Ths Nguyễn Thị Hải YếnThs Nguyễn Thị Kim Oanh CN Nguyễn Thị Lay Dơn Địa chỉ: 36 Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội ĐT: 04.38340041 Ảnh bìa 1: Một góc thành phố Hà Nội, thời kỳ đổi mới tư tưở
Trang 2Ths Nguyễn Thị Hải Yến
Ths Nguyễn Thị Kim Oanh
CN Nguyễn Thị Lay Dơn
Địa chỉ: 36 Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội
ĐT: 04.38340041
Ảnh bìa 1: Một góc thành phố Hà Nội, thời kỳ đổi mới
tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
• TRƯƠNG NGỌC NAM
Từ một luận điểm của Mác, nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
• NHỊ LÊ
Về tính đa dạng của con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội: Từ Các Mác tới Chủ tịch Hồ Chí Minh
và thực tiễn ở Việt Nam
• NGUYỄN QUỐC PHẨM
Quan điểm của V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội và
ý nghĩa với Việt Nam hiện nay
• TRẦN ĐÌNH THẢO, NGÔ MINH THUẬN
“Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
51
30
38
44
Trang 3mô hình kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa
• NGÔ HOÀNG ANH
Quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội
• NGUYỄN LINH KHIẾU
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo
tinh thần đại hội XI của Đảng
• NGUYỄN VĂN HUYÊN
Đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam theo tinh thần đại hội XI
của Đảng
• NGUYỄN TRƯỜNG CẢNH
Quá trình phát triển nhận thức của Đảng
ta về đặc trưng chủ nghĩa xã hội trong thời
kỳ đổi mới
• NGUYỄN TRỌNG PHÚC
Đại hội XI với nhận thức mới về chủ nghĩa
xã hội
PHẦN III: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG
ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
• LÊ VĂN TOAN
Chủ nghĩa xã hội: trào lưu và những tranh
luận đương đại
• TRẦN QUỐC TOẢN
Phương pháp luận tiếp cận mục tiêu và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội
• NGUYỄN NGỌC LONG
Một số vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội
Về ý kiến phủ nhận thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam
• PHẠM XUÂN HẰNG
Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội trong giai đoạn hiện nay
• TRẦN ĐỨC CHÂM
Nhận thức và giải quyết mâu thuẫn trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trang 4chứng kiến những biến đổi vô cùng nhanh chóng, phức tạp và khó lường dưới tác độngcủa quá trình toàn cầu hóa Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ năm 2008chậm được khắc phục, nền kinh tế thế giới chưa được phục hồi thì nhiều dự báo lại chothấy, nguy cơ xuất hiện một cuộc suy thoái mới, thế giới tiếp tục ảm đạm về kinh tế,những bất ổn về an ninh chính trị, nhất là hiện nay khủng hoảng nợ công kéo dài ở Khuvực đồng tiền chung Châu Âu (Eurozone) Trong khi đó, ở một số nước xã hội chủ nghĩanhư Trung Quốc, Việt Nam, nền kinh tế vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá, an sinh
xã hội được bảo đảm và phong trào cánh tả ở Mỹ Latinh đang lớn mạnh, một số nước
Mỹ Latinh đã lựa chọn phát triển theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Như vậy,mặc dù chính quyền của nhiều nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ vào nhữngnăm cuối của thế kỷ XX, song chủ nghĩa xã hội vẫn được nhiều quốc gia lựa chọn và cónhiều sức sống mới, trong khi đó chủ nghĩa tư bản hiện đại mặc dù có những điều chỉnhlớn để thích nghi cũng không thể khắc phục được những mâu thuẫn nội tại cơ bản củanó
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước đòi hỏi phải có sự kết hợp sáng tạocác nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin với điều kiện lịch sử dân tộc và đặcđiểm thời đại, để xây dựng được lý luận phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa phùhợp với mỗi nước, đồng thời chống chủ nghĩa giáo điều “tả khuynh”, ngăn chặn chủnghĩa cơ hội hữu khuynh
Sẽ không có chủ nghĩa xã hội nếu không có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sẽkhông còn là Đảng Cộng sản nếu đảng đó xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Mốiquan hệ trên đây không chỉ là lý luận mà còn là thực tế cuộc sống trong cải tổ, cải cách,đổi mới Đảng Cộng sản Liên Xô luôn khẳng định: “cải tổ là để có chủ nghĩa xã hộinhiều hơn”, nhưng trong quá trình cải tổ, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông
Âu ngày càng xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Đó là một trong những nguyên nhân
cơ bản, trực tiếp dẫn đến thất bại của cải tổ Các nước xã hội chủ nghĩa khác như: TrungQuốc, Việt Nam, Lào, Cuba, đều coi phấn đấu cho thắng lợi của chủ nghĩa xã hội làmục tiêu và cũng là nguyên tắc chính trị hàng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiênđịnh mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Trang 5nhân dân được cải thiện, vị thế và uy tín trên trường quốc tế của ta được nâng cao, sứcmạnh tổng hợp đã tăng lên rất nhiều, tạo tiền đề để đất nước phát triển Những thànhcông này khẳng định sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh vào đường lối đổi mới; đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân đối với
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta Tuy nhiên, chúng ta vẫnđang đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau và diễn biến phức tạp Mô hình màchúng ta đang thực hiện cũng đang còn những hạn chế cả về lý luận và thực tiễn Nhữnghạn chế này tạo ra lực cản đối với sự phát triển của đất nước, thậm chí tạo ra nguy cơ,thách thức đối với chế độ ta
Để giúp cho bạn đọc có thêm tài liệu nghiên cứu về chủ nghĩa xã hội và con đường đilên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Ban Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền đãchỉ đạo Trung tâm Thông tin - Tư liệu - Thư viện tuyển chọn các bài viết đã công bố trêncác tạp chí khoa học chuyên ngành của các nhà nghiên cứu, biên soạn và giới thiệu ấn
phẩm Thông tin chuyên đề số 1/2014 với nhan đề: “Đảng Cộng sản Việt Nam và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội”
Kết cấu Thông tin chuyên đề gồm 3 phần:
Phần I: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa
xã hội
Phần II: Quan điểm của Đảng về CNXH và con đường đi lên CNXH
Phần III: Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nayMặc dù tập thể cán bộ trong ban biên tập tham gia sưu tầm, tuyển chọn đã hết sức cốgắng, song không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Ban Biên tập xin trân trọng
giới thiệu cuốn Thông tin chuyên đề số 1/2014 và mong nhận được ý kiến đóng góp
của bạn đọc
Xin trân trọng cảm ơn
BAN BIÊN TẬP
Trang 61 Như chúng ta đã biết, chủ nghĩa Mác
- Lê-nin là một hệ thống lý luận khoa học
và cách mạng, được tổng kết, đúc rút từ sự
phân tích toàn bộ lịch sử nhân loại và thực
tiễn xã hội thời kỳ phát triển chủ nghĩa tưbản, kế thừa một cách có hệ thống nhữnggiá trị tư tưởng và thành tựu khoa học quantrọng nhất của loài người Nó cung cấp cho
LênIn, tư tưởng hồ chí mInh về
Trang 7hội, chủ nghĩa Mác- Lê-nin đã chỉ ra quy
luật vận động của lịch sử nhân loại và con
đường tất yếu tới chủ nghĩa cộng sản - một
hình thái phát triển cao của xã hội loài
người, trong đó con người được tự do hạnh
phúc, có đủ các điều kiện để phát triển và
hoàn thiện một cách toàn diện
Thực tiễn lịch sử của thế kỷ XX và thập
niên đầu của thế kỷ XXI vừa qua là minh
chứng không thể chối cãi cho bản chất
khoa học và sức sống mãnh liệt của chủ
nghĩa Mác-Lê-nin Hàng loạt dân tộc với
hàng tỉ người đã vùng lên đấu tranh tự giải
phóng và lựa chọn con đường xây dựng xã
hội xã hội chủ nghĩa là thể hiện khát vọng
chân chính, nóng bỏng của nhân loại Sự
thành công và những thành tựu to lớn vào
thời kỳ đỉnh cao của mô hình xã hội chủ
nghĩa ở Liên Xô và một số nước ở châu
Âu, châu Á không chỉ là hiện thực hóa lý
tưởng giải phóng con người, xây dựng một
xã hội hài hòa, hạnh phúc, mà còn là một
động lực quyết định mạnh mẽ cho những
biến đổi tích cực ngay cả ở các nước phát
triển theo con đường tư bản chủ nghĩa Ở
thời điểm hiện nay, khi mà mô hình chủ
nghĩa xã hội đã sụp đổ ở Liên Xô và Đông
Âu thì con đường xã hội chủ nghĩa vẫn có
sức hút mạnh mẽ đối với nhiều dân tộc ở
Tây bán cầu và khắp các châu lục khác
Đặc biệt, khi nền kinh tế thế giới lâm vào
Mác-Lê-nin, mà thực chất là trở lại vớinhững nguyên lý căn bản trong quản lýkinh tế - xã hội của học thuyết về chủ nghĩa
xã hội
Từ những năm 20 của thế kỷ XX, chủnghĩa Mác-Lê-nin được truyền bá vàonước ta thông qua lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
và một số chiến sĩ cách mạng tiền bối thờibấy giờ và ngày càng được phổ biến rộngrãi Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủnghĩa Mác - Lê-nin vào hoàn cảnh lịch sửđặc thù của Việt Nam Người đi từ chủnghĩa yêu nước đến chủ nghĩa xã hội nhờ
có sự giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lê-nin,nắm bắt được tinh thần và xu thế phát triểncủa thời đại, kiên định mục tiêu độc lập dântộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Người đãnhiều lần khẳng định rằng, chỉ có chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thểgiải quyết triệt để vấn đề độc lập dân tộc,mới xóa bỏ vĩnh viễn ách áp bức, bóc lột
và nô dịch, mới giải quyết tận gốc vấn đềgiải phóng xã hội, giải phóng con người
Có thể khẳng định rằng, tư tưởng Hồ ChíMinh không chỉ đơn thuần là kết quả của
sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - nin vào điều kiện cụ thể để giải quyết cácnhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, mà còn
Lê-là một bước phát triển mới của chủ nghĩaMác - Lê-nin thích ứng với những vấn đề
do thực tiễn đất nước và thời đại đặt ra, là
Trang 8nâng cao, nhận thức ngày càng đúng đắn,
đầy đủ và sâu sắc hơn về chủ nghĩa
Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, về con
đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội Sự vận
dụng và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác
-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nguồn
cảm hứng to lớn, nguyên nhân cơ bản của
thắng lợi vĩ đại trong 2 cuộc kháng chiến,
cũng như những thành tựu to lớn, có ý
nghĩa lịch sử trong gần 25 năm sự nghiệp
đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước
Trải qua hơn 80 năm lịch sử của mình,
chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh đã, đang và sẽ là cơ sở lý luận,
phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt
Nam, là cơ sở và nền tảng cho chủ thuyết
phát triển trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam Đảng ta khẳng
định chủ nghĩa Mác- Lê-nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng và
kim chỉ nam cho hành động cách mạng
2 Từ bản chất của học thuyết khoa học
Macxit - Lêninít, cũng như từ kinh nghiệm
lịch sử của phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế đã chỉ ra rằng, công cuộc cách
mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội của
một quốc gia muốn giành thắng lợi thì đảng
cộng sản nước đó phải căn cứ vào tình hình
cụ thể thực tiễn lịch sử để vận dụng sáng
tạo chủ nghĩa Mác- Lê-nin để tìm ra con
đường cách mạng riêng của mình Cách
kinh tế mới (NEP) cũng bởi V.I.Lê-nin đủbản lĩnh thừa nhận rằng, nhiều quan niệmtrước đó về chủ nghĩa xã hội đã không cònphù hợp, đòi hỏi phải được thay đổi căn bản
Sự nghiệp đổi mới của nước ta đến nayđạt được những thành tựu hết sức to lớn và
có ý nghĩa lịch sử cũng chính nhờ chúng tanhận thức đúng đắn bản chất khoa học vàcách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tưtưởng Hồ Chí Minh và vận dụng một cáchsáng tạo trong thực tiễn xây dựng chủnghĩa xã hội ở nước ta Thực tiễn 25 thựchiện chính sách đổi mới vừa qua cho thấy,công cuộc xây dựng, phát triển đất nướcngày càng đi vào chiều sâu thì chúng tacàng phải đối diện với những vấn đề khókhăn, phức tạp mới, lại đặt ra cho đất nướcnhững cơ hội lớn và thách thức mới Tất cảđều đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại chođúng, vận dụng sáng tạo, bổ sung và pháttriển lý luận Mác- Lê-nin, tư tưởng Hồ ChíMinh cho phù hợp với bối cảnh mới củathế giới và các điều kiện cụ thể trong nướchiện nay
Kiên định và vận dụng sáng tạo bản chấtkhoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác– Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta
đã ngày càng làm sáng tỏ con đường tiếnlên chủ nghĩa xã hội ở nước ta thời kỳ đổimới Đó là con đường phát triển quá độ lênchủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ
Trang 9được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc
biệt về khoa học và công nghệ, để phát
triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng
nền tảng kinh tế hiện đại
3 Chúng ta đang bước vào thập niên thứ
hai của thế kỷ XXI, loài người tiến bộ đang
chứng kiến những diễn biến hết sức phức
tạp của thế giới Những xu thế phát triển
của thế giới cùng với những biến đổi sâu
sắc đang diễn ra trên tất cả các lĩnh vực,
trong phạm vi từng quốc gia - dân tộc, cũng
như ở tất cả các khu vực và trên toàn cầu
Chủ nghĩa xã hội với những bản chất tốt
đẹp của nó vẫn là lý tưởng mà nhân loại
tiến bộ đang hướng tới, những giá trị nhân
văn cao cả của nó vẫn đầy sức sống và tồn
tại sinh động trong đời sống nhân loại Sau
những biến động lịch sử cuối thế kỷ XX,
các nước tiến theo con đường xã hội chủ
nghĩa còn lại vẫn kiên định mục tiêu, lý
tưởng xã hội chủ nghĩa Một số nước tiến
hành cải cách, đổi mới, giành được những
thành tựu to lớn Phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế từng bước được phục
hồi, có sự tập hợp lực lượng dưới nhiều
hình thức mới Phong trào “cánh tả” ở Tây
Âu và Mỹ La-tinh có bước phát triển mới,
đặc biệt là phong trào “chủ nghĩa xã hội thế
kỷ XXI” nổi lên ở nhiều nước Mỹ La-tinh
Trong một thế giới sống động và đầy
thách thức, chúng ta phải xét tới những
lợi cho sự phát triển Để đạt được mục đíchđặt ra mà vẫn giữ vững phương hướngchính trị, không phạm sai lầm về đường lối,đặt ra cho chúng ta yêu cầu cấp bách làkhông những phải nắm vững, kiên định chủnghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
mà còn phải vận dụng sáng tạo trong điềukiện, tình hình mới
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi phải nghiên cứu sâu sắc, toàn diện và có
Mác-hệ thống những di sản tư tưởng, lý luận của C.Mác, Ph.Ăng-ghen, V.I.Lê-nin, Hồ Chí Minh; phải đổi mới tư duy để trở về với
chính thực chất hệ thống luận điểm khoahọc đã hình thành trong những điều kiệnlịch sử cụ thể, trong đó cần hết sức chú ýđến những bổ sung, phát triển mà chính cácnhà kinh điển đã phác họa trước nhữngthay đổi của thực tiễn
Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phải trên cơ sở khách quan, dám nhìn thẳng vào sự thật và chấp nhận thách thức Chúng ta phải cương
quyết phê phán những quan điểm đi ngượclại những gì thuộc về bản chất, nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và chủnghĩa xã hội Đồng thời, phải dựa chắc trên
cơ sở phương pháp luận khoa học của chủnghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ ChíMinh để đánh giá đúng đắn tính chất, hiệu
Trang 10Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh phải trên cơ sở thực
tiễn xây dựng đất nước và những điều kiện
cụ thể của thế giới đương đại Điều này đòi
hỏi chúng ta phải kiên định mục tiêu cơ bản
của chủ nghĩa xã hội, đồng thời phải luôn
tìm tòi sáng tạo những giải pháp đặc thù
cho sự phát triển đất nước Trong khi đòi
hỏi phải cảnh giác với nguy cơ chệch
hướng, chúng ta cũng cần phải đặt ra vấn
đề chống chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ
-một thứ nguy cơ có thể dẫn tới những hậu
quả tiêu cực đối với sự nghiệp xây dựng và
phát triển đất nước
Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh phải luôn hướng tới
mục tiêu tối thượng, thường xuyên và quan
trọng nhất, đó là con người Trong suốt
hành trình của mình, chủ nghĩa Mác -
Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh không bao
giờ xa rời mục tiêu giải phóng con người,
giải phóng xã hội, giải phóng loài người
Đó là tư tưởng khoa học, mang tính nhân
văn cao cả và phù hợp với nguyện vọng
của đông đảo quần chúng nhân dân lao
động trên toàn thế giới Điều đó đòi hỏi
chúng ta phải vận dụng sáng tạo, hình
thành những giải pháp hợp lý, xuất phát từ
điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta để
từng bước thực hiện mục tiêu giải phóng
và phát triển con người toàn diện Cương
chóng thành các chính sách, xây dựngnhững cơ chế xã hội bảo đảm thực hiện cácchính sách về con người, làm cho conngười Việt Nam ngày càng được hưởngcuộc sống tự do hơn, hạnh phúc hơn cùngvới mỗi bước phát triển của đất nước
Từ khi ra đời cho đến nay, nhờ nắmvững và vận dụng sáng tạo bản chất khoahọc và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng ta
đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắnglợi này đến thắng lợi khác Thực tiễn côngcuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam đã minh chứng hùng hồn: bản chấtkhoa học, cách mạng và nhân văn cao cả lànguồn gốc sức mạnh của chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Côngcuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam đã chứng tỏ sức sống mãnh liệtcủa mình và ngày càng thu được nhữngthành tựu to lớn Kiên định với bản chấtkhoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác
- Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh và vậndụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng ViệtNam nhất định Đảng ta sẽ lãnh đạo nhândân ta xây dựng thành công một nước ViệtNam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.r
Nguồn: Tạp chí Cộng sản.- 2011.- Số 820.- Tr.70-74.
Trang 11Trong Lời tựa của bộ Tư bản, C.
Mác viết: "Tôi coi sự phát triển của
những hình thái kinh tế - xã hội là
một quá trình lịch sử - tự nhiên”(l) Đây là
một trong những luận điểm cơ bản của chủ
nghĩa duy vật lịch sử, về mặt lý luận và
phương pháp luận có liên quan đến việc
xác định mục tiêu và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta Vấn đề này cần
phải tiếp tục làm rõ hơn một số khía cạnh
nhận thức và vận dụng quan điểm đó trong
sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
1 Nghiên cứu lịch sử xã hội, Mác phát
hiện mỗi hình thái kinh tế - xã hội là một
hệ thống các mặt, các mối liên hệ không
ngừng tác động qua lại với nhau, tạo thành
các quy luật khách quan của xã hội Đó là
quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản
xuất với trình độ của lực lượng sản xuất,
quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc
thượng tầng, quy luật đấu tranh giai cấp là
động lực của sự phát triển xã hội… Do sự
tác động của các quy luật khách quan đó
mà các hình thái kinh tế - xã hội không
ngừng vận động và thay thế lẫn nhau từ
thấp đến cao, đó là con đường phát triển
phổ biến của nhân loại Tuy nhiên, do quy
luật phát triển không đều và ảnh hưởng qualại giữa các nước; sự tác động bởi nhữngđiều kiện tự nhiên, chính trị, truyền thốngvăn hóa, lịch sử mỗi nước mà lịch sử xã hộiloài người còn bị chi phối và vận động theoquy luật đặc thù Một hình thái kinh tế - xãhội nào đó có thể phát triển “bỏ qua” một
số hình thái kinh tế - xã hội để tiến lên mộthình thái kinh tế - xã hội cao hơn Các nhàsáng lập chủ nghĩa Mác cho rằng, điều kiệntất yếu để một xã hội có thể phát triển theokiểu “bỏ qua” đó là hình thái kinh tế - xãhội bị "bỏ qua" phải lạc hậu về mặt lịch sử;mặt khác, lực lượng tiên phong của dân tộcthực hiện nhiệm vụ lịch sử phải có năng lựccách mạng để thực hiện bước quá độ đặcbiệt đó
Thực tế lịch sử nhân loại đã từng diễn rakiểu phát triển “bỏ qua” đó Như chúng ta
đã biết, vào cuối thời kỳ Cổ đại ở phươngTây, chế độ chiếm hữu nô lệ ở La Mã đãphát triển đến đỉnh cao của nó và bước vàothời kỳ suy tàn, trong khi đó, xã hội củangười Giécmanh (tổ tiên người Đức ngàynay) lại đang ở thời kỳ công xã nguyênthủy Mặc dù về mặt kinh tế xã hội, ngườiGiécmanh còn ở trình độ thấp hơn, nhưng
?TS TRƯƠNG NGỌC NAM Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Trang 12vậy, người Giécmanh đã thực hiện bước
quá độ từ xã hội công xã nguyên thủy “bỏ
qua” chế độ chiếm hữu nô lệ, phát triển lên
hình thái kinh tế - xã hội cao hơn Tình hình
diễn ra tương tự khi người châu Âu di cư sang
châu Mỹ, châu Úc và áp đặt ở đó phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa cao hơn rất nhiều
so với trình độ của xã hội bản địa
Phát hiện quy luật lịch sử xã hội trong
thời đại đế quốc chủ nghĩa, V.I Lênin chỉ
ra rằng: cách mạng vô sản có thể nổ ra ở
một số khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền
của chủ nghĩa đế quốc; một nước tư bản
chủ nghĩa chưa phát triển cao, nhưng với
những điều kiện khách quan chín muồi, sự
trưởng thành của giai cấp cách mạng và sự
giúp đỡ của giai cấp vô sản ở các nước thì
có thể đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa
Với lý luận và thực tiễn lịch sử đã trải
qua, Đảng ta lựa chọn con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội là phù hợp với quy luật khách
quan của lịch sử, đó là con đường duy nhất
đúng Nhưng, có người vẫn đặt vấn đề
rằng, điều kiện tiên quyết để nhân loại quá
độ, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là hình
thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa hiện
nay đã “lỗi thời” về mặt lịch sử chưa?
Ngày nay không còn sự hậu thuẫn của các
nước xã hội chủ nghĩa như trước đây, thì
chứng về sự “lỗi thời” về lịch sử của một
xã hội nào đó Quá trình phát triển của một
xã hội càng sản sinh những nhân tố khẳngđịnh nó bao nhiêu, thì đồng thời cũng cànglàm xuất hiện những nhân tố khác biệt, phủđịnh ngay trong lòng nó bấy nhiêu Một xãhội càng phát triển tiến gần đến chóp đỉnh,thì càng có khả năng quá độ sang một xãhội khác về bản chất Xem xét một cáchkhách quan, khoa học về chủ nghĩa tư bảnđương đại, phải khẳng định rằng, mặc dùmâu thuẫn vốn có của nó ngày càng sâu sắc
và không thể giải quyết được, nhưng bảnthân nó “là một cơ thể sống”, cho nên cũngđang trong quá trình vận động để “kéo dài
sự sống” nhờ tranh thủ những thành tựucủa loài người Chủ nghĩa tư bản vì vậycũng đang có những biến đổi sâu sắc trênnhiều lĩnh vực, nhưng nó càng phát triểnbao nhiêu thì trên thực tế cũng đang nảy nởnhân tố tự “vượt bỏ nó” bấy nhiêu
Về kinh tế, quá trình sản xuất và sở hữu
trong các tập đoàn kinh tế, các công tyxuyên quốc gia, các công ty cổ phần Ởcác nước tư bản đang trong xu hướng xãhội hóa, quốc tế hóa lực lượng sản xuất,làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất ngày càng sâu sắc.Tính chất xã hội hoá về sở hữu đang làmthay đổi quan hệ tổ chức, quản lý và quan
Trang 13hệ phân phối trong hệ thống sản xuất tư bản
chủ nghĩa Do đó, các nhà tư bản không
còn giữ vai trò thao túng, áp đặt thống trị
trong quan hệ sản xuất như trước nữa
Về chính trị, bản chất của chủ nghĩa tư
bản ở giai đoạn đế quốc chủ nghĩa chưa
thay đổi, nhưng nền dân chủ tư bản cũng
đang có những biến đổi nhất định, các hình
thức dân chủ trực tiếp được sử dụng nhiều
hơn; vai trò của quần chúng nhân dân ảnh
hưởng nhất định đến xu hướng vận động
xã hội; nhân dân lao động cũng giành được
một số quyền tự do, dân chủ nhất định
Đồng thời, do áp dụng khoa học - kỹ thuật,
nhất là công nghệ thông tin để hiện đại hóa
quá trình quản lý xã hội, đã làm cho tính
chất “cai trị” của nhà nước tư bản được che
dấu hết sức tinh vi hơn
Về mặt xã hội, do áp lực đấu tranh của
quần chúng nhân dân, chủ nghĩa tư bản đã
phải điều chỉnh chính sách xã hội như tăng
phúc lợi xã hội và các bảo đảm xã hội,
chính sách tích cực về giáo dục, y tế, phát
triển khoa học, công nghệ…, trên một mức
độ nào đó cải thiện đáng kể đời sống nhân
dân lao động, đó là một thực tế Chủ nghĩa
tư bản tồn tại hàng trăm năm, sự giàu có
của nó ngày nay có được là nhờ bóc lột sức
lao động làm thuê, cho nên, việc điều chỉnh
những chính sách xã hội có lợi cho người
lao động hoàn toàn không phải xuất phát
từ bản chất tự thân của nó, không phải giai
cấp tư sản ngày nay đã “nhân đạo” hơn, đã
“thay đổi bản chất” như người ta tưởng
Những điều chỉnh về chính sách xã hội tíchcực đó xét đến cùng là nhằm duy trì sựthống trị của giai cấp tư sản Mặt khác, nócòn là kết quả đấu tranh giai cấp, để giảm
áp lực xã hội, giai cấp tư sản buộc phảinhượng bộ nhân dân lao động và các lựclượng tiến bộ Tuy nhiên, tất cả những điềuchỉnh “tích cực” về chính sách xã hội ở một
số nước tư bản hiện nay vẫn nằm trongkhuôn khổ bản chất chủ nghĩa tư bản cănbản vẫn là xã hội người bóc lột người, nôdịch và bất công đối với người lao động
Có thể nói, tất cả những biến đổi nói trêntrong các nước tư bản phát triển đang “tíchtụ” những nhân tố tích cực, những nhân tố
“tự phủ định”, có xu hướng “tự vượt bỏ”chủ nghĩa tư bản, nhưng điều đó không thểdẫn đến sự “hội tụ” với chủ nghĩa xã hộinhư người ta nói Chủ nghĩa tư bản pháttriển dù có tạo ra những điều kiện chínmuồi để quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì tấtyếu cũng phải trải qua một cuộc cách mạng
xã hội, tất nhiên không loại trừ trong điềukiện 1ịch sử mới, nhiều khả năng diễn ranhững cuộc cách mạng “hòa bình”
Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản ngay từđầu đã mang bản chất bóc lột và bất công.Tính chất tàn bạo vô nhân tính của nó thểhiện đặc biệt ở giai đoạn tự do cạnh tranh
Do nhu cầu cao về sự tích tụ và tập trung
tư bản để làm giàu, giai cấp tư sản phảităng cường bóc lột giá trị thặng dư Nhưng,trong khi năng suất lao động còn quá thấpthì việc bóc lột giá trị thặng dư không thỏa
Trang 14mãn nhu cầu mở rộng sản xuất và làm giàu,
giai cấp tư sản phải bớt xén tiền công của
người lao động Người lao động bị bóc lột
“đến tận xương tuỷ”, bị đẩy vào tình cảnh
bần cùng, đói khổ, dốt nát Trong bối cảnh
đó, nhiều nhà tư tưởng tiến bộ của chính
giai cấp tư sản cũng phải thốt lên: “trong
mỗi lỗ chân lông của nhà tư bản thấm đầy
máu và nước mắt" của người lao động Đó
là một thực tế lịch sử không thể chối cãi,
đến mức một số nhà tư tưởng tư sản cũng
phải lên án thời kỳ "dã man" ấy của chủ
nghĩa tư bản
Ngày nay, chủ nghĩa tư bản vẫn không
ngừng tăng cường sự bóc lột đối với người
lao động, tỷ suất bóc lột giá trị thặng dư
bình quân cao hơn rất nhiều so với trước
Các nước tư bản giàu có vẫn tìm cách để
chi phối các nước nghèo bằng đầu tư trực
tiếp và gián tiếp, quan hệ buôn bán bất bình
đẳng tạo nên một cục diện thế giới đầy
mâu thuẫn: một châu Phi nghèo đói với
hàng trăm triệu người sống dưới mức
nghèo khổ; một châu Mỹ Latinh nợ nần
chồng chất; chưa đầy 20% người giàu trên
thế giới chiếm hữu trên 80% của cải thế
giới, còn trên 80% dân số còn lại sở hữu
chưa đầy 20% của cải xã hội Cho nên,
không phải ngẫu nhiên mà hiện nay nhiều
phong trào chính trị, xã hội trên khắp thế
giới, đặc biệt phong trào cánh tả ở châu Mỹ
Latinh vẫn khát vọng hướng về chủ nghĩa
xã hội - tương lai của loài người, chống lại
chủ nghĩa tư bản Trong thời đại ngày nay
lẽ nào chúng ta lại phải lựa chọn con đườngđầy máu và nước mắt mà chủ nghĩa tư bản
đã trải qua trong lịch sử? Quy luật của lịch
sử cho phép các nước đi sau lựa chọn conđường đi của mình tránh được vết xe lịch
sử của chủ nghĩa tư bản đã qua Cho nên,con đường phát triển của nước ta không thểnào khác ngoài con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội
2 Từ luận điểm của Mác, cần nhận thức
một cách khoa học đặc điểm và vận dụngđúng đắn quy luật lịch sử - tự nhiên ở thời
kỳ quá độ Trong tác phẩm Phê phán
Cương lĩnh Gô-ta của Mác và tác phẩm Nhà nước và cách mạng của Lênin, các
ông đã nêu rõ bản chất của thời kỳ quá độ,những nhân tố xã hội cũ và mới đan xentồn tại, thâm nhập vào nhau, đấu tranh vàchuyển hóa cho nhau, các nhân tố xã hộimới đang định hình và khẳng định, còn nonyếu, nhân tố xã hội cũ mặc dù bị đánh bạinhưng chưa bị tiêu diệt hẳn Do đó khuynhhướng vận động của xã hội diễn ra quanh
co, phức tạp, thậm chí cả nhóm bước thụtlùi, cái cũ tạm thời chiến thắng cái mới, đểcuối cùng cái mới chiến thắng hoàn toàncái cũ Thực tế lịch sử thế giới cho thấycuộc cách mạng tư sản diễn ra trong thời kìquá độ từ xã hội phong kiến lên xã hội tưbản ở thời kỳ lịch sử Cận đại là như vậy.Cuộc cách mạng tư sản Anh bắt đầu vàođầu năm 1640, sau nhiều lần diễn đi diễnlại, hơn một thế kỷ sau mới giành thắng lợicuối cùng Tương tự, cuộc cách mạng tư
Trang 15sản Pháp diễn ra đầu tiên vào năm 1789,
trải qua nhiều lần giành đi đổi lại giữa chế
độ phong kiến và tư bản, mãi đến năm
1871 mới thắng lợi triệt để
Có thể nói, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô
và Đông Âu vấp phải khủng khoảng và đổ
vỡ, xét đến cùng về mặt khách quan còn do
quy luật lịch sử - tự nhiên của thời kỳ quá
độ chi phối Những sai lầm chủ quan của
các đảng cộng sản đã vi phạm nghiêm
trọng quy luật khách quan, giáo điều trong
việc đề ra đường lối chiến lược và trong tổ
chức thực hiện đường lối, làm cho chủ
nghĩa xã hội chưa thể hiện được đầy đủ bản
chất ưu việt của nó Nhưng mặt khác cũng
phải thấy rằng, chủ nghĩa xã hội mặc dù đã
tồn tại hơn 90 năm qua, nhưng vẫn đang
trong trạng thái quá độ, cho nên những diễn
biến phức tạp và kể cả những thất bại tạm
thời cũng phản ánh tính chất phức tạp của
thời kỳ quá độ Hiện nay, trái với mong
muốn của các thế lực thù địch, chủ nghĩa
xã hội trên thế giới đang chứng tỏ, từ
những bài học thành công và thất bại, cũng
như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các
dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra
bước phát triển mới và theo quy luật tiến
hoá, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ
nghĩa xã hội
Một vấn đề khác liên quan đến nhận
thức và vận dụng “quy luật lịch sử - tự
nhiên” thời kỳ quá độ là sự "bỏ qua" chế
độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội
Phải nói trước đây chúng ta hiểu và vận
dụng một cách chủ quan, duy ý chí vấn đề
"bỏ qua" Hiện nay, chúng ta nhận thức đilên chủ nghĩa xã hội "bỏ qua" chủ nghĩa tưbản không phải bỏ qua tất cả những gìthuộc về chủ nghĩa tư bản, chỉ bỏ qua chế
độ người bóc lột người, đồng thời phải kếthừa những thành tựu mà nhân loại đạtđược trong chủ nghĩa tư bản Trong bốicảnh toàn cầu hoá kinh tế, những thành tựukinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ trênthế giới có bước phát triển nhảy vọt; xu thếhòa bình, hợp tác cùng phát triển giữa cácnước đang tạo thời cơ và vận hội tranhthủ sức mạnh thời đại để phát triển Nhưvậy, trong thời đại hiện nay, để quá độ lênchủ nghĩa xã hội, về mặt khách quan, điềukiện “tiên quyết” là phải hội nhập toàn cầuhóa thành công
3 Luận điểm của Mác nhấn mạnh xã hội
loài người vận động và phát triển theo quyluật lịch sử - tự nhiên, ở một khía cạnhkhác, Mác nhấn mạnh xã hội vận động theonhững quy luật khách quan giống như quyluật tự nhiên không phụ thuộc vào ý chí và
ý muốn của con người Hoạt động của conngười bị quy luật chế ước, do đó, conngười nhận thức và hành động không thểbất chấp quy luật khách quan, mọi sự canthiệp thô bạo, thái quá, sự tác động mộtcách chủ quan duy ý chí đều phải gánh chịunhững hậu quả tai hại, hoặc chí ít cũngkhông đem lại kết quả như mong muốn Sựkhác biệt căn bản giữa quy luật xã hội vàquy luật tự nhiên ở chỗ, quy luật xã hội
Trang 16được thực hiện và thể hiện thông qua hoạt
động có ý thức của con người Con người
là nhân tố tạo nên quy luật, không có hoạt
động của con người thì không thể có quy
luật xã hội, nhưng con người chỉ có thể tạo
điều kiện để thúc đẩy quy luật ra đời, tác
động đến khuynh hướng vận động của quy
luật Con người tác động, điều chỉnh
khuynh hướng và mức độ tác động của quy
luật thông qua hoạt động thực tiễn trên quy
mô toàn xã hội, chủ yếu là vai trò của nhà
nước Do đó, một mặt cần phải nhận thức
sự "bướng bỉnh, lạnh lùng của quy luật
thép" để không thể tùy tiện, chủ quan duy
ý chí; nhưng mặt khác lại cần phải phát huy
vai trò của nhân tố chủ quan trong tổ chức,
điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội
Do đó, khẳng định mục tiêu chủ nghĩa xã
hội là con đường tất yếu của cách mạng
nước ta, nhưng để thực hiện thắng lợi mục
tiêu lý tưởng đó cần phải đảm bảo điều
kiện “tiên quyết” là vai trò lãnh đạo của
Đảng và sự quản lý và điều hành có hiệu
lực, hiệu quả của Nhà nước Vấn đề có ý
nghĩa then chốt, sống còn hiện nay là phải
ra sức khắc phục những khuyết điểm, yếu
kém trong Đảng và Nhà nước, xây dựng và
Mặt khác, hiện nay, trong phát triển kinh
tế xã hội, cần giải quyết hài hòa mối quan
hệ giữa phát triển kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội với bảo vệ tài nguyên, môitrường sinh thái đảm bảo tăng trưởng kinh
tế đi đôi với công bằng và tiến bộ xã hội.Trong nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, cần khắc phục quan điểmduy kinh tế, chạy theo lợi nhuận, làm giàubằng mọi cách, ít chú trọng giải quyết cácvấn đề xã hội, dẫn đến phân hóa xã hội sâusắc, khoảng cách giàu nghèo giữa các tầnglớp xã hội, các vùng, miền quá lớn sẽ tạonên sự bất ổn về chính trị, xã hội, hậu quả
sẽ kìm hãm sự phát triển xã hội Cho nên,một mặt phải tôn trọng và phát huy vai tròcủa quy luật thị trường trong điều tiết quátrình sản xuất kinh doanh, quá trình đầu tư,cạnh tranh đảm bảo hiệu quả kinh tế đốivới hoạt động kinh tế vi mô nhưng khôngthể buông lỏng vai trò quản lý, điều tiết vĩ
mô của Nhà nước Quan điểm thả lỏng choquy luật thị trường điều tiết cũng như canthiệp quá mức của Nhà nước, thay cho sựđiều tiết "tự nhiên" của thị trường đều phảitrả giá đắt Chúng ta không thể đồng tìnhvới quan điểm cho rằng trong điều kiệnmột nước nghèo, chậm phát triển, phải tậptrung cho tăng trưởng kinh tế, tăng nhanh
sự giàu có cho xã hội làm mục đích duynhất, còn vấn đề công bằng và tiến bộ xãhội để cho quy luật khách quan tự điều tiết,hoặc đến lúc nào đó có đủ điều kiện mớitập trung giải quyết Mục tiêu phát triển xãhội bền vững hài hòa là định hướng xã hộichủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đang
Trang 17phấn đấu, điều đó phải được thực hiện
trong mỗi bước đi, mỗi kế hoạch phát triển
cụ thể
Đánh giá thành tựu 20 năm đổi mới và
rút ra những bài học lớn, Đại hội X của
Đảng đã khẳng định: “phải kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Đổi mới không phải từ bỏ mục tiêu chủ
nghĩa xã hội mà là làm cho chủ nghĩa xã
hội được nhận thức đúng đắn hơn và được
xây dựng có hiệu quả hơn”(2) Sự kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội và sự quyết tâm thực hiện sự nghiệpđổi mới của Đảng là hoàn toàn có căn cứkhoa học và cách mạng.r
…………
(1) C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, t.23, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.21.
(2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.70.
Nguồn: Tạp chí Lý luận chính 2009.- Số 6.- Tr.57 - 61.
trị.-xã hội có sự phát triển hài hòa giữa con
người với tự nhiên; các dân tộc trong cộng
đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn
trọng, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển; có
quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân
các nước trên thế giới" Diễn đạt như vậy,
sẽ phân biệt được giữa mục tiêu nội dung,
đặc trưng phổ quát của mô hình CNXH ở
nước ta với những đặc trưng cụ thể Đồng
thời, sắp xếp các đặc trưng cơ bản của
CNXH theo từng lĩnh vực từ chính trị, đến
kinh tế, đến văn hóa và xã hội
Nhận thức của Đảng ta về mô hình
CNXH đã trải qua một quá trình hình thành
và phát triển gắn với thực tiễn đổi mới đất
nước Từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay,
Đảng ta đã có nhiều nhận thức mới, làm
sáng tỏ hơn mô hình CNXH Chắc chắn
chúng ta sẽ còn phải tiếp tục đi sâu nghiêncứu lý luận tổng kết thực tiễn để bổ sung,phát triển hơn nữa nhận thức về mô hìnhCNXH ở nước ta trong thời gian tới.r
…………
(1) ĐCSVN, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNXH, Nxb Sự thật, HN, 1991, tr.8-9 (2) ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, HN, 2006, tr.68.
(3) Theo TS Nguyễn An Ninh, Sự phát triển quan điểm của Đảng ta về mô hình CNXH trong Văn kiện Đại hội X, Tạp chí Lý luận Chính trị, tháng 9/2006, tr.22 (4),(5) Theo TS Nguyễn An Ninh, Sđd, tr.67-68 (6) Báo Nhân dân, số ra ngày 29/3/2010, tr.3 (7) Xem TS Nguyễn Viết Thông, Tìm hiểu sự phát triển lý luận trong văn kiện Đại hội X của Đảng, Tạp chí
Tư tưởng – Văn hóa, số 10/2006, tr.10.
Nguồn: Tạp chí Khoa học chính 2010.- Số 4.- Tr.19-24.
trị.-MÔ HÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM -
(Tiếp theo trang 72)
Trang 18Chủ nghĩa xã hội và thời cuộc hiện nay
Như một tất yếu và một nhu cầu bức
thiết, các nước muốn tiếp tục sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội không thể không trở
lại với những tư tưởng của C.Mác về chủ
nghĩa xã hội, vì “nếu đi theo bất cứ con
đường nào khác thì …chỉ có đi tới dối trá
và lẫn lộn”, như V.I Lênin cảnh báo
Như hiện nay, hơn bao giờ hết, trước sự
đổ vỡ một bộ phận lớn của chủ nghĩa xã
hội hiện thực thế giới, và trước những lời
thóa mạ, thậm chí kết tội và phủ nhận
C.Mác, chúng ta phải tiếp tục làm gì để
hiểu đúng và phát triển tư tưởng của
Người? Đặc biệt, trước sự xuyên tạc, bôi
nhọ C Mác, trước “những lời phóng thuật
tự do, những cách giải quyết tùy tiện” tư
tưởng C.Mác, chúng ta cần nỗ lực tìm và
hiểu C.Mác đã nói gì và nói như thế nào về
triển vọng đa dạng hóa phương thức, con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước tahiện nay?
Đi trên con đường C.Mác vạch ra, sauhơn 26 năm, càng tiếp tục đẩy tới côngcuộc đổi mới xây dựng xã hội xã hội chủnghĩa Việt Nam, chúng ta càng thấy conđường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
ngày càng được xác định rõ hơn, càng như
gặp gỡ, hội tụ về với cội nguồn tư tưởng C.
Mác và Chủ tịch Hồ Chí Minh ở một quy mômới, tầm cao mới và với một chiều sâu mới
Tính đa dạng của chủ nghĩa xã hội và
sự phong phú của những con đường xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa: Từ C Mác tới Chủ tịch Hồ Chí Minh
Những con đường C Mác đã tiên liệu…
Trong sự nghiệp hoạt động lý luận khoahọc và thực tiễn cách mạng của mình, C.Mác không bao giờ tự bó mình trongnhững khuôn khổ giáo điều cứng nhắc chật
VỀ TÍNH ĐA DẠNG CỦA CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI: TỪ CÁC MÁC TỚI CHỦ TỊCH
HỒ CHÍ MINH VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM
?NHỊ LÊ
Kinh nghiệm lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, càng ở những thời điểm khó khăn, bất trắc, càng rất mực trung thành trở về với C.Mác, Chủ tịch Hồ Chí Minh, một cách sáng tạo, thành tâm, chúng ta càng tin tưởng, điềm tĩnh và tìm thấy lối ra Trong tình hình hiện nay, trước thời cơ và thách thức mới, điều đó càng trở thành bài học lịch sử vô giá và thiêng liêng.
Trang 19hẹp, và Người cũng luôn nhắc nhở, yêu cầu
chúng ta về điều đó Chủ nghĩa xã hội khoa
học, mà C.Mác là người đặt nền móng sở
dĩ trở thành khoa học, trước hết vì nó đứng
vững trên miếng đất hiện thực, “là biểu
hiện khái quát của những quan hệ thực tại
của một cuộc đấu tranh giai cấp hiện có,
của một sự vận động lịch sử - đang diễn ra
trước mắt chúng ta”, và “là một phong trào
hiện thực xóa bỏ trạng thái hiện nay”
Một trong những vấn đề có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn quan trọng nhất, then chốt nhất
và đồng thời cũng là nan giải nhất của chủ
nghĩa xã hội khoa học như C Mác nhận
định và tự mình tập trung kiến giải chính
là vấn đề chủ nghĩa cộng sản được sinh ra
như thế nào?
Trên cơ sở nghiên cứu chủ nghĩa tư bản
Châu Âu, C Mác thấy “sự vĩ đại và tính tất
yếu nhất thời của bản thân chế độ tư sản”,
đồng thời cũng khám phá ra rằng nó cũng
chứa đựng vô vàn mâu thuẫn, tự thân nó
không thể và không bao giờ đủ sức giải
quyết; và Người dự cảm tới một lúc nào đó
cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ nổ ra, ở tất
cả các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, mà
tối thiểu cũng diễn ra đồng thời ở Anh,
Pháp, Mỹ, Đức Vào những năm 60 của thế
kỷ XIX, C Mác hình dung điều đó như
một tương lai rất gần: giai cấp công nhân
Anh phải chuẩn bị tốt về mọi mặt để gánh
vác trọng trách, giai cấp vô sản Pháp sẽ
đóng vai trò là đội quân tiên phong cách
mạng, khi thời cơ đến thì người Pháp pháttín hiệu nổ súng và người Đức giải quyếtchiến đấu… Nói cách khác, C Mác quan
tâm rằng, chủ nghĩa cộng sản được trực
tiếp sinh ra một cách tất yếu từ xã hội tư
bản phát triển cao
C Mác đã lấy chủ nghĩa tư bản pháttriển một cách thuần tuý làm tiền để, làmđiều kiện để khám phá, phát hiện về chủ
nghĩa xã hội Ở một loạt tác phẩm: “Nội
chiến ở Pháp” (năm 1871), “Phê phán Cương lĩnh Gô-ta” (năm 1875)…được
hoàn thành trên cơ sở những kết luận khoa
học chủ yếu của bộ “Tư bản” (năm 1867)
và kinh nghiệm thực tiễn nóng hổi của
Công xã Pa-ri (năm 1871), C Mác đã luận
giải một cách hết sức chặt chẽ và đầy đủgiả định này Đây không phải là một “dựđoán vu vơ” mà là một giả thuyết khoa họcđược rút ra khi Người đặt vấn đề chủ nghĩacộng sản sinh ra như thế nào, biết nguồngốc của nó và định được rõ rệt hướng củanhững biến đổi của nó, như V.I.Lê-nin chỉ
rõ Từ đây, C.Mác đưa ra kết luận về sựdiệt vong không tránh khỏi của chủ nghĩa
tư bản trên cơ sở phát hiện những điều kiệncần thiết để thủ tiêu chủ nghĩa tư bản,khẳng định tính quy luật của việc thay thế
nó bằng chủ nghĩa cộng sản, với hai giaiđoạn chủ yếu là: giai đoạn thấp –“một xãhội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xãhội tư bản chủ nghĩa, do đó là một xã hội,
về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức, tinh
Trang 20thần - còn mang những dấu vết của xã hội
cũ mà nó đã lọt lòng ra” và giai đoạn cao –
“xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển
trên cơ sở của chính nó” Sau này, Ph
Ăng-ghen gọi giai đoạn thấp ấy của chủ nghĩa
cộng sản, theo ý C Mác, là chủ nghĩa xã
hội Rõ ràng, ở đây thực chất tư tưởng của
C Mác cho rằng, chủ nghĩa xã hội chính là
kết quả của sự phát triển chín muồi của chủ
nghĩa tư bản và từ chủ nghĩa tư bản
Nhưng thực tế cho thấy, giả định khoa
học trên của C Mác về việc chủ nghĩa cộng
sản sẽ xây dựng ở các nước tư bản chủ
nghĩa phát triển cao, cho đến nay đã tròn
130 năm kể từ khi C Mác mất, chưa trở
thành hiện thực Phải chăng, trong các giả
định khoa học về tương lai của C Mác có
điểm nhầm lẫn? Và phải chăng, sau này
V.I.Lê-nin đi ngược lại tư tưởng C Mác?
Chính ở điểm này mà những người đang ra
sức công kích, phủ nhận C Mác, đem “đối
lập” V.I.Lê-nin với Người
Thực ra, C Mác không hề có sự “đối
lập” nào với V.I.Lê-nin ở luận điểm này,
như ai đó bôi nhọ Vì bên cạnh giả định
trên, ở một góc độ khác C Mác đồng thời
nêu lên một giả định thứ hai về xã hội cộng
sản ra đời từ khởi điểm một xã hội tiền tư
bản chủ nghĩa - vấn đề mà sau này V.I.Lê-nin
tiếp tục nghiên cứu và thực hiện thành công
Sinh thời, C.Mác dành tâm sức, tập
trung sự chú ý nghiên cứu kết cấu xã hội
và tiến trình lịch sử của các nước lạc hậu
phương Đông Bởi chưa bao giờ quan niệmlịch sử sẽ đi đến bước như một cuộc diễubinh, nên khi nhìn sang phương Đông, C.Mác thấy các xã hội ở đây mang những nétđặc thù và do ảnh hưởng khách quan củachúng, nếu chỉ lấy sự ra đời và kế tiếp lẫnnhau một cách tuần tự của các hình tháikinh tế - xã hội (từ cộng sản nguyên thủyđến chiếm hữu nô lệ, lên phong kiến và tưbản chủ nghĩa) như các nước phương Tây
đã trải qua, để kiến giải, thì chưa đủ Trongnhững thư từ công bố trước năm 1855 và
nhất là với công trình “Sự thống trị của
Anh ở Ấn Độ” (l0-6-1853), C Mác phân
tích hết sức cơ bản, thâu triệt các nét đặcthù của những xã hội phương Đông, đi tớikhái quát và rút ra hai điểm điển hình là:
“Nhà nước chuyên chế phương Đông chuyên chế châu Á” và “chế độ công xãnông thôn”
-Khảo cứu nhà nước chuyên chế phươngĐông, C Mác viết: “Ở châu Á, từ nhữngthời kỳ xa xưa, thường thường chỉ có bangành quản lý: Bộ Tài chính hay là bộcướp bóc nhân dân của chính nước mình,
Bộ Chiến tranh hay là bộ cướp bóc nhândân các nước khác, và sau cùng là Bộ Côngtrình công cộng” Về công xã nông thôn vàtính đặc biệt của nó, C Mác nêu rõ: “…rảirác trên khắp lãnh thổ của đất nước, songtập trung trong những trung tâm nhỏ bénhờ vào mối liên hệ có tính chất gia trưởnggiữa lao động nông nghiệp và lao động thủ
Trang 21công nghiệp - cả hai tình hình đó, từ những
thời kỳ xa xưa nhất, đã đẻ ra một chế độ xã
hội đặc biệt gọi là chế độ công xã nông
thôn, chế độ này đã đem lại cho mỗi đơn
vị nhỏ bé đó cái tổ chức độc lập của nó” và
“là cơ sở bền vững của chế độ chuyên chế
phương Đông” Trong thư gửi Ph
Ăng-ghen, đề ngày 2-6-1853, C Mác viết: “Nhà
vua là kẻ sở hữu duy nhất tất cả mọi đất đai
trong quốc gia” và “…tình hình không có
chế độ tư hữu về ruộng đất Đó là chiếc
chìa khóa thật sự ngay cả cho thiên giới
phương Đông” Tháng giêng năm 1859,
trong tác phẩm “Góp phần phê phán khoa
học kinh tế - chính trị” của mình, C Mác
chính thức sử dụng khái niệm “phương
thức sản xuất châu Á” với nội hàm rất riêng
biệt của nó Nhưng 9 năm sau, năm 1868,
tiếp xúc với công trình khoa học “Cơ cấu
ma-cơ, nông thôn… của Đức” của G.L.Von
Môrơ (nhà sử học và luật học, 1790
-1872), C Mác thừa nhận: “Những hình
thức sở hữu châu Á hay Ấn Độ là những
hình thức ban đầu ở khắp nơi trên châu
Âu” Vậy là, ở đây có một sự tương đồng
nào đó giữa phương Tây trước kia với
phương Đông hiện thời C Mác, những
năm 70 của thế kỷ XIX
Nhưng chính thời điểm ấy, ở phương
Đông xuất hiện ánh bình minh của cách
mạng, như C.Mác nói, “một cuộc cách
mạng xã hội hết sức vĩ đại”, đến mức “nếu
không có một cuộc cách mạng căn bản
trong các điều kiện xã hội của châu Á thìliệu loài người có thể hoàn thành được sứmệnh của mình không”; trong khi đó ởchâu Âu, tình thế cách mạng của giai cấp
vô sản lại tương đối im ắng Cùng với thờigian, C Mác kiên tâm dõi theo sự biếnđộng với một góc nhìn đột phá, mới mẻ, đầymẫn cảm và phát hiện thấy ở chính nơi đây
đã lấp lánh tương lai của các xã hội này
Và như một tất yếu, vào năm 1881, trên
cơ sở nghiên cứu thấu đáo thực tiễn lịch sử
ở phương Đông, nhất là ở nước Nga công
xã, C Mác tìm thấy giải đáp cho giả địnhcủa mình về khả năng xã hội cộng sản cóthể ra đời từ một xã hội tiền tư bản, thậmchí kém phát triển Phân tích công xã nôngthôn Nga, C Mác viết: “Nó có thể trởthành điểm xuất phát trực tiếp của chế độkinh tế mà xã hội hiện nay hướng tới; nó
có thể đội lốt mà không phải bắt đầu bằng
tự sát Nó có thể đoạt lấy những thành quả
do nền sản xuất tư bản chủ nghĩa làm giàucho nhân loại mà không phải trải qua chế
độ tư bản chủ nghĩa” Thế là, giả định của
C Mác đã rõ ràng Không dừng lại, C Máckiến giải rõ hơn: “Không kể đến tất cảnhững thống khổ đè nặng hiện nay lên
“công xã nông thôn” Nga và chỉ xem xéttới hình thức cấu tạo của nó, thì ngay từđầu ta thấy rõ ràng một trong những tínhchất cơ bản của nó, chế độ sở hữu côngcộng về ruộng đất, tạo nên cơ sở tự nhiêncủa sản xuất tập thể và chiếm hữu tập thể
Trang 22Hơn nữa, việc người nông dân Nga “quen
thuộc với các quan hệ các-ten sẽ giúp họ
dễ dàng chuyển từ việc canh tác lẻ tẻ sang
nền canh tác tập thể” Và cuối cùng, C.Mác
kết luận: “Để cứu vãn công xã Nga phải có
một cuộc cách mạng Nga”
Một năm sau đó, năm 1882, C Mác quả
quyết: “Nếu cách mạng Nga báo hiệu một
cuộc cách mạng vô sản thì chế độ ruộng
đất công cộng ở Nga hiện nay sẽ có thể là
khởi điểm của một sự tiến triển cộng sản
chủ nghĩa” Và chính Ph Ăng-ghen, vào
tháng Giêng năm 1891, khẳng định thêm
một lần nữa ý tưởng khoa học này của C
Mác: “Người Nga do có các-ten và có chế
độ sở hữu công xã về ruộng đất, nên là một
dân tộc được chủ nghĩa xã hội tuyển lựa!”
Ta biết, về sau V I Lê-nin đã vận dụng tư
tưởng lý luận này của C Mác vào việc
nhận thức xã hội Nga để tiến hành cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở nước Nga và điều
đó phủ nhận quan điểm cho rằng, V I
Lê-nin đi ngược lại tư tưởng của C Mác Nếu
ở trên, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
cộng sản là bước quá độ trực tiếp, thì ở đây
chủ nghĩa cộng sản có thể được nảy nở từ
các nước kém phát triển, mà sau này V.I
Lê-nin gọi là bước quá độ gián tiếp Rõ
ràng, đó là sự tiếp tục tư tưởng của chính
C Mác
Nói tóm lại, với các giả định trên, lần
đầu tiên C Mác thực sự mở ra triển vọng
đi lên chủ nghĩa xã hội đối với tất cả các
nước, dù ở phương Tây tư bản chủ nghĩahay phương Đông lạc hậu, kém phát triển
Ở đây, từ chiều sâu tư tưởng của C Mác cóthể nói, trong thời đại ngày nay, mọi quốcgia, mọi dân tộc đều có thể và cần phải tiếnhành cách mạng xã hội chủ nghĩa theonhững phương thức, con đường, bước đikhông nhất thiết phải luôn luôn giốngnhau; nhưng phải phù hợp với quy luậtkhách quan và điều kiện lịch sử cụ thể Vớimục tiêu chung, cơ bản của chủ nghĩa xãhội dù ở các trình độ khác nhau, mọi quốcgia, dân tộc cuối cùng sẽ đi tới xây dựngchủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản,với con đường rất phong phú, đa dạng
Và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong tầm nhìn Hồ Chí Minh
Kế thừa tư tưởng của C Mác, ngay từnăm 1921, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhậnđịnh: Ở Việt Nam, sự tàn bạo của chủ nghĩa
tư bản đã chuẩn bị đất rồi, chủ nghĩa xã hộichỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giốngcủa công cuộc giải phóng nữa thôi; chỉ cóchủ nghĩa cộng sản mới giải phóng đượccác dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhântoàn thế giới Và chín năm sau đó, năm
1930, Người lại nêu trong Chánh cương
vắn tắt của Đảng: Làm tư sản dân quyền
cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới
xã hội cộng sản Người lại khẳng định:Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không
có con đường nào khác con đường cáchmạng vô sản Và cách mạng giải phóng dân
Trang 23tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội
chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi
hoàn toàn
Những suy tư về chủ nghĩa xã hội của
Hồ Chí Minh, đồng thời xuất hiện với
những trăn trở về con đường giải phóng
dân tộc ở thời kỳ đầu (1920-1945) Lúc ấy,
chủ nghĩa xã hội chưa trở thành hiện thực
trực tiếp của cách mạng Việt Nam, do vậy
Người chưa có điều kiện để khai phá toàn
diện Và sau này, suốt 15 năm (từ năm
1954 đến 1969), Người luận giải và lãnh
đạo thực hiện thành công những nội dung
chủ yếu của vấn đề này, mặc dù cách mạng
nước ta lúc đó đồng thời làm hai nhiệm vụ
chiến lược
Nhưng đi lên chủ nghĩa xã hội thế nào,
con đường, phương thức và tốc độ ra sao ,
quả là vấn đề còn được ít người bàn tới Kỳ
thực, đây lại là vấn đề hoàn toàn không xa
lạ đối với Hồ Chí Minh Ngay đầu thập
niên thứ hai của thế kỷ XX Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã thấy rõ sức mạnh của lý tưởng
xã hội chủ nghĩa trong cuộc gieo mầm cho
sự nghiệp giải phóng dân tộc như đã trình
bày Nhưng con đường sau cuộc giải phóng
là gì? Chế độ cộng sản chủ nghĩa có bén rễ
được ở châu Á nói chung và ở Đông
Dương nói riêng không? Sau khi phân tích
các điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội, địa
lý lịch sử Hồ Chí Minh đã hình dung thấy
rõ sự khác nhau giữa các quốc gia, châu lục
trong việc tiếp nhận chủ nghĩa xã hội và đi
tới khẳng định: “Chủ nghĩa cộng sản thâmnhập dễ dàng vào châu Á, dễ dàng hơn là
ở châu Âu”
Trên cơ sở nhận thức lý luận ấy, vàonhững năm 60 của thế kỷ XX, sau cácchuyến đi thăm Liên Xô và các nước xã hộichủ nghĩa anh em, Chủ tịch Hồ Chí Minhcàng có thêm cơ sở thực tiễn và lý luận đểthâu tóm kinh nghiệm, bài học nhằm chínhxác hóa và phát triển nhận thức của mình
về chủ nghĩa xã hội Người đã kiếm tìm và
nỗ lực xác lập một mô hình chủ nghĩa xãhội riêng phù hợp với Việt Nam, không rậpkhuôn, giáo điều và xuất phát từ tổng kếtkinh nghiệm thực tiễn của ta Người nói:
“Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô
có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa
lý khác ta có thể đi con đường khác đểtiến lên chủ nghĩa xã hội” Trong tình hình
mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, vàothời điểm bấy giờ, được tuyệt đối hóa,được nhiều nước mô phỏng thì nhận thức
ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh quả thật hết
sức mạnh dạn, độc lập và mới mẻ.
Toàn bộ những tìm tòi, phát kiến ấy củaNgười đã trở thành nền tảng tư tưởng vàphương châm chỉ đạo công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời vớinhiệm vụ đấu tranh giải phóng miền Nam
Đây chính là nét độc đáo, đầy sáng tạo của
tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội,
làm thay đổi nhận thức từ lâu nay của
nhiều người vẫn cho rằng: Chỉ có thể xây
Trang 24dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện hoà
bình; ở Việt Nam thì trái lại độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội gắn chặt với nhau, vừa kháng
chiến, vừa kiến quốc, vừa chiến đấu chống
giặc Mỹ, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Kiên định đi trên con đường C Mác
và Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra
Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam, nhất là sau gần 26 năm đổi mới,
ngày càng khẳng định ý nghĩa của những
tìm tòi của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội
theo tư tưởng của C Mác Một trong
những thành công nổi bật nhất ở đây là
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo dân tộc
Việt Nam giải quyết các mối quan hệ trong
quá trình “đoạt lấy những thành quả do nền
sản xuất tư bản chủ nghĩa làm giàu cho
nhân loại mà không phải trải qua chế độ tư
bản chủ nghĩa”, “nắm được những thành
tựu của thời đại tư sản, nắm được thị
trường thế giới và các lực lượng sản xuất
hiện đại, và làm cho những cái ấy phải chịu
sự kiểm soát chung ”, như C.Mác chỉ dẫn
Và, chúng ta càng có nhiều cơ hội phát huy
sự năng động của mình trong công cuộc
đưa nước ta “trở thành điểm xuất phát trực
tiếp của chế độ kinh tế mà xã hội hiện nay
đang hưởng tới” Do đó, trong việc “đoạt
lấy thành quả” hay “mượn tiền đề của chủ
nghĩa tư bản” hiện nay để thực hiện sự “rút
ngắn và giảm bớt được những cơn đau đẻ”,
như C Mác nói, việc bỏ qua giai đoạn này
hay giai đoạn khác một cách biện chứng là
hợp quy luật Điều quan trọng là, phải tìm
ra được những giải pháp đúng đắn, thíchhợp để đi lên Sự rập khuôn, máy móc, dunhập mô hình nước ngoài một cách cứngnhắc sẽ dẫn đến thất bại Và, Việt Nam bắttay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xãhội sau khi giải phóng miền Bắc năm 1954một cách độc lập, sáng tạo, đồng thời vớinhiệm vụ đấu tranh giải phóng miền Nam.Nhìn lại thế kỷ XX, dưới sự lãnh đạocủa Đảng, con đường xã hội chủ nghĩa ViệtNam càng trải dài qua hơn 83 năm thì hìnhhài, vóc dáng và hệ tố chất của nó cànghiện dần lên qua mỗi chặng đường vận
động của lịch sử dân tộc Từ con đường với
tư cách là mục tiêu, lý tưởng tới con đường
là sự vận động hiện thực của đất nước để
vươn tới mục tiêu lý tưởng đó; từ con
đường là hiện thực còn sơ khai, giản lược
tới con đường này càng rõ nét, toàn diện và
hoàn thiện hơn, dẫn tới gần mục tiêu hơn,thông qua hàng loạt bước phủ định biệnchứng: phủ nhận chế độ thuộc địa, nửaphong kiến; phủ nhận chế độ tư bản chủnghĩa trong mỗi bước quá độ lên chủ nghĩa
xã hội; phủ nhận mô hình xây dựng chủnghĩa xã hội kiểu cũ Và cứ như vậy,chúng ta bước đầu xác lập một khái niệmvới nội hàm khá đầy đủ và hệ thống về chủ
nghĩa xã hội: Vừa là mục tiêu lý tưởng, vừa
là sự vận động hiện thực rộng lớn của đất
nước vừa là một chế độ xã hội - chính trị phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại.
Trang 25Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã làm bật
lên và khẳng định mục tiêu bất di bất dịch,
cao cả và thiêng liêng: Độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã
hội gắn liền với độc lập dân tộc Đó là con
đường phát triển xã hội chủ nghĩa có tính
chất rút ngắn biện chứng - hiện thân sinh
động và sâu sắc của tư tưởng Chủ tịch Hồ
Chí Minh sáng tạo theo học thuyết Mác
-Lê-nin ở Việt Nam Đó chính là con đường
xuất phát từ thực tế Việt Nam, thực hiện
bằng phương thức, bước đi đặc thù Việt
Nam, kiến tạo nên xã hội xã hội chủ nghĩa
mang bản sắc Việt Nam Đó cũng chính là
con đường nhỏ trong con đường lớn toàn
nhân loại tất yếu tiến lên chủ nghĩa xã hội;
một bộ phận, một biểu hiện cụ thể của xu
thế phát triển tất yếu của thời đại ngày nay
- thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa xã hội
Điểm hết sức độc đáo, mới mẻ làm nên
bản sắc của con đường xã hội chủ nghĩa
Việt Nam tiếp tục cuộc hành trình trong thế
kỷ XXI là, tiến lên chủ nghĩa xã hội “bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa” Đó là con
đường Đảng Cộng sản Việt Nam cầm
quyền, bằng hệ phương thức và bước đi
phù hợp với quá trình lịch sử - tự nhiên tiến
lên chủ nghĩa xã hội thông qua sự rút ngắn
các giai đoạn, bước diễn biến của nền văn
minh loài người (về thời hạn, nấc thang
phát triển…) dựa trên nền tảng sự tăng
trưởng vượt bậc sức sản xuất xã hội Nghĩa
là, chúng ta “bỏ qua” chế độ tư bản chủnghĩa tiến lên chủ nghĩa xã hội theo cáchriêng của mình hợp quy luật phổ biến, từthực tế của đất nước và hợp với xu thế pháttriển của thời đại, không chịu bất cứ mộtsức ép nào từ bên ngoài và nhất là không
ảo tưởng vào một mô hình tiên nghiệm haysẵn có nào
Đảng ta hình dung và quyết định hết sức
rõ, tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa, với tư cách là một thể chế chính trị, nhưng phải rất tôn trọng quá trình lịch sử - tự nhiên, nhất là quá trình phát triển kinh tế, không thể nóng vội hay chủ quan, duy ý chí đối với quá trình này.
Nói cụ thể, sự phát triển “rút ngắn” ở đây
được hiểu chính là tiến trình đẩy nhanh
tương đối quá trình phát triển xã hội chủ
nghĩa bằng cách thông qua những khâu
trung gian, những hình thức qúa độ, nhất
là tăng trưởng kinh tế một cách phù hợp,trong điều kiện chúng ta tiến lên chủ nghĩa
xã hội với điểm xuất phát thấp Đó là sự
phát triển đứt đoạn trong liên tục, tuần tự kết hợp với nhảy vọt biện chứng Đồng
thời, Đảng ta cũng ý thức rất rõ và hoạch
định chính xác những bước đi cơ bản và
quyết định bảo đảm thành công bước “bỏ qua” một cách biện chứng, nhất là những tính quy luật chung của qúa trình phát triển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Mặt khác, “bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa”, Đảng ta cũng ý thức hết
Trang 26sức minh triết việc phủ định một cách biện
chứng và việc chủ động kế thừa và phát
triển những thành tựu toàn diện, những kết
quả tích cực của chủ nghĩa từ bản, nhất là
qúa trình phát triển lực lượng sản xuất.
Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế
phát triển hiện nay của thế giới
Phát huy những thành công của gần nửa
thế kỷ xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là
hơn 26 năm đổi mới, Đảng ta càng quyết
tâm đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển cả về
quy mô, tính chất và chiều sâu nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
coi đây là mô hình kinh tế tổng quát trong
suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam gắn chặt với việc bảo đảm các
vấn đề xã hội, trong mỗi bước đi Điều này
hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển
hiện nay của thế giới, khi quy mô và tốc độ
toàn cầu hóa kinh tế đang mở rộng và tăng
tốc không ngừng, khi kinh tế tri thức đang
phát triển mạnh mẽ và tạo nên những xung
lực mới, những cuộc bứt phá, đảo lộn với tốc
độ vô cùng lớn; khi nền văn minh chính trị
và tiến bộ thế giới không ngừng phát triển…
Và, chủ nghĩa xã hội hiện thực mang
bản sắc Việt Nam không ai có thể bác bỏ
được, là sự thể hiện sinh động tư tưởng C
Mác và Chủ tịch Hồ Chí Minh, về sự
phong phú của những con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội, trong thời đại ngày nay
Rõ ràng, những luận điểm của C Mác
về một nước Nga lạc hậu có thể “trở thành
điểm xuất phát trực tiếp” đi lên chủ nghĩa
xã hội mà “không phải trải qua chế độ tưbản chủ nghĩa” đã trở thành hiện thực ởViệt Nam, Trung Quốc, Cu-ba ngày nay.Sức sống tư tưởng của C.Mác về triển vọng
đa dạng hóa những phương thức, conđường đi lên chủ nghĩa xã hội là bất diệt.Càng tiếp tục đẩy tới công cuộc đổi mớixây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa hiện nay,chúng ta càng thấy con đường đi lên chủnghĩa xã hội ở nước ta được xác định rõhơn, càng như gặp gỡ, hội tụ về với cộinguồn tư tưởng C Mác và Chủ tịch Hồ ChíMinh ở một quy mô mới, tầm cao mới, vàvới một chiều sâu mới Nói như đồng chíHa- ri- san Xing Xơ- dít, Trưởng Đoàn đạibiểu Đảng Cộng sản Ấn Độ (mác-xít) tham
dự Đại hội IX của Đảng ta: “Đảng Cộngsản Việt Nam vẫn tập trung xây dựng chủnghĩa xã hội ở Việt Nam thông qua cảicách… Các đồng chí đã nghiêm túc nỗ lực
áp dụng học thuyết khoa học mác- xít nin- nít vào điều kiện cụ thể của Việt Namdưới tên gọi tư tưởng Hồ Chí Minh”, chủnghĩa xã hội trở thành hiện thực ngày càngsinh động, dân tộc Việt Nam đang tiếp tụcbước đi mạnh mẽ và vững chắc trên conđường xã hội chủ nghĩa, nhịp bước cùngthời đại.r
lê-Nguồn: Tạp chí Cộng sản.-2013.- Số 847.- Tr.23 - 28.
Trang 271 Đóng góp to lớn của V.I.Lênin đối với
phong trào cách mạng thế giới là đã bảo vệ,
bổ sung, phát triển sáng tạo học thuyết Mác
trong điều kiện lịch sử mới, biến lý luận
khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác
- Lênin thành hiện thực sinh động bằng
việc tổ chức, lãnh đạo thành công cuộc
cách mạng xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên
thế giới ở nước Nga Xôviết Từ thực tiễn
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga sau
Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, những
quan điểm của V.I.Lênin về chủ nghĩa xã
hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội là di sản
tư tưởng vô cùng quý báu làm cơ sở lý luận
và phương pháp luận cho các đảng cộng
sản và công nhân vận dụng, phát triển sáng
tạo vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội trong những điều kiện lịch sử mới ở
từng quốc gia, dân tộc
Từ những quan điểm mang tính phương
pháp luận của C.Mác và Ph.Ăngghen về
cách mạng xã hội chủ nghĩa, mà bước thứ
nhất “là giai cấp vô sản biến thành giai cấp
thống trị, là giành lấy dân chủ”(1), sau đó
bằng chính quyền mới tổ chức, quản lý một
cách hiệu quả “để tăng thật nhanh số lượngnhững lực lượng sản xuất”, đạt đến mụcđích cuối cùng là “thay cho xã hội tư sản
cũ, với những giai cấp và đối kháng giaicấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong
đó sự phát triển tự do của mỗi người là điềukiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọingười”(2); qua việc tổng kết thực tiễn cáchmạng thế giới, thực tiễn cách mạng Nga là
do tình hình thực tiễn mới đặt ra, V.I.Lênin
đã tiếp tục khái quát thành hàng loạt quanđiểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đilên chủ nghĩa xã hội
Theo V.I.Lênin, chế độ xã hội xã hội chủnghĩa là “một chế độ xã hội cao hơn chủnghĩa tư bản, nghĩa là nâng cao năng suấtlao động và do đó (và nhằm mục đích đó)phải tổ chức lao động theo một trình độ caohơn”(3)
Dự báo về xã hội xã hội chủ nghĩa, một
xã hội ưu việt, tiến bộ, khác hẳn bản chấtcủa xã hội tư bản, V.I.Lênin đã nêu lênhàng loạt quan điểm có giá trị lý luận vàphương pháp luận về con đường, phươngcách quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ thực
QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
VÀ Ý NGHĨA VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY
?PGS,TS NGUYỄN QUỐC PHẨM Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 28tiễn của từng quốc gia dân tộc cụ thể Cùng
việc khẳng định tính tất yếu đi lên chủ
nghĩa xã hội của các dân tộc - quốc gia
V.I.Lênin còn chỉ ra tính đặc thù (hay sự
khác nhau) của con đường, cách thức tiến
tới chủ nghĩa xã hội của từng nước: “Tất cả
các dân tộc đều sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội,
đó là điều không thể tránh khỏi, nhưng tất
cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội
không phải một cách hoàn toàn giống
nhau; mọi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của
mình vào hình thức này hay hình thức khác
của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại
khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ
này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã
hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau
của đời sống xã hội”(4)
V.I.Lênin luôn luôn gắn lý luận với thực
tiễn, khẳng định thực tiễn cụ thể, sinh động
và kinh nghiệm cách mạng của hàng triệu
con người sẽ chỉ ra con đường, phương
thức tiến lên chủ nghĩa xã hội Người chỉ
rõ: “Chúng ta không kỳ vọng rằng Mác hay
những người theo chủ nghĩa Mác đều hiểu
biết mọi mặt cụ thể của con đường tiến lên
chủ nghĩa xã hội Như thế sẽ là phi lý
Chúng ta chỉ biết phương hướng của con
đường đó và những lực lượng giai cấp nào
dẫn đến con đường đó; còn như về cụ thể
và trên thực tế con đường đó ra sao thì kinh
nghiệm của hàng triệu con người sẽ chỉ rõ,
khi họ bắt tay vào hành động”(5)
Việc vận dụng, phát triển lý luận Mác vềcách mạng không ngừng vào điều kiện cụthể của nước Nga, ở những thập kỷ đầu tiêncủa thế kỷ XX đã khẳng định vai trò to lớncủa V.I.Lênin trong thắng lợi vĩ đại củacuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đầu tiêntrên thế giới - Cách mạng Tháng MườiNga Sau cuộc cách mạng này, một chế độ
xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa ưuviệt, vì con người đã được tạo lập ở nướcNga Xôviết Cũng từ thành quả của cuộccách mạng này, một thời đại mới đã được
mở ra: Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bảnlên chủ nghĩa xã hội
Năm 1920, trong tác phẩm Bệnh ấu trĩ
“tả khuynh” trong phong trào cộng sản,
được V.I.Lênin viết và phát cho tất cả cácđại biểu dự Đại hội II của Quốc tế Cộngsản, Người đã tiếp tục chỉ ra những quanđiểm có giá trị phương pháp luận, địnhhướng cho con đường cách mạng xã hộichủ nghĩa ở các nước khác nhau V.I.Lênin
đã chỉ ra nhiệm vụ hết sức quan trọng củanhững người cộng sản là “phải biết áp dụngnhững nguyên tắc phổ biến và cơ bản của
chủ nghĩa cộng sản vào đặc điểm của
những mối quan hệ giữa các giai cấp và các
đảng, vào đặc điểm của sự phát triển khách
quan hướng tới chủ nghĩa cộng sản, nhữngđặc điểm riêng của mỗi nước, mà chúng taphải biết nghiên cứu, phát hiện và dựđoán”(6)
Trang 29Lý luận của V.I.Lênin và thực tiễn xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga và Liên
Xô sau thắng lợi của Cách mạng Tháng
Mười đã thể hiện sự sáng tạo của V.I.Lênin
về vận dụng những nguyên tắc, những giá
trị phổ biến cơ bản của chủ nghĩa xã hội
vào những đặc điểm riêng của mỗi nước
Đó cũng chính là đòi hỏi đối với các đảng
cộng sản và công nhân phải có những đóng
góp sáng tạo vào lý luận về chủ nghĩa xã
hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
trong điều kiện cụ thể của từng quốc gia,
dân tộc
2 Từ năm 1991, nhân cơ hội chế độ xã
hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp
đổ, những thế lực thù địch chống đối chủ
nghĩa xã hội đã tìm mọi thủ đoạn xuyên
tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin nói
chung, phủ nhận chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội nói riêng
Luận điệu quen thuộc của những thế lực
này là đã đồng nhất mô hình chủ nghĩa xã
hội hiện thực kiểu xô viết với lý luận Mác
- Lênin về chủ nghĩa xã hội, phủ nhận bản
chất khoa học và cách mạng của toàn bộ
học thuyết Mác - Lênin nói chung, những
quan điểm của V.I.Lê nin về chủ nghĩa xã
hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
nói riêng Họ cho rằng chủ nghĩa xã hội sụp
đổ ngay trên quê hương của V.I.Lênin là
bằng chứng cho sự lỗi thời của tư tưởng, lý
luận của V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội (!)
Thực tiễn lịch sử vốn khách quan, sòngphẳng! Mặc cho những kẻ chống đối ra sứcphủ nhận, một số nước vẫn kiên định mụctiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa (trong đó cóViệt Nam) đã tiến hành cải cách, đổi mới,vận dụng, phát triển sáng tạo những quanđiểm của V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội và
đã giành được những thành tựu to lớn, có
ý nghĩa lịch sử, chứng minh cho sức sốngcủa chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xãhội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.Tổng kết quá trình cách mạng Việt Nam
từ năm 1930 cho đến nay, Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm
2011), đã chỉ ra 5 bài học kinh nghiệm lớn,
trong đó bài học đầu tiên là “Nắm vững
ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay vàcác thế hệ mai sau Độc lập dân tộc là điềukiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xãhội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảmvững chắc cho độc lập dân tộc Xây dựngchủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hộichủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược cóquan hệ chặt chẽ với nhau”(7)
Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắnliền với chủ nghĩa xã hội đòi hỏi trước hếtphải kiên định với nền tảng tư tưởng, lýluận của Đảng, đó là chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (đã được
Trang 30Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định trong
các văn kiện Đảng) từ năm 1991 đến nay
Điều này có ý nghĩa quyết định sự thành
công của sự nghiệp đổi mới đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa
Những sai lầm, khuyết điểm trong tư
duy, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
thời kỳ được đổi mới, những thành tựu to
lớn có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi
mới mà Đảng và nhân dân Việt Nam đã
giành được từ năm 1986 đến nay đã chứng
minh những quan điểm có giá trị phương
pháp luận của V.I.Lênin về việc áp dụng
những nguyên lý phổ biến và cơ bản của
chủ nghĩa xã hội vào đặc điểm riêng của
mỗi nước để bổ sung, phát triển nhận thức,
lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội cho phù hợp
Thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam trong những năm qua đã và đang
chứng minh một chân lý: Đổi mới không
phải là từ bỏ hoặc xa rời những nguyên lý
của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung,
những quan điểm của V.I.Lênin về chủ
nghĩa xã hội nói riêng Đổi mới đòi hỏi
trước hết ở nhận thức đúng giá trị của
những quan điểm có ý nghĩa phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội Từ đó, thường xuyên tổng kết thực
tiễn làm phong phú, đa dạng mô hình củachủ nghĩa xã hội và phương thức, conđường quá độ lên chủ nghĩa xã hội cho phùhợp với điều kiện, đặc điểm, những yêucầu, đòi hỏi từ mỗi quốc gia, dân tộc
Sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hộihiện thực trên thế giới trong thời gian qua
là hệ quả của việc áp dụng máy móc, giáo
điều một mô hình chủ nghĩa xã hội không
phù hợp với thực tiễn, nhất quyết không
phải là sự lỗi thời của lý luận Mác - Lênin
về chủ nghĩa xã hội Bản chất khoa học vàcách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin đòihỏi sự vận dụng sáng tạo, phát triển sángtạo những nguyên lý về chủ nghĩa xã hộitrong bối cảnh, điều kiện mới của đời sốngchính trị - xã hội quốc tế cũng như những đặcđiểm, điều kiện của từng quốc gia, dân tộc.Quan điểm lịch sử - cụ thể và phát triển
là những đòi hỏi mang tính nguyên tắc củathế giới quan, phương pháp luận mácxít vềchủ nghĩa xã hội và về con đường đi lênchủ nghĩa xã hội Từ bỏ hoặc xa rời thế giớiquan và phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng, duy vật lịch sử về chủnghĩa xã hội là từ bỏ hoặc xa rời nền tảng
tư tưởng lý luận của chủ nghĩa xã hội vàxây dựng chủ nghĩa xã hội
Những thành tựu đạt được của Việt Namtrong những năm đổi mới trên các phươngdiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đốinội, đối ngoại đã chứng minh sức sống của
Trang 31những nguyên lý của chủ nghĩa Mác
-Lênin về chủ nghĩa xã hội, về sự đa dạng
của con đường, phương thức quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, từng bước được vận dụng
và phát triển sáng tạo vào điều kiện cụ thể
của Việt Nam
Thành tựu đạt được trong thực tiễn xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ năm
1986 đến nay là kết quả của một quá trình
đổi mới nhận thức, lý luận về chủ nghĩa xã
hội và về con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội, đặc biệt là từ khi Đảng Cộng sản Việt
Nam ban hành, thực hiện Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (năm 1991).
Trong Cương lĩnh này, lần đầu tiên trong
Văn kiện Đại hội VII của Đảng Cộng sản
Việt Nam đã chỉ rõ 6 đặc trưng cơ bản của
xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và 7
phương hướng cơ bản cần thực hiện để quá
độ lên chủ nghĩa xã hội
Trải qua các nhiệm kỳ đại hội tiếp theo,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp tục bổ
sung, hoàn thiện từng bước nhận thức, lý
luận nhằm làm rõ hơn mô hình và phương
thức, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
thông qua đã xác định 8 đặc trưng của xã
hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt
Nam đang xây dựng là: “Dân giàu, nướcmạnh, dân chủ công bằng, văn minh; donhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triểncao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại vàquan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nềnvăn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc,con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnhphúc, có điều kiện phát triển toàn diện; cácdân tộc trong cộng đồng Việt Nam bìnhđẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhaucùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhândân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnhđạo có quan hệ hữu nghị và hợp tác với cácnước trên thế giới”(8)
Để từng bước hiện thực hiện hóa những
đặc trưng vừa nêu, Cương lĩnh (bổ sung,
phát triển năm 2011) đồng thời đã chỉ rõcần quán triệt và thực hiện tốt 8 phươnghướng cơ bản sau:
“Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tếtri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường
Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa
Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng conngười, nâng cao đời sống nhân dân, thựchiện tiến bộ và công bằng xã hội
Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng
và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội
Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại
Trang 32độc lập tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác
và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập
quốc tế
Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc
tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc
thống nhất
Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân
Tám là, xây dựng Đảng trong sạch,
vững mạnh”(9)
Từ thực tiễn công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa, trong Cương lĩnh (bổ sung, phát
triển năm 2011), Đảng Cộng sản Việt Nam
đã có những đóng góp mới về lý luận: chỉ
ra 8 mối quan hệ lớn cần nắm vững và giải
quyết tốt trong quá trình thực hiện các
phương hướng cơ bản để quá độ lên chủ
nghĩa xã hội: “Quan hệ giữa đổi mới, ổn
định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và
đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường
và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát
triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn
thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát
triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa;
giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế;
giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
nhân dân làm chủ”(10)
Giải quyết những mối quan hệ lớn vừanêu cũng chính là giải đáp những vấn đềthực tiễn đặt ra từ phương thức, giải phápquá độ lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiệncủa Việt Nam hiện nay
Chỉ dựa trên nền tảng tư tưởng là chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh, lý luận về chủ nghĩa xã hội và conđường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nammới có những nhận thức đúng đắn nhữngvận dụng và phát triển sáng tạo để từngbước hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hộiViệt Nam.r
Trang 33Trong di sản tư tưởng đồ sộ mà Hồ
Chí Minh để lại, tư tưởng chính trịđặc sắc và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt,
bao trùm là tư tưởng về độc lập dân tộc
gắn liền với CNXH Tư tưởng ấy thể hiện
mục tiêu nhất quán của con đường cách
mạng mà Người đã lựa chọn; đồng thời,
đáp ứng được yêu cầu bức xúc của dân tộc
và khát vọng của quần chúng nhân dân là
giành lấy độc lập, tự do, ấm no và hạnh
phúc, giải phóng khỏi ách thống trị tàn bạo
của chủ nghĩa thực dân, đế quốc và bè lũ
tay sai Ngọn cờ tư tưởng ấy đã đưa dân tộc
ta trải qua một quá trình đấu tranh gian
khổ, hy sinh để đi đến độc lập, tự do, thống
nhất đất nước Đó luôn là nguồn sức mạnh
của dân tộc ta trong sự nghiệp xây dựng
một xã hội Việt Nam mới xã hội chủ nghĩa:
dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh
1 Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
- con đường tất yếu của cách mạng Việt
Nam trong thời đại mới
Năm 1911, sau nhiều trăn trở, suy nghĩ,
người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã
quyết định ra đi tìm đường cứu nước Bằngcon đường lao động, vô sản hóa, Người đãlàm đủ mọi nghề, đi qua nhiều miền đấtkhác nhau, tham gia cuộc đấu tranh củacông nhân, thợ thuyền ở ngay sào huyệtcủa chủ nghĩa tư bản Nguyễn Tất Thành
có điều kiện quan sát trực tiếp tình cảnhsống cực khổ của những người lao độngdưới ách áp bức, bóc lột tàn bạo của tư bản
ở chính quốc, cũng như đối với các dân tộcthuộc địa và phụ thuộc Thực tiễn này đãgiúp Người nhận rõ bản chất của chủ nghĩa
tư bản và thực dân, hình thành ở Ngườitình hữu ái giai cấp đối với những ngườicùng khổ Cũng chính thực tiễn này là mộtbằng chứng hùng hồn để xác minh một sựthật mà Nguời đã từng hoài nghi về chủnghĩa tư bản, về những mỹ từ đẹp đẽ “Tự
do - Bình đẳng - Bác ái” do giai cấp tư sảnđưa ra Gần mười năm đầu trên con đườngtìm chân lý tại chính quê hương của chủnghĩa tư bản đã đem lại cho Người nhữngnhận thức mới về bản chất của chủ nghĩa
tư bản, ảnh hưởng sâu sắc đến sự hìnhthành tư tưởng, quan điểm, đường lối đấu
“ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CNXH” - SỢI CHỈ ĐỎ XUYÊN SUỐT TRONG TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VÀ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
PGS,TS TRẦN ĐÌNH THẢO - THS NGÔ MINH THUẬN
Học viện Chính sách và Phát triển
Trang 34tranh của Người Đó là, ở đâu có chủ nghĩa
tư bản là ở đó có áp bức bóc lột; ở đâu có
chủ nghĩa tư bản là ở đó có những người
lao động nghèo khổ, bần cùng, là bạn bè,
anh em, đồng chí của nhau Họ phải được
tập hợp lại, “đem sức ta mà giải phóng cho
ta”, chủ động đấu tranh chống lại giai cấp
tư sản bóc lột
Bước ngoặt lớn trong sự hình thành và
phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là khi
Người giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin và
lựa chọn con đường cách mạng vô sản
Bằng một nhãn quan chính trị sáng suốt,
Người sớm nhận thức rằng chỉ có cuộc
cách mạng này mới giải phóng được giai
cấp vô sản, giải phóng các dân tộc bị áp
bức khỏi ách thống trị của đế quốc, thực
dân, mới thực hiện được mục tiêu độc lập,
tự do, hoà bình và hạnh phúc cho các dân
tộc Đến khi được tiếp xúc với Bản luận
cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của
V.I.Lênin (7.1920), Nguyễn Ái Quốc đã
sung sướng nói to lên: “Hỡi đồng bào bị
đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho
chúng ta, đây là con đường giải phóng
chúng ta!”(l) Đi từ lòng yêu nước, thương
dân đến với chủ nghĩa Lênin và cách mạng
tháng Mười Nga, Người đã tìm thấy ở đó
con đường cứu nước và giải phóng nhân
dân lao động: “Muốn cứu nước và giải
phóng dân tộc không có con đường nào
khác con đường cách mạng vô sản”(2) Đó
là sự lựa chọn đúng đắn, thể hiện một tầm
nhìn sáng suốt của Hồ Chí Minh Lựa chọncon đường cách mạng vô sản là sự thốngnhất giữa điều kiện khách quan với nhậnthức và hoạt động chủ quan của Người Đó
là sự gặp gỡ của thời đại và Hồ Chí Minh;đồng thời, cũng là đóng góp to lớn nhất củaNgười với thời đại, đặc biệt là đối với cácnước thuộc địa và phụ thuộc Hồ Chí Minh
đã nhận thức sâu sắc rằng, trước hết phảilàm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc,giành lấy độc lập tự do cho dân tộc; sau đó,tiến lên theo con đường cách mạng vô sản
và đi đến mục tiêu cao cả nhất của chủnghĩa cộng sản là giải phóng con người Đó
là con đường tất yếu mà các dân tộc thuộcđịa phải lựa chọn
Xuất phát từ lý luận cách mạng, khoahọc của học thuyết Mác - Lênin, kết hợpvới thực tiễn cách mạng trên thế giới và ởViệt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX,
Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng chủnghĩa Mác - Lênin vào điều kiện lịch sử cụthể của cách mạng Việt Nam và đi đến
nhận định: Tiến lên CNXH là bước phát
triển tất yếu của cách mạng Việt Nam Tư
tưởng ấy đã được trình bày trong Cươnglĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sảnViệt Nam (2.1930) do Hồ Chí Minh soạnthảo, chủ trương “làm tư sản dân quyềncách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới
xã hội cộng sản”(3) Cương lĩnh đã khẳngđịnh, sau khi hoàn thành cách mạng dân tộcdân chủ nhân dân, nước ta sẽ tiến lên
Trang 35CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Có
thể nói, ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta
dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh đã xác
định mục tiêu, đường lối giương cao ngọn
cờ độc lập dân tộc và CNXH Mục tiêu đó
đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử
cách mạng Việt Nam Quán triệt mục tiêu
độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, Đảng
ta đã xây dựng được những chiến lược và
sách lược đúng đắn của cách mạng Việt
Nam, lãnh đạo cách mạng lập được những
kỳ tích vĩ đại, giải phóng dân tộc và thống
nhất đất nước
Trong quá trình sáng lập và lãnh đạo
Đảng Cộng sản Việt Nam, mặc dù phải trải
qua rất nhiều khó khăn và thử thách, nhưng
Người vẫn kiên định mục tiêu và con
đường đã lựa chọn Trước tình hình cách
mạng thế giới có nhiều chuyển biến to lớn,
tại Hội nghị Trung ương lần thứ VIII của
Đảng (5.1941), Hồ Chí Minh khẳng định
mục tiêu của cách mạng Việt Nam là giải
phóng dân tộc nhằm đem lại độc lập cho
dân tộc và tự do, dân chủ cho nhân dân lao
động: “Trong lúc này, nếu không giải quyết
được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi
lại được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc,
thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc
còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi
của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng
không đòi lại được”(4) Chính tư tưởng
định hướng của Hội nghị Trung ương VIII
(5.1941) đã mở đường cho cuộc Tổng khởi
nghĩa tháng Tám năm 1945 đi đến thắnglợi Đến năm 1967, Người tiếp tục khẳngđịnh và tin tưởng rằng, “trong thời đại ngàynay cách mạng giải phóng dân tộc là một
bộ phận khăng khít của cách mạng vô sảnthế giới, cách mạng giải phóng dân tộc phảiphát triển thành cách mạng xã hội chủnghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàntoàn”(5)
Có thể nói, tư tưởng độc lập dân tộc của
Hồ Chí Minh có nội dung rất hoàn chỉnh
và sâu sắc Đó là sự thể hiện tập trung nhấtcủa chủ nghĩa yêu nước và ý chí quậtcường của dân tộc Việt Nam; là mục tiêucao cả và nguyện vọng cháy bỏng của dântộc Việt Nam sau 80 năm mất nước Trongnhững thời khắc quan trọng của cáchmạng, Hồ Chí Minh đã có những câu nóibất hủ, nêu cao ý chí đấu tranh bất khuấtcủa nhân dân ta cho độc lập, tự do Tháng7.1945, trước tình thế cách mạng cấp báchlúc đó, Người khẳng định: Dù có phải đốtcháy cả dãy Trường Sơn, chúng ta cũngphải quyết giành cho được độc lập Trong
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
(12.1946), Hồ Chí Minh viết: “Chúng tathà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịumất nước nhất định không chịu làm nôlệ”(6), “Không có gì quý hơn độc lập tựdo"(7), Độc lập dân tộc phải gắn liền với
thống nhất đất nước Trong “Thư gửi đồng
bào Nam bộ”, Người nhấn mạnh: “Nước ta
là một, dân tộc ta là một Sông có thể cạn,
Trang 36núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao
giờ thay đổi”(8) Hồ Chí Minh cho rằng,
độc lập dân tộc không chỉ đơn thuần là
giành lại chủ quyền quốc gia, mà bước tiếp
theo là chính quyền mới phải thuộc về nhân
dân và do nhân dân làm chủ; cán bộ nhà
nước chỉ là công bộc của nhân dân: “Nếu
chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi
chính phủ”(9) Xét đến cùng, độc lập dân
tộc phải gắn liền với tự do, hạnh phúc của
nhân dân, nghĩa là phải gắn với CNXH
Theo quan niệm của Hồ Chí Minh,
CNXH là một chế độ xã hội do nhân dân
lao động làm chủ, mọi quyền lực đều thuộc
về nhân dân, địa vị cao nhất là dân Dân có
quyền, đồng thời có trách nhiệm và nghĩa
vụ của người làm chủ CNXH tạo mọi điều
kiện cho kinh tế phát triển cao bằng cách
xóa bỏ dần bóc lột, trên cơ sở phát triển
khoa học và công nghệ, làm cho nhân dân
thoát khỏi bần cùng, ai cũng có công ăn
việc làm, được sống một cuộc đời ấm no,
hạnh phúc CNXH phấn đấu cho một xã
hội phát triển cao về văn hoá - đạo đức, tạo
ra mối quan hệ xã hội tốt đẹp giữa người
với người, giữa cộng đồng các dân tộc, tạo
điều kiện cho mỗi người phát triển mọi
năng lực sẵn có CNXH là một xã hội dân
chủ, công bằng, ai cũng phải lao động và
có quyền lao động, làm tốt hưởng nhiều,
không làm không hưởng, người già và trẻ
em được chăm sóc, miền núi được giúp đỡ
để tiến kịp miền xuôi
Như vậy, với Hồ Chí Minh, cách mạng
không dừng lại ở việc thực hiện mục tiêuđộc lập dân tộc, mà sau khi giành được độclập phải thực hiện tiếp các mục tiêu giảiphóng giai cấp, giải phóng con người triệt
để Với tinh thần đó, Người chủ trương vậnđộng toàn Đảng, toàn dân tiếp tục tiến hànhcách mạng xã hội chủ nghĩa để tiến tới độclập, tự chủ hoàn toàn Người nói: “Yêu Tổquốc, yêu nhân dân phải gắn với yêuCNXH, vì có tiến lên CNXH thì nhân dânmình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốcmỗi ngày một giàu mạnh thêm”(l0) Nóicách khác, giải phóng dân tộc là một vòngkhâu tất yếu của cách mạng vô sản ở ViệtNam, là bước tất yếu để thực hiện CNXH
và chủ nghĩa cộng sản Chính hiện thựckhách quan đã quy định con đường cáchmạng Việt Nam phải đi theo con đườngcách mạng vô sản thế giới; tức độc lập dântộc phải gắn liền với CNXH
2 Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
là đặc trưng xuyên suốt của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới
Trước hết, Hồ Chí Minh nhận định độc
lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp và trên hết,
là cơ sở và tiền đề để tiến lên CNXH.Người chỉ ra rằng, độc lập dân tộc là cơ sở
để thực hiện quyền tự quyết dân tộc Trongnền độc lập dân tộc ấy, mọi người phảiđược hưởng quyền tự do và mưu cầu hạnhphúc Người đã viết trên Báo Cứu quốc (số
69, ngày 17.l0.1945) rằng, “nếu nước độclập mà dân không được hưởng hạnh phúc
tự do, thì độc lập ấy cũng chẳng có nghĩa
Trang 37lý gì”(11); tức độc lập dân tộc phải là nền
độc lập thực sự nhằm đem lại quyền tự
quyết cho dân tộc, đem lại ruộng đất cho
nhân dân lao động; đem lại nhà máy, xí
nghiệp cho công nhân; tài nguyên khoáng
sản cho quốc gia dân tộc Những luận giải
cô đọng, hàm súc của Hồ Chí Minh cho
thấy, độc lập dân tộc là tiền đề, là điều kiện
dân tộc Đó cũng là thước đo dân chủ và tự
do của phát triển xã hội, một xã hội văn
minh, hiện đại mà lịch sử tìm thấy sự biểu
hiện tốt nhất ở CNXH Năm 1960, trong
bài “Con đường dẫn tôi đến với chủ nghĩa
Lênin”, Người viết: “Chỉ có CNXH, chủ
nghĩa cộng sản mới giải phóng được các
dân tộc bị áp bức và những người lao động
trên thế giới khỏi ách nô lệ”(12) Trong Di
chúc (1969), Hồ Chí Minh tiếp tục thể hiện
sự tin tưởng tuyệt đối vào thành công của
cách mạng, đất nước sẽ thống nhất và tiến
lên CNXH: Dù khó khăn gian khổ đến mấy,
nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng
lợi Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi
nước ta Tổ quốc ta nhất định sẽ thống
nhất Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum
họp một nhà CNXH cũng chính là cách
thức tổ chức xã hội tốt nhất để làm cho Tổ
quốc, quốc gia - dân tộc trường tồn, con
người cá nhân và cộng đồng xã hội được
phát triển tự do, toàn diện, mọi khả năngsáng tạo, được thụ hưởng hạnh phúc vậtchất, tinh thần trong một môi trường lànhmạnh, tốt đẹp
Như vậy, tư tưởng về độc lập dân tộccủa Hồ Chí Minh vừa phản ánh đúng quyluật khách quan của sự nghiệp giải phóngdân tộc, vừa phản ánh mối quan hệ khăngkhít giữa mục tiêu giải phóng giai cấp vàgiải phóng con người
Thứ hai, CNXH là con đường củng cố
vững chắc độc lập dân tộc, giải phóng dântộc một cách hoàn toàn và triệt để
Trong hành trình đi tìm con đường cứunước và giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh
đã trực tiếp khảo sát nhiều mô hình cáchmạng trên thế giới và rút ra kết luận: “Cáchmạng tháng Mười đã mở đường giải phóngcho các dân tộc và cả loài người, mở đầumột thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá
độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên toànthế giới”(13) CNXH là thành quả tất yếutrong công cuộc đấu tranh cách mạng giankhổ, lâu dài của quần chúng nhân dân laođộng Bởi vậy, Người quan niệm CNXHphải là một xã hội tốt đẹp và văn minh, tứckhông còn tình trạng người bóc lột người,giai cấp này đi bóc lột giai cấp khác Người
viết: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc,
CNXH trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”(14) Để có được
một xã hội tốt đẹp như vậy, Người đã xác
Trang 38nhân dân lao động làm chủ; Nhà nước là
của dân, do dân và vì dân Chế độ tư hữu
sẽ bị thay thế bằng chế độ công hữu về tư
liệu sản xuất, mọi người đều có khả năng
làm giàu bằng chính sức lao động của
mình Xã hội phải được xây dựng trên
nguyên tắc công bằng hợp lý, không còn
tình trạng người bóc lột người Đó phải là
một xã hội có sự phát triển về đời sống văn
minh và quan hệ xã hội lành mạnh, đoàn kết
giữa các dân tộc trong nước và trên thế giới
Như vậy, Hồ Chí Minh đã gắn độc lập
dân tộc với CNXH, mong muốn xóa bỏ
mọi áp bức, bất công trong xã hội nhằm
đem lại tự do, hạnh phúc thực sự cho nhân
dân lao động Theo Người, công cuộc xây
dựng CNXH là nhiệm vụ rất to lớn và vẻ
vang, nhưng cũng rất khó khăn, gian khổ,
lâu dài - đó là một cuộc chiến đấu khổng
lồ của toàn Đảng, toàn dân Việt Nam Nhân
dân ta chưa có kinh nghiệm xây dựng cơ
sở vật chất và nền tảng chính trị của
CNXH, vừa phải làm vừa phải học hỏi Vì
vậy, có thể có vấp váp và những thiếu sót
không tránh khỏi Hơn nữa, các thế lực
phản động trong và ngoài nước luôn tìm
cách chống phá thành quả cách mạng của
Đảng và nhân dân ta Để hiện thực hóa
thành công các mục tiêu trên, Hồ Chí Minh
đã kêu gọi và động viên toàn thể cán bộ,đảng viên và nhân dân cần phải kiên trì,bền bỉ, đoàn kết và không ngừng phấn đấucho mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH
3 Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
Thực hiện lời di chúc và mong muốncủa Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựngmột nước Việt Nam hòa bình, thống nhất,độc lập và góp phần xứng đáng vào cáchmạng thế giới, Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IV (1976) của Đảng Cộng sản ViệtNam đã nêu lên một nhận định mang tính
tổng kết: Trong quá trình lãnh đạo cách
mạng, khi cả nước làm một nhiệm vụ chiến lược, Đảng ta từ khi ra đời đến nay vẫn luôn luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH Đó là đường lối, là sức
mạnh, là nguồn gốc mọi thắng lợi của cáchmạng Việt Nam Đại hội V (1982) củaĐảng đã xác định rõ trong giai đoạn mới,cách mạng nước ta có hai nhiệm vụ chiến
lược: Xây dựng thành công CNXH và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ mậtthiết và tác động lẫn nhau; trong đó, nhiệm
vụ xây dựng CNXH được đặt lên hàng đầunhưng không bao giờ được lơi lỏng nhiệm
vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.Tiếp tục tinh thần đổi mới mà Đại hội VIđem lại, đến Đại hội VII (1991), mặc dùtình hình thực tiễn trên thế giới và trongnước có nhiều biến động, nhưng Đảng vẫn
Trang 39kiên định con đường đưa đất nước lên
CNXH Đảng ta đã chủ động tiến hành
tổng kết tình hình thực tiễn ở Việt Nam và
trên thế giới, đồng thời đưa ra 6 bài học
kinh nghiệm quan trọng, trong đó có bài
học kinh nghiệm quan trọng hàng đầu là:
Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và
CNXH trong quá trình đổi mới, nắm vững
hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh Từ đó, Đại hội
VII đưa ra các đặc trưng cơ bản mang tính
bản chất của CNXH ở Việt Nam, khẳng
định những thành quả to lớn mà nhân dân
ta đạt được Một trong những thành tựu to
lớn về lý luận của Đại hội VII là Đảng đã
phát huy trí tuệ tập thể để đưa ra Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên CNXH (Cương lĩnh năm 1991),
khẳng định quyết tâm của Đảng và nhân
dân ta kiên định con đường độc lập dân tộc
và CNXH
Tại Đại hội VIII (1996), Đảng ta đã có
sự tổng kết, đánh giá khách quan về những
thành tựu và hạn chế qua 10 năm đổi mới,
khẳng định con đường đi lên CNXH ở nước
ta ngày càng được xác định rõ hơn Tiếp
đến Đại hội IX (2001), trên cơ sở tổng kết
bài học kinh nghiệm 15 năm đổi mới, Đảng
tiếp tục khẳng định: Đảng và nhân dân ta
quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam
theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền
tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh Đại hội đã làm rõ con đường đi
lên của Đảng và dân tộc ta “… là sự pháttriển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tưbản chủ nghĩa, tức bỏ qua việc xác lập vịtrí thống trị của quan hệ sản xuất và kiếntrúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưngtiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhânloại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủnghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ,
để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xâydựng nền kinh tế hiện đại”(15) Đây chính
là bước phát triển về chất trong nhận thứccủa Đảng đối với con đường đi lên CNXH
ở Việt Nam, qua đó làm rõ vấn đề bỏ quachủ nghĩa tư bản để đi lên CNXH tronggiai đoạn đổi mới hiện nay Tiếp đến Đạihội X, Đảng tiếp tục khẳng định con đường
đi lên CNXH ở nước ta là hoàn toàn phùhợp với quy luật khách quan và tình hìnhthực tiễn của cách mạng Việt Nam tronggiai đoạn mới; đồng thời, Đảng tiến hànhtổng kết và rút ra 5 bài học kinh nghiệm cógiá trị, soi sáng con đường đi lên CNXH ởnước ta
Tại Đại hội XI (2011), giữ vững và pháthuy những thành quả đạt được qua hơn 25năm đổi mới, Đảng tiếp tục khẳng định
nhất quán “trước, sau như một” về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam: “Trong
bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH”(16) Đại hội đã thông qua
Trang 40Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung và phát triển
năm 2011) Những thành tựu to lớn của
nhân dân ta trong 25 năm qua đã chứng tỏ
sự đúng đắn và ý nghĩa quan trọng của
Cương lĩnh năm 1991 Tuy nhiên, tình hình
thế giới và trong nước đã có nhiều biến đổi
to lớn và sâu sắc từ khi Cương lĩnh năm
1991 ra đời; có nhiều vấn đề mới về lý luận
nảy sinh, nhiều vấn đề liên quan đến
Cương lĩnh đã có sự nhận thức mới Từ
thực tiễn phong phú của cách mạng Việt
Nam, Đảng ta đã rút ra những bài học kinh
nghiệm lớn, trong đó bài học “nắm vững
ngọn cờ độc lập dân độc và CNXH”(17) là
nền tảng Quan niệm về độc lập dân tộc và
CNXH có sự gắn bó thống nhất và quan hệ
biện chứng với nhau Đó là hai giai đoạn
kế tiếp nhau của một quá trình cách mạng,
nhưng không phải tách rời nhau, mà giai
đoạn trước là sự chuẩn bị điều kiện cho giai
đoạn sau, và giai đoạn sau là sự kế tục và
hoàn thiện các mục tiêu của giai đoạn trước
“Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để
thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở bảo
đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”(18)
Tóm lại “độc lập dân tộc gắn liền với
CNXH” là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong di
sản tư tưởng Hồ Chí Minh và trong đường
lối chiến lược cách mạng của Đảng Cộng
sản Việt Nam Quan điểm trên của Chủ tịch
Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt
Nam từng bước được khẳng định và thực
hiện qua các chặng đường phát triển của
dân tộc Quán triệt tư tưởng độc lập dân tộcgắn liền với CNXH, chúng ta càng phảinhận thức thật sâu sắc và đầy đủ hơn về sựgắn bó chặt chẽ giữa hai nhiệm vụ chiếnlược là xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa Đảng ta khẳng định,trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xâydựng đất nước, nhân dân ta luôn nâng caocảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ anninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ
2011, tr.21, 65, 65.
Nguồn: Tạp chí Lý luận chính trị & Truyền thông.- 2012.- Số 8.- Tr.3 - 8.