1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận: Thiết chế xã hội khái niệm thiết chế xã hội, đặc trưng của thiết chế xã hội, đối tượng nghiên cứu để thoả mãn nhu cầu của thiết chế,

25 12,8K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 312,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận: Thiết chế xã hội nhằm trình bày về khái niệm thiết chế xã hội, đặc trưng của thiết chế xã hội, đối tượng nghiên cứu để thoả mãn nhu cầu của thiết chế, hệ thống những giá trị chung của thiết chế, chức năng của thiết chế xã hội.

Trang 1

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

-

1.Tập giáo trình xã hội học đại cương – K52 XHH

2 Cơ cấu xã hội và sự phân tầng xã hội – PTS Nguyễn Đình Tấn

3 Tập bài giảng xã hội học đại cương – TS Hoàng Thu Hương

4 Trang tìm kiếm : www.google.com

5 Xã hội học – John J Macionis – NXB thống kê – năm

có thiết chế, tức là một xã hội không có kỷ cương, quy tắc hành động, không có

hệ thống chuẩn mực, giá trị và sự duy trì, kiểm soát việc thực hiện các kỷ cương , quy tắc đó Ông còn cho rằng, thiết chế xã hội, hay những mô hình hành vi của con người được “ thiết chế hóa” do những nhu cầu khách quan của các lĩnh vực hoạt động xã hội khác nhau quy định.[2;54]

Theo G.V Oxipop : Thiết chế xã hội là tổ chức nhất định của hoạt động xã hội và các quan hệ xã hội, được thực thi bằng hệ thống phối hợp của những quy chuẩn về hành vi, chuẩn mực và giá trị, được định hướng một cách hợp lý.[2;55]

Theo quan niệm của V.A Cruglicop : Thiết chế xã hội là sự biểu hiện vật chất của các chuẩn mực xã hội và là cơ quan điều hòa việc tuân theo các chuẩn mực đó Thiết chế xã hội là sự tổ chức các hoạt động xã hội và các quan

hệ xã hội nhất định, làm cho các quan hệ xã hội có thể có được tính ổn định và tính kế thừa Thiết chế xã hội biểu hiện ra dưới hình thức các cơ quan khác nhau

Trang 2

thực hiện chức năng điều hòa những lĩnh vực nào đó của các quan hệ xã

hội.[2;55]

Theo xã hội học : Thiết chế xã hội không phải một nhóm người cụ thể, cũng không phải một tổ chức hay hội đoàn cụ thể Thiết chế xã hội là một hệ thống các quan hệ xã hội đã được xác lập ổn định trong xã hội, được định hình theo thời gian Trong các mối quan hệ tương tác giữa các vai trò, một s ố ứng xử nào đó của con người được lặp đi lặp lại, rồi dần dần thành tập quán, và cuối cùng trở thành những chuẩn mực mà mọi thành viên đều thừa nhận và tuân thủ.[1;153]

Hay hiểu theo một cách khác “ Thiết chế xã hội là kết cấu các vị trí

xã hội ít nhiều có tính cách ổn định, nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người trong xã hội [3;110]

Để hiểu được khái niệm thiết chế xã hội cần phải hiểu khái niệm giá trị xã hội và chuẩn mực xã hội :

- Theo Bách khoa toàn thư quốc tế về xã hội học “ giá trị là những tiêu chuẩn đánh giá thế nào là tốt hay xấu, phải hay trái, đẹp đẽ hay xấu xa”

Còn theo V.A.Crug licop, giá trị xã hội là những hiện tượng của đời sống xã hội được xét trên góc độ ý nghĩa mà xã hội nói chung, một giai cấp hay một tập đoàn xã hội gán cho nó Những giá trị xã hội là những yếu tố điều hòa hành vi, lợi ích và quan hệ của cá nhân Đó là những tố chất quan trọng trong cơ cấu của tập đoàn xã hội, tạo ra ở cá nhân và tập đoàn những tố chất cho các hành vi nhất định và những cơ sở để đánh giá những hành vi đó Giá trị luôn gắn với những tiêu chuẩn chung cảu hành vi như : tính trung thực, lòng tự trọng, tình yêu chung thủy, tính kỷ luật

- Chuẩn mực là những khuôn mẫu chung của hành vi, được mọi người trong

xã hội cho là đúng, là cần thiết để điều hòa hành vi của con người

TheoCruglicop, chuẩn mực là những “vật” điều hòa hoạt động của xã hội nói chung, của tập đoàn xã hội và cá nhân Chuẩn mực xã hội do xã hội thiết lập và thay đổi, xã hội cũng tạo ra những phương tiện kiểm soát xã hội khác nhau để bảo đảm việc thực hiện những chuẩn mực ấy

Thiết chế xã hội có thể được xem xét theo cơ cấu bên ngoài ( hình thức vật chất của thiết chế), cũng như cơ cấu bên trong ( nội dung hành động của thiết chế)

+, Về cơ cấu bên ngoài : biểu hiện nhu một tổng thể những người,

những cơ quan chức năng được trang bị những phương tiện vật chất nhất định và thực hiện những chức năng xã hội nhất định

+, Về cơ cấu bên trong : bao gồm tập hợp nhất định những tiêu chuẩn được định hướng theo mục tiêu về hành vi của những người nhất định, trong hoàn cảnh nhất định

VD : trong ngành tư pháp : nếu xét nó với tính cách là một thiết chế xã hội, về mặt bên ngoài thì đó là một tổng thể những người, những cơ quan và những phương tiện vật chất để thực hiện công tác xét xử Còn theo quan điểm cơ cấu bên trong thì đó là nội dung hoạt động của những khuôn mẫu tiêu chuẩn hóa của

Trang 3

hành vi ở những người có thẩm quyền nhất định Những tiêu chuẩn đó của hành

vi được thể hiện thông qua các vai trò xã hội đặc trưng cho hệ thống tư pháp ( vai trò của chánh án, thẩm phán, ủy viên công tố, luật sư)

Từ những định nghĩa và sự phân tích trên, có thể rút ra một số khía cạnh sau :

- Thiết chế xã hội là tổ chức của hoạt động xã hội và các quan hệ xã hội, là

mô hình hành vi chung cho mọi thành viên trong những lĩnh vực khác nhau của một xã hội nhất định

- Các thiết chế là những nhân tố đặc thù đảm bảo tính kế thừa và tính ổn định nhất định của những mối liên hệ và những mối quan hệ trong khuôn khổ của một tổ chức xã hội nhất định, là biểu hiện vật chất của các giá trị và chuẩn mực xã hội, là cơ quan điều hòa việc tuân theo các chuẩn mực xã hội của các thành viên

- Thiết chế là một cấu trúc và một chức năng Thiết chế xã hội được hình thành và thiết lập là do những nhu cầu khách quan của xã hội Thiết chế xã hội không chỉ là những mô hình của hành vi, mà còn là công cụ để kiểm soát và quản lý xã hội Chính những mâu thuẫn hành động cùng với những quy tắc, “điều luật” hệ thống giá trị, chuẩn mực mà thiết chế dựa vào và thiết lập, là những “vật chuẩn” để điều chỉnh mọi hành vi của con người, khuyến khích cá đáng có, cái nên làm, đồng thời điều chỉnh những hành vi sai lệch với thiết chế Nhờ đó mà con người có thể soi vào để thường xuyên điều chỉnh hành vi của mình, làm cho hành vi đó luôn luôn phù hợp với những yêu cầu mà thiết chế đòi hỏi, đồng thời tìm mọi cách để tránh khỏi những lệch lạc, gây phương hại đến trật tự xã hội mà thiết chế phải duy trì

Như vậy không thể đồng nhất thiết chế xã hội với cơ chế, quy chế, thể chế xã hội Theo từ đển Tiếng Việt xuất bản năm 1996 thì cơ chế là cách thức, theo đó một quá trình nào đó được thực hiện ( cơ chế tập trung quan liêu,

cơ chế thị trường Quy chế là tổng thể nói chung những quy định thành chế độ

để mọi người thực hiện trong những hoạt động nhất định Thể chế là là những quy định luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo Theo một

ý nghĩa nào đó thể chế có nội dung gần trùng với thiết chế Tuy nhiên, theo góc

độ tiếp cận xã hội học, thiết chế là một khái niệm rộng hơn Ngoài những thiết chế hình thức ( như thiết chế chính trị, thiết chế kinh tế, thiết chế pháp luật ) còn có sự hiện diện của cả những thiết chế phi hình thức (như thiết chế đạo đức, thiết chế dư luận xã hội) Ở những thiết chế này, cơ sở nội dung của nó không phải là những điều luật chính thức mà lại là những chuẩn mực, giá trị có sẵn lưu truyền trong văn hóa, truyền thống Lịch sử đã từng biết đến sức mạnh to lớn của những phong tục tập quán, những thiết chế xã hội phi hình thức trong việc điều chỉnh và kiểm soát hành vi của con người trong các xã hội tiền đề pháp luật cũng như trong xã hội có sự đan xen giữa xã hội truyền thống và xã hội hiện đại

Trang 4

II Các đặc điểm cơ bản của thiết chế :

1 Đối tượng nghiên cứu để thoả mãn nhu cầu của thiết chế

Khi các thiết chế được hình thành thì có nghĩa nó được đại đa số các

cá nhân trong xã hội thừa nhận, cho dù mức độ của cá nhân đó tham gia đến mức

độ nào Tuy nhiên, những cá nhân đó không thể không thừa nhận sự cần thiết của thiết chế nhà nước trong xã hội Thiết chế liên quan đến khuôn mẫu,tác phong, hệ vai trò của các cá nhân.Từ đó ta có thể thấy đối tượng nghiên cứu thoả mãn nhu cầu của thiết chế là tập hợp những khuôn mẫu, những chuẩn mực được đại đa số mọi người thừa nhận và coi đó như một khuôn mẫu định hướng cho hành động Hay nói một cách khác, đối tượng để thoả mãn nhu cầu của thể chế là các vị thế vai trò có chủ đích nhằm thoả mãn nhu cầu của xã hội

Nhìn chung chúng ta đều thấy, thiết chế nảy sinh và tồn tại là do nó đáp ứng nhu cầu của xã hội Nhu cầu của xã hội chính là lý do hình thành và cũng chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của nó Theo Lenski trong xã hội

có những nhu cầu cơ bản như:

1 - Giao tiếp giữa những thành viên

2 - Sản xuất và sản phẩm dịch vụ

3 - Phân phối các sản phẩm và dịch vụ hàng

4 - Bảo vệ các thành viên khỏi sự tác động của thiên nhiên như

các thảm hoạ của tụ nhiên các loại dịch bệnh

5 - Thay thế các thành viên : cả sự tái s inh sản sinh học và thay thế văn hóa thông qua quá trình xã hội hóa

6 - Kiểm soát hành vi của các thành viên

2.Hệ thống những giá trị chung của thiết chế

Các thiết chế bao gồm các giá trị cơ bản mà chính các giá trị này được hầu hết các cá nhân thừa nhận

Chúng ta có thể coi giá trị là những quan niệm về cái đúng, cái chuẩn mực mong muốn ảnh hưởng tới hành vi lựa chọn, hay giá trị là cái mà cá nhân muốn hướng tới

Con người đã tiếp nhận những hệ thống giá trị từ khi còn nhỏ thông qua gia đình, nhà trường, các mối quan hệ bạn bè, các phương tiện truyền thông hay

tự bản thân mình tìm hiểu và học hỏi Chính những giá trị mà con người đã tích góp và học hỏi đó đã một phần giúp hình thành nhân cách của mình Tuy nhiên

do hoàn cảnh sống, môi trường giáo dục do ảnh hưởng của các nền văn hoá khác nhau mà mỗi cá nhân lại có những hệ giá trị riêng Những giá trị ấy có thể phù hợp và được xã hội chấp nhận nhưng cũng có thể ngược lại Thông qua những hệ thống giá trị mà con người có thể hoà nhập với xã hội, với cộng đồng Nhưng chúng ta vẫn cần chú ý đến sự phân biệt của chuẩn mực và giá trị Nếu giá trị là

Trang 5

cái quan trọng nhất thì chuẩn mực là các tiêu chuẩn hướng dẫn và sự mong đợi đối với hành vi của con người

Hệ thống những giá trị chung trong thiết chế gồm có:

- Giá trị của toàn xã hội

- Giá trị của hệ thống xã hội nhỏ như: nhóm, tổ chức

- Giá trị của từng địa vị xã hội

3.Mô hình văn hoá và sự ổn định của các quan hệ xã hội

Các quan hệ được thiết lập trong thiết chế đó tỏ ra khá bền vững, các khuôn mẫu hành vi được hình thành trong thiết chế trở thành một phần truyền thống văn hoá của một cộng đồng xã hội

VD: dấu ấn của gia đình truyền thống ảnh hưởng sâu sắc đến gia đình hiện đại ở các xã hội phương Đông

Mỗi một thiết chế đều sử dụng biểu tượng như một dấu hiệu để nhắc nhở về sự hiện hữu của mình.Các biểu tượng đó có thể là vật chất hoặc tinh thần nhu : quốc kỳ, quốc ca, nhà thờ

Ta cũng có thể thấy tính vĩnh cửu của các thiết chế qua vai trò tương quan mà con người thể hiện trong nền văn hoá, qua các truyền thống Tuy nhiên khi xã hội phát triển hay khi trong xã hội có những cải cách thì tất nhiên thiết chế cũng sẽ phải thay đổi để phù hợp cùng sự phát triển đó nhưng nó sẽ diễn ra chậm chạp hơn so với các yếu tố khác

Mỗi một thiết chế khi hình thành và phát triển thì đều mang một mục đích là nhằm thoả mãn những nhu cầu của xã hội Bản thân thiết chế có sự độc lập tương đối và có tác động trở lại với cơ sở kinh tế-xã hội, các thiết chế vẫn ổn định và mang tính bền vững

Mỗi thiết chế lại có một đối tượng nghiên cứu riêng để hướng đến phục vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu xã hội chuyên biệt liên quan đến đối tượng Để làm được điều đó mỗi thiết chế lại có một loại chức năng riêng biệt

4.Loại hình chủ đạo của thiết chế

Thiết chế xã hội bao gồm nhiều loại thiết chế khác như thiết chế văn hoá, thiết chế gia đình, thiết chế giáo dục, thiết chế kinh tế… Mỗi loại thiết chế lại đảm nhiệm những chức năng và mang tính đặc trưng của từng loại thiết chế

Trong hệ thống xã hội mỗi loại thiết chế lại có những vai trò và vị trí riêng và nó hoạt động ở các phương diện khác nhau trong các lĩnh vực của xã hội

VD : thiết chế văn hoá có trong nhiều lĩnh vực như trong văn hoá kinh tế, văn hoá giáo dục, văn hóa pháp luật, văn hoá ứng xử,… Hiện nay ở các cơ sở có 6 loại hình hệ thống thiết chế văn hoá đang tham gia tích cực công cuộc tuyên truyền phổ biến pháp luật như: hệ thống nhà văn hoá xã, phường, thị trấn, hệ

Trang 6

thống các trạm phát thanh, mạng lưới loa phát thanh công cộng, hệ thống thư viện cộng đồng, tủ sách pháp luật, hệ thống các câu lạc bộ như câu lạc bộ phụ

nữ, câu lạc bộ cựu chiến binh…, hệ thống cụm cổ động chính trị, như các hội chiếu bóng của Bộ Văn hoá đang thực hiện chương trình “đưa văn hoá về cơ sở ”

5.Tính chủ đạo cao của thiết chế :

Như chúng ta biết các thiết chế xã hội được tổ chức thành các cơ cấu, những yếu tố hình thành nên kết cấu co xu hướng gắn kết lại với nhau bổ sung cho nhau Khi các thiết chế càng phức tạp thì xã hội càng phát triển và qua

đó nó xác định vai trò của cá nhân một cách rõ ràng hơn Mỗi thiết chế tự nó được cấu trúc ở mức cao và được tổ chức xung quanh hệ thống các giá trị chuẩn mực quy tắc các khuôn mẫu đã được xã hội thừa nhận

Mỗi một thiết chế có tầm bao quát rộng đến mức các hoạt động của

nó chiếm một vị trí trung tâm trong xã hội Khi có sự thay đổi trong thiết chế có thể dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong các lĩnh vực khác

Các thiết chế thường liên kết chặt chẽ với nhau, thâm nhập vào nhau, nhưng chúng vẫn có tính tách biệt tương đối với nhau, điều đó cũng có thể hiểu các định chế thường liên kết với nhau tạo thành cơ cấu Thông qua vai trò xã hội

và các quan hệ xã hội mà nó đã tạo ra các tác phong và một loạt những chuẩn mực mà mọi người hướng theo nó để hoạt động Mỗi một thiết chế ra đời là nhằm thoả mãn nhu cầu của xã hội, và trong một điều kiện nhất định con người tuân theo nó mà hành động - những hành động được xã hội chấp nhận

6.Hệ tư tưởng của thiết chế

M ỗi thiết chế đều có chuẩn mực để quy định các thành viên trong thiết chế phải ứng xử như thế nào M ặt khác, thiết chế có hệ tư tưởng riêng để giải thích tại sao phải hành động như thế

Hệ tư tưởng là hệ thống các tư tưởng liên kết lại với nhau để giải thích cho sự tồn tại hợp lý của đạo đức, quyền lợi kinh tế, chính trị của một nhóm xã hội đặc thù như hệ tư tưởng chính trị bao giờ cũng bênh vực cho giai cấp cầm quyền, hệ tư tưởng tôn giáo luôn ủng hộ cho niềm tin vào thần linh, tôn giáo…

Hệ tư tưởng của các thiết chế xã hội luôn luôn chi phối, liên kết với nhau và đảm bảo tốt cho sự phát triển của cả hệ thống xã hội Thông qua tư tưởng thiết chế mà mỗi cá nhân có thể tham gia vào các nhóm, các tổ chức, thích nghi với sự phát triển của xã hội một cách nhanh chóng

Trong xã hội tuỳ thuộc vào địa vị xã hội hay giai cấp mà mỗi cá nhân có thể tin vào một hay nhiều hệ thống tư tưởng, tôn giáo, hoặc tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh mà có thể hành xử theo một tác động của một học thuyết tư tưởng, tôn giáo nào đó Khi một quan niệm, một niềm tin được duy trì và trở thành thói quen, thành tập tục thì nó có sức sống riêng khó thay đổi Các học thuyết tư tưởng tôn giáo có một sức sống dai dẳng bền bỉ cũng chính là vì lý do

đó Một khi các hệ thống quan niệm, tư tưởng đã ăn sâu vào tiềm thức của con

Trang 7

người thì nó sẽ quay lại tác động vào môi trường Qua đó, nó là cơ sở cho hành động, nhận thức, tác động vào thế giới xung quanh, đồng thời nó cũng là cơ sở

để mỗi cá nhân yêu cầu người khác biểu hiện hành động theo cách suy nghĩ của chính họ Mỗi người khi đó trở thành một lực lượng tác động trở lại các hệ tư tưởng để thay đổi hình thức biểu hiện, hay tính linh hoạt của những hệ tư tưởng trong cuộc sống Tuy thế các hệ tư tưởng muốn có sức sống lâu bền thì chúng cần tác động trực tiếp đến nhận thức của con người, phải đi được vào lòng người,

và nó phải có giá trị trong thực tiễn cuộc sống và trong nhận thức của mỗi con người

7 Xu hướng trở thành tiêu điểm của những vấn đề xã hội

Các thiết chế được thiết lập trên cơ sở của những nhu cầu xã hội cơ bản, bởi vậy, bất kỳ sự đổ vỡ nào của một thiết chế xã hội nào cũng đều trở thành những vấn đề xã hội nghiêm trọng

VD : nạn thất nghiệp là vấn đề của thiết chế kinh tế, nạn bỏ học giữa chừng là vấn đề của thiết chế giáo dục, tỷ lệ tội phạm tăng là vấn đề của thiết chế pháp luật, s ự suy sụp hay tan vỡ của hôn nhân là vấn đề của thiết chế gia đình

III Chức năng của thiết chế :

a Điều hòa và kiểm soát :

Sự kiểm soát nhằm đưa các hành vi của các cá nhân, các nhóm vào các khuôn mẫu đã được xã hội thừa nhận là đúng, dùng các chế tài để đẩy lùi các hành vi lệch chuẩn vào khuôn phép hay trật tự

Chức năng kiểm soát xã hội là tạo ra những điều kiện cho sự bền vững, ổn định và trật tự xã hội, mặt khác tạo ra những thay đổi mang tính hợp lý

và tích cực (thay đổi trong khuôn khổ được phép, không ảnh hưởng đến độ bền vững và tính ổn định của hệ thống xã hội)

Kiểm soát xã hội cần phải có tính mềm dẻo, linh hoạt, như vậy mới

có thể nhận biết được ý nghĩa của những sai lệch chuẩn mực Những sai lệch nào

có tính tiêu cực, đe dọa phá hoại sự ổn định và trật tự xã hội, còn những sai lệch nào là mầm mống của sự tiến bộ, của sự phát triển Nếu như kiểm soát xã hội không thể kiểm soát và phân định được vấn đề này thì nó sẽ triệt tiêu mọi nhân

tố tích cực của sự phát triển xã hội

Thông qua quá trình xã hội hóa để các cá nhân tiếp nhận cơ chế kiểm s oát xã hội Trong quá trình này, các cá nhân, một mặt tiếp nhận cách hành động, cách nhận thức như thế nào là chuẩn, là đúng, mặt khác các cá nhân có thể thực hiện sự tự kiểm soát xã hội (điều chỉnh hành vi của mình bằng cách so sánh, đối chiếu hành vi của mình với các giá trị chuẩn mực đã tiếp nhận) Nhờ đó, các

cá nhân có thể thực hiện tốt những yêu cầu của xã hội với các vai trò mà họ đảm nhận

Kiểm soát xã hội biểu hiện trong mọi lĩnh vực của đời s ống xã hội

để các cá nhân tiếp nhận cơ chế kiểm soát xã hội dưới dạng kiểm soát chính thức

và kiểm soát không chính thức Trong đó:

Trang 8

- Kiểm soát chính thức gắn với hoạt động của một số tổ chức chính thức, với các quy định và luật lệ để ép buộc các tổ chức phải tuân theo Những tổ chức này

là những tổ chức thi hành pháp luật như công an, tòa án, viện kiểm sát, trại giam…

- Kiểm soát phi chính thức thường gắn liền với các tổ chức xã hội không chính thức và các nhóm sơ cấp, gắn liền với phản ứng xã hội (thái độ tán thành, ủng hộ hay chê trách, phản đối) không công khai và chỉ phổ biến trong các nhóm nhỏ

Trường hợp thiết chế xã hội thực hiện các chức năng điều hòa và kiểm s oát xã hội không đúng cách thức có thể dẫn đến các tác động tiêu cực đối với xã hội Khi sự điều hòa và kiểm soát quá mạnh sẽ triệt tiêu mọi sáng tạo của

cá nhân, đồng thời thiết chế sẽ mang tính bảo thủ Tính bảo thủ này thể hiện ở chỗ nó cố gắng duy trì những khuôn mẫu tác phong đã lạc hậu, lỗi thời Những thiết chế này sẽ cản trở sự tiến bộ của xã hội.[1;160]

Sự kiểm soát và điều chỉnh quá mạnh của thiết chế xã hội khiến cho

cá nhân đôi khi cảm thấy mất đi bản tính của mình Những người chống lại sự kiểm soát của thiết chế đều bị coi là lệch lạc

Tuy nhiên khi thiết chế biến đổi thì những con người này có thể không còn là lệch lạc nữa Đơn cử ở trong xã hội phong kiến việc tái giá của phụ

nữ góa chồng bị coi là sai trái, không được phép Nhưng trong xã hội ngày nay lại là bình thường, không bị phê phán.[1;161]

Sự kiểm soát và điều chỉnh quá yếu của thiết chế có thể dẫn đến tình trạng các cá nhân, nhóm xã hội không thực hiện tốt vai trò, thậm chí trốn tránh trách nhiệm của mình Kết quả hoạt động của từng phần hoặc toàn bộ xã hội bị trì trệ, những công việc đáng làm, cần làm thì không có người thực hiện

b.Trật tự hoá hành động của các thành viên

Các thiết chế xã hội đảm bảo cho các cá nhân hoạt động với các kiểu hành vi xã hội được chấp nhận trong nhiều trạng thái xã hội khác nhau Thông qua xã hội hóa, đồng thời với sự hoạt động của các thiết chế, các cá nhân tiếp nhận các khuôn mẫu hành vi và thực hiện theo các khuôn mẫu đó tùy theo từng tình huống cụ thể Bởi vì thiết chế xã hội vốn là những mô hình hành vi được đa số thừa nhận là chuẩn và thực hiện theo, do đó các cá nhân sẽ không mất thời gian để suy tính, đắn đo xem cách thức hành động đó đúng hay sai để thực hiện hay không thực hiện Nói khác đi, thiết chế đơn giản hóa tác phong hành động, lề lối tư duy của các cá nhân Chúng ta hành động theo thiết chế một cách

tự động hóa Ví dụ: Thiết chế văn hoá tạo ra các chuận mực xã hội như cách ăn nói, ứng xử làm ổn định trật tự của con người

c X ã hội hoá vai trò của cá nhân

Các thiết chế xác định phần lớn vai trò của các cá nhân mà xã hội chấp nhận để cá nhân nhận biết trong quá trình xã hội hóa Từ đó, các cá nhân có thể lựa chọn vai trò nào đó đối với mình là phù hợp,ví dụ như lựa chọn nghề nghiệp,

Trang 9

tham gia vào các tổ chức đoàn thể…Và có thể biết được sự mong đợi của vai trò trước khi cá nhân đó thể hiện (hay đó là sự xã hội hóa đón trước), để sau đó phấn đấu bằng học hỏi, tự rèn luyện…Nói cách khác, thiết chế là một tập hợp các vai trò mà mọi cá nhân cần phải học hỏi để thực hiện (thông qua quá trình xã hội hóa) điều đó có

VD : thiết chế gia đình tạo ra cho các cá nhân, các thành viên trong gia đình các vai trò như bố, mẹ, anh, chị M ỗi thành viên trong gia đình lại có những chức năng, những vai trò khác nhau

Hay như thiết chế giáo dục tạo cho các cá nhân vai trò là người thầy, người trò Các vai trò này có được là do các thiết chế xã hội cung cấp chứ không phải tự các cá nhân sáng tạo ra

d Thiết chế áp đặt và duy trì mô hình văn hoá

Để các cá nhân hướng nhận thức của mình tới các thiết chế xã hội như là một sự chấp nhận các giá trị, chuẩn mực xã hội và khuôn mẫu hành vi, nhằm củng cố nhận thức và thống nhất hành động của mọi thành viên trong xã hội

Thiết chế xã hội là yếu tố phối hợp và ổn định cho toàn hệ thống xã hội Nhìn chung các cá nhân ít khi hành động ngược lại các thiết chế Vì cách thức tư duy và phong cách hành động đã được thiết chế hóa có ý nghĩa quan trọng đối với con người Thiết chế mang lại cảm giác yên tâm và an toàn cho các

cá nhân tuân thủ nó, và nó chính là cái mà xã hội cho là đúng, là chuẩn[1;162] Khi thực hiện theo nó là thực hiện theo số đông Ví dụ như đại đa số mọi người đều cho rằng “trai lớn dụng vợ, gái lớn gả chồng” đó là lẽ thường tình, điều này được cả xã hội đồng tình chấp nhận Và khi đó cũng có một số cá nhân không tuân theo điều này, vì vậy họ cảm thấy mất an toàn, bất an và xã hội sẽ lên tiếng đánh giá…

Giữa các thiết chế này có sự di chuyển chức năng Sự di chuyển này xảy ra khi xuất hiện một trong hai điều kiện sau đây:

- Thiết chế không đáp ứng được nhu cầu

- Các thiết chế đều có khả năng đáp ứng được nhu cầu, nhưng một số đó nổi trội hơn, có khả năng đáp ứng ở mức độ cao hơn so với các thiết chế xã hội khác

Trang 10

VD : gia đình có nhiều chức năng và đóng vai trò quan trọng trong quá trình xã hội hóa cá nhân, nhưng trong xã hội công nghiệp hiện đại nó đã có sự di chuyển một phần chức năng giáo dục đó cho trường học

IV Các thiết chế xã hội cơ bản và chức năng của nó:

A Thiết chế gia đình

1.Định nghĩa:

Theo John.J.Macionis: “Gia đình là một tập thể xã hội có từ 2 người trở lên trên cơ sở huyết thống, hôn nhân hay nghĩa dưỡng cùng sống với nhau Đời sống gia đình mang tính hợp tác, gia đình thường là các tập thể sơ cấp trong

đó thành viên có cùng tài nguyên kinh tế và trách nhiệm hàng ngày “ [5,453] Gia đình được xem như là một thiết chế xã hội , thực hiện một chức năng quan trọng đối với xã hội: Sản xuất của cải vật chất và tái sản xuất con người Đối với xã hội loài người thiết chế gia đình không những đáp ứng nhu cầu tái sản xuất xã hội mà còn phải thỏa mãn nhu cầu kiểm soát hoạt động duy trì nòi giống, quan hệ giữa phụ nữ và nam giới và nhu cầu di truyền xã hội nuôi dạy con cái và chăm sóc các thành viên

Như vậy thiết chế gia đình là hệ thống quy định ổn định và tiêu chuẩn hóa tính giao và sự truyền chủng của con người Hình thức phổ biến nhất của nó là chế độ một vợ một chồng sống với con cái trong gia đình Nằm trong thiết chế này là các thiết chế phụ thuộc như đính hôn, hôn nhân, nuôi dưởng trẻ

em, quan hệ thân tộc…

2.Chức năng của thiết chế gia đình

a.X ã hội hóa

Gia đình là tác nhân đầu tiên và quan trọng nhất trong quá trình xã hội hóa cá nhân Nhân cách trong mỗi thế hệ mới được hình thành trong gia đình sao cho lý tưởng của con cái khi lớn lên sẽ hội nhập tốt vai trò thành viên trong

xã hội rộng lớn ( Parson, Bales ,1955 ) Dĩ nhiên trong xã hội công nghiệp, nhóm bạn cùng tuổi , trường học, giáo hội , phương tiện truyền thông đại chúng cũng quan trọng trong sự xã hội hóa trẻ em Nhưng điều này vẫn là chức năng chính của gia đình

Gia đình cũng đóng góp cho sự tiếp tục xã hội hóa con người qua chu kỳ sống Người lớn nhìn vào bất kỳ người nào mà con cái mình quen biết, bố

mẹ sẽ hiểu nhiều hơn về con mình

b.Sự điều tiết của hoạt động tình dục

Mọi nền văn hóa đều đặt ra một số hạn chế đối với hành vi tình dục Quan

hệ tình dục là vấn đề cá nhân đôí với những ai liên quan, nhưng như là nền tảng của sự sinh sản và kế tự của con người, quan hệ tình dục cũng là vấn đề mang tầm quan trọng xã hội đáng kể

Tất cả xã hội đều củng cố một số loại cấm kị loạn luân , cấm quan hệ tình dục hay hôn nhân giữa một số bà con Đúng ra là bà con nào là đói tượng của cấm kị loạn luân đều có thể thay đỏi theo văn hóa

Trang 11

VD: Hầu hết người Mỹ đều xem quan hệ tình dục với ông bà , anh chị em ruột ,

bố mẹ là trái đạo đức và trái tự nhiên Nhưng những quan hệ tình dục như thế lại được tha thứ ở một số nền văn hóa Hôn nhân giữa anh chị em phổ biến ở Ai Cập , Inca cổ đại Điều này cho thấy cấm kị loạn luân có thể phổ biến cũng hoàn toàn có thể thay đổi ở các nền văn hóa khác nhau

Ý nghĩa của cấm kị loạn luân chủ yếu mang tính xã hội hơn là tính sinh học Trái với giả định thông thường, hoạt động tình dục giữa bà con họ hàng không tạo ra sự bất thường về tâm thần hay dị dạng về mặt cơ thể ở con cháu Như Robert Murphy (1979) nêu rõ chính xã hội chứ không phải tự nhiên trừng phạt tội loạn luân Quả thật, chỉ có con người đang sống trong một thế giới văn hóa hơn là bản năng- đều tuân thủ cấm kị loạn luân

c.Sự sắp đặt xã hội

Từ quan điểm s inh học , gia đình không nhất thiết với mọi người là

để có con, con cái sinh ra không chỉ là những sinh vật sinh học mà còn là thành viên xã hội Nhiều địa vị xã hội quan trọng kể cả chủng tộc dân tộc, tôn giáo và giai cấp xã hội – được gán ngay khi sinh ra trong khắp cả dòng họ Sinh hợp pháp nhất là bố mẹ thuộc cùng vị trí xã hội như nhau, cho phép sự chuyển tiếp

ổn định vị trí xã hội từ bố mẹ sang con cái và làm s áng tỏ quyền thừa kế

d.Đảm bảo vật chất và tình cảm

Theo nghĩa lý tưởng, gia đình bảo vệ và ủng hộ thành viên của mình

về theo lẽ tự nhiên, về tình cảm và thường là tài chính từ lúc mới sinh ra cho đén khi chết Gia đình thường là tập thể sơ cấp quan trọng nhất của một người và thành viên gia đình có mối quan hệ gắn bó và lâu dài với người khác Sự quan tâm này với phúc lợi của người khác có vẻ mang lại một ý nghĩa quan trọng về giá trị của chính mình và sự đảm bảo ở mỗi cá nhân Cá nhân được sống trong môi trường gia đình thường khỏe mạnh hơn những cá nhân phải sống đơn độc

Giáo dục là thể chế hóa xã hội chính trong việc truyền dẫn kiến thức

và kỹ năng cũng như tiêu chuẩn và giá trị văn hóa cho thanh niên Giáo dục xã

Trang 12

hội tiền công nghiệp diễn ra không chính thúc trong gia đình, xã hội công nghiệp phát triển ở hệ thống trường chính quy.[1, 164]

b.C hức năng của thiết chế giáo dục

* Xã hội hóa

Tất cả xã hội đều truyền đạt cách sống của mình từ thế hệ này sang thế hệ khác Trong các xã hội công nghệ thô sơ , chức năng truyền đạt được gia đình đảm nhận Khi xã hội ngày càng tiến bộ hơn về công nghệ, vô số thiết chế

xã hội xuât hiện để đóng một phần vào vai trò xã hội hóa cá nhân Nhất là trong các xã hội công nghiệp, gia đình không còn cung cấp tất cả những tri thức cho cá nhân nữa

Bắt đầu ở trường tiểu học trẻ học ngôn ngữ cơ bản và kĩ năng toán học không thể thiếu được với xã hội công nghiệp Hiểu biết này dần dần mở rộng trong trường trung học và một số trường đại học Vì xã hội công nghiệp thay đổi nhanh chóng, giáp dục chính quy dạy cho học sinh không những thực tế mà còn dạy cách học như thế nào để học sinh có khả năng thích ngi với thay đổi không lường trước được của tương lai

Trường học chuyển tải giá trị và tình cảm văn hóa Những bài học văn hóa khác được học theo một cách tế nhị hơn như : Giáo viên nuôi dưỡng sự ganh đua ở học sinh bằng những lời khen hay thậm chí là cả sự so sánh giữa các học sinh với nhau Nhân cách cũng được học trong trường, thể hiện sự kính trọng với các thầy cô giáo, nhân viên trong trường và cả sự tuân thủ kỉ luật Chương trình thể dục thế thao không những dạy giá trị ganh đua và thành tích cá nhân mà còn dạy những chuẩn mực thi đấu công bằng

*Hội nhập xã hội

Giáo dục ở trường học giúp rèn luyện một dân số vào trong xã hội đoàn kết Việc dạy học xác nhận giá trị và tình cảm nuôi dưỡng sự tuân thủ và ngăn chặn lầm lạc Chức năng này đặc biệt quan trọng trong các xã hội Nó giúp cho các thành viên trong xã hội xích lại gần nhau hơn và nó không chỉ dừng lại ở quy mô của một quốc gia mà còn mang tính quốc tế cao

VD: 1984, đa số simh viên ở hơn một nửa trong số 20 khu trường sở lớn nhất nước M ỹ đều là thành viên của các nhóm dân tộc thiểu số, và số lượng của họ rất

có thể tăng lên trong tương lai (Boyer, 1984)

* Sắp đặt xã hội

Giáo dục chính quy giúp định hướng thanh niên vào những địa vị

và vai trò văn hóa chấp nhận góp phần vào đời sống xã hội đang diễn tiến Mục đích của sự sàng lọc này là quá trình chọn lọc và phải nhận dạng và phát triển tài năng và khả năng thay đổi của cá nhân Vì lý do này ít nhất về mặt lý tưởng, nhà trường đánh giá sinh viên theo nghĩa thành tựu hơn là tiềm năng xã hội, có nghĩa

là trong thực tế,"người học giỏi nhất và người thông minh nhất" được khuyến khích theo đuổi bộ môn đòi hỏi thử thách và tiến bộ nhiều nhất, trong khi những

Ngày đăng: 12/06/2014, 17:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w