ quan nghiên cứu và triển khai chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh ?

- Cần phải có những chính sách gì để hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức nghiên cứu

và triển khai chuyển giao công nghệ phục vụ nông nghiệp của tỉnh Bắc Ninh ?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Những khó khăn vướng mắc ở địa phương hiện nay như: hạn chế về năng lực chuyển giao của các cơ quan nghiên cứu và triển khai của địa phương; thiếu các hoạt động liên kết; thiếu các cơ chế, chính sách phù hợp của tỉnh… đã ảnh hưởng đến kết quả hoạt động CGCN trong nông nghiệp Từ đó đòi hỏi cần phải có những chính sách của tỉnh được xây dựng, bổ sung, hoàn thiện nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động CGCN trong lĩnh vực nông nghiệp, gồm:

Trang 4

- Nhóm các chính sách hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao KH&CN phục vụ sản xuất nông nghiệp của các cơ quan nghiên cứu và triển khai của địa phương

- Nhóm các chính sách về hỗ trợ nâng cao năng lực tiếp thu công nghệ cho nông dân, cho doanh nghiệp; thúc đẩy tăng cường liên kết 4 nhà

- Nhóm các chính sách về đầu tư, về tài chính nhằm khuyến khích các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng các thành tựu KH&CN trong nông nghiệp

8 Phương pháp chứng minh giả thuyết

- Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích và tổng hợp các tài liệu liên quan đến

nội dung đề tài (cơ sở lý thuyết liên quan, các báo cáo tổng hợp về công tác nghiên cứu, chuyển giao KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp; hồ sơ các nhiệm vụ KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp; các tài liệu khảo sát thực tiễn…)

- Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn một số nhà quản lý, chuyên gia về CGCN,

phỏng vấn bên CGCN và bên nhận CGCN

- Phương pháp thu thập số liệu bằng phiếu điều tra với các đối tượng cụ thể: các

đơn vị thực hiện hoạt động CGCN, các cán bộ quản lý, các doanh nghiệp, các hộ nông dân tiếp nhận CGCN

9 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và các biểu số liệu, nội dung của Luận văn gồm có 3 chương: 1) Cơ sở lý luận về công nghệ, CGCN và chính sách khuyến khích CGCN; 2) Thực trạng hoạt động CGCN và việc thực hiện các chính sách khuyến khích CGCN trong nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2007-2011; 3) Chính sách khuyến khích các tổ chức nghiên cứu và triển khai CGCN phục vụ phát triển nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh

Trang 5

NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LUẬN VĂN

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHỆ, CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ CHÍNH

SÁCH KHUYẾN KHÍCH CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

Chương 1 được kết cấu thành 3 mục lớn, 13 mục nhỏ và các tiểu mục đề cập đến các nội dung lý thuyết có liên quan làm căn cứ luận giải cho những phân tích, đánh giá và những đề xuất ở các Chương sau

Trong chương này, tác giả đi sâu tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa, làm rõ các khái niệm về công nghệ, chuyển giao công nghệ; những nội hàm liên quan đến công nghệ như đặc điểm công nghệ, trình độ công nghệ, năng lực công nghệ; những vấn đề liên quan đến hoạt động chuyển giao công nghệ như: đặc điểm, hình thức, hợp đồng chuyển giao công nghệ; đồng thời luận văn cũng đề cập và làm rõ các chủ thể chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp bao gồm các tổ chức nghiên cứu phát triển, tổ chức dịch vụ KH&CN, các doanh nghiệp và doanh nghiệp KH&CN, một số tổ chức khác như các cơ quan quản lý, các đơn vị sự nghiệp thuộc ngành nông nghiệp, các tổ chức đoàn thể, quần chúng… là những đối tượng tham gia trong các hoạt động chuyển giao, phổ biến, tuyên truyền, tập huấn các kiến thức khoa học và công nghệ cho nông dân, các đoàn viên, hội viên của họ Luận văn cũng đề cập, làm rõ những nội dung liên quan đến chính sách, chính sách KH&CN, tác động dương tính, âm tính, tác động ngoại biên, các chuỗi tác động của chính sách…

Tóm lại, những nội dung đề cập, hệ thống hóa và làm rõ trong Chương 1, là những

căn cứ lý thuyết quan trọng luận giải cho việc phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp

về chính sách để khuyến khích và hỗ trợ các cơ quan nghiên cứu và triển khai chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh trong các Chương tiếp theo

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CGCN VÀ VIỆC THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH CGCN TRONG NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2007- 2011

2.1 Đóng góp của nông nghiệp vào kết quả phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh 5 năm 2007-2011

2.1.1.Tình hình kinh tế-xã hội tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, cửa ngõ phía bắc của Thủ

đô Hà Nội, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Trong những năm qua, kinh tế của tỉnh Bắc Ninh luôn tăng trưởng ở mức cao, bình quân giai đoạn 2007-2011 đạt 15,1% một năm Về quy mô, đến năm 2011, GDP (giá thực tế) đạt 46.760 tỷ đồng, gấp 3,5 lần so với năm 2007; GDP bình quân đầu người năm 2011 đạt 2.130 USD, gấp 2,23 lần so với năm 2007 Cơ cấu kinh

Trang 6

tế chuyển dịch nhanh theo hướng CNH-HĐH, năm 2007 tỷ trọng chiếm trong GDP của 3 khu vực: nông-lâm nghiệp-thủy sản là 16,61%, công nghiệp-xây dựng là 57,24% và dịch

vụ là 26,15%; năm 2011 tỷ lệ tương ứng là: 8,5% - 70,7% - 20,8%

2.1.2 Nông nghiệp trong phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh

Cùng với sự phát triển chung của tỉnh, nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản giai đoạn 2006-2010 tăng bình quân 3,9%/năm; cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch tích cực, tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 50,83% năm 2007 xuống còn 46% năm 2011; tương ứng tỷ trọng chăn nuôi-thuỷ sản tăng từ 45,57% lên 49%, sản lượng lương thực tăng từ 429.575 tấn lên 477.600 tấn, giá trị sản xuất trên 1ha đất canh tác tăng từ 49 triệu đồng lên 97,3 triệu đồng Đời sống dân cư ở các vùng nông thôn ngày càng nâng lên; thu nhập bình quân đầu người tăng từ 1.137.000đồng/tháng (2007) lên 2.109.000 đồng/tháng năm 2011, tăng 19%/năm;

tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới giảm từ 7,5% năm 2007 xuống còn 5,8% năm 2011

2.2 Thực trạng hoạt động CGCN trong nông nghiệp của các tổ chức nghiên cứu và triển khai ở tỉnh Bắc Ninh

2.2.1 Vai trò của KH&CN trong phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh

Những thành tựu nổi bật trong lĩnh vực nông nghiệp những năm vừa qua, cùng với

cơ chế, chính sách, sự đầu tư của nhà nước và nỗ lực của bà con nông dân, KH&CN đóng góp một phần quan trọng Các tiến bộ kỹ thuật (TBKT) về giống cây trồng, vật nuôi, biện pháp thâm canh được chuyển giao, ứng dụng rộng rãi đã góp phần đáng kể nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất ngành nông nghiệp Trong giai đoạn 2007-2011 đã

có 55 đề tài, dự án cấp tỉnh, 4 dự án cấp nhà nước và hàng trăm TBKT ở cơ sở thông qua

hệ thống khuyến nông được chuyển giao, áp dụng rộng rãi vào sản xuất Các loại giống cây trồng, vật nuôi, biện pháp thâm canh mới đưa vào sản xuất đã góp phần quyết định nâng cao năng suất, chất lượng nông sản Năng suất lúa tăng từ 53,6tạ/ha/vụ (2007) lên 63,1tạ/ha/vụ (2011); tương ứng, các loại cây trồng khác như ngô, khoai, lạc, đậu tương đều tăng từ 15-20%; đóng góp quan trọng vào ổn định kinh tế của tỉnh, đảm bảo an ninh lương thực địa phương

2.2.2 Các kênh CGCN chủ yếu trong nông nghiệp Bắc Ninh

Ở địa phương, hoạt động CGCN trong nông nghiệp được thực hiện bởi 3 nhóm cơ quan chủ yếu:

- Các cơ quan khoa học và công nghệ ở Trung ương (viện, trường,…)

- Các cơ quan khoa học và công nghệ ở địa phương, cơ quan quản lý, các hội, tổ chức quần chúng… (Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN, Sở Nông nghiệp và PTNT, Hội nông dân, phụ nữ, làm vườn, đoàn thanh niên…)

- Hệ thống cơ quan khuyến nông-khuyến ngư

Trang 7

Ngoài ra còn có sự CGCN từ một số doanh nghiệp, chủ yếu thông qua các hợp đồng cung cấp giống, vốn, điều kiện kỹ thuật để nông dân sản xuất một loại sản phẩm nào đó cho doanh nghiệp thu mua, chế biến, tiêu thụ; CGCN thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ của các tổ chức quốc tế… Do giới hạn phạm vi nghiên cứu, luận văn xin phép không đi sâu nghiên cứu hoạt động của các loại hình này

2.2.2.1.Kết quả chuyển giao của Viện, trường, tổ chức KH&CN ngoài tỉnh

Trong 5 năm, các cơ quan nghiên cứu và triển khai ở trung ương chủ trì thực hiện

28 đề tài/dự án KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp của tỉnh; tổng kinh phí thực hiện là 30,879 tỷ đồng; trong đó: 16,6 tỷ đồng (53,8%) từ nguồn ngân sách SNKH của tỉnh, 14,279 tỷ đồng (46,2%) từ nguồn vốn của doanh nghiệp và nông dân

Ưu điểm của kênh chuyển giao công nghệ do hệ thống các cơ quan nghiên cứu-triển khai là các Viện, trường, Trung tâm ở Trung ương và ngoài tỉnh:

- Chủ động trong việc lựa chọn công nghệ để chuyển giao, lực lượng cán bộ khoa học có trình độ chuyên môn cao Có sự đầu tư lớn của nhà nước về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn nhân lực KH&CN và kinh phí cho hoạt động nghiên cứu-triển khai; có kinh nghiệm trong việc gắn kết giữa nghiên cứu, triển khai thực nghiệm và thực tiễn sản xuất

Nhược điểm của mô hình kênh CGCN do hệ thống nghiên cứu triển khai của các viện, trường, trung tâm là:

- Các viện, trường chưa thực sự dứt khỏi bao cấp, chậm chuyển đổi theo cơ chế thị trường Cơ chế đề xuất và xét tuyển các nhiệm vụ KH&CN hiện nay còn chồng chéo; chưa

có sự độc lập giữa cơ quan đề xuất nhiệm vụ với cơ quan chủ trì nhiệm vụ KH&CN của nhà nước Công nghệ mới tạo ra có số lượng ít và chất lượng chưa cao; còn tình trạng có công nghệ sau khi chuyển giao không hiệu quả

- Thiếu sự phối hợp giữa các viện, trường với cơ quan chuyển giao khác như hệ thống khuyến nông, chính quyền địa phương, nên kết quả, đặc biệt là sự bền vững của các

mô hình và khả năng triển khai nhân rộng rất hạn chế

2.2.2.2 Chuyển giao của các cơ quan quản lý, đơn vị sự nghiệp KH&CN (Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KHCN tỉnh), các tổ chức quần chúng, hội nghề nghiệp (Hội nông dân, phụ nữ, đoàn thanh niên…)

Là nhóm các đơn vị thực hiện việc CGCN trong lĩnh vực nông nghiệp chủ yếu thông qua thực hiện các đề tài, dự án được đầu tư từ kinh phí sự nghiệp khoa học của tỉnh hoặc tài trợ của các tổ chức phi chính phủ (Sở Nông nghiệp-PTNT, Chi cục Thủy sản, Thú

y, Bảo vệ thực vật…); các chương trình hoạt động nghiệp vụ (tập huấn chuyển giao kỹ thuật, xây dựng các mô hình áp dụng TBKT vào sản xuất của Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội làm vườn, Đoàn thanh niên…) Trong nhóm này Trung tâm Ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KH&CN của tỉnh là đơn vị sự nghiệp khoa học, hoạt động CGCN vào nông nghiệp

Trang 8

tương tự như các viện, trường,… ở trung ương Ưu điểm của kênh chuyển giao này là có

sự chỉ đạo, tổ chức triển khai chặt chẽ, các tiến bộ kỹ thuật được lựa chọn chuyển giao sát với thực tiễn, phục vụ thiết thực cho sản xuất; hoạt động có hệ thống, phổ tác dụng rộng

Hạn chế của kênh chuyển giao này là hoạt động theo kế hoạch, bao cấp; thiếu sự chủ động, linh hoạt, gắn kết với các doanh nghiệp; cơ chế tài chính, việc thanh quyết toán gặp nhiều khó khăn Năng lực chuyển giao của các đơn vị nhóm này rất hạn chế; hình thức chuyển giao, trừ một số đề tài, dự án, nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, còn lại chủ yếu là tập huấn kỹ thuật, tuyên truyền phổ biến thông qua tài liệu, tờ rơi…

2.2.2.3 Chuyển giao của hệ thống khuyến nông

Hiện nay toàn tỉnh có 192 cán bộ khuyến nông, trong đó: 8 người có trình độ trên đại học và 184 người có trình độ đại học, cao đẳng Trong 5 năm qua (2007-2011) hệ thống khuyến nông đã tổ chức tập huấn chuyển giao kỹ thuật cho nông dân với hơn 205.000 lượt người tham gia; xây dựng được 3.250 mô hình đưa kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản Nhìn chung, cho đến thời điểm hiện nay hệ thống khuyến nông-khuyến ngư vẫn là kênh CGCN chính và có hiệu quả nhất trong lĩnh vực nông nghiệp Những thuận lợi của mô hình kênh CGCN do hệ thống khuyến nông-khuyến ngư thực hiện là:

- Bộ máy được tổ chức chặt chẽ thành hệ thống từ trung ương đến cơ sở (cấp xã); hoạt động phổ biến, CGCN được chỉ đạo và thực hiện theo kế hoạch thống nhất; có kinh phí hỗ trợ của nhà nước; cán bộ được đào tạo, có trình độ chuyên môn, kiến thức CGCN

- Cần ít vốn, phù hợp với trình độ, nhu cầu của nông dân; huy động nội lực, lôi kéo được sự tham gia của nông dân, sát thực tiễn, khả năng nhân rộng cao

- Các mô hình chuyển giao kỹ thuật trong hệ thống khuyến nông dễ gắn kết, huy động sự tham gia của các tổ chức đoàn thể (đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh…) thường mang lại kết quả và có tác dụng tuyên truyền mạnh

Tuy nhiên, hoạt động CGCN của hệ thống khuyến nông cũng còn những hạn chế:

- Hoạt động mang nặng tính kế hoạch, bao cấp, thiếu tính linh hoạt và chủ động; chủ yếu tập trung chuyển giao kỹ thuật sản xuất; ít đề cập đến các yếu tố khác như các thông tin về thị trường; thiếu sự liên kết với các doanh nghiệp trong việc chế biến hoặc tiêu thụ sản phẩm

- Kinh phí đầu tư dàn trải, hoạt động nặng tính phong trào, khó tạo được vùng sản xuất có sự đầu tư lớn, sản xuất kinh doanh theo hướng hàng hóa

2.3 Khảo sát 1 số mô hình CGCN trong nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh

Nhằm tìm hiểu các nhân tố tác động, các nguyên nhân thành công cũng như chưa thành công của các mô hình CGCN trong lĩnh vực nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua, làm cơ sở cho việc kiến nghị, đề xuất các giải pháp khuyến khích các cơ

Trang 9

quan nghiên cứu và triển khai đẩy mạnh việc CGCN phục vụ nông nghiệp, tác giả đã lựa chọn 4 mô hình tiêu biểu mà nơi tiếp nhận CGCN thuộc các loại hình doanh nghiệp, HTX,

hộ nông dân để phân tích, đánh giá một số yếu tố tác động dẫn đến thành công hoặc chưa thành công của mô hình Thông qua khảo sát, luận văn rút ra một số nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách khuyến khích các tổ chức nghiên cứu và triển khai CGCN trong nông nghiệp như sau:

Một là, KH&CN có vai trò đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, là khâu

then chốt, quyết định về năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá CGCN để nông dân nắm bắt, ứng dụng vào sản xuất là điều kiện để đưa KH&CN phục vụ phát triển nông nghiệp

Hai là, nông dân chưa có thói quen chi phí cho hoạt động CGCN, tất cả các hình

thức tuyên truyền, phổ biến, chuyển giao kỹ thuật trong nông nghiệp đều được nhà nước bao cấp trong một thời gian dài Chỉ có một số ít doanh nghiệp có nhận thức rõ về vai trò của KH&CN, có điều kiện về vốn mới chủ động ký các hợp đồng CGCN

Ba là, các cơ quan nghiên cứu và triển khai cũng chưa có thói quen thu phần kinh

phí CGCN cho nông dân, mà chủ yếu là thu từ ngân sách nhà nước hoặc các nguồn tài trợ thông qua các chương trình, đề tài, dự án

Bốn là, với các lợi thế về điều kiện cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, nguồn vốn, thị

trường tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có nhu cầu và sẵn sàng chi trả để có công nghệ mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm để đạt mục tiêu cao nhất trong sản xuất kinh doanh là lợi nhuận Hoạt động này luôn tạo ra nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp

Năm là, sự tham gia của doanh nghiệp là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình liên

kết 4 nhà - điều kiện để thúc đẩy hoạt động CGCN trong nông nghiệp Doanh nghiệp với lợi thế về năng lực kinh doanh, nguồn vốn và thị trường luôn là khâu quan trọng trong chuỗi sản xuất – tiêu thụ nông sản Nhà khoa học, từ thực tiễn xây dựng các mô hình cho thấy, chỉ có thể bán công nghệ của mình cho doanh nghiệp, thông qua doanh nghiệp chuyển giao cho nông dân, doanh nghiệp bù đắp chi phí CGCN từ phần lợi nhuận do liên kết với nông dân để tiêu thụ sản phẩm Nông dân không phải chi phí cho CGCN nhưng phải chia xẻ một phần lợi nhuận mang lại do tăng năng suất, chất lượng sản phẩm thông qua hợp đồng giá thu mua nông sản ổn định của doanh nghiệp Để đảm bảo mối liên kết trên vận hành trơn tru, cần có sự tham gia của “nhà quản lý”, ở đây là chính quyền, các cơ quan chức năng của địa phương, thông qua việc tổ chức sản xuất, hỗ trợ từ ngân sách SNKH cho hoạt động CGCN của các cơ quan khoa học, giảm bớt một phần chi phí CGCN của doanh nghiệp

2.4 Khảo sát năng lực các đơn vị nghiên cứu-triển khai và các đối tƣợng tiếp nhận chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh

Trang 10

2.4.1 Chọn mẫu và phương pháp khảo sát

Tác giả đã tiến hành khảo sát thông qua các phiếu hỏi gửi đến 3 nhóm đối tượng: các viện, trường, trung tâm ở Trung ương và địa phương có các hoạt động CGCN trong nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh; các doanh nghiệp và các hộ nông dân có các hoạt động tiếp nhận CGCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Nội dung khảo sát tập trung vào tìm hiểu các yếu tố tác động đến kết quả hoạt động CGCN phục vụ phát triển nông nghiệp như: năng lực CGCN của các cơ quan nghiên cứu

và triển khai (gồm: số lượng, chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động nghiên cứu-triển khai), doanh thu từ hoạt động CGCN cho nông nghiệp, các thông tin về liên kết, các thông tin về thực hiện và kiến nghị những khó khăn trong việc thực hiện các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước cho hoạt động CGCN trong nông nghiệp (kết quả khảo sát về chính sách được trình bày riêng ở mục 2.5 dưới đây)

- Tổng số phiếu hỏi gửi khảo sát 3 đối tượng là 60 phiếu; trong đó:

+ Các viện, trường, trung tâm nghiên cứu-triển khai ở Trung ương và địa phương có hoạt động CGCN trong nông nghiệp: 20 đơn vị;

+ Các doanh nghiệp, HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp có tiếp nhận CGCN vào sản xuất: 10 đơn vị;

+ Các hộ nông dân có tiếp nhận CGCN vào sản xuất: 30 hộ

- Phương pháp thu thập số liệu: Phiếu hỏi được gửi đến các đối tượng, đề nghị điền các thông tin thích hợp, gửi lại tác giả, tiến hành tổng hợp, phân tích các yếu tố liên quan làm cơ sở cho đánh giá và các kiến nghị, đề xuất các giải pháp của đề tài

2.4.2 Kết quả khảo sát

Trong tổng số 60 phiếu phát ra tác giả đã thu về được 56 phiếu, có 4 phiếu hộ nông dân không tham gia cung cấp thông tin; các cơ quan nghiên cứu và triển khai, hệ thống khuyến nông, doanh nghiệp và HTX cung cấp đủ số phiếu hỏi

1- Thông tin chung về đối tượng khảo sát:

(Chi tiết các đối tượng khảo sát có phụ lục kèm theo báo cáo chính của Luận văn)

2 Thông tin về năng lực nghiên cứu-triển khai của các đơn vị:

- Đối với các cơ quan nghiên cứu và triển khai, CGCN ở Trung ương, kết quả khảo sát cho thấy: nguồn nhân lực của các cơ quan này là khá mạnh, 82,5% cán bộ ở các đơn vị này có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên, trong đó 35,8% có trình độ trên đại học Là nơi tập trung phần lớn các nhà khoa học đầu ngành, có nhiều kinh nghiệm trong việc CGCN cũng như nhiều công trình nghiên cứu có giá trị đóng góp vào lĩnh vực phát triển nông nghiệp Điều này được khẳng định thông qua số liệu thống kê, gần như 100% các nhiệm vụ KH&CN của địa phương (trường hợp ở tỉnh Bắc Ninh) đưa ra tuyển chọn là do các cơ quan viện, trường ở Trung ương trúng tuyển chủ trì Hầu hết các đơn vị này đều có

Trang 11

hệ thống trang thiết bị, cơ sở vật chất khá đầy đủ phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

Về doanh thu từ hoạt động CGCN, kết quả khảo sát cho thấy 100% các đơn vị có doanh thu từ hoạt động CGCN trong nông nghiệp, tuy nhiên 94,2% nguồn thu này là chi trả từ các chương trình, đề tài, dự án KH&CN các cấp, hay nói cách khác là từ ngân sách

sự nghiệp KH&CN của nhà nước hoặc các khoản hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ; không có % doanh thu nào nhận được từ sự chi trả của nông dân khi tiếp nhận CGCN; chỉ

có 5,8% doanh thu CGCN trong nông nghiệp là được chi trả từ các doanh nghiệp và HTX

- Đối với các cơ quan nghiên cứu và triển khai, CGCN ở địa phương, tác giả xin tập trung khảo sát 2 đối tượng chính là Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN thuộc Sở Khoa học và Công nghệ và hệ thống khuyến nông từ tỉnh đến cơ sở (xã)

+ Đối với Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN:

Tổng số cán bộ của Trung tâm hiện nay là 25 người, trong đó 18 người (72%) có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên, trong đó, số cán bộ sau đại học là 4 người (bằng 22,2%); cán bộ chuyên ngành nông nghiệp là 9 người (bằng 36% tổng số cán bộ của Trung tâm) Cơ sở vật chất của Trung tâm gồm có 1 phòng nuôi cấy mô tế bào thực vật, 1 phòng

vi sinh để sản xuất giống nấm ăn, nấm dược liệu; chưa có cơ sở trạm trại để tổ chức sản xuất thực nghiệm Trong 5 năm chỉ thực hiện 8 đề tài cấp tỉnh trong lĩnh vực nông nghiệp, chủ yếu là giao thẳng, không có năng lực tham gia tuyển chọn cơ quan chủ trì; không có doanh thu từ hoạt động CGCN vào nông nghiệp Nhìn chung các Trung tâm của các địa phương đều trong tình trạng nguồn nhân lực yếu và thiếu, cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm hầu như không có; phần lớn chỉ có hoạt động CGCN trong nông nghiệp nhưng lại không có doanh thu từ hoạt động này Vì vậy, đề nghị nhà nước cho phép các Trung tâm này hoạt động như các đơn vị thực hiện dịch vụ công và được hưởng lương từ ngân sách Chỉ có như vậy mới góp phần thúc đẩy các hoạt động CGCN hỗ trợ nông dân tiếp thu tiến bộ KH&CN vào sản xuất

+ Đối với hệ thống khuyến nông:

Nguồn nhân lực của hệ thống khuyến nông của tỉnh có chất lượng khá, 100% cán

bộ có trình độ cao đẳng, đại học trở lên; trong đó, 4,4% có trình độ trên đại học Đặc biệt lực lượng cán bộ của hệ thống khuyến nông đã được bố trí đến tất cả 115/115 xã, phường

có sản xuất nông nghiệp trong tỉnh, mỗi xã đều có ít nhất một cán bộ khuyến nông có trình

độ từ đại học, cao đẳng trở lên Toàn bộ đội ngũ cán bộ khuyến nông từ tỉnh đến xã đều được đào tạo, tập huấn nghiệp vụ và có nhiều kinh nghiệm trong việc phổ biến, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới cho nông dân

Trong 5 năm qua đã chủ trì thực hiện 11 đề tài, dự án KH&CN cấp tỉnh; chủ yếu là giao thẳng, không thông qua tuyển chọn; cũng không có doanh thu từ hoạt động CGCN cho nông dân Mặc dù là một kênh quan trọng trong CGCN trong nông nghiệp nhưng năng

Trang 12

lực nghiên cứu, triển khai của hệ thống khuyến nông cũng hạn chế, thiếu năng động, do đội ngũ cán bộ được bao cấp, hưởng lương từ ngân sách Về cơ sở vật chất, hệ thống khuyến nông cũng chỉ được trang bị các loại máy móc, công cụ phục vụ cho công tác tuyên truyền, phổ biến kỹ thuật là chính, không có các cơ sở trạm trại phục vụ hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm

- Đối với doanh nghiệp:

Đề tài đã tiến hành khảo sát 10 đơn vị (7 doanh nghiệp và 3 HTX, sau đây gọi chung là đơn vị) hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp Kết quả khảo sát cho thấy 100% các đơn vị đều nhận thức rất rõ ràng về vai trò của KH&CN trong sản xuất 7 đơn vị đã chủ động phối hợp với các cơ quan nghiên cứu và triển khai tổ chức chuyển giao và tiếp nhận các kỹ thuật mới vào sản xuất và chủ động bỏ tiền của doanh nghiệp để chi trả cho các hợp đồng CGCN của các cơ quan nghiên cứu và triển khai

Về nguồn nhân lực và cơ sở vật chất, 100% đơn vị đều có đội ngũ cán bộ kỹ thuật

có trình độ từ cao đẳng, đại học, tuy nhiên số lượng thì hạn chế, có 4 đơn vị có 3-4 cán bộ

kỹ thuật có trình độ cao đẳng, đại học, còn lại các đơn vị khác chỉ có 1-2 người có trình độ trung cấp kỹ thuật hoặc cao đẳng, đại học Cả 10 đơn vị được khảo sát đều không thực hiện việc CGCN cho nông dân

3 Về những khó khăn trong chuyển giao và tiếp nhận CGCN vào sản xuất nông nghiệp:

- Đối với các cơ quan nghiên cứu và triển khai ở Trung ương:

10/10 đơn vị (100%) cho rằng khó khăn nhất trong hoạt động CGCN cho nông dân hiện nay nằm ở khâu thanh quyết toán tài chính (đối với việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN của nhà nước); 9/10 (bằng 90%) đơn vị cho rằng có khó khăn do nông dân không

có thói quen chi trả kinh phí cho các hợp đồng CGCN; 8/10 ý kiến cho rằng khó khăn do thiếu chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với các cơ quan nghiên cứu và triển khai khi CGCN cho nông dân; các ý kiến cũng đề nghị Nhà nước xem xét miễn giảm 100% thuế thu nhập doanh nghiệp từ khoản thu nhập do CGCN, cung cấp giống cây trồng, vật nuôi mới cho nông dân thay vì miễn giảm 50% như hiện nay Ngoài ra cũng có một số ý kiến cho rằng có những khó khăn do thiếu liên kết với các tổ chức khác (40%) và cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động CGCN còn kém (30%)

- Đối với các cơ quan nghiên cứu và triển khai, CGCN ở địa phương Kết quả khảo sát đối với 10 đơn vị (Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN, Trung tâm Khuyến nông-khuyến ngư tỉnh và 8 trạm khuyến nông các huyện/thị xã/thành phố) về các khó khăn trong quá trình CGCN cho nông dân cho thấy: 10/10 đơn vị (100%) cho rằng khó khăn nhất trong hoạt động CGCN cho nông dân hiện nay nằm ở khâu thanh quyết toán tài chính (trùng với nhóm các cơ quan Trung ương), có thể do hiện nay phần lớn các hoạt động CGCN trong nông nghiệp ở cả trung ương và địa phương đều được thực hiện từ nguồn

Trang 13

kinh phí hỗ trợ của nhà nước Thực trạng này cho thấy hiện nay trong lĩnh vực nông nghiệp chưa thể nói đến thị trường công nghệ

Thiếu nguồn nhân lực, nhất là nhân lực trình độ cao cũng được nhóm các đơn vị địa phương đánh giá là khó khăn nhất (100% ý kiến đồng ý), 8/10 ý kiến đánh giá cơ sở hạ tầng thấp kém là khó khăn trong quá trình CGCN cho nông dân Thiếu liên kết (6/10 ý kiến) và thiếu chính sách (4/10 ý kiến) cũng là những khó khăn được nhóm các đơn vị địa phương đề cập Chỉ có 1/10 ý kiến cho rằng có khó khăn do nông dân không có thói quen chi trả cho hợp đồng CGCN, hoàn toàn phù hợp với nhóm các đơn vị chuyển giao của địa phương Không có ý kiến nào của cả 2 nhóm cho rằng có khó khăn do mặt bằng dân trí thấp Có thể do lợi thế về vị trí địa lý gần Hà Nội, gần các cơ quan nghiên cứu và triển khai của Trung ương, nên trình độ sản xuất của đa số nông dân Bắc Ninh là khá

- Đối với các doanh nghiệp, HTX:

Kết quả khảo sát đối với 10 doanh nghiệp và HTX (sau đây gọi chung là đơn vị) có tiếp nhận CGCN vào sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh cho thấy: 9/10 đơn vị, bằng 90% số đơn vị được hỏi cho rằng khó khăn nhất là thiếu vốn; 8/10 đơn vị cho rằng thời gian CGCN ngắn; 8/10 đơn vị thống nhất việc thiếu liên kết với các tổ chức KH&CN là một trong những khó khăn hạn chế ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận, nắm bắt và áp dụng công nghệ mới vào sản xuất của doanh nghiệp 70% số đơn vị ghi nhận khó khăn do thiếu mặt bằng sản xuất, 50% ý kiến cho rằng bên cạnh những kết quả tốt cũng còn tồn tại một

số công nghệ chuyển giao cho doanh nghiệp chưa thật sự phù hợp

4 Thông tin về nhu cầu liên kết các nhà

Kết quả khảo sát 30 đơn vị (11 viện, trường, trung tâm, 9 đơn vị thuộc hệ thống khuyến nông và 10 doanh nghiệp, HTX) cho thấy trong số 36,6% các đơn vị đã có thực hiện liên kết thì phần lớn là thuộc về các viện, trường và các doanh nghiệp; 43,3% số đơn

vị được khảo sát trả lời đang có nhu cầu tìm kiếm sự liên kết, phần lớn trong số này cũng

là các doanh nghiệp, HTX và các viện, trường Có thể thấy, nhu cầu hợp tác, liên kết trong nhóm các đơn vị này là bức xúc và khá rõ ràng Có 6/30 đơn vị, bằng 20% số đơn vị được hỏi trả lời không có nhu cầu liên kết, các ý kiến này chủ yếu của các Trạm khuyến nông cấp huyện, nơi có đặc điểm là ít tiếp xúc với doanh nghiệp, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn được giao và 100% kinh phí hoạt động thường xuyên là do ngân sách nhà nước đảm bảo, vì vậy ít quan tâm các thông tin liên quan đến liên kết doanh nghiệp

5 Thông tin về nhận thức, nhu cầu và năng lực tiếp thu công nghệ vào sản xuất của các hộ nông dân

Tác giả đã gửi 30 phiếu khảo sát các hộ nông dân (đã thu về 26 phiếu), chủ yếu tập trung vào tìm hiểu các thông tin: nhận thức của nông dân về vai trò của KH&CN trong sản xuất nông nghiệp, các nguồn tiếp nhận thông tin về tiến bộ KH&CN, hộ nông dân gặp

Trang 14

những khó khăn gì trong việc tiếp nhận CGCN vào sản xuất và những kiến nghị về chính sách hỗ trợ của nhà nước trong việc CGCN cho nông dân

Kết quả, 26/26 ý kiến (bằng 100% số hộ được hỏi) cho rằng vai trò của KH&CN rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp 100% các hộ nông dân trả lời được tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật từ hệ thống khuyến nông; ngoài ra 10/26 hộ (bằng 38,4%) trả lời nguồn tiếp nhận thông tin khác là từ báo, đài truyền hình, phương tiện thông tin đại chúng Có 22/26 hộ (84,6% số hộ được hỏi) trả lời khó khăn nhất là các thủ tục hành chính (thuyết minh, báo cáo) trong việc đăng ký để được thực hiện các đề tài, dự án KH&CN các cấp tỉnh, huyện 20/26 hộ (77% số hộ được hỏi) trả lời thời gian từ 1-2 năm để thực hiện một đề tài, dự án KH&CN là rất ngắn, khó khăn để hộ nông dân có thể nắm bắt thành thạo quy trình công nghệ Một khó khăn khác (69,2% số hộ đồng ý) là kinh phí cấp cho các đề tài, dự án KH&CN cũng như kinh phí hỗ trợ theo kênh khuyến nông, thực hiện theo năm ngân sách nên thường bị chậm so thời vụ, dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện các nội dung của chương trình, đề tài cũng như việc thanh quyết toán của cơ quan chủ trì

2.5 Khảo sát kết quả thực hiện các chính sách của chính phủ, của địa phương trong việc khuyến khích hoạt động chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp

2.5.1 Các chính sách ảnh hưởng đến hoạt động CGCN trong nông nghiệp

2.5.1.1 Về chính sách khuyến khích, hỗ trợ chuyển giao công nghệ:

Chính sách trực tiếp liên quan đến hoạt động đổi mới và CGCN được thể hiện tại các Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Công nghệ cao…, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn cụ thể của Chính phủ, các Bộ, ngành Theo đó, Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế đẩy mạnh các hoạt động KH&CN, khuyến khích việc phổ biến và CGCN, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp được

sử dụng mức phí ưu đãi các công nghệ tạo ra từ nguồn ngân sách nhà nước, được trích lập Quỹ phát triển KH&CN từ lợi nhuận của doanh nghiệp, được vay ưu đãi từ Quỹ phát triển KH&CN quốc gia để nghiên cứu, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đổi mới và CGCN, …

2.5.1.2 Chính sách thuế trong nghiên cứu khoa học,phát triển công nghệ:

Luật Khoa học và Công nghệ quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các ưu đãi về thuế suất (10%), về thời gian miễn giảm thuế TNDN, miễn thuế thu nhập cho tổ chức cá nhân góp vốn bằng sáng chế, bằng công nghệ, miễn thuế nhập khẩu đối với vật tư, máy móc, thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học, giảm thuế thu nhập 50% đối với hoạt động CGCN, giống cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp… theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Công nghệ cao…

2.5.1.3 Ngoài ra, Nhà nước còn có các chính sách hỗ trợ về đào tạo nhân lực, các

chính sách về hỗ trợ tài chính, thông tin, thị trường…đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ,

Ngày đăng: 12/06/2014, 19:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm