Trong thực tế nước ta, đa số các đạo luật đều do Chính phủ soạn thảo, một số ít được thực hiện bởi các chủ thể khác như Hội Luật gia, Hội Liên hiệp phụ nữ, Mặt Trận tổ quốc… Như vậy, chủ
Trang 1ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH TẾ, LUẬT VÀ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC
KHOA LUẬT
- -
Chuyên ngành: Luật kinh doanh quốc tế
Môn Luật hiến pháp
Chủ đề 5:
Cơ quan thực hiện quyền lập pháp
Mã lớp học phần: 21C1LAW51106103
Lớp: LQ001
Khóa: K47
Giảng viên: Cô Lê Na
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 5
Trương Quang Duy MSSV: 31211027368
Lê Trúc Hà MSSV: 31211027373
Hồ Thùy Trang MSSV: 31211027407
Trang 2CƠ QUAN THỰC HIỆN QUYỀN LẬP PHÁP
Khái quát
● Lập pháp là gì?
Theo Từ điển luật học Black’s law Dictionary của Henry Campbell Black, M.A: lập pháp (Legislative activity, Law-making) là làm luật hoặc sửa đổi luật; thuộc về chức năng làm luật hoặc quy định xem xét, thông qua luật; là hành vi đặt ra luật
và văn bản pháp quy có tính bắt buộc chung, loại trừ các quyết định hành chính
và điều hành.
Lập pháp, theo nghĩa rộng là vừa làm vừa sửa đổi Hiến pháp, vừa làm luật, vừa sửa đổi luật Còn xét trong khuôn khổ, phạm vi của ngành luật Hiến pháp, tức hiểu theo nghĩa hẹp thì quyền lập pháp chỉ bao gồm “làm luật và sửa đổi luật”, còn hiến pháp và sửa đổi hiến pháp thuộc quyền lập hiến
● Quyền lập pháp là gì?
Quyền lập pháp là hoạt động mà thông qua đó quyền lực nhà nước được thực hiện, quyền lập pháp mang tính sáng tạo và đồng thời các quy tắc xử sự chung trong xã hội được Nhà nước thừa nhận, trở thành pháp luật có tính bắt buộc thực hiện
● Quyền lập pháp có giống quyền soạn thảo luật hay không?
Khái niệm quyền lập pháp (quyền làm luật) cần được phân biệt với khái niệm quyền soạn thảo luật Pháp luật cho phép một đạo luật có thể được rất nhiều chủ thể khác nhau soạn thảo và trình lên Quốc hội Trong thực tế nước ta, đa số các đạo luật đều do Chính phủ soạn thảo, một số ít được thực hiện bởi các chủ thể khác như Hội Luật gia, Hội Liên hiệp phụ nữ, Mặt Trận tổ quốc… Như vậy, chủ thể
có quyền lập pháp không nhất thiết là chủ thể soạn thảo luật Nội dung cốt lõi của quyền lập pháp chính là quyền đồng ý hoặc không đồng ý thông qua một chính sách hoặc một dự luật nào đó
● Cơ quan lập pháp là gì?
Là cơ quan thực hiện chức năng lập pháp của một quốc gia, làm luật và sửa đổi luật Điều 83 của Hiến pháp năm 1992 quy định: Quốc Hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp
I) Chức năng và thẩm quyền của cơ quan thực hiện quyền lập pháp
Khái quát
Cơ quan lập pháp ở các nước, theo quy định của hiến pháp, thường có tên gọi khác nhau như nghị viện, quốc hội, viện dân biểu, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc
Trang 3Chức năng của nghị viện ở một nước phụ thuộc vào hình thức Nhà nước của nước
đó Dựa vào phạm vi chức năng, thẩm quyền nghị viện mà phân loại nghị viện thành 3 nhóm:
● Nhóm nghị viện với thẩm quyền
không hạn chế: nghị viện ở những
nước có Hiến pháp tuyên bố về tính
tối cao của nó, có quyền thông qua
các luật về tất cả vấn đề Ví dụ điển
hình là Nghị viện Anh và phần lớn
quốc hội các nước xã hội chủ nghĩa trước đây
● Nhóm nghị viện có thẩm quyền bị
giới hạn tuyệt đối Ví dụ: Ở Pháp,
Hiến pháp quy định rõ những vấn đề
mà Nghị viện có thể ban hành luật
còn các vấn đề khác thuộc thẩm
quyền Chính phủ
● Nhóm nghị viện có thẩm quyền bị
giới hạn tương đối Chủ yếu có ở các
nước theo chế độ liên bang và các
Nhà nước đơn nhất phi tập trung Điển hình là hiến pháp của Mỹ
Trang 4Các chức năng và thẩm quyền của Nghị viện
- Chức năng đại diện
- Chức năng lập pháp
- Chức năng giám sát
- Chức năng về tài chính – ngân sách
- Một số thẩm quyền khác
1 Chức năng
1.1 Chức năng đại diện
Là các hoạt động làm cho tiếng nói, ý kiến, quan điểm của người dân được “hiện diện” trong quy trình hoạch định các chính sách của quốc gia
Trên cương vị nghị sỹ, đại diện là việc phản ánh hay truyền đạt quan điểm, mong muốn của cử tri và thể hiện chúng ở cơ quan lập pháp, xác định những gì mang lại lợi ích tốt nhất cho cử tri và quốc gia
Nhân dân bầu ra những người đại diện cho mình và uỷ quyền cho họ thực hiện các công việc của chính quyền Tuy nhiên quyền lực của người dân không vì vậy
mà mất đi, người dân vẫn có quyền tham gia ý kiến về các hoạt động của chính quyền cũng như giám sát quá trình thực hiện công việc của những người đại diện
‣ Làm hài lòng cử tri và bảo đảm lợi ích quốc gia
Một Chủ nhiệm Uỷ ban của Hạ viện Mỹ từng nhận xét: “Dù anh làm hay không làm thì vẫn bị chỉ trích Nếu anh làm đủ công việc ở Nghị viện thì anh bị than phiền là lơ là khu vực bầu cử của mình Còn nếu dành quá nhiều thời gian cho khu vực bầu cử, anh sẽ bị buộc tội sao nhãng công việc ở Nghị viện”
Làm nghị sĩ thực chất là làm cho cử tri hài lòng, đồng thời phải quan tâm, bảo đảm lợi ích tổng thể của quốc gia
‣ Phục vụ cử tri tại khu vực bầu cử: 3 cách tiếp cận
Đáp ứng các yêu cầu của cử tri
Từ vụ việc đơn lẻ đến giải pháp chung cho cộng đồng
Từ yêu cầu của cử tri thành quyết sách chung của quốc gia
‣ Giữ mối liên hệ với cử tri
Trang 5Để giữ mối liên hệ với cử tri, nghị sĩ các nước có nhiều hình thức khác nhau: chủ động trực tiếp gặp cử tri; tiếp đón cử tri đến gặp nghị sĩ ở văn phòng nghị sĩ ở trong toà nhà Nghị viện hoặc ở khu vực bầu cử; qua trao đổi thư tín, email, điện thoại; qua các trang web v.v…
1.2 Chức năng lập pháp
‣ Quan niệm về lập pháp
Giống như tín hiệu giao thông, hoạt động lập pháp có hai mục tiêu Một mặt, ban hành pháp luật hạn chế hành vi của các chủ thể liên quan và phòng ngừa những hành động không được mong muốn (chức năng “đèn đỏ” của luật) Mặt khác, ban hành pháp luật tạo điều kiện cho các hoạt động trong xã hội diễn ra được thông suốt (chức năng “đèn xanh” của luật)
- Thông qua khảo sát, đa số các bản Hiến pháp đều dành một điều khoản quy định rõ quyền lập pháp được giao cho nghị viện Ví dụ như tại khoản 1 điều 1 Hiến pháp Mỹ : “Toàn bộ quyền lực lập pháp được thừa nhận tại bản Hiến pháp này được trao cho Quốc hội gồm Thượng viện và Hạ viện” Có 76 trong 95 bản Hiến pháp được đăng lên trang Dự án thông tin Hiến pháp quốc tế quy định dạng này Các bản Hiến pháp còn lại, tuy không quy định
về quyền lập pháp của nghị viện nhưng quyền lập pháp của nghị viện đc quy định trưc tiếp trong điều khoản về nhiệm vụ, quyền hạn theo những n ội dung cụ thể
- Có những Hiến pháp nêu rõ Nghị viện là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp Tuy nhiên, thực hiện quyền lập pháp không có nghĩa là nghị viện thay
thế mọi cơ quan nhà nước khác trong hoạt động lập pháp
- Ở nhiều nước, các đạo luât do Nghị viện ban hành chịu sự giám sát của tòa
về tính hợp hiến Thẩm phán ở Mỹ, Nhật, và nhiều nước khác có thể tuyên
bố một đạo luật mâu thuẫn với Hiến pháp và từ chối không áp dụng Ở Italy, Tây Ban Nha, Đức, tòa án Hiến pháp đc thiết lập để giám sát tính hợp hiến của các đạo luật
- Hệ thống tòa án cũng có tác động nhất định trong hoạt động lập pháp
Quyền lập pháp được trao cho Nghị viện
‣ Vai trò của Nghị viện trong lập pháp
Vai trò của Nghị viện trong quy trình lập pháp thay đổi theo từng quốc gia, và thậm chí thay đổi theo từng thời điểm trong một quốc gia Theo một tác giả, có 4 loại Nghị viện:
- Cơ quan lập pháp “con dấu”: Sở dĩ được gọi “con dấu” bởi vì họ chỉ đơn giản
chứng thực, hoặc “đóng dấu” vào các dự luật mà họ nhận được Đây là dạng Nghị
Trang 6viện phê duyệt bất cứ điều gì hành pháp trình mà không có thảo luận hay tranh luận gì cả
- Cơ quan lập pháp diễn đàn: là nơi cho phát biểu và tranh luận thực sự Những sự
khác biệt được khớp nối với nhau, còn hành động của Chính phủ thì bị chỉ trích, nhưng những cơ quan lập pháp này không có xu hướng khởi xướng hoặc thay đổi
các giải pháp lập pháp Ví dụ: Hạ viện Anh (lấy hình ảnh)
- Cơ quan lập pháp chuyển hóa: không chỉ đại diện cho lợi ích đa dạng của xã hội,
mà họ còn định hình ngân sách và chính sách Họ sửa đổi dự luật và dự thảo ngân sách nhận được từ bên hành pháp, đề xuất sáng kiến chính sách của riêng họ, tiếp cận với công dân, và tổ chức các phiên điều trần công khai Ví dụ: Nghị viện
Hoa Kỳ (lấy hình ảnh)
- Cơ quan lập pháp mới nổi: một số cơ quan lập pháp trên thế giới đang cố gắng tạo ảnh hưởng lớn hơn lên chính sách của Chính phủ và thực hiện trách nhiệm giám sát của họ một cách hiệu quả hơn, họ có thể được coi là cơ quan lập pháp
mới nổi Ví dụ: Nghị viện Mexico, Kenya và Uganda (lấy hình ảnh)
‣ Lập pháp ủy quyền
Là hoạt động lập pháp do Chính phủ thực hiện theo sự uỷ quyền của Nghị viện
Áp dụng nguyên tắc ủy quyền lập pháp để cân bằng giữa một bên là sự ổn định
và bên kia là sự mềm dẻo, linh hoạt để giải quyết các vấn đề xã hội ngày càng phức tạp và luôn thay đổi
Thứ nhất, nếu không được pháp luật trao quyền, thì quan chức chỉ được làm
những gì pháp luật cho phép
Thứ hai, văn bản lập pháp ủy quyền không được xâm phạm các quyền cá nhân và
tự do của công dân
Thứ ba, văn bản đó không được làm cho các quyền và tự do công dân phụ thuộc
vào các quyết định hành chính
Thứ tư, văn bản đó không được đề cập đến những vấn đề chỉ có Nghị viện mới có
thẩm quyền ban hành
‣ Những yếu tố ảnh hưởng đến chức năng lập pháp của Nghị viện
Chức năng lập pháp của Nghị viện chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như: hình thức chính thể; quyền lập pháp hiến định và luật định; môi trường chính trị; năng lực lập pháp của Nghị viện
Hình thức chính thể: Có ba loại chính thể: đại nghị, Tổng thống và hỗn hợp.
Chính thể đại nghị: trong mô hình chính thể này Nghị viện có ít động cơ để phát
triển năng lực lập pháp độc lập Quyền hạn lập pháp và hành pháp được hợp nhất, các ủy ban thì bị kiểm soát bởi đảng cầm quyền, vì vậy, cơ quan lập pháp
có xu hướng đi sau cơ quan hành pháp và đóng một vai trò thứ yếu trong xây dựng luật
Chính thể tổng thống: cá nhân các nhà lập pháp có thể gây ảnh hưởng đến chính
sách và pháp luật Điển hình cho mô hình chính thể này là Hoa Kỳ
Chính thể hỗn hợp: Nếu Hiến pháp và các tình huống chính trị có xu hướng đặt trọng tâm vào quyền hạn của Tổng thống thì được gọi là một chính thể bán Tổng thống Mặt khác, nếu Thủ tướng và các nhà lãnh đạo lập pháp được hưởng nhiều
Trang 7quyền lực hơn so với Tổng thống thì chính thể đó được gọi là bán Nghị viện.Ví dụ,
có những nước theo chính thể tổng thống ở Mỹ Latinh có một số đặc điểm của chính thể đại nghị như Bolivia; một số cơ quan lập pháp ở châu Phi, nơi chịu ảnh hưởng từ truyền thống của Hạ viện Anh, là sự kết hợp các đặc điểm của cả hai chính thể Tổng thống và đại nghị như Kenya, Zambia, và Uganda
Quyền lập pháp hiến định và luật định: cho phép nghị sĩ giới thiệu dự luật và một
số nước khác, chẳng hạn như Mozambique và Uganda, cho phép các ủy ban giới thiệu dự luật
‣ Môi trường chính trị
Môi trường chính trị của một quốc gia cũng tác động đến vai trò lập pháp của Nghị viện Đó là sự sẵn sàng của bên hành pháp và các nhà hoạt động chính trị
để chia sẻ vai trò lập pháp với Nghị viện; đòi hỏi cần một Nghị viện đóng vai trò lập pháp cao hơn từ các nhóm trong xã hội
‣ Năng lực lập pháp
Năng lực kỹ thuật của cơ quan lập pháp và các nguồn lực có ảnh hưởng lớn đến vai trò lập pháp Nhiều Nghị viện làm được ít hơn so với quyền lập pháp chính thức của họ cho phép do năng lực lập pháp hạn chế Vì vậy, hiện nay một số Nghị viện trên thế giới đang trong quá trình nâng cao năng lực kỹ thuật
1.3 Chức năng giám sát
Giám sát của Nghị viện được hiểu là việc theo dõi các hoạt động của hành pháp
có hiệu quả, tin cậy, minh bạch và trung thực hay không
Đối tượng giám sát: thường là nhánh hành pháp,
những trường hợp riêng biệt có thể mở rộng ra nguyên thủ quốc gia, tư pháp, chính quyền địa phương, quân đội, hoặc là hoạt động của các tập đoàn nhà nước hoặc tư nhân nếu chúng thực hiện những chức năng công quyền
Việc giám sát thông thường tập trung vào liệu hành vi của chính phủ, của một hoặc một quan chức nào đó có phù hợp với Hiến pháp hay không, hoặc một công dân nào đó có được đối xử một cách đúng đắn hay không
Sự giám sát đối với cơ quan hành pháp thường mang tính chất chính trị ; đối với các đối tượng khác, giám sát hoàn toàn mang tính chất pháp lý
Sự giám sát đối với nhánh quyền lực tư pháp, nếu giám sát tư pháp là việc xem xét lại các quyết định của tòa hoặc xét báo cáo hoạt động của tòa án tối cao thì hầu như không quốc gia nào trên thế giới quy định cụ thể về vấn đề này, trừ Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên Hiến pháp Trung Quốc cho phép Quốc hội giám sát các công tác của TAND tối cao, cũng như có quyền bầu, bãi nhiệm đối với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (Điều 63, 67) Hiến pháp các nước khác trao quyền độc lập tối đa cho tòa án; trong quá trình xét xử, thẩm phán chỉ tuân theo Hiến pháp, luật và theo lương tâm của họ
Câu hỏi: Có mấy mô hình giám sát quyền lực hành pháp, tư pháp trên thế giới?
Trang 8 Có 3 mô hình giám sát tồn tại ở các nước đó là:
● Mô hình 1: theo chế độ đại nghị
Tồn tại ở các nước theo chế độ đại
nghị Khái niệm giám sát bao hàm
chế định trách nhiệm tập thể của
chính phủ trước nghị viện Việc bỏ
phiếu bất tín nhiệm chính phủ trong
nghị viện có thể kéo theo sự từ chức
tập thể của chính phủ Trong trường
hợp chính phủ bất tín nhiệm tập thể
thì có thể kéo theo việc giải tán nghị
viện và tổ chức một cuộc bầu cử để
lập ra chính phủ mới
● Mô hình 2: theo chế độ Cộng hòa
tổng thống
Ở các nước này, cơ quan hành pháp không phải chịu trách nhiệm trước nghị viện nên một số hình thức giám sát không tồn tại Ngược lại, cơ quan hành pháp cũng không thể gây ảnh hưởng đến các thành viên của nghị viện trong các pphiên họp, cũng như không thể tác động giải tán nghị viện
● Mô hình 3: theo chế độ chính thể hỗn hợp.
Các nước theo chính thể hỗn hợp Ở những nước này có cả chế định trách nhiệm của chính phủ trước nghị viện lẫn chế định giải tán nghị viện, cũng như tổ chức các cuộc điều tra của nghị viện Kết hợp các hình thức giám sát tiêu biểu của mô
hình thứ nhất và thứ hai
‣ Các hình thức giám sát của Nghị viện
Trong việc giám sát cơ quan hành pháp, Nghị viện có những hình thức/công cụ giám sát như: chất vấn, các phiên hỏi đáp, thành lập các cơ quan điều tra, điều trần tại ủy ban, điều trần tại các phiên họp toàn thể của Nghị viện, thanh tra Quốc hội và bỏ phiếu bất tín nhiệm
Một nghiên cứu khảo sát 82 Nghị viện vào năm 2001 cho thấy có những biến đổi đáng chú ý về mức độ phổ biến của các công cụ trong hoạt động giám sát của Nghị viện Ví dụ, các nghị sĩ có thể đặt câu hỏi miệng hoặc câu hỏi bằng văn bản đối với Chính phủ ở 79 trên tổng số 82 nước, chiếm đến 96,3% số nước có số liệu Thành lập ủy ban điều tra và điều trần ở ủy ban cũng là những công cụ phổ biến trong hoạt động giám sát của các Nghị viện với tỷ lệ sử dụng trên 95% Ngược lại, chất vấn và thanh tra Quốc hội ít phổ biến hơn một cách rõ rệt theo đó thủ tục
Trang 9chất vấn Chính phủ được sử dụng ở 75% số nước và văn phòng thanh tra Quốc hội chỉ xuất hiện ở 73%
Bảng: Mức độ phổ biến của các công cụ giám sát
1.4 Chức năng về tài chính-ngân sách
Chức năng này được thể hiện trong việc thảo luận và chuẩn ý các khoản thu – chi của Nhà nước và thiết lập các loại thuế
Thông qua các đạo luật tài chính lớn nhất hằng năm – Ngân sách Nhà nước gồm
các khoản thu – chi, đó là bản dự đoán mọi nhu cầu về tài chính của Nhà nước và mọi khoản thu cần thiết để trang trải những nhu cầu đó
Nghị viện ủy quyền cho Chính phủ chi các nguồn tài chính của Nhà nước, mặt khác Chính phủ có nghĩa vụ thu những khoản thuế cần thiết và những khoản thu khác để đảm bảo ngân sách Nhà nước
Quyền thông qua các đạo luật tài chính là đặc quyền hoàn toàn thuộc về Nghị viện, nhưng quyền xác lập chính sách tài chính và định đoạt kinh phí Nhà n trong khuôn khổ do Nghị viện chuẩn y lại được trao cho Chính phủ
Nghị viện có thể phê chuẩn các quyết toán ngân sách của Chính phủ
Quy định, sửa đổi mức thuế có vai trò quan trọng trong số các thẩm quyền về tài chính của Nghị viện
Nghị viện cũng có thể thẩm quyền tạo ra các quỹ ngoài ngân sách
Hằng năm, Nghị viện quàn lý giám sát việc sử dụng nguồn tài chính công hiệu quả tránh lãng phí thất thoát tiền của người dân
2 Một số thẩm quyền khác
Bên cạnh các chức năng nói trên, Nghị viện có một số thẩm quyền khác như: thành lập các cơ quan nhà nước; thực hiện một số thẩm quyền tư pháp; đối ngoại; an ninh, quốc phòng; trưng cầu ý dân …
2.1 Thiết lập các cơ quan N hà nước :
Thẩm quyền này được thực hiện theo các phương thức sau:
● Nghị viện bầu cử hoặc phê chuẩn theo sự suy xét của mình
● Nghị viện bầu hoặc phê chuẩn theo đề nghị của cơ quan hoặc cá nhân khác
● Chỉ bầu các thành viên của NN mà không bầu các chức danh lãnh đạo của cơ quan đó
● Thành lập cơ quan NN cùng với việc bầu hoặc bổ nhiệm người lãnh đạo
● Chỉ bầu hoặc bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo của cơ quan NN
Trang 10● Tham gia bổ nhiệm một phần cơ quan NN.
● Phê chuẩn việc hình thành cơ quan NN hoặc bổ nhiệm cac chức danh lão đạo Nghị viện có thể thành lập, bổ nhiệm hoặc tham gia thành lập, bổ nhiệm nhiều
cơ quan Nhà nước hoặc chức danh lãnh đạo khác nhau Trong đó, có một số chủ thể nổi bật như sau:
Tổng thống:
-Ở một số các nước theo chỉnh thể đại nghị, nguyên thủ quốc gia – tổng thống do
Nghị viện bầu ra hoặc có sự tham gia của nghị viện
Ví dụ: Nghị viện Hy Lạp bầu ra Tổng thống (Điều 30, 32 Hiến pháp Hy Lạp) Ở Ấn ĐỘ, Tổng thống và Phó Tổng thống do một cơ quan đặc biệt bầu ra gồm các thành viên được lựa chọn từ cả hai viện và các thành viên được lựa chọn từ các cơ quan lập pháp
ở các bang, mỗi thành viên nắm một số lượng phiếu tương đương với số lượng dân cư
mà thành viên đó đại diện, nhờ đó đạt được nguyên tắc đại diện thống nhất của ban và
sự bình đẳng trong dại diện giữa bang và Liên bang (Điều 54, 55 Hiến pháp Ấn Độ)
Các nước Cộng hòa Tổng thống, Nghị viện cũng tham gia các cuộc bầu cử nguyên
thủ quốc gia ở mức độ nhất định
Ví dụ: ở Mỹ, theo Tu chính án thứ 12 và 20 của Hiến pháp, nếu không một ứng cử viên Tổng thống nào có đủ số phiếu cần thiết (271 phiếu) thì Thượng viện Mỹ sẽ bầu Tổng thống từ ba ứng cử viên có số phiếu cao nhất, còn nếu như Phó Tổng thống cũng không bầu được thì Thượng viện sẽ bầu từ hai ứng cử viện có số phiếu cao nhất
Chính phủ:
Ở các nước theo chính thể cộng hòa tổng thống, ví dụ ở Mỹ, Ecuador, việc
Nguyên thủ quốc gia bổ nhiệm các Bộ trưởng đòi hỏi phải có sự tán thành của Thượng viện Ở Philippines, việc bổ nhiệm nay cần có sự tán thành của một Ủy ban đặc biệt về bổ nhiệm với các thành phần gồm Chủ tịch Thượng viện và 12 thành viện của mỗi viện được lựa chọn theo tỷ lệ nhóm đảng ở viện
Ở các nước theo chính thể cộng hòa lưỡng tính, thủ lĩnh của đảng thắng cử từ
một trong số các thủ lĩnh của các đảng thuộc khối liện minh thắng cử thường được nguyên thủ quốc gia bổ nhiệm làm thủ tướng, và theo đề nghị của thủ tướng bổ nhiệm các bộ trưởng Tuy nhiên, tổng thống chỉ có thể bổ nhiệm thủ tướng với sự tán thành của Nghị viện như ở Nga, Hàn Quốc,…
Ở các nước theo chính thể đại nghị, nguyên thủ quốc gia thường bổ nhiệm lãnh
tụ/ liên minh đảng thắng cử làm thủ tướng; theo đề nghị của thủ tướng để bổ nhiệm những thành viên khác của chính phủ (Hy Lạp, Ấn Độ, Italy, Canada) Ở một số nước khác như Đức, Nhật, Tây Ban Nha, thủ tướng do Nghị viện trực tiếp
ra bầu ra và sau đó nguyên thủ quốc gia mới ban hành văn bản để bổ nhiệm
Downloaded by vú hi (vuchinhhp12@gmail.com)