1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích lý thuyết giá cả, cung cầu của trường phái Cambridge”. Ý nghĩa thực tiễn

13 4,4K 30

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 120 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Điểm lại lịch sử phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa, có thể thấy rõ tính chu kỳ của các cuộc khủng hoảng kinh tế: khi nền kinh tế bị khủng hoảng do vai trò điều tiết của nhà nước bị xem nhẹ, còn thị trường được “thả lỏng” thì lý thuyết Keynes được tôn vinh. Còn khi nền kinh tế trì trệ kéo dài, chủ yếu do nhà nước can thiệp quá sâu và kéo dài vào nền kinh tế, tính năng động của các lực lượng thị trường bị kìm hãm thì lúc đó, lý thuyết “bàn tay vô hình” và trường phái tân cổ điển được đề cao mà Alfred.Marsall (trường phái Cambridge) đã kế thừa và phát huy. Thực ra, đây là một quá trình điều chỉnh để tái lập sự cân bằng chức năng nhà nước thị trường trong việc điều hành nền kinh tế. Một sự thiên lệch lý luận kéo dài khi áp dụng vào cuộc sống dẫn đến sự méo mó trong mô hình thực tiễn. Toàn cầu hóa về thực chất là quá trình tự do hóa, với toàn cầu hóa, các dòng tài chình, đầu tư và thương mại di chuyển tự do trên phạm vi toàn cầu với tốc độ cao. Xu hướng chung là các dòng vận động này tuân thủ “luật chơi toàn cầu’, thực chất là luật chơi thị trường ngày càng tự do hóa. Theo xu hướng đó, sự vận động của nguồn lực ngày càng vượt ra khỏi sự chế ước của các nguyên tắc quản trị quốc gia, tức là thoát khỏi sự điều tiết nhà nước của từng quốc gia cụ thể. Đây là một xu thế tất yếu. Ở cấp độ đó, nó bắt nguồn từ những điều kiện mang tính thời đại, vượt khỏi những giả định mang tính truyền thống của cả lý thuyết “Tân cổ điển” lẫn lý thuyết Keynes, vốn lấy phạm vi thể chế quốc gia làm địa bàn hoạt động chính. Theo xu thế đó, trong không gian thể chế toàn cầu hội nhập quốc tế, kinh tế thế giới đã bùng nổ tăng trưởng. Quá trình này kéo dài liên tục trong hàng chục năm, khẳng định tính tất yếu của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Tình hình kinh tế thế giới có những biến động không thuận lợi, giá cả các mặt hàng chiến lược tăng cao, cùng những khó khăn, yếu kém nội tại đã làm cho tình hình kinh tế nước ta có những diễn biến bất lợi, giá cả nhập siêu tăng cao ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và đời sống nhân dân. Việc phân tích lý thuyết giá cả, cung – cầu có ý nghĩa thiết thực để chúng ta vận dụng vào điều kiện phát triển kinh tế nước ta. I. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Hoàn cảnh ra đời và phương pháp luận 1.1. Hoàn cảnh ra đời học thuyết kinh tÕ của Trường phái Tân cổ điển Ra đời từ nữa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Áo, Anh, Thụy Sỹ, Mỹ; Nghiên cứu các hiện tượng kinh tế mới; Chống lại ảnh hưởng học thuyết kinh tế Macxit. 1.2. Phương pháp luận nghiên cứu Đề cao tự do kinh tế và cơ chế tự điều chỉnh của nền kinh tế. Dựa vào yếu tố tâm lý chủ quan để giải thích các hiện tượng và quá trình kinh tế. Nghiên cứu kinh tế trong lĩnh vực lưu thông, trao đổi cung cầu. Phân tích kinh tế vi mô. Áp dụng toán học vào phân tích kinh tế. Học thuyết kinh tế của Trường phái Tân cổ điển, bao gồm các học thuyết kinh tế Trường phái Thành Viene (Áo); Trường phái Thành Lausanne (Thụy sỹ); Trường phái Cambridge (Anh) … 2. Học thuyết kinh tế Trường phái Cambridge (Anh) 2.1. Lý thuyết giá cả, cung cầu Tác giả tiêu biểu của trường phái này là Alfred.Marsall (1842 1924). Ông là giáo sư kinh tế học của Trường đại học tổng hợp Cambridge. Ông đã nổi tiếng lý thuyết giá cả. Nó được tổng hợp từ lý thuyết chi phí sản xuất, cung cầu, ích lợi giới hạn. Ông thể hiện đặc điểm phương pháp luận của trường phái tân cổ điển và kế thừa luận điểm về “bàn tay vô hình” của A.Smith. Ông cho rằng, cơ chế thị trường tự phát sẽ đảm bảo cân bằng cung cầu, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển, chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế. Cho rằng cân bằng thị trường không phải là cân bằng tĩnh mà là cân bằng động, luôn dao động qua điểm cân bằng theo hệ số co dãn của cầu qua giá. Ông A.Marsall tin tưởng vào vai trò tự điều tiết của cơ chế thị trường, ủng hộ tự do cạnh tranh, nghiên cứu các hiện tượng kinh tế mới, chống lại ảnh hưởng học thuyết kinh tế Mácxit. Dựa vào các yếu tố chủ quan để giải thích các hiện tượng và quá trình kinh tế. Nghiên cứu kinh tế trong lĩnh vực lưu thông, trao đổi, cung cầu, phân tích kinh tế vi mô, áp dụng toán học vào phân tích kinh tế. Theo Ông, thị trường là tổng thể những người có quan hệ mua bán, hay là nơi gặp gỡ cung và cầu. Sự vận động của cơ chế thị trường, một mặt trong điều kiện cạnh canh hoàn toàn, thì cung cầu phụ thuộc vào giá cả. Mặt khác, cơ chế này tác động làm cho giá cả phù hơp với cung cầu. là cơ chế hình thành giá cả thị trường. Lý thuyết này đã đi sâu phân tích thị trường dưới gốc độ vi mô. Vì thế là cơ sở kinh tế của lý thuyết kinh tế vi mô hiện đại. Ông đưa ra khái niệm giá cung và giá cầu. + Giá cung là giá cả mà người sản xuất có thể tiếp tục sản xuất ở mức đồng thời. Nó được quyết định bởi chi phí sản xuất. + Giá cầu là giá mà người mua có thể mua sớ lượng hàng hóa hiện tại. Nó được quyết định bởi ích lợi giới hạn, tức là giá cầu giảm dần khi số lượng cung về hàng hóa tăng lên trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi. Đồ thị: P (giá cả) P(giá cả) S (cung)

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Điểm lại lịch sử phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa, có thể thấy rõ tính chu kỳ của các cuộc khủng hoảng kinh tế: khi nền kinh tế bị khủng hoảng do vai trò điều tiết của nhà nước bị xem nhẹ, còn thị trường được “thả lỏng” thì lý thuyết Keynes được tôn vinh Còn khi nền kinh tế trì trệ kéo dài, chủ yếu do nhà nước can thiệp quá sâu và kéo dài vào nền kinh tế, tính năng động của các lực lượng thị trường bị kìm hãm thì lúc đó, lý thuyết “bàn tay vô hình” và trường phái tân cổ điển được đề cao mà Alfred.Marsall (trường phái Cambridge) đã kế thừa và phát huy Thực ra, đây là một quá trình điều chỉnh để tái lập sự cân bằng chức năng nhà nước - thị trường trong việc điều hành nền kinh tế Một sự thiên lệch lý luận kéo dài khi áp dụng vào cuộc sống dẫn đến sự méo mó trong mô hình thực tiễn

Toàn cầu hóa về thực chất là quá trình tự do hóa, với toàn cầu hóa, các dòng tài chình, đầu tư và thương mại di chuyển tự do trên phạm vi toàn cầu với tốc độ cao Xu hướng chung là các dòng vận động này tuân thủ “luật chơi toàn cầu’, thực chất là luật chơi thị trường ngày càng tự do hóa Theo xu hướng đó, sự vận động của nguồn lực ngày càng vượt ra khỏi sự chế ước của các nguyên tắc quản trị quốc gia, tức là thoát khỏi sự điều tiết nhà nước của từng quốc gia cụ thể Đây là một xu thế tất yếu Ở cấp

độ đó, nó bắt nguồn từ những điều kiện mang tính thời đại, vượt khỏi những giả định mang tính truyền thống của cả lý thuyết “Tân cổ điển” lẫn lý thuyết Keynes, vốn lấy phạm vi thể chế quốc gia làm địa bàn hoạt động chính

Theo xu thế đó, trong không gian thể chế toàn cầu - hội nhập quốc tế, kinh tế thế giới đã bùng nổ tăng trưởng Quá trình này kéo dài liên tục trong hàng chục năm, khẳng định tính tất yếu của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Tình hình kinh

tế thế giới có những biến động không thuận lợi, giá cả các mặt hàng chiến lược tăng cao, cùng những khó khăn, yếu kém nội tại đã làm cho tình hình kinh tế nước ta có những diễn biến bất lợi, giá cả nhập siêu tăng cao ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và đời sống nhân dân

Trang 2

Việc phân tích lý thuyết giá cả, cung – cầu có ý nghĩa thiết thực để chúng ta vận dụng vào điều kiện phát triển kinh tế nước ta

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Hoàn cảnh ra đời và phương pháp luận

1.1 Hoàn cảnh ra đời học thuyết kinh tÕ của Trường phái Tân cổ điển

- Ra đời từ nữa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Áo, Anh, Thụy Sỹ, Mỹ;

- Nghiên cứu các hiện tượng kinh tế mới;

- Chống lại ảnh hưởng học thuyết kinh tế Macxit

1.2 Phương pháp luận nghiên cứu

- Đề cao tự do kinh tế và cơ chế tự điều chỉnh của nền kinh tế

- Dựa vào yếu tố tâm lý chủ quan để giải thích các hiện tượng và quá trình kinh tế

- Nghiên cứu kinh tế trong lĩnh vực lưu thông, trao đổi cung -cầu

- Phân tích kinh tế vi mô

- Áp dụng toán học vào phân tích kinh tế

Học thuyết kinh tế của Trường phái Tân cổ điển, bao gồm các học thuyết kinh

tế Trường phái Thành Viene (Áo); Trường phái Thành Lausanne (Thụy sỹ); Trường phái Cambridge (Anh) …

2 Học thuyết kinh tế Trường phái Cambridge (Anh)

2.1 Lý thuyết giá cả, cung - cầu

Tác giả tiêu biểu của trường phái này là Alfred.Marsall (1842 -1924) Ông là giáo sư kinh tế học của Trường đại học tổng hợp Cambridge Ông đã nổi tiếng lý thuyết giá cả Nó được tổng hợp từ lý thuyết chi phí sản xuất, cung cầu, ích lợi giới hạn Ông thể hiện đặc điểm phương pháp luận của trường phái tân cổ điển và kế thừa luận điểm về “bàn tay vô hình” của A.Smith Ông cho rằng, cơ chế thị trường tự phát

sẽ đảm bảo cân bằng cung cầu, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển, chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế Cho rằng cân bằng thị trường không phải là cân bằng tĩnh mà là cân bằng động, luôn dao động qua điểm cân bằng theo hệ số co dãn của cầu

Trang 3

qua giá Ông A.Marsall tin tưởng vào vai trò tự điều tiết của cơ chế thị trường, ủng hộ

tự do cạnh tranh, nghiên cứu các hiện tượng kinh tế mới, chống lại ảnh hưởng học thuyết kinh tế Mácxit Dựa vào các yếu tố chủ quan để giải thích các hiện tượng và quá trình kinh tế Nghiên cứu kinh tế trong lĩnh vực lưu thông, trao đổi, cung - cầu, phân tích kinh tế vi mô, áp dụng toán học vào phân tích kinh tế

Theo Ông, thị trường là tổng thể những người có quan hệ mua bán, hay là nơi gặp gỡ cung và cầu Sự vận động của cơ chế thị trường, một mặt trong điều kiện cạnh canh hoàn toàn, thì cung cầu phụ thuộc vào giá cả Mặt khác, cơ chế này tác động làm cho giá cả phù hơp với cung cầu là cơ chế hình thành giá cả thị trường Lý thuyết này

đã đi sâu phân tích thị trường dưới gốc độ vi mô Vì thế là cơ sở kinh tế của lý thuyết kinh tế vi mô hiện đại

- Ông đưa ra khái niệm giá cung và giá cầu

+ Giá cung là giá cả mà người sản xuất có thể tiếp tục sản xuất ở mức đồng

thời Nó được quyết định bởi chi phí sản xuất

+ Giá cầu là giá mà người mua có thể mua sớ lượng hàng hóa hiện tại Nó

được quyết định bởi ích lợi giới hạn, tức là giá cầu giảm dần khi số lượng cung về hàng hóa tăng lên trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi Đồ thị:

P (giá cả) P(giá cả)

S (cung)

D(cầu)

Q(sản lượng) Q(sản lượng)

- Khi giá cung và giá cầu gặp nhau thì hình thành giá cả thị trường hay giá cả cân bằng Giá cả thị trường là kết quả của sự va chạm giữa cung và cầu Sự va chạm này hình thành giá cả cân bằng Đồ thị:

Trang 4

P (giá cả)

S(cung)

E(điểm cân bằng)

D(cầu)

Q(sản lượng)

- Ông A.Marsall cho rằng yếu tố thời gian có ảnh hưởng quan trọng đến cung, cầu và giá cả cân bằng

+ Trong nhất thời: Trạng thái kinh tế không thay đổi Giá cả trong trường hợp này sẽ do ích lợi giới hạn, tức khuynh hướng tâm lý của người mua quyết định

+ Trong ngắn hạn: Trạng thái kinh tế và các yếu tố sản xuất có sự thay đổi Trong trường hợp này, giá cả do giá cả ích lợi và chi phí sản xuất quyết định

+ Trong dài hạn: các yếu tố sản xuất thay đổi hoàn toàn, giá cả sẽ do chi phí sản xuất quyết định

Về mặt phương pháp luận trong nghiên cứu kinh tế, Marshall cho rằng phải từ

bỏ phương pháp nhân quả, thay thế bằng phương pháp phân tích hàm số theo nghĩa toán học

Ngoài ra sự độc quyền cũng có tác động đến giá cả Để có lợi nhuận cao, các nhà độc quyền thường giảm sản lượng, nâng giá bán Song, điều đó không có nghĩa là độc quyền quyết định tất cả, bởi vì trên thị trường còn chịu sự tác động co dãn của cầu

* Ông A.Marsall đưa ra khái niệm “co dãn của cầu” Khái niệm chỉ ra sự phụ thuộc của cầu vào mức giá cả

- Theo ông, mức giá linh hoạt của cầu trên thị trường phụ thuộc vào tình trạng sau: Khối lượng hàng hóa tăng lên một lượng nhất định, khi giá cả hàng hóa giảm xuống và ngược lại

- Ông đưa ra công thức hệ số co dãn của cầu qua giá:

Trang 5

Hệ số co dãn của cầu: Ed = Mức tăng % của Q/ Mức giảm % của P

Hay Ed = Q/Q : P/P = Q/P x P/Q

Nếu Ed > 1 thì đây là trường hợp sự thay đổi nhỏ của giá (P) sẽ làm thay đội một lượng lớn của cầu (Q), tức là cầu co dãn mạnh (hàng cao cấp)

Ed < 1 thì đây là trường hợp sự thay đổi lớn của giá (P) cũng chỉ làm thay đổi một lượng ít hơn số lượng cầu (Q), tức là cầu cứng rắn

Ed = 1 tốc độ thay đổi của giá (P) và của cầu (Q) là như nhau, tức là cầu co dãn bằng đơn vị

- Sự co dãn của cầu phụ thuộc vào các nhân tố: mức giá cả, mức giá hàng hóa

có liên quan, sức mua và nhu cầu mua sắm của dân cư

Những nhân tố quyết định độ co giãn của cầu theo giá

Độ co giãn của cầu theo giá sẽ tương đối cao khi:

• Có sẵn hàng hoá gần giống để thay thế

• Hàng hoá và dịch vụ chiếm một phần lớn với ngân sách của người tiêu dùng

• Được xem xét trong một giai đoạn dài hơn

II CÁC QUAN HỆ CUNG CẦU VÀ GIÁ CẢ HÀNG HÓA – VẬN DỤNG

Alfred Marshall cho rằng khi một mặt hàng ở trạng thái dư cầu thì giá của người mua sẽ cao hơn giá của người bán; người sản xuất sẽ tăng lượng cung Ngược lại, khi mặt hàng ở trạng thái dư cung, thì giá của người mua sẽ thấp hơn giá của người bán; người sản xuất sẽ giảm lượng cung

Trái với Marshall, Leon Walras cho rằng thị trường đạt trạng thái cân bằng không phải bởi sự điều chỉnh lượng cung cấp, mà bởi sự điều chỉnh giá cả Khi một mức giá được nêu ra cao hơn mức giá cân bằng cần có khiến cho lượng cung sẵn sàng nhiều hơn lượng cầu sẵn sàng, thì giá cả sẽ giảm xuống mức cân bằng để thị trường không còn dư cung Còn khi mức giá nêu ra thấp thì ngược lại

1 Nhu cầu

Nhu cầu, trong kinh tế học thường được hiểu là nhu cầu tiêu dùng, đôi khi gọi tắt là cầu, là sự cần thiết của một cá thể về một hàng hóa hay dịch vụ nào đó Khi nhu

Trang 6

cầu của toàn thể các cá thể đối với một mặt hàng trong một nền kinh tế gộp lại, ta có

nhu cầu thị trường Khi nhu cầu của toàn thể các cá thể đối với tất cả các mặt hàng

gộp lại, ta có tổng cầu

2 Lượng cầu

Lượng một mặt hàng nào đó mà một cá thể có nhu cầu, khi có đủ ngân sách để mua tại một thời điểm nhất định với mức giá cả xác định của nó và mức giá cả xác

định của các hàng hóa khác gọi là lượng nhu cầu (lượng cầu) Như vậy, có thể thấy

lượng cầu một mặt hàng phụ thuộc vào giá cả thị trường của chính nó, mức thu nhập của mỗi cá thể, và vào giá cả của các mặt hàng khác (nhất là các mặt hàng thay thế hoặc bổ sung cho nó) Đường cong nhu cầu:

Đường cong nhu cầu dốc xuống Giá cả tăng, lượng cầu giảm Đây là sự dịch chuyển dọc theo đường cầu

Trong kinh tế học nhập môn, để cho đơn giản, người ta thường gác các yếu tố như giá cả các mặt hàng khác, mức thu nhập của người tiêu dùng, thời tiết, v.v sang một bên và chỉ tập trung vào xem xét quan hệ giữa giá cả một mặt hàng với lượng cầu

về nó rồi biểu diễn quan hệ này bằng đường cong nhu cầu (đường nhu cầu, đường

cầu) Đường này được đặt trong một trục tọa độ hai chiều với trục tung là mức giá và

trục hoành là lượng cầu Đường cong nhu cầu của một mặt hàng bình thường sẽ là một đường dốc xuống phía phải, bởi vì quan hệ giữa giá cả và lượng cầu là quan hệ nghịch Giá cả tăng thì lượng cầu giảm, còn khi giá cả giảm thì lượng cầu sẽ tăng lên Kinh tế học gọi đó là sự dịch chuyển dọc theo đường cầu Quan hệ bình thường này

đôi khi được gọi là quy tắc nhu cầu.

Trang 7

Mức độ nhạy cảm trong thay đổi lượng cầu của một mặt hàng khi giá cả của chính nó thay đổi gọi là độ co dãn của nhu cầu theo giá cả

Nếu như sự dịch chuyển dọc theo đường cầu là do mức giá thay đổi trong khi các yếu tố khác không đổi, thì với mức giá cố định còn các yếu tố khác (thu nhập và

sở thích của người tiêu dùng, giá cả các hàng hóa khác) thay đổi, cả đường cầu sẽ dịch chuyển

3 Các quan hệ cung cầu:

a) Quan hệ giữa lượng cầu và thu nhập của người tiêu dùng

Khi mức giá không đổi, các yếu tố khác thay đổi, cả đường cầu sẽ dịch chuyển khiến lượng cầu thay đổi

Nếu mặt hàng mà người mua có nhu cầu là hàng hóa thông thường hoặc hàng hóa xa xỉ hay hàng hóa cao cấp, thì khi thu nhập của anh ta tăng, lượng cầu mặt hàng này cũng tăng

Nếu là Hàng hóa thông thường, thì khi thu nhập của người mua tăng, lượng cầu mặt hàng lại giảm vì anh ta khá giả hơn nên sở thích thay đổi

Mức độ nhạy cảm của thay đổi về lượng cầu của một mặt hàng khi thu nhập của người mua thay đổi gọi là độ co dãn của nhu cầu theo thu nhập

b) Quan hệ giữa lượng cầu hàng hóa này với giá cả hàng hóa khác

Lượng cầu một mặt hàng không chỉ chịu tác động từ giá cả của chính nó, mà còn từ giá cả của các mặt hàng khác Giả định các yếu tố khác không thay đổi

Lượng cầu một mặt hàng sẽ giảm, khi giá cả của những mặt hàng thay thế cho

nó hạ xuống Ví dụ, lượng cầu về rượu có thể giảm, nếu giá bia hạ xuống

Trang 8

Lượng cầu một mặt hàng sẽ giảm, khi giá cả của những mặt hàng bổ sung cho

nó tăng lên Ví dụ, lượng cầu về máy in có thể giảm, nếu giá mực in, giấy in, v.v tăng lên

Mức độ nhạy cảm trong thay đổi lượng cầu của một mặt hàng khi giá cả các mặt hàng khác thay đổi, gọi là độ co dãn chéo của nhu cầu theo giá cả

c) Quan hệ giữa lượng cầu với sở thích của người tiêu dùng

Giả định các yếu tố khác không thay đổi, khi người tiêu dùng thay đổi sở thích của mình đối với mặt hàng nào đó, thì lượng cầu của hàng hóa đó sẽ thay đổi theo Ví

dụ, nếu người tiêu dùng trở nên không thích đồ uống có ga, và giả định các yếu tố khác trong đó có giá cả mặt hàng này không đổi, thì lượng cầu về đồ uống có ga sẽ giảm đi

4 Vận dụng lý thuyết.

Trung tâm nghiên cứu của Marshall là thị trường và cơ chế hình thành giá cả thị trường Thị trường là tổng thể những người có quan hệ mua bán hay là nơi gặp gỡ của cung và cầu Khi nghiên cứu cơ chế thị trường, Marshall cho rằng một mặt trong điều kiện cạnh tranh hoàn toàn thì cung cầu phụ thuộc vào giá cả Mặt khác cơ chế thị trường tác động làm cho giá cả phù hợp với cung và cầu, nghĩa là giá cả được quyết định bởi cung, cầu

Cụ thể: Vì sao hàng Trung Quốc vẫn được người tiêu dùng lựa chọn, mặc dù ai cũng biết hàng giá rẻ Trung Quốc có chất lượng không đảm bảo? Làm thế nào để hàng nội địa cạnh tranh tốt với hàng Trung Quốc? Đây là câu hỏi đặt ra cho doanh nghiệp Việt Nam đi tìm lời giải đáp

Về năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam so với hàng Trung Quốc thì hàng nội địa còn kém xa Trung Quốc sản xuất hàng hóa theo hình thức hàng loạt, quy mô lớn nên tiết giảm chi phí sản xuất nhờ vậy giá cả sản phẩm rất rẻ Hình thức phân công lao động ở Trung Quốc rất phù hợp, chi phí giao dịch thấp, cung ứng dịch vụ hỗ trợ sản xuất như điện cũng rất tốt Đồng thời họ còn có khả năng cung cấp cùng lúc nhiều loại hàng hóa đa dạng về chất lượng, giá cả

Trang 9

Do vậy, bản thân các doanh nghiệp phải xây dựng tư duy cạnh tranh với hàng Trung Quốc trên “sân nhà” Nếu hàng trong nước luôn có chất lượng tốt, đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng thì không có lý do gì để người tiêu dùng mua hàng ngoại Vấn đề đặt ra cho doanh nghiệp là phải đổi mới về chiến lược kinh doanh, đổi mới phương thức sản xuất, cải tiến quy trình công nghệ để hạ giá thành sản phẩm nhưng vẫn đảm bảo về chất lượng

Độ co dãn của cầu theo giá: Nếu hàng hoá này chỉ chiếm một phần nhỏ trong ngân sách của người tiêu dùng, một sự thay đổi giá của hàng hoá sẽ tác động ít với sức mua của mỗi cá nhân Trong trường hợp này, một sự thay đổi về giá sẽ có tác động tương đối nhỏ với lượng hàng hoá được tiêu dùng Chẳng hạn, giá muối cao gấp đôi sẽ không có nhiều tác động lên ngân sách của một người tiêu dùng điển hình Nhưng khi một hàng hoá chiếm một phần tương đối lớn trong chi tiêu của cá nhân, một sự tăng giá có tác động lớn với sức mua của họ Giả sử một người chi dùng 50% thu nhập của anh ta cho một hàng hoá và giá của hàng hoá tăng gấp đôi Có vẻ cá nhân này sẽ liên tục giảm chi tiêu của họ để phản ứng với mức giá cao hơn khi chi tiêu với hàng hoá này chiếm phần lớn trong ngân sách của người tiêu dùng Vì vậy, cầu sẽ có xu hướng

co giãn hơn với những hàng hoá chiếm một phần nhỏ trong ngân sách của một người tiêu dùng điển hình

Người tiêu dùng thường có nhiều khả năng lựa chọn thay thế một hàng hoá khi tính trong một giai đoạn dài hơn.Ví dụ, hãy xem xét tác động của sự tăng giá xăng dầu Về ngắn hạn, các cá nhân có thể giảm bớt nhưng không thể giảm nhiều nhu cầu

đi lại của họ Tuy nhiên, trong một giai đoạn dài hơn, người tiêu dùng có thể chuyển sang sử dụng các phương tiện tiêu thụ ít nhiên liệu hơn hay sử dụng các phương tiện giao thông công cộng Vì vậy, chúng ta sẽ dự tính cầu về xăng dầu trong dài hạn sẽ co giãn hơn cầu về ngắn hạn

Thời gian gần đây, Nhiều chuyên gia cho rằng, với cuộc chạy đua phân phối iPhone 3GS đang diễn ra trên thị trường di động Việt, dù nhà mạng đều khẳng định, sẽ đảm bảo dành cho người dùng sự ưu đãi, hấp dẫn nhất song với phần đông người dùng

Trang 10

Việt, iPhone 3GS chưa phải là quả táo ngọt mà “vẫn còn xanh lắm” Đối tượng hưởng lợi nhất không phải là người dùng Việt mà chính là Apple

Kinh nghiệm tại các quốc gia đã tham gia phân phối iPhone cho thấy, chính sách của Apple gần như đồng nhất áp dụng với các đối tác của họ trên toàn cầu Và các đối tác của Apple ở Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật này Thế nhưng, cùng một lúc ký hợp đồng với hai doanh nghiệp di động Việt là VinaPhone và Viettel

để họ là đối tác phân phối iPhone 3GS, Apple đã gián tiếp tạo ra một cuộc chạy đua về giá sản phẩm, gói cước đi kèm khiến các nhà mạng tham gia phân phối phải đau đầu tính nước sao cho tạo ra sức hấp dẫn nhất với khách hàng Để cạnh tranh, các doanh nghiệp di động Việt thời gian vừa rồi phải nhìn trước ngó sau, đưa ra những chính sách hấp dẫn hơn của người khác bằng cách cung cấp sản phẩm đến khách hàng với chi phí và mức ưu đãi hấp dẫn nhất

Không biết cái “nhất” đó nhà mạng đạt được đến đâu, chỉ biết rằng, sau gần 1 tuần hai nhà mạng VinaPhone, Viettel chính thức phân phối điện thoại iPhone 3GS ra thị trường Việt Nam, đến thời điểm này, “cơn sốt” iPhone đã hạ nhiệt Không có quá nhiều người mua như dự kiến của nhà mạng, tình trạng chen lấn, xếp hàng diễn ra trong ngày đầu chỉ để được… ngắm hàng cũng không còn nữa, thậm chí, thay vào đó

là cảnh đìu hiu, nhân viên ngồi rảnh việc tại các cửa hàng phân phối này Với phần đông người Việt, iPhone 3GS vẫn là một món hàng khá xa xỉ.

Sau cuộc khủng hoảng (2008) vừa qua, kink tế Việt Nam phục hồi nhu cầu xây dựng tăng nên giá thép tăng cao làm kéo theo một số mặt hàng tăng giá như: gạch, xi măng…

Qua phân tích trên cho thấy giá cả luôn biến động của các yếu tố cung – cầu và các yếu tố phi kinh tế, xu hướng giá tăng lên và ở mức cao là điều không thể tránh khỏi Sự can thiệp của chính phủ để điều tiết giá cả trên thị trường là hết sức cần thiết, tuy nhiên trong quá trình can thiệp này, chính phủ cần phải nắm rõ những tác động tiêu cực để từ đó có những biện pháp chiến lược nhằm ổn định thị trường (chống buôn lâu, trữ hàng…)

III Ý NGHĨA THỰC TIỄN VIỆC VẬN DỤNG LÝ THUYẾT

Ngày đăng: 12/06/2014, 16:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w