1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm rừng tự nhiên phục hồi trạng thái IIB tại Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững

91 738 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Một Số Đặc Điểm Rừng Tự Nhiên Phục Hồi Trạng Thái IIB Tại Huyện Chợ Đồn, Tỉnh Bắc Kạn Làm Cơ Sở Đề Xuất Giải Pháp Quản Lý Rừng Bền Vững
Tác giả Phạm Ngọc Tú
Người hướng dẫn TS. Vũ Thị Quế Anh, TS. Nguyễn Thanh Tiến
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Lâm nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng chủ yếu tập trung vào đối tượng là rừng trồng, rừng tự nhiên tái sinh trong điều kiện thuận lợi, các công trình nghiên cứu về cấu tr

Trang 1

PHẠM NGỌC TÚ

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM RỪNG

TỰ NHIÊN PHỤC HỒI TRẠNG THÁI IIB TẠI HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN LÀM CƠ SỞ

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 2

PHẠM NGỌC TÚ

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM RỪNG

TỰ NHIÊN PHỤC HỒI TRẠNG THÁI IIB TẠI HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN LÀM CƠ SỞ

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: 1.TS VŨ THỊ QUẾ ANH

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bả

trong các công trình nào khác, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 11 năm 2013

Tác giả luận văn

Phạm Ngọc Tú

Trang 4

Tác giả xin tỏ lòng cám ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu nhà trường, Phòng quản

lý đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập cũng như hoàn thành bản luận văn thạc sĩ

Xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Đồn, UBND huyện Chợ Đồn, UBND các xã và một

số hộ dân trên địa bàn nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong việc thu thập số liệu ngoại nghiệp để thực hiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 11 năm 2013

Tác giả luận văn

Phạm Ngọc Tú

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 3

3.1 Mục tiêu về lý luận 3

3.2 Mục tiêu thực tiễn 3

4 Đối tượng nghiên cứu 3

5 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 3

5.1 Địa điểm nghiên cứu 3

5.2 Thời gian nghiên cứu 3

6 Phạm vi và giới hạn của đề tài 3

7 Ý nghĩa của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Nhữngnghiên cứu trên thế giới 4

1.1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 4

1.1.1.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng 7

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 9

1.1.2.1 Nghiên cứu cấu trúc rừng 9

1.1.2.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng 11

1.1.2.3 Nghiên cứu về rừng phục hồi ở Việt Nam 13

1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu 14

1.2.1 Điều kiện tự nhiên 14

1.2.1.1 Vị trí địa lý, địa hình 14

Trang 6

1.2.1.2 Khí hậu và thủy văn 15

1.2.1.3 Các nguồn tài nguyên 16

1.2.1.4 Thực trạng môi trường 20

1.2.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 21

1.2.2.1 Khái quát xã Rã Bản, huyện Chợ Đồn 22

1.2.2.2 Khái quát về xã Phương Viên 24

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Nội dung nghiên cứu 26

2.2 Phương pháp nghiên cứu 26

2.2.1 Phương pháp luận 26

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 27

2.2.2.1 Ngoại nghiệp 27

2.2.2.2 Nội nghiệp 29

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

3.1 Đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ của rừng phục hồi trạng thái IIB ở các giai đoạn khác nhau 35

3.1.1 Cấu trúc tổ thành và mật độ 35

3.1.1.1 Cấu trúc tổ thành và mật độ rừng phục hồi ở xã Rã Bản - Chợ Đồn 35

3.1.1.2 Cấu trúc tổ thành và mật độ rừng phục hồi ở xã Phương Viên - Chợ Đồn 37

3.1.2 Dạng sống của thực vật rừng 39

3.1.3 Phân bố số cây theo đường kính (N/D1.3) 40

3.1.3.1 Phân bố số cây theo đường kính (N/D1.3) ở xã Rã Bản - Chợ Đồn 40 3.1.3.2 Phân bố số cây theo đường kính (N/D1.3 ) ở xã Phương Viên - Chợ Đồn 43 3.1.4 Cấu trúc tầng thứ và độ tàn che tầng cây gỗ của các trạng thái rừng 45

3.1.4.1 Cấu trúc tầng thứ và độ tàn che của các trạng thái rừng ở xã Rã Bản 45

3.1.4.2 Cấu trúc tầng thứ và độ tàn che của các trạng thái rừng ở xã Phương Viên46 3.1.5 Phân bố số cây theo chiều cao (N/Hvn) 47

3.1.5.1 Phân bố số cây theo chiều cao (N/Hvn) ở xã Rã Bản - Chợ Đồn 47

3.1.5.2 Phân bố số cây theo chiều cao (N/Hvn) ở xã Phương Viên - Chợ Đồn 49 3.2 Đặc điểm tái sinh tự nhiên ở các giai đoạn phục hồi rừng 51

Trang 7

3.2.1 Đặc điểm cấu trúc tổ thành cây tái sinh 52

3.2.1.1 Tổ thành cây tái sinh của các trạng thái rừng ở xã Rã Bản - Chợ Đồn 52 3.2.1.2 Tổ thành cây tái sinh của các trạng thái rừng ở xã Phương Viên - Chợ Đồn 53

3.2.2 Đặc điểm cấu trúc mật độ và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng 54

3.2.2.1 Đặc điểm cấu trúc mật độ và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng ở xã Rã Bản - Chợ Đồn 54

3.2.2.2 Đặc điểm cấu trúc mật độ và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng ở xã Phương Viên - Chợ Đồn 55

3.2.3 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 56

3.2.3.1 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh ở xã Rã Bản - Chợ Đồn 56

3.2.3.2 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh ở xã Phương Viên - Chợ Đồn 58

3.2.4 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 59

3.2.4.1 Phân bố cây tái sinh theo chiều cao ở xã Rã Bản - Chợ Đồn 59

3.2.4.2 Phân bố cây tái sinh theo chiều cao ở xã Phương Viên- Chợ Đồn 60 3.2.5 Ảnh hưởng của độ tàn che đến tái sinh tự nhiên 61

3.2.6 Ảnh hưởng của cây bụi, thảm tươi đến tái sinh tự nhiên 62

3.2.7 Ảnh hưởng của con người 65

3.3 Đặc điểm phẫu diện đất ở trạng thái rừng IIB 66

3.4 Giải pháp kỹ thuật cho trạng thái rừng IIB 68

3.4.1 Giải pháp kỹ thuật lâm sinh 68

3.4.2 Giải pháp quản lý rừng bền vững 70

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 71

1 KẾT LUẬN 71

1.1 Đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ 71

1.2 Đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới các trạng thái rừng phục hồi 71

1.3 Đặc điểm đất rừng qua các giai đoạn phục hồi rừng 72

2 KIẾN NGHỊ 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC

Trang 8

HDC : Chiều cao dưới cành N/ha : Mật độ cây/ha

IV : Chỉ số tổ thành sinh thái tầng cây gỗ N% : Tỷ lệ mật độ

ODB : Ô dạng bản OTC : Ô tiêu chuẩn

PD : Phẫu diện

TT : Thứ tự TTV : Thảm thực vật

[…] : Trích dẫn tài liệu

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tổ thành và mật độ rừng phục hồi giai đoạn dưới 10 năm ở xã Rã Bản 35

Bảng 3.2 Tổ thành và mật độ rừng phục hồi giai đoạn 10 - 15 năm ở xã Rã Bản 36

Bảng 3.3 Tổ thành và mật độ rừng phục hồi giai đoạn trên 15 năm ở xã Rã Bản 37

Bảng 3.4 Tổ thành và mật độ rừng phục hồi giai đoạn dưới 10 năm ở xã Phương Viên 37

Bảng 3.5 Tổ thành và mật độ rừng phục hồi giai đoạn 10 - 15 năm ở xã Phương Viên 38

Bảng 3.6 Tổ thành và mật độ rừng phục hồi giai đoạn trên 15 năm ở xã Phương Viên 39

Bảng 3.7 Dạng sống của thực vật tại Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 39

Bảng 3.8 Mô phỏng và kiểm tra giả thuyết về luật phân bố N/D1.3ở xã Rã Bản 40

Bảng 3.9 Mô phỏng và kiểm tra giả thuyết về luật phân bố N/D1.3ở xã Phương Viên 43

Bảng 3.10 Mô phỏng và kiểm tra giả thuyết về luật phân bố N/Hvn ở xã Rã Bản 47

Bảng 3.11 Mô phỏng và kiểm tra giả thuyết luật phân bố N/Hvn ở xã Phương Viên 49

Bảng 3.12 Tổ thành tái sinh rừng phục hồi ở xã Rã Bản 52

Bảng 3.13 Tổ thành tái sinh rừng phục hồi ở xã Phương Viên 53

Bảng 3.14 Mật độ tái sinh rừng phục hồi ở xã Rã Bản 54

Bảng 3.15 Mật độ tái sinh rừng phục hồi ở xã Phương Viên 55

Bảng 3.16 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh ở xã Rã Bản - Chợ Đồn 57

Bảng 3.17 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh ở xã Phương Viên - Chợ Đồn 58

Bảng 3.18 Tổng hợp mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao ở xã Rã Bản 59

Bảng 3.19 Tổng hợp mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao ở xã Phương Viên 60

Bảng 3.20 Ảnh hưởng của độ tàn che đến tái sinh tự nhiên ở xã Rã Bản 61

Bảng 3.21 Ảnh hưởng của độ tàn che đến tái sinh tự nhiên ở xã Phương Viên 62

Bảng 3.22 Ảnh hưởng của cây bụi, thảm tươi đến tái sinh tự nhiên ở xã Rã Bản 63

Bảng 3.23 Ảnh hưởng của cây bụi, thảm tươi đến tái sinh tự nhiên ở xã Phương Viên 64

Bảng 3.24 Hình thái phẫu diện đất đặc trưng ở các giai đoạn phục hồi rừng 67

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ bố trí ô tiêu chuẩn(OTC) và ô dạng bản (ODB) 27

Hình 3.1 Phân bố N/D1.3 rừng phục hồi giai đoạn dưới 10 năm ở xã Rã Bản 40

Hình 3.2 Phân bố N/D1.3 rừng phục hồi giai đoạn 10 - 15 năm ở xã Rã Bản 41

Hình 3.3 Phân bố N/D1.3 rừng phục hồi giai đoạn trên 15 năm ở xã Rã Bản 42

Hình 3.4 Phân bố N/D1.3 rừng phục hồi giai đoạn dưới 10 năm ở xã Phương Viên 43

Hình 3.5 Phân bố N/D1.3 rừng phục hồi giai đoạn 10 - 15 năm ở xã Phương Viên 44

Hình 3.6 Phân bố N/D1.3 rừng phục hồi giai đoạn trên 15 năm ở xã Phương Viên 44

Hình 3.7 Phân bố N/Hvnrừng phục hồi giai đoạn dưới 10 năm ở xã Rã Bản 47

Hình 3.8 Phân bố N/Hvn rừng phục hồi giai đoạn 10 - 15 năm ở xã Rã Bản 48

Hình 3.9 Phân bố N/Hvnrừng phục hồi giai đoạn trên 15 năm ở xã Rã Bản 48

Hình 3.10 Phân bố N/Hvnrừng phục hồi giai đoạn dưới 10 năm ở xã Phương Viên 50

Hình 3.11 Phân bố N/Hvn rừng phục hồi giai đoạn 10 - 15 năm ở xã Phương Viên 50

Hình 3.12 Phân bố N/Hvn rừng phục hồi giai đoạn trên 15 năm ở xã Phương Viên 51

Hình 3.13 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao ở xã Rã Bản 59

Hình 3.14 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao ở xã Phương Viên 60

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Rừng có ý nghĩa quan trọng trong điều hòa khí hậu, điều hòa nước, chống xói mòn, rửa trôi, cung cấp gỗ củi, của cải cho nền kinh tế của đất nước và có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ, cải thiện môi trường và cân bằng sinh thái Trong những năm vừa qua diện tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất lượng, nguyên nhân chủ yếu là do con người khai thác một cách bừa bãi, đốt nương làm rẫy, chiến tranh làm cho diện tích đất trống đồi núi trọc ngày càng tăng Mất rừng gây ra hiện tượng xói mòn, rửa trôi, lũ lụt, hạn hán, mất diện tích canh tác, mất đi sự đa dạng sinh học Năm 1943 độ che phủ của rừng là 43% nhưng đến năm 1993 tức là sau 50 năm diện tích rừng giảm đi 17% xuống chỉ còn 26% Từ khi Chính phủ có chỉ thị 286/TTg (02/05/1997) về tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng, cấm khai thác rừng tự nhiên, tốc độ phục hồi rừng đã trở nên khả quan hơn Năm 2003 tổng diện tích rừng nước đã là 12 triệu

ha, tương đương với và độ che phủ là 36,1%, trong đó có 10 triệu ha rừng tự nhiên và

2 triệu ha rừng trồng Mặc dù diện tích rừng tăng lên nhưng do chất lượng rừng đặc biệt là rừng phục hồi ở phía Bắc Việt Nam không tốt Đây là một trong những thách thức không nhỏ đối với ngành Lâm nghiệp nói chung

Rừng phục hồi sau khai thác kiệt ở giaii đoạn đầu thường có cấu trúc đơn giản hơn, với chủ yếu là những cây ưa sáng mọc nhanh, cây có giá trị kinh tế thấp

Sự cạnh tranh khốc liệt về ánh sáng và không gian dinh dưỡng dẫn đến chất lượng

và hình thái cây thường thấp Lượng tăng trưởng trong thời gian đầu rất cao nhưng giảm dần ở các giai đoạn sau Do cấu trúc tổ thành và khả năng tăng trưởng của rừng thay đổi theo giai đoạn phát triển, nên sức sản xuất của nó không có tính bền vững cả về mặt số lượng và chất lượng sản phẩm Rừng tự nhiên phục hồi thường rất khó có chất lượng rừng phù hợp cho sản xuất lâm nghiệp, nếu không có sự tác động có định hướng của con người

Huyện Chợ Đồn là một huyện phía Tây của tỉnh Bắc Kạn, có diện tích tự

Trang 12

Trong thời gian qua, việc khai thác và sử dụng quá mức, công tác quản lý bảo vệ rừng kém hiệu quả làm cho rừng giảm sút nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Những tác động này đã ảnh hưởng lớn đến khả năng tồn tại của rừng, làm xáo trộn các quy luật cấu trúc và tái sinh tự nhiên của rừng, diễn thế rừng đi theo chiều hướng tiêu cực, đất đai bị thoái hoá, rừng có sức sản xuất thấp và kém ổn định, tuy nhiên việc khôi phục nó không dễ dàng và nhanh chóng được

Thực trạng suy giảm nhanh chóng cả số lượng và chất lượng của rừng tự nhiên đặt ra cho các nhà làm công tác lâm nghiệp một nhiệm vụ cấp bách là khôi phục và phát triển rừng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về gỗ, củi và bảo vệ môi trường sống của con người Trong quản lý rừng, tác động lâm sinh là biện pháp kỹ thuật then chốt để cải thiện và làm cho rừng có cấu trúc phù hợp nhất với mục đích quản lý, nhằm đáp ứng được các yêu cầu đặt ra cho từng loại hình kinh doanh rừng

Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng chủ yếu tập trung vào đối tượng là rừng trồng, rừng tự nhiên tái sinh trong điều kiện thuận lợi, các công trình nghiên cứu về cấu trúc và tái sinh của thảm thực vật rừng trong điều kiện rừng tự nhiên bị phát trắng do canh tác nương rẫy còn ít Hơn nữa cấu trúc rừng còn liên quan đến hiện trạng sử dụng đất, điều kiện tự nhiên, nguồn tài nguyên rừng Vì vậy các giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm phục hồi rừng trên đất bỏ hoá sau khai thác kiệt còn thiếu cơ sở khoa học Đặc biệt ở huyện Chợ Đồn, Tỉnh Bắc Kạn, một trong những khu vực miền núi trước đây có nhiều nương rẫy song chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách có hệ thống về cấu trúc rừng phục hồi sau khai thác kiệt Xuất

phát từ những vấn đề của thực tiễn tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu một số đặc

điểm rừng tự nhiên phục hồi trạng thái IIB tại huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn làm cở sở đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững"

2 Mục đích nghiên cứu

Cung cấp thêm những thông tin về rừng phục hồi, làm cơ sở cho việc quản lý bền vững nguồn tài nguyên rừng Việt Nam nói chung và huyện Chợ Đồn nói riêng Đồng thời góp phần nâng cao độ che phủ của rừng tại địa phương

Trang 13

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu về lý luận

Đề tài sẽ là nguồn tư liệu bổ sung những hiểu biết về đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng; Góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học cho việc khoanh nuôi phục hồi và phát triển rừng tự nhiên một cách bền vững

3.2 Mục tiêu thực tiễn

Đánh giá được thực trạng rừng tự nhiên phục hồi IIB tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn; Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh xúc tiến việc khoanh nuôi, phát triển rừng phục hồi có hiệu quả kinh tế hơn, từng bước nâng cao chất lượng rừng phục hồi khu vực nghiên cứu

4 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các trạng thái rừng tự nhiên phục hồi trạng thái IIB ở các giai đoạn dưới 10 năm, 10 - 15 năm, trên 15 năm, ít bị tác động của các yếu tố bên ngoài

5 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

5.1 Địa điểm nghiên cứu

Gồm 2 xã có diện tích rừng phục hồi tập trung: Xã Rã Bản và xã Phương Viên của huyện Chợ Đồn

5.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013

6 Phạm vi và giới hạn của đề tài

Nghiên cứu trạng thái rừng IIB ở các giai đoạn dưới 10 năm; 10 -15 năm và giai đoạn trên 15 năm tập chung vào một số nội dung chính sau: Cây gỗ, cây tái sinh, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phục hồi rừng

7 Ý nghĩa của đề tài

Kết quả đề tài là tư liệu quan trong để tham khảo trong lĩnh vực lâm sinh, là

cơ sở khoa học cho địa phương xây dựng kế hoạch khoanh nuôi bảo vệ rừng hợp

lý Thông qua nghiên cứu giúp cho học viên hệ thống được toàn bộ kiến thức đã học

và vận dụng vào thực tiễn công tác

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Theo Phùng Ngọc Lan, (1986) [24] Cấu trúc rừng là một khái niệm dùng để chỉ quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần xã thực vật rừng theo không gian và thời gian Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi

Cấu trúc rừng là hình thức biểu hiện bên ngoài của những mối quan hệ qua lại bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trường sống Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết được những mối quan hệ sinh thái bên trong của quần

xã, từ đó có cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp

Cấu trúc sinh thái bao gồm các nhân tố: Tổ thành thực vật, dạng sống, tầng phiến Cấu trúc hình thái được phân biệt thành cấu trúc trên mặt phẳng thẳng đứng (hiện tượng thành tầng) và cấu trúc trên mặt phẳng nằm ngang (mật độ và mạng hình phân bố cây trong quần thể) Vì vậy, mô hình cấu trúc hình thái của quần thể thường được biểu diễn bằng mô hình cấu trúc không gian ba chiều

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới

1.1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng

* Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng:

Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được Baur G.N (1976)[2], Odum E.P (1971)[46] tiến hành Các nghiên cứu này thường nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng

Baur G.N (1976)[2] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên

Trang 15

Catinot (1965) [6] nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông qua việc biểu diễn các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến,

Odum E.P (1971) [46] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở

thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P, năm 1935 Khái niệm hệ sinh

thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học

* Về mô tả hình thái cấu trúc rừng:

Hiện tượng thành tầng là một trong những đặc trưng cơ bản về cấu trúc hình thái của quần thể thực vật và là cơ sở để tạo nên cấu trúc tầng thứ Phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do David và P.W Risa (1933 - 1934) đề xướng và sử dụng lần đầu tiên ở Guyan đến nay vẫn là phương pháp có hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc tầng của rừng Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là chỉ minh hoạ được cách sắp xếp the hướng thẳng đứng của các loài cây gỗ trong một diện tích có hạn Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số giải kề bên nhau và đưa lại một hình tượng về không gian ba chiều

Phương pháp biểu đồ trắc diện do David và Richards (1933 - 1934) đề xuất trong khi phân loại và mô tả rừng nhiệt đới phức tạp về thành phần loài và cấu trúc thảm thực vật theo chiều nằm ngang và chiều thẳng đứng

Richards P.W (1968) [29] đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới

về mặt hình thái Theo tác giả này, một đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ Rừng mưa thường có nhiều tầng (thông thường nhất là có ba tầng, ngoại trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài cây thân cỏ còn có nhiều loài cây leo đủ hình dáng và kích thước, cùng nhiều thực vật phụ sinh bám trên thân cây,

cành cây, "Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu

tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây"

Trang 16

Cũng theo Richards P.W(1952)[47], trong rừng nhiệt đới có mùa khô hạn thật rõ, dựa vào vòng năm đôi khi có thể xác định được tuổi cây gỗ đại khái gần đúng và có thể dùng phương pháp này đối với một số ít loài cây trong rừng phân mùa thường xanh, nhưng trong rừng mưa điển hình với khí hậu tương đối không phân thành mùa thì vòng sinh trưởng hình thành hàng năm không phân biệt rõ rệt

Do đó, việc xác định tuổi cây trong rừng nhiệt đới có nhiều khó khăn, đôi khi là điều không thể được Để giải quyết, các nhà nghiên cứu đã thay thế việc nghiên cứu tuổi cây rừng tự nhiên thông qua cấu trúc cấp kính (thể hiện sự kế tiếp của các thế

hệ cây theo tuổi) Trong các cây ưu thế thường gặp, từ loài này qua loài khác (và đôi khi trong cùng một loài, từ nơi này qua nơi khác), đã có sự biến đổi rất lớn về

độ nhiều trong các giai đoạn còn non Một loài cây mà trong các tầng trên chiếm tỉ

lệ lớn, có thể có rất nhiều đại biểu là cây mạ và cây non, trong khi đó một loài cây khác, ở tầng trên cũng có nhiều không kém gì, lại có rất ít đại biểu trong số cây mạ, cây non Đôi khi một loài cây trong lúc còn là cây mạ thì có nhiều, nhưng đến khi là cây lớn lại hoàn toàn vắng hẳn

Việc phân cấp cây rừng cho rừng hỗn loài nhiệt đới tự nhiên là một vấn đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra được phương án phân cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên mà được chấp nhận rỗng rãi Richards P.W(1970) [29], khi nghiên cứu rừng tự nhiên Ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới Tây Phi có kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp dựa vào kích thước và chất lượng cây rừng Khi nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên nhiệt đới, nhiều tác giả có ý kiến khác nhau trong việc xác định tầng thứ, trong đó có ý kiến cho rằng, kiểu rừng này chỉ có một tầng cây gỗ Richards P.W(1952) [47] phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng với các giới hạn chiều cao là 6 - 12m, 12 - 18m, 18 - 24m, 24 - 30m, 30 - 36m và 36 - 42m, nhưng thực chất đây chỉ là các lớp chiều cao Odum E P (1971) [46] nghi ngờ sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600m ở Puecto Rico và cho rằng không có

sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả

Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ theo chiều cao mang tính tương đối nên chưa phản ánh được sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới

Trang 17

* Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng:

Việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã có từ lâu và được chuyển dần từ mô tả định tính sang định lượng với sự hỗ trợ của thống kê toán học và tin học, trong đó việc

mô hình hoá cấu trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng đã được nhiều tác giả nghiên cứu có kết quả Các nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng còn phát triển mạnh mẽ khi các hàm toán học được đưa vào sử dụng để mô phỏng các quy luật kết cấu lâm phần Biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính ngang ngực, đường kính tán bằng các dạng phân bố xác xuất, sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính thân cây loài Thông

Một vấn đề nữa có liên quan đến nghiên cứu cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừng theo cấu trúc hình thái Cơ sở phân loại rừng theo xu hướng này là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng Nhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này, khi nghiên cứu ngoại mạo của quần xã thực vật đã không tách khỏi hoàn cảnh sinh thái của

nó, từ đó hình thành xu hướng phân loại rừng theo ngoại mạo sinh thái

1.1.1.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng

Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ

ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: dưới tán rừng, chỗ trống, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau khai thác kiệt Vai trò lịch sử của lớp cây con này là thay thế thế hệ cây già cỗi Vì vậy, tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần

cơ bản của rừng chủ yếu là tầng cây gỗ

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân

bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh tầng cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm Khi đề cập đến vấn đề điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống, với diện tích ô đo đếm điều tra tái sinh từ 1 đến 4 m2 Với diện tích ô nhỏ nên việc đo đếm gặp nhiều thuận lợi nhưng số lượng ô phải đủ lớn và trải đều trên diện tích khu rừng mới phản

Trang 18

Richards P W (1952) [47] đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ô dạng bản và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, đã đề nghị một phương pháp "điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh Một số tác giả nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới châu Á nhận định, dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, nên việc đề xuất các biện pháp lâm sinh để bảo vệ lớp cây tái sinh dưới tán rừng là rất cần thiết Nhờ những nghiên cứu này nhiều biện pháp tác động vào lớp cây tái sinh

đã được xây dựng và đem lại hiệu quả đáng kể

Van Steenis (1956) [50] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng nhiệt đới đó là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt (tái sinh lỗ trống) Hai đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy ở cả rừng thứ sinh - một đối tượng rừng khá phổ biến ở nhiều nước nhiệt đới

Khi nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên Trong đó nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi được đề cập thường xuyên Baur G.N (1976) [2] cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm, ảnh hưởng này thường không rõ ràng Ngoài

ra, các tác giả nhận định, thảm cỏ và cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây tái sinh Mặc dù ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh Đối với rừng nhiệt đới,

số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn Số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp lại ít được quan tâm mặc dù chúng có vai trò sinh thái quan trọng Vì vậy, khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đề cập một cách đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng và có những biện pháp tác động phù hợp

Tóm lại, các công trình nghiên cứu được đề cập trên đây phần nào làm sáng

tỏ việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng Đó là những cơ sở để lựa chọn cho việc nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng trong đề tài này

Trang 19

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

1.1.2.1 Nghiên cứu cấu trúc rừng

Trong vòng vài chục năm qua, nghiên cứu về cấu trúc rừng là một trong những nội dung quan trọng nhằm đề xuất các giải pháp kỹ thuật phù hợp Thái Văn Trừng (1978) [37], Trần Ngũ Phương (1970) [26] cũng đã nghiên cứu cấu trúc sinh thái để làm căn cứ phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam

Trần Ngũ Phương (1970) [26] đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của các thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả điều tra tổng quát về tình hình rừng miền Bắc Việt Nam từ 1961 đến 1965 Nhân tố cấu trúc đầu tiên được nghiên cứu

là tổ thành và thông qua đó một số quy luật phát triển của các hệ sinh thái rừng được phát hiện và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất

Khi nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở nước ta Thái Văn Trừng (1978)[37] đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng như: tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết (C) Thái Văn Trừng đã vận dụng và cải tiến, bổ sung phương pháp biểu đồ mặt cắt đứng của Davit - Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng cây bụi và thảm tươi được

vẽ với tỷ lệ nhỏ hơn và có ghi ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những đặc trưng sinh thái và vật hậu cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình Bên cạnh đó, tác giả này còn dựa vào 4 tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam,

đó là dạng sống ưu thế của những thực vật trong tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng

ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng mùa của tán lá Với những quan điểm trên Thái Văn Trừng đã phân chia thảm thực vật rừng Việt nam thành 14 kiểu Như vậy, các nhân tố cấu trúc rừng được vận dụng triệt để trong phân loại rừng theo quan điểm sinh thái phát sinh quần thể

Thái Văn Trừng (1978) [37] đã tiến hành áp dụng phương pháp vẽ "biểu đồ

phẫu diện" sau khi đã đo chính xác vị trí, chiều cao và đường kính thân cây, bề rộng

và bề dày tán lá của toàn bộ những cây gỗ (tầng A) trên một dải hẹp điển hình của khu tiêu chuẩn theo Richards và Davids (1934) đã thể hiễn khá rõ sự phân chia theo tầng của thực vật trong hệ sinh thái rừng Bên cạnh đó, tác giả này còn dựa vào 4

Trang 20

tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam, đó là dạng sống ưu thế của những thực vật trong tầng cây lập quần, độ tàn che nền đất đá của tầng ưu thế, hình thái sinh thái lá và trạng thái mùa của tán lá Như vậy, các nhân tố cấu trúc rừng được vận dụng triệt để trong phân loại rừng theo quan điểm sinh thái phát sinh quần thể

Nguyễn Văn Trương (1983) [36] khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài đã xem xét sự phân tầng theo hướng định lượng, phân tầng theo cấp chiều cao một cách cơ giới Từ những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, Vũ Đình Phương (1987) [28] đã nhận định, việc xác định tầng thứ của rừng lá rộng thường xanh là hoàn toàn hợp lý và cần thiết, nhưng chỉ trong trường hợp rừng có sự phân tầng rõ rệt (khi đã phát triển ổn định) mới sử dụng phương pháp định lượng để xác định giới hạn của các tầng cây Đào Công Khanh (1996) [22] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng lá rộng thường xanh ở Hương Sơn, Hà Tĩnh làm

cơ sở đề xuất một số biện pháp lâm sinh phục vụ khai thác và nuôi dưỡng rừng Nguyễn Anh Dũng (2000) [16] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ cho hai trạng thái rừng là IIA và IIIA1 ở lâm trường Sông Đà - Hoà Bình Các nghiên cứu này sẽ được đề tài xem xét và lựa chọn để vận dụng vào các nội dung nghiên cứu

Trong những năm gần đây, do có sự hỗ trợ của các phần mềm tính toán nên

có rất nhiều công trình nghiên cứu định lượng về cấu trúc rừng, nổi bật là các công trình của các tác giả sau: Đồng Sỹ Hiền (1974) [18] dùng hàm Meyer và hệ đường cong Poisson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ kính cho rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu độ thon cây đứng ở Việt Nam Nguyễn Hải Tuất (1986) [38] đã sử dụng hàm phân bố giảm, phân bố khoảng cách để biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh và áp dụng quá trình Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng

Những nghiên cứu về cấu trúc rừng trên cho thấy trong thời gian qua, việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở nước ta đã có những bước phát triển nhanh chóng và có nhiều đóng góp nhằm nâng cao hiểu biết về rừng, nâng cao hiệu quả trong nghiên cứu cũng như sản xuất kinh doanh rừng Tuy nhiên, các nghiên cứu về cấu trúc rừng

Trang 21

gần đây thường thiên về việc mô hình hoá các quy luật kết cấu lâm phần và việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng thường thiếu yếu tố sinh thái nên chưa thực sự đáp ứng mục tiêu kinh doanh rừng ổn định lâu dài Bởi lẽ bản chất của các biện pháp kỹ thuật lâm sinh là giải quyết những mâu thuẫn sinh thái phát sinh trong quá trình sống giữa các cây rừng và giữa chúng với môi trường Vì vậy, để đề xuất được các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chính xác, đòi hỏi phải nghiên cứu cấu trúc rừng một cách đầy đủ và phải đứng trên quan điểm tổng hợp về sinh thái học, lâm học và sản lượng

1.1.2.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng

Vấn đề nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên một cách hệ thống và đầy đủ ở nước ta thực sự chưa nhiều Một số kết quả nghiên cứu về tái sinh thường được đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo cáo khoa học

và một phần công bố trên các tạp chí Khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai thác, Phùng Ngọc Lan (1964) đã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm trường Hữu Lũng, Lạng Sơn

Trong thời gian từ năm 1962 đến năm 1969, Viện Điều tra - Quy hoạch rừng

đã điều tra tình hình tái sinh tự nhiên theo các "loại hình thực vật ưu thế" rừng thứ sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn (1969) Đáng chú ý là kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu (1962 - 1964) bằng phương pháp đo đếm điển hình Từ kết quả điều tra tái sinh, dựa vào mật độ cây tái sinh, Vũ Đình Huề (1969) [20] đã phân chia khả năng tái sinh rừng thành 5 cấp: rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu với mật độ tái sinh tương ứng là trên 12.000 cây/ ha, 8.000 - 12.000 cây/ha, 4.000 - 8.000 cây/ ha, 2.000 - 4.000 cây/ ha Nhìn chung nghiên cứu này mới chỉ chú trọng đến số lượng mà chưa đề cập đến chất lượng cây tái sinh Cũng từ kết quả điều tra trên, Vũ Đình Huề (1975) [21] đã tổng kết và rút ra nhận xét, tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới Dưới tán rừng nguyên sinh, tổ thành loài cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ; dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài cây gỗ kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện rõ nét tạo nên sự phân bố

số cây không đều trên mặt đất rừng Những nhận xét trên sẽ được đề tài vận dụng

Trang 22

trong việc đánh giá mật độ tái sinh của rừng Vối thuốc tự nhiên và tổ thành tầng cây tái sinh với tổ thành tầng cây cao để có thể nhận biết được chiều hướng phát triển của rừng trong tương lai

Rừng nhiệt đới Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung, nhưng do phần lớn là rừng thứ sinh bị tác động của con người nên những quy luật tái sinh đã bị xáo trộn nhiều Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tái sinh rừng nhưng tổng kết thành qui luật tái sinh cho từng loại rừng thì còn rất ít Một số kết quả nghiên cứu về tái sinh thường được đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo cáo khoa học và một phần công bố trên các tạp chí

Trong thời gian từ năm 1962 đến năm 1969, Viện Điều tra - Quy hoạch rừng đã điều tra tái sinh tự nhiên theo các "loại hình thực vật ưu thế" rừng thứ sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn (1969) Đáng chú ý là kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu (1962-1964) bằng phương pháp đo đếm điển hình Từ kết quả điều tra tái sinh, dựa vào mật độ cây tái sinh, Vũ Đình Huề (1969) [20]

đã phân chia khả năng tái sinh rừng thành 5 cấp, rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu Nhìn chung nghiên cứu này mới chỉ chú trọng đến số lượng mà chưa đề cập đến chất lượng cây tái sinh Cũng từ kết quả điều tra trên, Vũ Đình Huề (1975) [21] đã tổng kết

và rút ra nhận xét, tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới Dưới tán rừng nguyên sinh, tổ thành loài cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ; dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài cây gỗ mềm kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện rõ nét tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng Với những kết quả đó, tác giả đã xây dựng biểu đánh giá tái sinh áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng, miền Bắc nước ta

Thái Văn Trừng (1978) [37] khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam,

đã kết luận: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng Nếu các điều kiện khác của môi trường như đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và

Trang 23

theo thời gian mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có qui luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường

1.1.2.3 Nghiên cứu về rừng phục hồi ở Việt Nam

Canh tác nương rẫy là hoạt động canh tác truyền thống của nhiều dân tộc sống ở miền núi nước ta, hiện nay nó vẫn đang tồn tại, nhưng đã có nhiều thay đổi

so với trước đây Ở nước ta, tài liệu nghiên cứu về canh tác nương rẫy còn rất ít, tuy nhiên có thể kể đến một số công trình như:

Lê Đồng Tấn (1997-1999) [32,33] nghiên cứu quá trình phục hồi tự nhiên một số quần xã thực vật tại Sơn La theo phương pháp kết hợp điều tra ô tiêu chuẩn 400m2 cho các đối tượng là thảm thực vật phục hồi và theo dõi ô định vị 2000m2 Tác giả kết luận: mật độ cây tái sinh giảm dần từ chân đồi lên đỉnh đồi Tổ hợp loài cây ưu thế trên ba vị trí địa hình và 3 cấp độ dốc là giống nhau Sự khác nhau chính

là hệ số tổ thành các loài trong tổ hợp đó

Đặng Kim Vui (2002) [40] khi nghiên cứu cấu trúc rừng phục hồi ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên với đối tượng là rừng phục hồi tự nhiên ở các giai đoạn tuổi khác nhau, đã nghiên cứu về cấu trúc tổ thành loài, cấu trúc dạng sống, cấu trúc hình thái, mật độ, độ phủ, của các trạng thái rừng và kết luận: Tổng số loài cây của

hệ sinh thái rừng phục hồi giảm dần khi giai đoạn tuổi tăng lên, đồng thời số loài cây gỗ tăng dần, số loài cây cỏ, cây bụi giảm nhanh Theo quá trình phục hồi, trạng thái rừng có sự thay đổi về tầng thứ và thành phần thực vật ở các tầng, ở giai đoạn cuối của quá trình phục hồi (từ 10 - 15 tuổi) rừng có cấu trúc 5 tầng rõ rệt Trên cơ

sở đó tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phục hồi rừng

Tóm lại, trong thời gian qua đã có nhiều kết quả nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh rừng, những công trình đề cập ở trên là những định hướng quan trọng cho việc giải quyết các vấn đề nghiên cứu của đề tài Cho đến nay, vấn đề nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi còn ít, đặc biệt là ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, vấn đề này còn khá mới mẻ, mới chỉ có một công trình nghiên cứu về đối tượng này Trên cơ sở lựa chọn và vận dụng những kết quả của các tác giả đi trước để nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi tự nhiên, thông qua đó

Trang 24

đề tài đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp, đáp ứng mục tiêu kinh doanh, góp phần khôi phục và phát triển rừng

1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

1.2.1.1 Vị trí địa lý, địa hình

Huyện Chợ Đồn nằm ở phía Tây của tỉnh Bắc Kạn, có diện tích tự nhiên 91.115,00 ha chiếm 18,75% diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn [41] Huyện Chợ Đồn có một thị trấn (Bằng Lũng) và 21 xã Có ranh giới tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp huyện Ba Bể; Phía Nam giáp huyện Định Hoá tỉnh Thái Nguyên; Phía Đông giáp huyện Bạch Thông, huyện Chợ Mới; Phía Tây giáp huyện Chiêm Hoá, Yên Sơn, Na Hang tỉnh Tuyên Quang

ừ 105025’ đến 105043’ kinh độ Đông, từ 21057’ đến 22025’

vĩ độ Bắc Trung tâm huyện lỵ là thị trấn Bằng Lũng cách thị xã Bắc Kạn khoảng 46km theo tỉnh lộ 257 Huyện Chợ Đồn có hệ thống giao thông khá đầy đủ với đường tỉnh lộ 254, 254B, 255, 257… các tuyến liên xã tương đối hoàn thiệ

Huyện Chợ Đồn là huyện miền núi vùng cao của tỉnh Bắc Kạn, có độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây với các dạng địa hình phổ biến:

-Địa hình núi đá vôi: Các xã phía Bắc thuộc cao nguyên đá vôi LangCaPhu kéo dài từ huyện Ba Bể đến thị trấn Bằng Lũng Địa hình chia cắt phức tạp bởi những dãy núi đá vôi với độ cao trên 1000m (núi Phia Khao xã Bản Thi) xen giữa các thung lũng hẹp, độ dốc bình quân từ 250 đến 300 Đây là nơi đầu nguồn của các sông chảy về hồ Ba Bể

Trang 25

Địa hình núi đất: Các xã phía Nam thị trấn Bằng Lũng phần lớn là núi đất có

độ cao phổ biến 400m đến trên 600m, độ dốc bình quân từ 200

đến 250 Địa hình chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối khá dày đặc

Địa hình thung lũng: phân bố dọc theo các sông, suối xen giữa các dãy núi cao Các điều kiện tự nhiên nhìn chung khá thuận lợi cho phát triển canh tác nông lâm nghiệp kết hợp, cây ăn quả, cây đặc sản

1.2.1.2 Khí hậu và thủy văn

Bắc Việt Nam Được hình thành từ một nền nhiệt cao của đới chí tuyến và sự thay thế của các hoàn lưu lớn theo mùa, kết hợp với điều kiện địa hình nên mùa đông (từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau) giá lạnh, nhiệt độ không khí thấp, khô hanh, có sương muối; mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 9) nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt

độ không khí trung bình năm 23,2o

C (Nhiệt độ không khí trung bình cao nhất 26,5o ấp nhất là 20,8o

C) Các tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng

6, 7 và tháng 8 (28oC - 29oC), nhiệt độ trung bình thấp nhất vào các tháng 1 và 2 (13,5oC), có năm xuống tới -2o

C Nhiệt độ cao tuyệt đối là 39,5oC Tổng tích nhiệt

cả năm bình quân đạt 6800oC-7000oC Mặc dù nhiệt độ còn bị phân hoá theo độ cao

và hướng núi, nhưng không đáng kể [41]

Ngoài chênh lệch về nhiệt độ theo các mùa trong năm, khí hậu Chợ Đồn còn

có những đặc trưng khác như sương mù Một năm bình quân có khoảng 87 - 88 ngày sương mù Vào các tháng 10, 11 số ngày sương mù thường cao hơn Về mùa đông các xã vùng núi đá vôi thường xuất hiện sương muối; từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau bình quân xuất hiện 1 - 2 đợt, mỗi đợt kéo dài 1-3 ngày Mưa đá là hiện tượng xảy ra không thường xuyên, trung bình 2-3 năm một lần vào các tháng 5 và 6

Lượng mưa thuộc loại thấp, bình quân 1.115mm/năm Các tháng có lượng mưa lớn là tháng 6 và 7 có ngày mưa tới 340mm/ngày; thấp nhất là vào tháng 12 và tháng 1 năm sau 1,5mm/ngày Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và chiếm tới 75-80% lượng mưa cả năm Độ ẩm không khí trung bình 82%, thấp nhất vào tháng 2 với 79% và cao nhất vào tháng 7 tới 88%

Trang 26

Lượng bốc hơi trung bình năm là 830mm, thấp nhất vào tháng 1 với 61mm

và cao nhất là 88mm vào tháng 4 Tổng số giờ nắng trung bình đạt 1586 giờ, thấp nhất là tháng 1 có 54 giờ, cao nhất la 223 giờ vào tháng 8

Chế độ gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc kèm theo không khí lạnh và gió mùa Đông Nam mang theo hơi nước từ biển Đông, tạo ra các trận mưa lớn về mùa

hè Những đặc điểm trên rất thích hợp cho trồng các loại cây nhiệt đới và á nhiệt đới, là điều kiện để đa dạng hoá cây trồng, tăng vụ; tuy nhiên cũng cần đề phòng mưa lũ và hạn hán

* Thuỷ văn: Huyện Chợ Đồn có hệ thống sông suối khá dày đặc nhưng đa số

là các nhánh thượng nguồn sông Cầu, sông Năng, sông Phó Đáy, sông Bình Trung với đặc điểm chung là đầu nguồn, lòng sông ngắn, dốc, thuỷ chế thất thường Giao thông đường sông ít phát triển do sông suối dốc, lắm thác ghềnh Một số suối cạn nước vào mùa khô nhưng mùa mưa nước dồn nhanh có thể xảy ra lũ quét ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân

1.2.1.3 Các nguồn tài nguyên

* Tài nguyên đất: Theo số liệu thống kê, tổng diện tích tự nhiên của huyện

Chợ Đồn là 91.115,00 ha, trong đó: sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp có 5005,85 ha, chiếm 5,49% tổng diện tích tự nhiên; đất lâm nghiệp có 64.731,22 ha, chiếm 71,04% tổng diện tích tự nhiên; đất chuyên dùng có 4890,79 ha, chiếm 5,37% tổng diện tích tự nhiên; đất ở có 483,53 ha, chiếm 0,53% tổng diện tích tự nhiên; đất chưa sử dụng có 14.268,61 ha, chiếm 15,66% tổng diện tích tự nhiên

Diện tích đất nông nghiệp không đáng kể, bình quân là 1.038m2/người, đất lâm nghiệp là 1,34 ha/người Diện tích đất chưa sử dụng còn khá lớn, khoảng 15,66% diện tích tự nhiên của huyện, trong đó đất đồi núi chưa sử dụng 12.925,78 ha Đây thực sự

là tiềm năng lớn để phát triển sản xuất lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp

Về thổ nhưỡng, theo tài liệu và bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/100.000 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn, trên địa bàn huyện Chợ Đồn có các loại đất như sau:

Trang 27

+ Đất Feralit nâu vàng phát triển trên đá vôi, phân bố ở vùng phía Bắc huyện

từ Bằng Lũng đến Nam Cường Đất tơi xốp, độ ẩm cao, tầng đất dày, hàm lượng dinh dưỡng cao, tỷ lệ mùn 1,9-3,5%; tỷ lệ đạm trung bình nhưng nghèo lân tổng số Đất này thích hợp cho các loài cây lương thực, cây công nghiệp nhưng thiếu nước,

dễ bị hạn vào mùa khô

+ Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét và đá biến chất; phân bố

ở vùng đồi, núi thấp thuộc các xã phía Nam Đất có tầng dày trung bình, có thành phần cơ giới thịt nhẹ hoặc pha sét Ở những nơi còn thảm thực bì rừng che phủ có tỷ

lệ mùn khá cao (3% - 3,5%) Tỷ lệ đạm trung bình, đất này thích hợp cho sản xuất lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp Ở những nơi có độ dốc thấp, gần nguồn nước có thể trồng cây ăn quả

+ Đất dốc tụ và phù sa: sản phẩm của quá trình bồi tụ và sa lắng của các sông suối phân bố ở các thung lũng và dọc theo các con sông, suối Tầng đất dày, có thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét, đất hơi chua, hàm lượng dinh dưỡng khá, thích hợp cho trồng các loại cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày như ngô, lạc, đậu tương

Nhìn chung đất đai của huyện phong phú, diện tích đất chưa sử dụng có một lượng lớn với nhiều chủng loại, kiểu địa hình khác nhau, thuận lợi cho phát triển đa dạng các loại cây trồng và vật nuôi

* Tài nguyên nước: Nước mặt, do địa hình phân cắt mạnh nên huyện Chợ

Đồn có nhiều khe suối Các khe suối có nguồn nước mặt khá dồi dào Tuy nhiên, do địa hình núi đá vôi, độ dốc lớn nên vùng núi phía Bắc thường thiếu nước, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân Mặc dù nguồn nước khá phong phú nhưng do khả năng điều tiết của rừng kém, địa hình dốc, thảm thực vật

bị suy giảm, thực bì nhỏ, diện tích đất đồi núi chưa sử dụng nhiều nên mùa mưa thường xảy ra lũ lụt, mùa khô thiếu nước, đất bị xói mòn, rửa trôi ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng, vật nuôi Nước ngầm, độ dày tầng chứa nước biến động từ 60-160m, trung bình 100m và giảm dần từ Bắc xuống Nam Mực nước ngầm phong phú, có thể khai thác phục vụ sản xuất nông, công nghiệp và dân sinh, bổ sung cho nguồn nước mặt ở những vùng khó khăn

Trang 28

Thời gian gần đây do canh tác nông nghiệp, khai thác lâm sản nên mực nước ngầm và chất lượng nước đã thay đổi Ở huyện Chợ Đồn mực nước ngầm thấp hơn giai đoạn 1980 khoảng 2 - 3m, trong nước có Nitric và Nitrat hàm lượng thấp do bón phân vô cơ cho cây thấm xuống đất, hiện nay chưa ảnh hưởng đến việc sử dụng nước ngầm Nếu không bảo vệ môi trường, xử lý chất thải thì nước ngầm sẽ bị ô nhiễm

* Tài nguyên rừng: Rừng là tài nguyên, là lợi thế tuyệt đối của huyện Chợ

Đồn, khai thác hợp lý rừng sẽ không chỉ là nguồn nguyên liệu nhằm phát triển công nghiệp chế biến cho thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu mà còn là nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển bền vững sau này Những năm qua, huyện đã đầu tư nhiều cho công tác quản lý, phát triển và khai thác tài nguyên rừng, tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập Để khắc phục, ngoài các biện pháp hành chính, cần quan tâm nhiều hơn nữa tới công tác quy hoạch, lồng ghép các chương trình nhằm vừa phát triển, khai thác tốt các nguồn lợi rừng vừa nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo các điều kiện phát triển bền vững cả về tăng trưởng,

xã hội và môi trường trong tương lai

Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2010 của huyện có 64.731,22 ha đất lâm nghiệp, chiếm 71,04% so với tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Trong đó rừng sản xuất có 47.444,31 ha, chiếm 52,07 % tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, rừng phòng hộ có 15.498.91 ha, chiếm 17,01% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, rừng đặc dụng có 1.788,00 ha chiếm 1,96% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Diện tích rừng của huyện Chợ Đồn khá nhiều, độ che phủ đạt trên 57%, phân bố trên tất cả các xã, thị trấn Tập đoàn cây rừng hiện có chủ yếu là cây gỗ tạp, tre, nứa, Keo, Mỡ

và một số loại gỗ quý hiếm

Một phần diện tích rừng ở Chợ Đồn hiện nay thuộc loại rừng non tái sinh, chất lượng và trữ lượng thấp, chỉ có tác dụng phòng hộ và cung cấp chất đốt Tài nguyên rừng đang bị xuống cấp về chất lượng, phẩm chất cây cũng như tỷ lệ các cây gỗ có giá trị cao ít (rừng nguyên sinh còn rất ít, hiện tại chủ yếu là còn rừng non, rừng tái sinh và rừng nghèo) Rừng giàu với các loại gỗ quý có giá trị kinh tế cao như lát, nghiến, táu, đinh tập trung ở một số địa bàn khu vực hiểm trở Động

Trang 29

vật rừng trước đây rất phong phú gồm nhiều loại chim, thú quý như Voọc đen má trắng, lợn rừng, hươu xạ, cầy vằn bắc, hoẵng, vạc hoa, ô rô vảy, rùa sa nhân và báo lửa nhưng do diện tích rừng bị giảm mạnh trong những thập niên qua và nạn săn bắn trái phép nên hầu hết các loài thú cũng suy giảm theo

Được sự hỗ trợ của Trung ương, tỉnh và các tổ chức quốc tế, huyện Chợ Đồn

đã tiến hành nhiều chương trình, dự án, trong đó có các chương trình 135, 134, dự

án 327, dự án PAM 5322, dự án hợp tác Lâm nghiệp Việt Nam - Hà Lan, dự án 661,

dự án 147, định canh định cư, đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn kết quả, độ che phủ

đã được tăng lên hơn 57% năm 2010

* Tài nguyên khoáng sản: Chợ Đồn là một trong hai khu vực tập trung tài

nguyên khoáng sản của tỉnh Bắc Kạn (Chợ Đồn và Ngân Sơn - Na Rì) Những khoáng sản có tiềm năng hơn cả là sắt, chì, kẽm và vật liệu xây dựng có trữ lượng lớn Những mỏ đã được thăm dò và có trữ lượng lớn là mỏ Bằng Lũng khoảng 5.032 nghìn tấn có hàm lượng Pb 3,71 - 4,61% và Zn 1,31 - 1,60% với quặng ôxít

và Pb 5,51 - 9,5% Zn 3,33 - 4,25% với quặng sunphua, mỏ Chợ Điền thuộc xã Bản Thi khoảng 10 triệu tấn với hàm lượng 3-24% (Pb+Zn) Nhóm phi kim loại theo đánh giá sơ bộ huyện có nhiều núi đá vôi, đất sét, đá hoa cương Tại vùng Bản Khắt ( xã Quảng Bạch) có khoảng 200 triệu m3 chiếm gần 70% trữ lượng đá vôi của tỉnh, thôn Phiêng Liềng ( xã Ngọc Phái) triệu 32 m3, Bản Nà Lược 21 triệu m3, đây

là nguồn nguyên liệu lớn để sản xuất vật liệu xây dựng Ngoài ra, Chợ Đồn còn có các loại khoáng sản khác, nhưng trữ lượng không nhiều

Đây là những lợi thế lớn để Chợ Đồn có thể phát triển các ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp vật liệu xây dựng, từng bước tích luỹ và xây dựng các ngành công nghiệp khác sau này

* Tài nguyên du lịch, nhân văn: Huyện Chợ Đồn có nhiều dân tộc như Mông,

Dao, Nùng, Tày, Hoa, Kinh, Sán Chí cùng chung sống đoàn kết trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước Điều đó chứng tỏ Chợ Đồn luôn là vùng đất có truyền thống văn hóa, truyền thống yêu nước và cách mạng Nhân dân các dân tộc có tinh thần đoàn kết yêu quê hương, có đức tính cần cù, chăm chỉ, vượt qua khó khăn, gian khổ về kinh tế,

Trang 30

sự khắc nghiệt của thiên nhiên để từng bước đi lên Đó là những nhân tố cơ bản và sức mạnh tinh thần để hướng tới sự phát triển kinh tế xã hội trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng huyện Chợ Đồn giàu, đẹp, văn minh

Những năm gần đây huyện đã có chủ trương tập trung khai thác các điểm du lịch, văn hóa, lịch sử, các làng văn hóa cộng đồng , tiến hành khảo sát xây dựng các chương trình, tuyến liên thông các điểm du lịch của huyện với tuyến du lịch của các huyện bạn trong khu vực và tỉnh Các giá trị văn hóa truyền thống được giữ gìn và phát huy, các hoạt động bảo tồn di tích lịch sử, di tích văn hóa luôn được quan tâm

1.2.1.4 Thực trạng môi trường

Với đặc thù là huyện miền núi, địa hình chia cắt mạnh nên hiện tượng suy thoái đất do xói mòn, bạc màu diễn ra trên địa bàn toàn huyện Chợ Đồn có hệ thống sông suối khá dày đặc với sông chính là Nam Cường ở phía Bắc và sông Cầu, sông Phó Đáy, sông Bình Trung ở phía Nam Chi lưu của các sông thường ngắn và dốc, chảy xen kẽ với các vùng đá vôi, nên khó giữ nước, thêm vào đó, rừng là điều kiện giữ nước nhưng lại đang được khai thác như một lợi thế lớn hiện nay của huyện, nên duy trì hiện trạng của hệ môi trường sinh thái là việc khó khăn Đáp ứng nhu cầu tăng trưởng phát triển của nền kinh tế, các ngành công nghiệp khai thác tài nguyên thiên nhiên như giấy, chế biến gỗ, lâm sản, khai thác các loại khoáng sản, đá vôi, đất sét v.v đang mang lại những hiệu quả trước mắt song cũng đang đẩy nhanh quá trình xuống cấp của môi trường, tác động xấu tới các hệ sinh thái của huyện

Dân số huyện chủ yếu tập trung trên tuyến tỉnh lộ 257, 254, 254B, 255, 255B

và các tuyến đường huyện, đường nội thị là các trục giao thông chính, còn lại rải rác trong đất nông nghiệp Mật độ xây dựng thấp, chủ yếu là đất nông nghiệp nên môi trường hiện nay còn khá trong lành Tuy nhiên hệ thống thoát nước thải sinh hoạt, sản xuất chưa được hoàn chỉnh, rác thải y tế chưa được xử lý, tỷ lệ nhà vệ sinh tự hoại thấp là những vấn đề tiềm ẩn đe dọa tới môi trường sinh thái

Việc canh tác và phân bố các loại cây trồng ở một số nơi chưa hợp lý, đất dễ

bị thoái hóa Diện tích rừng chiếm tỷ lệ lớn diện tích tự nhiên nhưng tỷ lệ che phủ rừng chưa cao cùng với chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu làm cho tình trạng khô hạn ngày càng tăng, gây thiệt hại cho nền kinh tế của huyện

Trang 31

Lượng rác thải hàng ngày trong huyện đa phần chưa được xử lý mà xả thẳng

ra môi trường tự phân huỷ Khu vực trung tâm của huyện được Ban quản lý Chợ Bằng Lũng thu gom, vận chuyển đến bãi rác Tỷ lệ thu gom rác thải đạt khoảng 70% tuy nhiên rác thải chưa được xử lý đảm bảo gây ô nhiễm môi trường

Chất thải y tế tại trung tâm y tế huyện, y tế xã chưa được xử lý triệt để sẽ là nguồn phát sinh ô nhiễm và dịch bệnh

Vì vậy song song với quy hoạch phát triển kinh tế, quy hoạch đô thị, cần có ngay các biện pháp kiểm soát và quản lý đi kèm như gìn giữ cảnh quan môi trường,

xử lý các chất thải công nghiệp, xử lý rác thải, cấp thoát nước cho các khu dân cư, xây dựng các khu, cụm công nghiệp tập trung, lựa chọn công nghệ, đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu khoa học và áp dụng thành tựu khoa học vào sản xuất theo hướng phát triển bền vững

1.2.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

Cùng với điều kiện khí hậu thuận lợi, đất đai màu

mỡ, phì nhiêu, tài nguyên dồi dào, Chợ Đồn có nhiều tiềm năng trong lĩnh vực nông

- lâm nghiệp, đặc biệt là phát triển các loại cây trồng đặc sản

Thành tựu nổi bật trong nông - lâm nghiệp: Những năm qua, huyện Chợ

Đồn đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp với phương châm đẩy nhanh ứng dụng tiến

bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng cường đầu tư thâm canh, nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác Bên cạnh đó là các cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển sản xuất Nhờ đó, kết quả sản xuất nông lâm nghiệp có những bước tiến vượt bậc

Trong 5 năm từ 2005 đến 2009, hệ số sử dụng đất tăng từ 1,67 lần lên 1,73 lần; các mô hình cánh đồng 30 triệu đồng, 50 triệu đồng/ha được nhân rộng từ 88ha lên 314ha; sản lượng lương thực có hạt tăng từ 22.000 tấn lên trên 24.300 tấn; bình quân lương thực đầu người vượt so với chỉ tiêu kế hoạch…

Trang 32

Cùng với việc phát triển cây lương thực và các loại cây màu khác, huyện Chợ Đồn đã và đang tập trung phát triển, mở rộng diện tích, nâng cao năng suất, chất lượng các loại cây đặc sản có giá trị kinh tế cao Đến nay, nhiều loại nông sản địa phương đã trở thành sản phẩm uy tín trên thị trường, được người dân ưa chuộng, trong đó tiêu biểu

là Chè Shan (Tuyết), Hồng không hạt, Gạo Bao thai, Rượu men lá…

Tiềm năng phát triển đặc sản nông nghiệp: Trong lịch sử, Chợ Đồn được

biết đến như một địa danh gắn liền với nhiều sự kiện quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhiều di tích lịch sử quốc gia có giá trị quan trọng Ngày nay, Chợ Đồn nổi tiếng bởi chất lượng, thương hiệu của những sản phẩm nông nghiệp đặc trưng, trong đó nổi bật là Chè Shan (Tuyết), Gạo Bao thai, Hồng không hạt

1.2.2.1 Khái quát xã Rã Bản, huyện Chợ Đồn

Rã Bản là một xã vùng cao nằm ở phía Đông của huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn, cách trung tâm huyện khoảng 10 km

Xã Rã Bản tiếp giáp với: Phía Đông giáp xã Đôn Phong huyện Bạch Thông; Phía Tây giáp xã Phương Viên huyện Chợ Đồn; Phía Bắc giáp xã Bằng Phúc huyện Chợ Đồn; Phía Nam giáp xã Đông Viên huyện Chợ Đồn

Xã Rã Bản nằm trọng khu vực có địa hình khá phức tạp, bị chia cắt bời hệ thống sông suối và những dãy núi cao, chủ yếu là đồi núi dốc hiểm trở xen kẽ với những cánh đồng nhỏ chạy dài từ Đông Bắc - Tây Nam Phía nam xã được coi là trung tâm kinh tế - chính trị, văn hóa, xã hội Dân cư tập trung Khu Đông Bắc được coi là khu vực thượng nguồn có nhiều khe suối nhỏ chảy xuống và cũng là vùng đầu nguồn quan trọng của song cầu

Trong những năm gần đây, tài nguyên rừng trong xã đang ngày càng được khôi phục trở lại, làm tăng độ che phủ và góp phần cảnh quan đồi núi Theo kết quả thống kê hết tháng 12 năm 2011 thì diện tích đất tự nhiên của xã là 2479 ha, trong

đó đất lâm nghiệp của xã là 1527,54 ha

Tổng dân số toàn xã là 1495 nhân khẩu, 367 hộ gia đình tập thể Dân số phân bố không đồng đều, tập trung đông dọc trục đường quốc lộ, số còn lại phân bố rải rác các làng bản trong xã Rã Bản có 4 dân tộc anh em như: Dao, Tày, Nùng, Kinh Phân bố

Trang 33

trên 10 thôn (bản) Dân số phân bố không đều, những năm gần đây do làm tốt những công tác kế hoạch hóa gia đình nên tỷ lệ tăng dân số giảm Tổng số lao động trong xã

có 989 lao động, chiếm 62,3% dân số Trong đó: lao động nông, lâm nghiệp chiếm 89% tổng số lao động toàn xã Phần lớn là lao động chưa qua đào tạo Hiện nay, việc làm cho người lao động đang là vấn đề được chính quyền cũng như nhân dân rất quan tâm, đặc biệt là lao động nông nhàn lúc kết thúc mùa vụ, để giải quyết việc làm cho người lao động cần phải kết hợp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành nghề

sử dụng lao động phổ thông Gắn mục tiêu giải quyết việc làm với chiến lược phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân và trật tự an toàn xã hội

Trên địa bàn có một trạm y tế với 1 bác sỹ,1 y tá, 2 y sỹ phục vụ việc khám chữa bệnh Cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật đảm bảo phục vụ khám chữa bệnh chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân Trạm y tế xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia năm 2010

Trên địa bàn xã có 02 trường học là trường tiểu học và trường mầm non

Xã có trục đường 257 chạy qua theo hướng Tây Nam dài khoảng 3 km, kết hợp với nhiều tuyến đường giao thông liên thôn tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương

Xã Rã Bản có nhiều khe suối chảy ra và hợp thành con suối Khuổi Hun chảy

từ đầu xã đến cuối xã, chảy vào song cầu tại ngã 3 Pác Cạp Sông cầu chảy qua địa bàn xã dài khoảng 04 km và trở thành hệ thống tưới tiêu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Hiện nay xã đã đầu tư xây dựng kè chống xói và xây dựng kiên cố hóa kênh mương nội đồng phục vụ cho sản xuất nông - lâm nghiệp Tuy nhiên do địa hình dốc cao nên khi có mưa hiện tượng lũ quét gây xói mòn, sạt lở đất vẫn còn xảy ra làm ảnh hưởng đến diện tích đất nông nghiệp và cuộc sống của người dân trong xã

- Nông nghiệp: Trong nông nghiệp trồng trọt đóng vai trò chủ đạo, Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn xã 165,55 ha (trong đó đất chuyên trồng lúa 107,08 ha), nhờ áp dụng khoa học - kỹ thuật cùng với sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng phù hợp nên sản xuất nông nghiệp phát triển như tăng năng suất cây trồng góp phần ổn định kinh té - xã hội Các cây trồng chính của xã gồm cây lúa, ngô và cây

ăn quả, tổng diện tích trồng cây ăn quả toàn xã hiện có khoảng 163 ha

Trang 34

- Lâm nghiệp: Là xã miền núi có diện tích đồi núi chiếm hơn 80% diện tích đất dai của xã Thực hiện các dự án trồng rừng hiện nay trên địa bàn xã đã trồng được 702,22 ha (trồng rừng từ năm 1996 - 2012) cây trồng chủ yếu là mỡ, keo Nhờ thực hiện tốt chủ trương giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình nên diện tích trồng rừng ngày càng tăng và rừng được bảo vệ, khai thác đúng theo quy định

- Sản phẩm đặc trưng của xã: Hiện trên địa bàn xã có sản phẩm quả quýt được sử dụng thương hiệu Quýt Bắc Kạn

Nghị quyết Đại hội đảng bộ xã: Nhiệm kỳ 2010 - 2015 lấy cây cam, quýt làm cây mũi nhọn của xã

1.2.2.2 Khái quát về xã Phương Viên

Xã Rã Bản tiếp giáp với: Phía Bắc giáp xã Quảng Bạch, xã Tân Lập, xã Bằng Phúc; Phía Đông giáp xã Rã Bản: Phía Nam giáp xã Rã Bản, xã Đại Sảo, thị trấn Bằng Lũng; Phía Tây giáp thị trấn Bằng Lũng, xã Ngọc Phái, xã Quảng Bạch

Xã Phương Viên có diện tích 36,3 km², dân số khoảng 3524 người, mật độ dân số đạt 97 người/km² Phương Viên là nơi khởi nguồn của sông Cầu với rất nhiều khe suối nhỏ hợp thành như suối Nà Căng và ngòi Sông Cầu Tỉnh lộ 257 đi qua địa bàn phía nam của xã

Xã Phương Viên (Chợ Đồn) có diện tích tự nhiên hơn 3.600ha, trong đó chiếm phần lớn diện tích là rừng và đất lâm nghiệp Xác định được lợi thế này, những năm gần đây, cấp uỷ, chính quyền địa phương đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác trồng rừng và phát triển kinh tế rừng

Thực hiện chương trình kinh tế-xã hội của Nhà nước về tăng cường phát triển trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất, những năm qua, nhiều chương trình, dự án trồng rừng mới đã được đưa vào thực hiện tại xã Phương Viên, như Dự án PAM, 327, 661 và mới đây là trồng rừng theo Chương trình 147 Việc tiếp nhận và triển khai các dự án trồng rừng đã được địa phương thực hiện có hiệu quả, hàng nghìn ha rừng trồng mới đã hoàn thành, góp phần quan trọng vào việc phủ xanh đất trống đồi núi trọc

Nhận thấy hiệu quả kinh tế từ việc trồng rừng mang lại, những năm qua, chính quyền địa phương đã chú trọng việc giao đất giao rừng cho nhân dân quản lý,

Trang 35

bảo vệ và phát triển rừng Hằng năm xây dựng chỉ tiêu kế hoạch giao cho các hộ gia đình triển khai trồng rừng theo các dự án; thực hiện tốt các cơ chế, chính sách hỗ trợ đối với người trồng rừng Nhờ đó, diện tích rừng trồng ở địa phương năm sau tăng đáng kể so với năm trước Trong khoảng 10 năm trở lại đây, toàn xã đã trồng mới được gần 1.400 ha rừng sản xuất Riêng năm 2011 diện tích rừng trồng của xã Phương Viên đạt 205ha, vượt chỉ tiêu kế hoạch cấp trên giao Năm 2012, toàn xã trồng mới được thêm 66,79ha

Cùng với việc phát triển trồng rừng, những năm qua, xã Phương Viên cũng làm tốt việc quản lý, bảo vệ, chăm sóc rừng trồng, không để tình trạng phá rừng hay cháy rừng xảy ra, những diện tích rừng trồng mới đều có tỷ lệ cây sống cao Nhờ làm tốt công tác trồng rừng, đến nay toàn bộ diện tích đất trống, đồi trọc đã được phủ xanh, nâng độ che phủ của rừng từ 40% năm 2007 tăng lên 65% năm 2012

Trang 36

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ của rừng trạng thái IIB ở các giai đoạn khác nhau

- Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên ở trạng thái rừng IIB

- Nghiên cứu đặc điểm phẫu diện đất ở trạng thái rừng IIB

- Đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững cho trạng thái rừng IIB

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp luận

Vận dụng quan điểm sinh thái phát sinh quần thể trong thảm thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978) [37] Thảm thực vật rừng là tấm gương phản chiếu một cách trung thành nhất, mà lại tổng hợp được các điều kiện của hoàn cảnh tự nhiên, đã thông qua sinh vật để hình thành những quần thể thực vật Thảm thực vật tái sinh sau khai thác kiệt phản ánh ảnh hưởng tổng hợp của các nhân tố sinh thái đến qúa trình phục hồi rừng thứ sinh Vì diễn thế quá trình phục hồi rừng là từ đất trống, đồi trọc cho đến khi hình thành rừng tương đối ổn định, nó phải trải qua một thời gian lâu dài, phức tạp không thể theo dõi thường xuyên được Do vậy vận dụng phương pháp diễn thế tự nhiên, lấy không gian thay thế thời gian để nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng Đề tài vận dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp: kết hợp nghiên cứu thực nghiệm, kế thừa kết quả có sẵn và tổng kết thực tiễn sản xuất tại địa phương để đề xuất giải pháp kỹ thuật có hiệu quả và có tính khả thi

Vận dụng quan điểm và phương pháp luận đã trình bày ở trên để phân chia đối tượng nghiên cứu theo thời gian bỏ hoá kế tiếp nhau Thời gian bỏ hoá được xác định khi điều tra phỏng vấn nhanh người dân trực tiếp canh tác mảnh nương trước khi bỏ hoá, kết hợp phỏng vấn trưởng thôn, bản hiểu rõ lịch sử canh tác nương rẫy của thôn, bản

Trang 37

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.2.1 Ngoại nghiệp

a) Phương pháp thu thập tài liệu cơ bản

Kế thừa các tài liệu, số liệu điều tra về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu, các tài liệu tham khảo liên quan đến đề tài của các tác giả trong và ngoài nước

Trên cơ sở tài liệu thu thập được về diện tích đất đai và bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng, chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát sơ bộ khu vực nghiên cứu Kết quả khảo sát cho thấy, với các đối tượng nghiên cứu là các trạng thái rừng phục hồi sau

từ dưới 10 năm; từ 10- 15 năm và trên 15 năm là khá phổ biến và chiếm hầu hết diện tích rừng phục hồi ở đây

b) Điều tra thực tế

* Lập ô tiêu chuẩn (OTC): OTC phải bố trí tại các vị trí phù hợp với các trạng thái rừng cần nghiên cứu tại 2 xã Với mỗi giai đoạn, đề tài tiến hành lập 3 OTC điển hình có diện tích 2000 m2

theo phương pháp điều tra lâm học Kích thước ô 50m x 40m tổng cộng có 18 OTC được mô phỏng theo hình sau:

Hình 2.1 Sơ đồ bố trí ô tiêu chuẩn(OTC) và ô dạng bản (ODB)

* Điều tra tầng cây cao: Chỉ điều tra các cây có đường kính tối thiểu là 5cm(tương đương chu vi là 15,7 cm trở lên) tại độ cao 1,3 m sau đó dùng chương trình excel và công thức

Trang 38

- Đường kính ngang ngực (D1,3, cm) được đo bằng thước kẹp kính với độ chính xác đến mm, đo theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính trị số bình quân

- Chiều cao vút ngọn (HVN, m) và chiều cao dưới cành (HDC, m) được đo bằng thước độ chính xác đến dm, HVN của cây rừng được xác định từ gốc cây đến đỉnh sinh trưởng của cây, HDC được xác định từ gốc cây đến cành cây đầu tiên tham gia vào tán của cây rừng

- Đường kính tán lá (DT, m) được đo bằng thước dây có độ chính xác đến dm,

đo hình chiếu tán lá trên mặt phằng ngang theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau

đó tính trị số bình quân Kết quả đo được thống kê vào phiếu điều tra tầng cây cao (biểu 01, phụ lục 1)

* Xác định độ tàn che:

Dùng máy đo độ tàn che

* Điều tra cây tái sinh:

Trên OTC, lập 5 ODB có diện tích 25m2

(5m x 5m) được bố trí đều trên 2 đường chéo của OTC (Sơ đồ 2.1) Thống kê tất cả cây tái sinh (đường kính nhỏ hơn 5cm tương đương chu vi là 15,7 cm trở xuống) vào phiếu điều tra theo các chỉ tiêu:

- Tên loài cây tái sinh, loài nào chưa rõ thì thu thập tiêu bản để giám định

- Chất lượng cây tái sinh: Cây tốt là cây có thân thẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng phát triển tốt, không sâu bệnh: Cây xấu là những cây cong queo, cụt ngọn, sinh trưởng phát triển kém, sâu bệnh, còn lại là những cây có chất lượng trung bình

- Xác định nguồn gốc cây tái sinh

- Điều tra khoảng cách giữa các cây tái sinh: Trên OTC, chọn cây tái sinh bất

kỳ, đo khoảng cách từ cây tái sinh đã chọn đến cây tái sinh gần nhất bằng thước dây với độ chính xác đến cm Kết quả đo được thống kê vào phiếu điều tra cây tái sinh (biểu 02, phụ lục 1)

* Điều tra tầng cây bụi, thảm tươi:

Tiến hành điều tra cây bụi thảm tươi tại 5 ODB đã lập để điều tra cây tái sinh

Trang 39

+ Điều tra cây bụi (shrubs) theo các chỉ tiêu: tên loài chủ yếu, số lượng khóm

(bụi), chiều cao bình quân, độ che phủ trung bình của từng loài trên ODB, kết quả ghi vào phiếu điều tra cây bụi

+ Điều tra thảm tươi (ground cover vegetation) theo các chỉ tiêu: loài chủ yếu,

chiều cao bình quân, độ che phủ bình quân của loài và tình hình sinh trưởng của thảm tươi trên ODB Để xác định độ che phủ của tầng cây bụi, thảm tươi đề tài dùng phương pháp dùng thước dây đo theo 2 đường chéo của ODB, đo từng đường chéo một và tính trên thước dây những đoạn bị tán của cây bụi hoặc thảm tươi che kín, chia đoạn này cho tổng độ dài đường chéo thì sẽ ra độ che phủ, sau đó cộng kết quả của hai lần tính trên hai đường chéo và chia trung bình ta sẽ có độ che phủ trung bình của một ODB Kết quả thu được thống kê vào phiếu điều tra cây bụi, thảm tươi (biểu 03, phục lục 1)

* Điều tra đất

Đào 1 phẫu diện với kích thước (1,2 x 0,8 x 1,0m) đại diện cho mỗi giai đoạn, phẫu diện đào tại trung tâm OTC Mô tả phẫu diện đất: loại đất, độ dày tầng đất, tỷ lệ

đá lẫn, thành phần cơ giới, độ ẩm, theo hướng dẫn trong “Sổ tay điều tra quy hoạch

rừng” (1995) Các chỉ tiêu đo đếm được ghi vào phiếu điều tra đất (biểu 04, phụ lục 1) 2.2.2.2 Nội nghiệp

*) Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng

a Tổ thành tầng cây gỗ

Trên quan điểm sinh thái người ta thường xác định tổ thành tầng cây cao theo số cây còn trên quan điểm sản lượng, người ta lại xác định tổ thành thực vật theo tiết diện ngang hoặc theo trữ lượng

Để xác định tổ thành tầng cây cao, đề tài sử dụng phương pháp tính tỷ lệ tổ thành theo phương pháp của Daniel Marmillod (Đào Công Khanh, 1996 ) [22] :

2

%G

%N

Trong đó: IVi% là tỷ lệ tổ thành (chỉ số quan trọng: Important Value) của loài i

Ni% là % theo số cây của loài i trong QXTV rừng Gi% là % theo tổng tiết diện ngang của loài i trong QXTV rừng

Trang 40

Theo Daniel M., những loài cây có IV%  5% mới thực sự có ý nghĩa về mặt sinh thái trong lâm phần Theo Thái Văn Trừng (1978), trong một lâm phần nhóm loài cây nào đó > 50% tổng số cá thể của tầng cây cao thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế Cần tính tổng IV% của những loài có trị số này lớn hơn 5%, xếp

từ cao xuống thấp và dừng lại khi tổng IV% đạt 50%

b Mật độ

Công thức xác định mật độ như sau:

10.000S

c Cấu trúc tầng thứ và độ tàn che của các trạng thái rừng

Cấu trúc tầng là chỉ tiêu cấu trúc hình thái thể hiện sự sắp xếp không gian phân

bố của thực vật theo chiều thẳng đứng Nghiên cứu cấu trúc được tiến hành thông qua các phẫu đồ rừng theo phương pháp của Richards và Davis (1934)

Xác định độ tàn che: kết hợp quan trắc và phẫu đồ ngang để xác định tỉ lệ che phủ (%) hình chiếu tán cây rừng so với bề mặt đất rừng

Xác định phân bố số cây theo đường kính (N/D1.3) và số cây theo chiều cao (N/Hvn): Việc mô hình hoá quy luật cấu trúc tần số trong thực tiễn và nghiên cứu Nông

- Lâm nghiệp có ý nghĩa rất lớn, một mặt nó cho biết các quy luật phân bố vốn tồn tại khách quan trong tổng thể, mặt khác các quy luật phân bố này có thể biểu thị một cách gần đúng bằng các biểu thức toán học cho phép xác định tần số tương ứng với mỗi tổ của đại lượng điều tra nào đó Ngoài ra việc nghiên cứu các quy luật phân bố còn tạo tiền đề để đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý

Tính các đặc trưng mẫu theo chương trình thống kê mô tả, chia tổ ghép nhóm các trị số quan sát theo công thức kinh nghiệm của Brooks và Carruthere

m = 5.lgn

m

XminXmax

(2-3)

Ngày đăng: 12/06/2014, 19:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Hồng Ban (2000), Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái sau nương rẫy ở vùng Tây nam Nghệ An, Luận án Tiến sỹ sinh học, Đại học sư phạm Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái sau nương rẫy ở vùng Tây nam Nghệ An
Tác giả: Phạm Hồng Ban
Năm: 2000
2. Baur G.N. (1976), Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa, Vương Tấn Nhị dịch, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa
Tác giả: Baur G.N
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 1976
3. Nguyễn Ngọc Bình (1996), Đất rừng Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất rừng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
4. Bộ NN và PTNT (1998), Qui phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung
Tác giả: Bộ NN và PTNT
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
5. Bộ NN và PTNT (2001), Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh, Tập II, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh
Tác giả: Bộ NN và PTNT
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
6. Catinot R. (1965), Lâm sinh học trong rừng rậm Châu Phi, Vương Tấn Nhị dịch, Tài liệu KHLN, Viện KHLN Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sinh học trong rừng rậm Châu Phi
Tác giả: Catinot R
Năm: 1965
7. Trần Văn Con (1991), Khả năng ứng dụng mô phỏng toán để nghiên cứu cấu trúc và động thái của hệ sinh thái rừng khộp ở cao nguyên DakNong, Daklak, Luận văn PTS KHNN, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng ứng dụng mô phỏng toán để nghiên cứu cấu trúc và động thái của hệ sinh thái rừng khộp ở cao nguyên DakNong, Daklak
Tác giả: Trần Văn Con
Năm: 1991
8. Trần Văn Con (2001), “Nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Tây Nguyên và khả năng ứng dụng trong kinh doanh rừng tự nhiên”, Nghiên cứu rừng tự nhiên, Nxb Thống kê, Hà Nội, tr. 44-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Tây Nguyên và khả năng ứng dụng trong kinh doanh rừng tự nhiên”, "Nghiên cứu rừng tự nhiên
Tác giả: Trần Văn Con
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2001
9. Lâm Phúc Cố (1994), “Vấn đề phục hồi rừng đầu nguồn sông Đà tại Mù Cang Chải”, Tạp chí Lâm nghiệp, 94(5), tr. 14 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phục hồi rừng đầu nguồn sông Đà tại Mù Cang Chải”, "Tạp chí Lâm nghiệp
Tác giả: Lâm Phúc Cố
Năm: 1994
10. Lâm Phúc Cố (1996), Nghiên cứu một số biện pháp xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn sông Đà tại Lâm trường Púng Luông, Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái, Luận án PTS Nông nghiệp, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số biện pháp xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn sông Đà tại Lâm trường Púng Luông, Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái
Tác giả: Lâm Phúc Cố
Nhà XB: Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Năm: 1996
11. Lê Trọng Cúc, Phạm Hồng Ban (1996), “Động thái thảm thực vật sau nương rẫy ở Con Cuông, Nghệ An”, Tạp chí Lâm nghiệp, 96(7), tr. 9-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động thái thảm thực vật sau nương rẫy ở Con Cuông, Nghệ An”, "Tạp chí Lâm nghiệp
Tác giả: Lê Trọng Cúc, Phạm Hồng Ban
Năm: 1996
12. Lê Trọng Cúc và Chu Hữu Quý (2002), Phát triển bền vững miền núi Việt Nam: 10 năm nhìn lại và những vấn đề đặt ra, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững miền núi Việt Nam: "10 năm nhìn lại và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Lê Trọng Cúc và Chu Hữu Quý
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2002
13. Nguyễn Duy Chuyên (1988), Cấu trúc tăng trưởng sản lượng và tái sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài thuộc ba vùng kinh tế lâm nghiệp ở Việt Nam, Tóm tắt luận án tiến sĩ khoa học tại Hungary, bản tiếng Việt tại Thư viện Quốc gia, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc tăng trưởng sản lượng và tái sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài thuộc ba vùng kinh tế lâm nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Chuyên
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1988
14. Nguyễn Duy Chuyên (1996), “Nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh tự nhiên rừng lá rộng thường xanh hỗn loại vùng Quỳ Châu Nghệ An”, Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ lâm nghiệp 1991-1995. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 53-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh tự nhiên rừng lá rộng thường xanh hỗn loại vùng Quỳ Châu Nghệ An”, "Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ lâm nghiệp 1991-1995
Tác giả: Nguyễn Duy Chuyên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
15. Bùi Văn Chúc (1996), Bước đầu tìm hiểu đặc điểm cấu trúc rừng phòng hộ đầu nguồn làm cơ sở đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý tại Lâm trường Sông đà - Hoà Bình, Luận văn thạc sỹ KHLN, Trường Đại học Lâm Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu đặc điểm cấu trúc rừng phòng hộ đầu nguồn làm cơ sở đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý tại Lâm trường Sông đà - Hoà Bình
Tác giả: Bùi Văn Chúc
Năm: 1996
16. Nguyễn Anh Dũng (2000), Nghiên cứu một sô đặc điểm tái sinh tự nhiên và đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh cho rừng tự nhiên ở Lâm trường Sông Đà - Hoà Bình, Luận văn Thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một sô đặc điểm tái sinh tự nhiên và đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh cho rừng tự nhiên ở Lâm trường Sông Đà - Hoà Bình
Tác giả: Nguyễn Anh Dũng
Năm: 2000
17. Ngô Quang Đê, Triệu Văn Hùng, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Hữu Vĩnh, Lâm Xuân Sanh, Nguyễn Hữu Lộc (1992), Lâm sinh học, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: âm sinh học
Tác giả: Ngô Quang Đê, Triệu Văn Hùng, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Hữu Vĩnh, Lâm Xuân Sanh, Nguyễn Hữu Lộc
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1992
18. Đồng Sỹ Hiền (1974), Lập biểu thể tích và biểu độ thon cây đứng cho rừng Việt Nam, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập biểu thể tích và biểu độ thon cây đứng cho rừng Việt Nam
Tác giả: Đồng Sỹ Hiền
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 1974
19. Vũ Tiến Hinh (1991), “Về đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên”, Tạp chí Lâm nghiệp, 91(2), tr. 3-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên”, "Tạp chí Lâm nghiệp
Tác giả: Vũ Tiến Hinh
Năm: 1991
20. Vũ đình Huề (1969), “Tiêu chuẩn đánh giá tái sinh tự nhiên”, Tập san lâm nghiệp, 69(7), tr. 28-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiêu chuẩn đánh giá tái sinh tự nhiên”, Tập san lâm nghiệp
Tác giả: Vũ đình Huề
Năm: 1969

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Tổ thành và mật độ rừng phục hồi giai đoạn dưới 10 năm ở xã Rã Bản - Nghiên cứu một số đặc điểm rừng tự nhiên phục hồi trạng thái IIB tại Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững
Bảng 3.1. Tổ thành và mật độ rừng phục hồi giai đoạn dưới 10 năm ở xã Rã Bản (Trang 45)
Bảng 3.6 . Tổ thành và mật độ rừng phục hồi giai đoạn trên 15 năm ở xã Phương Viên - Nghiên cứu một số đặc điểm rừng tự nhiên phục hồi trạng thái IIB tại Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững
Bảng 3.6 Tổ thành và mật độ rừng phục hồi giai đoạn trên 15 năm ở xã Phương Viên (Trang 49)
Hình 3.1. Phân bố N/D 1.3  rừng phục hồi giai đoạn dưới 10  năm  ở xã Rã Bản - Nghiên cứu một số đặc điểm rừng tự nhiên phục hồi trạng thái IIB tại Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững
Hình 3.1. Phân bố N/D 1.3 rừng phục hồi giai đoạn dưới 10 năm ở xã Rã Bản (Trang 50)
Hình 3.2. Phân bố N/D 1.3  rừng phục hồi giai đoạn 10 - 15  năm ở xã Rã Bản - Nghiên cứu một số đặc điểm rừng tự nhiên phục hồi trạng thái IIB tại Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững
Hình 3.2. Phân bố N/D 1.3 rừng phục hồi giai đoạn 10 - 15 năm ở xã Rã Bản (Trang 51)
Hình 3.3. Phân bố N/D 1.3  rừng phục hồi giai đoạn trên 15  năm ở xã  Rã Bản - Nghiên cứu một số đặc điểm rừng tự nhiên phục hồi trạng thái IIB tại Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững
Hình 3.3. Phân bố N/D 1.3 rừng phục hồi giai đoạn trên 15 năm ở xã Rã Bản (Trang 52)
Hình 3.4. Phân bố N/D 1.3  rừng phục hồi giai đoạn dưới 10  năm ở xã  Phương Viên - Nghiên cứu một số đặc điểm rừng tự nhiên phục hồi trạng thái IIB tại Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững
Hình 3.4. Phân bố N/D 1.3 rừng phục hồi giai đoạn dưới 10 năm ở xã Phương Viên (Trang 53)
Hình 3.5. Phân bố N/D 1.3   rừng phục hồi giai đoạn 10 - 15  năm ở xã  Phương Viên - Nghiên cứu một số đặc điểm rừng tự nhiên phục hồi trạng thái IIB tại Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững
Hình 3.5. Phân bố N/D 1.3 rừng phục hồi giai đoạn 10 - 15 năm ở xã Phương Viên (Trang 54)
Hình 3.6.  Phân bố N/D 1.3   rừng phục hồi giai đoạn trên 15  năm ở xã  Phương Viên - Nghiên cứu một số đặc điểm rừng tự nhiên phục hồi trạng thái IIB tại Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững
Hình 3.6. Phân bố N/D 1.3 rừng phục hồi giai đoạn trên 15 năm ở xã Phương Viên (Trang 54)
Hình 3.7.  Phân bố N/Hvn rừng phục hồi giai đoạn dưới 10 năm ở xã Rã Bản - Nghiên cứu một số đặc điểm rừng tự nhiên phục hồi trạng thái IIB tại Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững
Hình 3.7. Phân bố N/Hvn rừng phục hồi giai đoạn dưới 10 năm ở xã Rã Bản (Trang 57)
Hình 3.8.  Phân bố N/Hvn rừng phục hồi giai đoạn 10 - 15 năm ở xã Rã Bản - Nghiên cứu một số đặc điểm rừng tự nhiên phục hồi trạng thái IIB tại Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững
Hình 3.8. Phân bố N/Hvn rừng phục hồi giai đoạn 10 - 15 năm ở xã Rã Bản (Trang 58)
Hình 3.9.  Phân bố N/Hvn rừng phục hồi giai đoạn trên 15 năm ở xã  Rã Bản - Nghiên cứu một số đặc điểm rừng tự nhiên phục hồi trạng thái IIB tại Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững
Hình 3.9. Phân bố N/Hvn rừng phục hồi giai đoạn trên 15 năm ở xã Rã Bản (Trang 58)
Hình 3.10. Phân bố N/Hvn rừng phục hồi giai đoạn dưới 10 năm ở xã Phương Viên - Nghiên cứu một số đặc điểm rừng tự nhiên phục hồi trạng thái IIB tại Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững
Hình 3.10. Phân bố N/Hvn rừng phục hồi giai đoạn dưới 10 năm ở xã Phương Viên (Trang 60)
Hình 3.11. Phân bố N/Hvn rừng phục hồi giai đoạn 10 - 15 năm ở xã Phương Viên - Nghiên cứu một số đặc điểm rừng tự nhiên phục hồi trạng thái IIB tại Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững
Hình 3.11. Phân bố N/Hvn rừng phục hồi giai đoạn 10 - 15 năm ở xã Phương Viên (Trang 60)
Hình 3.14. Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao ở xã Phương Viên - Nghiên cứu một số đặc điểm rừng tự nhiên phục hồi trạng thái IIB tại Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững
Hình 3.14. Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao ở xã Phương Viên (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w