TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG “LÝ THUYẾT TỔNG QUÁT” CỦA JOHN MAYNARD KEYNES VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA NÓ Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Minh Tuấn Lớp : Cao học Kinh tế Chính trị K19 Học viên thực hiện : Nhan Thanh Nguyễn Thiệu Thành Nguyễn Thị Thu TP. HCM – 032010 MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU…………………………………………………………… Trang 3 I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI LÝ THUYẾT KINH TẾ TỔNG QUÁT CỦA KEYNES……… 4 II. NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG LÝ THUYẾT KINH TẾ TỔNG QUÁT CỦA KEYNES…………………………………………………………………………….. 4 1. Lý thuyết “Tổng cầu”……………………………………………………………. 4 2. Lý thuyết “khuynh hướng tiêu dùng cận biên”………………………………….. 5 3. Lý thuyết “số nhân đầu tư”………………………………………………………. 5 4. Lý thuyết lãi suất………………………………………………………………… 6 5. Lý thuyết về vai trò điều chỉnh kinh tế của nhà nước tư sản…………………….. 7 III. NHẬN XÉT LÝ THUYẾT KINH TẾ TỔNG QUÁT CỦA KEYNES………………. ..7 IV. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA LÝ THUYẾT KINH TẾ TỔNG QUÁT CỦA KEYNES…………………………………………………………………………….. 11 KẾT LUẬN…………………………………………………………………….. 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………. 15 LỜI NÓI ĐẦU Cuộc đại khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng vào những năm 1929 1933 là thời kỳ có những thay đổi lớn cả về nền kinh tế lẫn lý thuyết kinh tế. Trong suốt thời gian đó, những cơ chế cũ vốn điều hoà nền kinh tế, đặc biệt là chu kỳ kinh tế, nhưng nay chúng lại phải chịu sức ép lớn từ những thuyết kinh tế mới và những phương pháp điều hành mới, và sau cùng bị thay thế bởi những thuyết và phương pháp mới này. Kinh tế học cổ điển với quan điểm để mặc tư nhân kinh doanh (theo họ thị trường sẽ tự điều tiết nếu thấy cần thiết) và kinh tế học tân cổ điển với quan điểm là một vài loại thị trường đặc biệt sẽ tự động điều tiết, cả hai đều đã không còn phù hợp với tình hình xã hội hiện tại nữa và phải nhường lại cho kinh tế học vĩ mô Keynes với trọng tâm chính là nêu bật vai trò tăng trưởng tiền lương (để tăng tổng cầu) và vai trò của nhà nước trong việc quản lý nền kinh tế. Đặc biệt, cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ bắt đầu xảy ra từ năm 2007 sau đó đã lan khắp các thị trường tài chính lớn trên thế giới. Chỉ trong vòng 12 tháng của 2008 đã làm bốc hơi trên 30 ngàn tỉ USD trong tổng số 62 ngàn tỉ USD vốn hóa toàn cầu. Sau cuộc khủng hoảng tài chính, thế giới bước vào một cuộc suy thoái kinh tế được ví là nghiêm trọng nhất trong vòng gần 100 năm qua. Chính phủ các nước không thể khoanh tay đứng nhìn. Hàng loạt các gói giải cứu lớn đến cả ngàn tỉ USD ở hầu khắp các nước trên thế giới đổ ra khiến cho người ta nhớ đến một nhà kinh tế vĩ đại của những năm 30 của thế kỷ trước: John Maynard Keynes. Mặc dù thời đại ngày nay rất khác với thời đại của ông, nền kinh tế thế giới đã toàn cầu hóa và hội nhập sâu sắc, tuy nhiên, các nguyên tắc tạo “cầu hiệu quả” “cầu có khả năng thanh toán” bằng các gói cứu trợ, kích thích kinh tế bằng tăng chi ngân sách, mở rộng thị trường nhà nước và thực hành tín dụng rẻ để kích thích đầu tư và tiêu dùng... mà Keynes đề xuất hồi ấy thì vẫn còn nguyên giá trị. Nhiều nhà kinh tế và hoạch định chính sách trên thế giới, trong khi chưa tìm ra các lý thuyết mới làm căn cứ để đưa nền kinh tế của mình ra khỏi suy thoái, đã rất kỳ vọng vào việc vận dụng và phát triển các nguyên tắc của Keynes trong điều kiện hiện nay. Vì vậy việc nghiên cứu lý thuyết kinh tế tổng quát của Keynes không những có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn cả về mặt thực tiễn góp phần gợi mở cho Việt Nam những bài học kinh nghiệm khi vận dụng trong bối cảnh mới. Phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp duy vật biện chứng, logic – lịch sử và đối chiếu so sánh. I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI LÝ THUYẾT TỔNG QUÁT CỦA KEYNES: Học thuyết kinh tế của Keynes ra đời trong hoàn cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933, đã làm phá sản học thuyết “tự điều chỉnh kinh tế” của trường phái cổ điển và tân cổ điển. Trong thực tế của chủ nghĩa tư bản, các quy luật kinh tế khách quan hoạt động một cách tự phát đã đem đến khủng hoảng cho nền kinh tế. Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ lúc bấy giờ đã làm cho tình hình kinh tế – xã hội rối loạn, thất nghiệp tăng cao do hàng loạt công ty, nhà máy phải bị phá sản nên sa thải công nhân hàng loạt. Hàng triệu tấn hàng bị ứ thừa không tiêu thụ được phải đem đổ xuống biển. Trong khi đó, quần chúng nhân dân lao động không có thu nhập hoặc thu nhập rất thấp nên không có khả năng tiêu thụ, đời sống vô cùng khó khăn. Mâu thuẫn xã hội diễn ra gay gắt. Trước tình hình đó đòi hỏi cấp bách của lý luận và thực tiễn là phải có một lý thuyết kinh tế mới có khả năng giúp nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thoát được cơn khủng hoảng này. Lý thuyết của Keynes xuất hiện và đáp ứng được yêu cầu đó.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN
Đ
Ề TÀI : NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG “LÝ THUYẾT TỔNG QUÁT” CỦA JOHN MAYNARD KEYNES VÀ Ý NGHĨA
THỰC TIỄN CỦA NÓ
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Minh Tuấn
Lớp : Cao học Kinh tế Chính trị - K19
Học viên thực hiện : Nhan Thanh
Nguyễn Thiệu Thành Nguyễn Thị Thu
TP HCM – 03/2010
Trang 2MỤC LỤC
I HOÀN CẢNH RA ĐỜI LÝ THUYẾT KINH TẾ TỔNG QUÁT CỦA KEYNES……… 4
II NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG LÝ THUYẾT KINH TẾ TỔNG QUÁT CỦA KEYNES……… 4
1 Lý thuyết “Tổng cầu”……… 4
2 Lý thuyết “khuynh hướng tiêu dùng cận biên”……… 5
3 Lý thuyết “số nhân đầu tư”……….5
4 Lý thuyết lãi suất……… 6
5 Lý thuyết về vai trò điều chỉnh kinh tế của nhà nước tư sản……… 7
III NHẬN XÉT LÝ THUYẾT KINH TẾ TỔNG QUÁT CỦA KEYNES……… 7
IV Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA LÝ THUYẾT KINH TẾ TỔNG QUÁT CỦA KEYNES……… 11
* KẾT LUẬN……… 14
* TÀI LIỆU THAM KHẢO……….15
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Cuộc đại khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng vào những năm 1929 - 1933 là thời
kỳ có những thay đổi lớn cả về nền kinh tế lẫn lý thuyết kinh tế Trong suốt thời gian
đó, những cơ chế cũ vốn điều hoà nền kinh tế, đặc biệt là chu kỳ kinh tế, nhưng nay chúng lại phải chịu sức ép lớn từ những thuyết kinh tế mới và những phương pháp điều hành mới, và sau cùng bị thay thế bởi những thuyết và phương pháp mới này Kinh tế học cổ điển với quan điểm để mặc tư nhân kinh doanh (theo họ thị trường sẽ tự điều tiết nếu thấy cần thiết) và kinh tế học tân cổ điển với quan điểm là một vài loại thị trường đặc biệt sẽ tự động điều tiết, cả hai đều đã không còn phù hợp với tình hình xã hội hiện tại nữa và phải nhường lại cho kinh tế học vĩ mô "Keynes" với trọng tâm chính là nêu bật vai trò tăng trưởng tiền lương (để tăng tổng cầu) và vai trò của nhà nước trong việc quản lý nền kinh tế
Đặc biệt, cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ bắt đầu xảy ra từ năm 2007 sau đó đã lan khắp các thị trường tài chính lớn trên thế giới Chỉ trong vòng 12 tháng của 2008
đã làm bốc hơi trên 30 ngàn tỉ USD trong tổng số 62 ngàn tỉ USD vốn hóa toàn cầu Sau cuộc khủng hoảng tài chính, thế giới bước vào một cuộc suy thoái kinh tế được ví
là nghiêm trọng nhất trong vòng gần 100 năm qua Chính phủ các nước không thể khoanh tay đứng nhìn Hàng loạt các gói giải cứu lớn đến cả ngàn tỉ USD ở hầu khắp các nước trên thế giới đổ ra khiến cho người ta nhớ đến một nhà kinh tế vĩ đại của những năm 30 của thế kỷ trước: John Maynard Keynes Mặc dù thời đại ngày nay rất khác với thời đại của ông, nền kinh tế thế giới đã toàn cầu hóa và hội nhập sâu sắc, tuy nhiên, các nguyên tắc tạo “cầu hiệu quả” - “cầu có khả năng thanh toán” bằng các gói cứu trợ, kích thích kinh tế bằng tăng chi ngân sách, mở rộng thị trường nhà nước và thực hành tín dụng rẻ để kích thích đầu tư và tiêu dùng mà Keynes đề xuất hồi ấy thì vẫn còn nguyên giá trị Nhiều nhà kinh tế và hoạch định chính sách trên thế giới, trong khi chưa tìm ra các lý thuyết mới làm căn cứ để đưa nền kinh tế của mình ra khỏi suy thoái, đã rất kỳ vọng vào việc vận dụng và phát triển các nguyên tắc của Keynes trong điều kiện hiện nay
Vì vậy việc nghiên cứu lý thuyết kinh tế tổng quát của Keynes không những có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn cả về mặt thực tiễn góp phần gợi mở cho Việt Nam những bài học kinh nghiệm khi vận dụng trong bối cảnh mới
Phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp duy vật biện chứng, logic – lịch
sử và đối chiếu so sánh
Trang 4I HOÀN CẢNH RA ĐỜI LÝ THUYẾT TỔNG QUÁT CỦA KEYNES:
Học thuyết kinh tế của Keynes ra đời trong hoàn cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933, đã làm phá sản học thuyết “tự điều chỉnh kinh tế” của trường phái cổ điển và tân cổ điển Trong thực tế của chủ nghĩa tư bản, các quy luật kinh tế khách quan hoạt động một cách tự phát đã đem đến khủng hoảng cho nền kinh tế Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ lúc bấy giờ đã làm cho tình hình kinh tế – xã hội rối loạn, thất nghiệp tăng cao do hàng loạt công ty, nhà máy phải bị phá sản nên sa thải công nhân hàng loạt Hàng triệu tấn hàng bị ứ thừa không tiêu thụ được phải đem đổ xuống biển Trong khi đó, quần chúng nhân dân lao động không có thu nhập hoặc thu nhập rất thấp nên không có khả năng tiêu thụ, đời sống vô cùng khó khăn Mâu thuẫn
xã hội diễn ra gay gắt Trước tình hình đó đòi hỏi cấp bách của lý luận và thực tiễn là phải có một lý thuyết kinh tế mới có khả năng giúp nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thoát được cơn khủng hoảng này Lý thuyết của Keynes xuất hiện và đáp ứng được yêu cầu đó
John Maynard Keynes (1883 – 1946), sinh tại Anh, là nhà kinh tế học nổi tiếng, giáo sư kinh tế học của trường Đại học Cambridge Ông là chuyên gia trong lĩnh vực tài chính, tín dụng, lưu thông tiền tệ, làm cố vấn cho chính phủ Anh về ngân khố quốc gia và là chủ bút tạp chí “Nhà kinh tế” Ông xuất bản nhiều tác phẩm: “Cải cách tiền tệ” (1923), “Bàn về tiền tệ” (1930) … Nổi tiếng nhất là tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (1936)
II NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG LÝ THUYẾT KINH TẾ TỔNG QUÁT CỦA KEYNES:
1 Lý thuyết “Tổng cầu”:
Về “tổng cầu”, theo Keynes, một nền kinh tế chịu tác động của hai nhân tố cơ bản: tổng cung tức toàn bộ số hàng hóa bán trên thị trường, và tổng cầu, tức toàn thể
số hàng hóa mà người ta muốn mua Nhân tố trực tiếp quyết định mức sản lượng và việc làm trong nền kinh tế không phải là tổng cung mà chính là tổng cầu Tổng cung giữ vai trò thụ động, nó chịu sự tác động của tổng cầu Đến lượt mình, tổng cầu phụ thuộc vào các yếu tố: mức chi tiêu cá nhân của mỗi gia đình, mức chi tiêu cho đầu tư, mức chi tiêu của chính phủ và chi tiêu ròng của nước ngoài đối với hàng hóa sản xuất trong nước (xuất khẩu ròng)
Theo Keynes, trong quá trình vận động của nền kinh tế, tổng cầu thường không theo kịp so với tổng cung Điều đó ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, thu hẹp đầu tư và
Trang 5gây ra nạn thất nghiệp Để giải quyết tình trạng này phải tăng tổng cầu Tổng cầu lớn hơn tổng cung sẽ làm gia tăng đầu tư do đó sẽ gia tăng việc làm và gia tăng thu nhập Cuối cùng sản lượng quốc gia cũng được gia tăng
2 Lý thuyết “khuynh hướng tiêu dùng cận biên”:
Một trong những thành phần của tổng cầu là tiêu dùng Trong lý thuyết của mình, Keynes chia thu nhập làm hai phần : phần cho tiêu dùng và phần tiết kiệm Từ đó, sẽ
có hai khuynh hướng xảy ra đối với việc sử dụng thu nhập : khuynh hướng tiêu dùng
và khuynh hướng tiết kiệm Khuynh hướng tiêu dùng là mối quan hệ giữa thu nhập và phần chi tiêu cho tiêu dùng, còn khuynh hướng tiết kiệm là mối quan hệ giữa thu nhập
và phần tiết kiệm
Hàm số tiêu dùng có dạng: C = f(Y)
Hàm số tiết kiệm có dạng: S = g(Y)
Trong đó:
C: tiêu dùng từ thu nhập S: tiết kiệm từ thu nhập Y: thu nhập
Khuynh hướng tiêu dùng cận biên (MPC – Marginal propensity to consume) là mối quan hệ giữa sự gia tăng tiêu dùng so với sự gia tăng thu nhập
MPC = ▲C/▲Y Khuynh hướng tiết kiệm cận biên là mối quan hệ giữa gia tăng tiết kiệm so với sự gia tăng thu nhập (MPS – Marginal Propensity to Save) Ví dụ : với một đồng thu nhập tăng thêm dành 0,8 đồng cho tiêu dùng thêm và 0,2 đồng cho tiết kiệm thêm thì ta có MPC = 0,8; còn MPS = 0,2
Theo Keynes, quy luật tâm lý cơ bản của con người là cùng với sự gia tăng của thu nhập, khuynh hướng tiết kiệm cận biên sẽ ngày càng tăng, đồng thời khuynh hướng tiêu dùng sẽ giảm tương đối so với sự gia tăng của khuynh hướng tiết kiệm cận biên Đó là nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp
3 Lý thuyết “số nhân đầu tư”:
Số nhân đầu tư thể hiện mối quan hệ giữa gia tăng đầu tư với gia tăng thu nhập
Nó chỉ rõ sự gia tăng đầu tư sẽ kéo theo sự gia tăng thu nhập lên bao nhiêu Nó cho chúng ta biết rằng khi có một lượng thêm về đầu tư tổng hợp, thì thu nhập sẽ tăng thêm một lượng bằng k lần mức gia tăng đầu tư
Ta có: k = ▲Y/▲I
▲Y = k x ▲I Xác định trị số k như sau: theo Keynes thu nhập được chia thành tiêu dùng và tiết kiệm, đồng thời thu nhập cũng có thể chia thành tiêu dùng và đầu tư Như vậy:
Thu nhập = tiêu dùng + tiết kiệm
Y = C + S
Thu nhập = tiêu dùng + đầu tư
Y = C + I
Trang 6Từ đó: Tiết kiệm = đầu tư
S = I Nếu xét dưới phương tiện cận biên thì: ▲Y = ▲C + ▲S
Hay ▲Y = ▲C + ▲I Suy ra: ▲I = ▲S = ▲Y - ▲C
Nên: k = ▲Y/▲I = ▲Y/ (▲Y - ▲C)
= (▲Y/▲Y) / (▲Y/▲Y - ▲C/▲Y) Như vậy trị số k sẽ là: k = 1 / (1 - ▲C/▲Y)
Hay k = 1 / (1 – MPC) Qua sự phân tích trên, ta thấy khuynh hướng tiêu dùng cận biên có vai trò quan trọng trong số nhân và đến lượt mình số nhân làm khuyếch đại thu nhập khi có sự gia tăng đầu tư Khuynh hướng tiêu dùng cận biên càng gia tăng thì số nhân đầu tư càng lớn, do đó độ khuyếch đại của gia tăng đầu tư đối với thu nhập, sản lượng và công ăn việc làm càng lớn và ngược lại, khuynh hướng tiết kiệm cận biên càng tăng thì sự rò rĩ trong chi tiêu càng lớn nên số nhân càng nhỏ, do đó, độ khuyếch đại thu nhập, sản lượng, công ăn việc làm của gia tăng đầu tư càng nhỏ
Theo Keynes, mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo cầu bổ sung về công nhân
và tư liệu sản xuất, có nghĩa là việc làm gia tăng, thu nhập gia tăng Thu nhập tăng sẽ làm tiền đề cho tăng đầu tư mới Như vậy, số nhân tác động dây chuyền, nó khuyếch đại thu nhập lên
4 Lý thuyết lãi suất:
Lãi suất có ý nghĩa rất lớn đối với đầu tư do đó tác động đến công ăn việc làm và thu nhập trong xã hội
Về bản chất, Keynes cho rằng, lãi suất là số tiền trả cho việc không sử dụng tiền mặt trong một khoảng thời gian nhất định
Có hai nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất:
Thứ nhất, khối lượng tiền tệ đưa vào lưu thông Nếu khối lượng tiền tệ đưa vào
lưu thông càng tăng thì lãi suất càng giảm và ngược lại Đây là một công cụ quan trọng
để đưa ra chính sách điều chỉnh kinh tế của nhà nước Để kích thích đầu tư cần hạ lãi suất, muốn hạ lãi suất thì phải tăng khối lượng tiền trong lưu thông
Thứ hai, sự ưa thích tiền mặt Đây chính là mức cầu tiền tệ Theo Keynes,
người ta có thể giữ tài sản dưới nhiều hình thức như: giữ dưới dạng tiền, dưới dạng các loại chứng khoán có giá, dưới dạng hiện vật, … Trong đó, Keynes cho rằng của cải dưới dạng tiền là thuận lợi nhất Do vậy, con người có khuynh hướng gắn liền với nó
Mà lãi suất là phần thưởng cho sự xa rời đối với tiền mặt Lãi suất là chi phí cơ hội cho việc giữ tiền mặt Lãi suất cao tức chi phí cơ hội cho việc giữ tiền mặt cao nên người
ta giảm việc giữ tiền mặt và ngược lại Vì vậy, ưa thích tiền mặt là một khuynh hướng
ấn định khối lượng tiền mặt mà người ta muốn giữ lại theo lãi suất nhất định Sự ưa thích tiền mặt chịu sự tác động của các yếu tố sau: 1) động lực giao dịch; 2) động lực
dự phòng; 3) động lực đầu cơ
Trang 7Với những phân tích trên, Keynes cho rằng cần phải giảm lãi suất để kích thích đầu tư Việc giảm lãi suất được thực hiện bằng chính sách tiền tệ mở rộng, tạo ra lạm phát và từ đó kích thích người ta giữ tiền mặt để tiêu dùng, để đầu tư kinh doanh, nhất
là mở rộng thị trường chứng khoán cho hoạt động đầu tư gián tiếp phát triển Qua đó
sẽ kích thích nền kinh tế tăng trưởng
5 Lý thuyết về vai trò điều chỉnh kinh tế của nhà nước tư sản:
Trong logic phân tích lý luận của mình, Keynes cho rằng để thoát khỏi khủng hoảng và thất nghiệp cần có sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế để tăng tổng cầu, gia tăng việc làm và thu nhập Sự can thiệp của nhà nước thông qua các công cụ sau:
Thứ nhất, chương trình đầu tư nhà nước
Để duy trì tổng cầu, nhà nước phải sử dụng ngân sách để kích thích đầu tư của tư nhân và nhà nước thông qua: các đơn đặt hàng của nhà nước, hệ thống mua của nhà nước …
Thứ hai, chính sách tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ
Keynes chủ trương sử dụng hệ thống tài chính, tín dụng, tiền tệ để kích thích lòng tin, sự lạc quan và tích cực đầu tư của nhà đầu tư Ông chủ trương bù đắp thâm hụt ngân sách bằng cách in tiền để duy trì đầu tư nhà nước và đảm bảo chi tiêu cho chính phủ Điều tiết thu nhập thông qua thuế
Thứ ba, mở rộng việc làm bằng cách mở rộng đầu tư thậm chí cả vào các ngành thuộc lĩnh vực quân sự
Thứ tư, khuyến khích tiêu dùng cá nhân
Theo Keynes, sự tham gia của nhà nước vào kinh tế giữ một vai trò quan trọng trong việc làm nền kinh tế tăng trưởng Nó kích thích làm tăng đầu tư tư nhân cũng như tăng tiêu dùng nhà nước Nhờ vậy, nó làm tăng việc làm, thu nhập và đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng và thất nghiệp
III NHẬN XÉT LÝ THUYẾT KINH TẾ TỔNG QUÁT CỦA KEYNES:
Tác phẩm lý thuyết kinh tế tổng quát của John Maynard Keynes (1883-1946) đã cung cấp cho ta lời giải đối với vấn đề làm sao để nền kinh tế tăng trưởng thông qua thặng dư dù cho mức lương có cao và thiếu vắng những mối quan hệ kinh tế Những nhà kinh doanh áp dụng thuyết kinh tế học cổ điển giống như nguyên tắc trò chơi tổng bằng 0 (Zero-Sum Game) Điều này có nghĩa là, nếu một bên có được, thì bên kia mất
đi (tổng của cái được và cái mất bằng 0) Do vậy, họ cảm thấy rằng nếu muốn tăng lợi nhuận thì phải giảm lương Trong giai đoạn thế giới xảy ra các cuộc chiến, thì Keynes nhận thấy rằng thuyết này tồn tại những chướng ngại khó vượt qua được: chính trị thực tiễn và lý thuyết
Về khía cạnh giả thuyết, ông đưa ra giải pháp có thể vừa tăng lương vừa tăng luôn cả lợi nhuận Mặc dù sự công bằng về quyền lực chính trị giữa người kinh doanh
và công nhân đó thiên về phía công nhân, và do đó làm lương tăng lên, nhưng vẫn còn một cách làm tăng thặng dư hay tăng lợi nhuận
Giải pháp đó cần có sự can thiệp tích cực của chính quyền (đặc biệt là nhà nước trung ương) nhằm kích thích tăng trưởng năng suất lẫn sản lượng Keynes nghĩ rằng, giải pháp này khả thi một phần nhờ vào chính sách trả lương cao, chính sách này thực
Trang 8hiện việc cơ cấu lại ngành theo các phân xưởng đạt năng suất cao nhất (cấm hoạt động đối với những phân xưởng tốn chi phí cao mà năng suất lại thấp) Một phần cũng nhờ vào việc mở rộng chi tiêu của chính phủ (đi đôi với công tác điều tiết chính sách tiền tệ), qua đó tạo điều kiện cho các công ty tăng cường đầu tư, thuê mướn thêm công nhân, tăng sản lượng, với phương hướng mở rộng thị trường - tất cả đều làm cho mức lương tăng cao
Trong dạng những biến số kinh tế chính trị trọng tâm, thì giải pháp này rất đơn giản Bạn có thể tăng mức lương và tăng lợi nhuận (thặng dư) khi và chỉ khi bạn nối kết được mức tăng trưởng tiền lương với mức tăng trưởng về năng suất (Năng xuất ở đây chính là năng suất lao động hay sản lượng sản phẩm trong một giờ làm việc của công nhân.) Nếu số lượng sản phẩm trong một giờ gia tăng, và nếu phần sản phẩm tiêu thụ đối với số sản phẩm thặng dư là một hằng số, thì sản lượng tuyệt đối cho tiêu thụ (lương) và cho thặng dư (lợi nhuận) có thể đồng loạt gia tăng
Nếu ta suy nghĩ giải pháp này theo một hướng khác như phép loại suy thường dùng, ở đây xem nó như một cái bánh tăng dần, sau đó chia sản lượng giữa C và S là 75/25 và cái bánh này to dần từ giai đoạn t1 đến giai đoạn t2, thì mức lương và lợi nhuận có thể đồng thời tăng lên trong khi phần chia trong chiếc bánh vẫn giữ nguyên
Do vậy, lợi nhuận sẽ tăng cùng với mức lương
Quan điểm này cũng khá đơn giản nhưng phải mất một thời gian mới được các nhà kinh tế lĩnh hội và thậm chí những nhà kinh doanh cũng khó lòng chấp nhận quan điểm này Thật vậy, các nhà kinh doanh chống đối kịch liệt quan điểm cho rằng lương gia tăng không làm ảnh hưởng đến thặng dư mà Roosevelt đã đặt nó vào một tình hình mới Qua việc ủng hộ những tổ chức công đoàn và biện pháp gia tăng lương bằng pháp chế và tuyên truyền, Roosevelt tạo áp lực cho các doanh nghiệp phải tăng dần mức lương lên chứ không được giảm nửa Về cơ bản, ông cho là "gia tăng năng suất để có khả năng trả lương không thôi thì phải từ bỏ vai trò quản lý của mình Những doanh nghiệp chịu theo cải cách này thì sẽ tồn tại, còn không thì sẽ bị triệt và sẽ bị những doanh nghiệp khác thay thế" Đây là một vị thuốc đắng của chính phủ để thi hành chính sách như thế Do vậy, chẳng có gì ngạc nhiên khi các doanh nghiệp đều ghét Roosevelt kể từ đó thậm chí về cơ bản giải pháp của Keynes mà ông ta ủng hộ đã cứu lấy hệ thống của họ
Chúng ta cũng nên lưu ý rằng thuyết kinh tế Keynes nhằm khái quát hóa và thể chế hóa ở mức độ cấp quốc gia cái ý tưởng mà đã được phát triển trước đó vài năm bởi Henry Ford (hay những nhà nghiên cứu của ông) Ford được gọi là cha đẻ của cải cách
về cái gọi là sản xuất hàng loạt (mass production), ông sản xuất sản phẩm cho một thị trường tập trung rộng lớn Ông muốn mọi người bao gồm cả công nhân của ông -mua xe của ông sản xuất ra Do vậy, ông nhận thấy được cái mà những doanh nghiệp khác không thấy Ông thấy rằng lương không chỉ được khấu trừ từ lợi nhuận mà còn là một phần thiết yếu đối với sự tăng trưởng và mở rộng mức tiêu thụ đã được định hướng sản xuất Ford là người đã trả cho công nhân mức lương cao nhất trong ngành sản xuất ở nước Mỹ Ông trả lương cao như vậy một phần do ông thấy được chính lương bổng hình thành nên nhu cầu và một phần khuyến khích công nhân làm việc chăm chỉ hơn nhằm giảm khuynh hướng thôi việc của họ doanh thu đạt được rất cao trong phương thức sản xuất theo dây chuyền của Ford Quan niệm của ông ta đúng là một quan niệm sáng suốt đặc biệt trong vai trò thiết yếu của lương bổng được xem như nhu cầu sau cùng Theo như các nhà bình luận thì ý tưởng của Ford và vai trò của ông mang một tầm vóc quan trọng trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại,
Trang 9cái họ gọi là "Chủ nghĩa Ford" để ám chỉ một chiến lượt sản xuất mới dành cho thị trường đại trà và trả lương rất hậu
Với Keynes, thì ý tưởng này đã được áp dụng ở cấp độ quốc gia Keynes thấy rằng mức lương "giảm trầm trọng" và không thể giảm tới mức âm được nửa, nhưng có thể xem như một phần của nhu cầu sau cùng đối với các sản phẩm đầu ra - nhu cầu hoàn toàn thiết thực đối với các sản phẩm được bày bán Miễn là lương và năng suất tăng cùng lúc với nhau, sự tăng lương đóng vai trò sống còn trong việc tiêu thụ sản phẩm gia tăng
Phương tiện chính để lập nên mối liên kết giữa lương bổng và năng suất - được gọi là "chính sách năng suất" - là công đoàn, đặc biệt là nghiệp đoàn công nghiệp Những cơ quan này được xem như là thứ vũ khí giúp công nhân chống lại doanh nghiệp, và những cơ quan này đã thừa nhận chính sách này đảm bảo được lợi nhuận Hoặc giả dù gì đi nữa, thì thông qua họ, doanh nghiệp có thể kiểm soát được công nhân - họ không phải lúc nào cũng thành công cả
"Hợp đồng" của công đoàn - được thỏa thuận thông qua thương thuyết hợp tác với nhau đã trở thành một phương pháp được sử dụng để bình ổn và giải quyết xung đột, để không gây cản trở cho tăng trưởng Hợp đồng này làm thay đổi những xung-đột-không-chủ-đích thành những cuộc đấu tranh vì hợp đồng đã định thời gian tuỳ theo độ dài của hợp đồng Xung đột bùng phát trong thời gian ngắn trước khi hợp đồng được tái thoả thuận, và do đó, một khi đã thoả thuận xong, thì trách nhiệm của bộ máy công đoàn là buộc các thành viên phải thực hiện theo hợp đồng Như ta vừa nói, điều khoản trọng tâm của những hợp đồng thương thuyết được gọi là "chính sách năng suất" - trong đó công nhân chấp nhận những vai trò của họ bị biến đổi một cách đa dạng hoặc giả họ phải chấp nhận việc áp dụng những phương pháp cải cách nhằm tăng năng suất để có được lợi nhuận cao hơn và từ đó trả lương cho công nhân cao hơn Theo phương pháp của Keynes, thì nạn thất nghiệp ồ ạt không còn xảy ra nữa, mà thay vào là những chính sách năng suất và thương thuyết hợp tác với nhau
Cho dù nếu lương có khuynh hướng tăng nhanh hơn năng suất, thì chính phủ cũng có thể thi hành những biện pháp ở cấp độ vĩ mô như dùng chính sách tiền tệ và tài chính Chính sách này có thể làm tăng lạm phát từ đó làm suy yếu đi mức lương vì thế chúng sẽ không còn tăng nhanh hơn năng suất được nữa (đây là một giải pháp được Keynes chọn dùng để giải quyết cuộc đại suy thoái); nhà nước sẽ tạo ra một số thất nghiệp để giảm (chứ không giảm hoàn toàn) tốc độ tăng trưởng của lương bổng (Keynes phản đối giải pháp này một phần vì nó quá phi lý và một phần vì nó sẽ làm dấy lên làn sóng chống đôi mạnh mẽ)
Cùng với những thành tựu phát triển này, thì quá trình giảm tốc sản xuất công nghiệp theo chu kỳ hay còn gọi là những cuộc suy thoái đã dẫn đến việc chính phủ ban hành nhiều chính sách mới - đây là những nổ lực có định hướng rõ ràng và cân nhắc
kỹ của chính phủ nhằm tạo mọi điều kiện phát triển nền kinh tế Những chính sách này không còn là một thứ phụ phẩm đơn thuần của những giải pháp tự tạo của các doanh nghiệp nhằm giải quyết vấn đề lợi nhuận của họ nửa
Làm theo "giải pháp của Keynes", các doanh nghiệp đã biết hoạt động tập thể thông qua chính phủ để làm những việc mà các doanh nghiệp tư nhân từ chối làm Song với định hướng tăng trưởng mức lương, chính phủ còn kích thích tăng trưởng năng suất nhằm giúp các doanh nghiệp có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của tầng lớp lao động Trong suốt thời kỳ suy thoái, để cho năng suất tăng trưởng
Trang 10chính là một vấn đề lớn vì các doanh nghiệp không chịu đầu tư Họ chỉ biết khư khư giữ tiền của mình mà không chịu đem đầu tư vào nhà máy và mua thiết bị (giữ tiền ở đây là họ giữ tiền mặt hay những chứng khoán ngắn hạn để kiếm tiền lời) Đó là lý do tại sao chính phủ bắt đầu can thiệp sâu vào khoảng đầu tư Một mặt, chính phủ bắt đầu đánh thuế vào thu nhập chưa được đem đi đầu tư của các công ty và nhà nước dùng số tiền thuế đó để mở rộng thị trường và buộc cho các doanh nghiệp phải có những hướng giải quyết Mặt khác, nhà nước sẽ dùng trực tiếp số thuế đó vào nghiên cứu và phát triển nhằm bắt kịp những kỹ thuật hiện đại để tăng sản lượng sản xuất trong một giờ của công nhân Những công trình đầu tư lớn như thế này diễn ra xuyên suốt trong thời kỳ Đại Nhị Thế Chiến
Để hiểu được mối quan hệ giữa chiến tranh và kinh tế ta cần phải tìm hiểu kỹ chi tiêu của chính phủ tài trợ cho việc các dự án mở rộng đầu tư công nghiệp và sản lượng
ra làm sao Nền kinh tế đã chuyển biến rất nhanh trong suốt thời kỳ chiến tranh Chính phủ đã đầu tư rất nhiều cho các doanh nghiệp để mở rộng sản xuất những mặt hàng cần cho chiến tranh, từ xe tăng, máy bay cho đến thực phẩm và quần áo Chiến tranh thật sự là một cơ hội kinh doanh tốt, nó tạo ra hàng loạt thị trường mới và khiến cho chính phủ phải trợ cấp nhiều cho đầu tư Đã có nhiều hoạt động rất lớn do chính phủ điều hành trong suốt thời kỳ chiến tranh, nhưng sau này cũng chuyển giao lại cho các doanh nghiệp tư nhân Điển hình là những nhà máy nitrogen được xây dựng để sản xuất TNT Sau chiến tranh, chúng được chuyển sang cho doanh nghiệp tư nhân để kích thích mở rộng sản xuất phân vô cơ
Các doanh nghiệp cũng đã biết tận dụng những thay đổi trong cơ cấu lực lượng lao động trong thời kỳ chiến tranh Bởi khi đó cánh đàn ông đều bị gọi nhập ngũ, nên chỉ còn phụ nữ tham gia lực lượng lao động với số lượng lớn chưa từng có Nhiều người trong số họ đã từng làm trong các nhà máy vào thập kỷ 30, thì nay đã quá chán với tình hình hỗn loạn của những năm 40 này Tuy nhiên, phải nói rằng, dù như thế, giai đoạn chiến tranh là một giai đoạn mà xung đột mạnh mẽ giữa lực lượng lao động
và cấp quản lý là xảy ra thường xuyên, trong các cuộc xung đột đó chính phủ phải can thiệp vào để cho các cuộc đình công của công nhân không làm cản trở sản xuất Cả hai bên lao động và cấp quản lý đều nhận thức được rằng giai đoạn chiến tranh có thể củng cố hoặc có thể làm tan biến những thành tựu mà lực lượng lao động đã đạt được vào thập kỷ 30, và do đó phát sinh ra nhiều xung đột giữa họ
Do vậy, chiến tranh đã khiến cho chính phủ phải can thiệp sâu vào, mà chính những can thiệp này đã kích thích năng suất và đưa vào áp dụng giải pháp của Keynes giải quyết cuộc đại suy thoái với một quy mô rất lớn Đây là thời kỳ mở đầu một mô hình diễn ra xuyên suốt thời kỳ tiền Đại Nhị Thế Chiến Chính phủ đã tiếp tục thực thi những gì mà doanh nghiệp không hoặc không thể tự mình làm Kết quả thu được là sự tăng trưởng kinh tế trong một thời gian dài, nhưng tăng chậm vào thập kỷ 50 do khi đó vẫn còn tồn tại các cuộc xung đột giữa những mối quan hệ mới - giống như Carter sau này và chính quyền Reagan, những nhà kiến lập chính sách Eisenhower thường viện vào tình hình suy thoái để hạn chế nhu cầu của tầng lớp lao động, và mức tăng trưởng đạt mức nhanh hơn vào thập kỷ 60 dưới thời của Kennedy và Johnson, họ đã mở rộng các dự án đầu tư vào công nghiệp (như không gian vũ trụ, chiến tranh) và những dự án
xã hội (xã hội hiện đại) nhằm tạo ra một lực lượng lao động có năng lực cao và có kỷ luật, của chính phủ với quy mô lớn Suốt thời kỳ này, đã không còn xảy ra suy thoái nửa Tuy nhiên mức tăng trưởng sản xuất chậm, nhưng cũng không tệ hại như thời kỳ đại suy thoái Trong suốt 25 năm, hệ thống Keynes đã hoạt động tốt