LỜI MỞ ĐẦU John Maynard Keynes được công nhận là một nhà kinh tế lỗi lạc vì đã hình thành và kết hợp những lý thuyết kinh tế trong đời sống linh hoạt về ngoại giao, tài chánh, ký giả và nghệ thuật của mình. Học thuyết của ông có sức ảnh hưởng rất lớn đối với việc lãnh đạo, quản lý nền kinh tế và được công chúng biết đến rất nhiều. Còn Milton Friedman được xem đối thủ nổi tiếng và nặng ký nhất đối với học thuyết Keynes, là đại diện tiêu biểu nhất của trường phái trọng tiền hiện đại. Như vậy, để tìm hiểu rõ hơn vì sao lý thuyết trọng tiền được xem là đối thủ nổi tiếng của học thuyết Keynes, chúng ta sẽ đi vào nghiên cứu nội dung lý thuyết cũng như những điểm khác biệt với học thuyết Keynes, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho nước ta trong điều hành, quản lý nền kinh tế. I HỌC THUYẾT TRỌNG TIỀN HIỆN ĐẠI Ở MỸ 1 Hoàn cảnh ra đời và phương pháp luận Lịch sử kinh tế học thế kỷ 20 có chút gì đó giống với lịch sử Cơđốc giáo thế kỷ 16. Mãi cho tới khi John Maynard Keynes xuất bản tác phẩm Lý thuyết tổng quát về lao động, lãi suất và tiền tệ vào năm 1936, kinh tế học ít ra là trong các nước nói tiếng Anh – hoàn toàn bị tư tưởng chính thống về thị trường tự do thống trị. Những tư tưởng khác biệt đôi khi cũng xuất hiện, nhưng luôn bị lấn át. Kinh tế học cổ điển, theo như Keynes viết năm 1936, “thống trị hoàn toàn nước Anh giống hệt như Tòa án Dị giáo thống trị Tây Ban Nha.” Và kinh tế học cổ điển tuyên bố rằng lời giải cho hầu hết các vấn đề là cứ để mặc mọi việc dưới các tác động của cung và cầu. Nhưng kinh tế học cổ điển đã không có lời giải thích cũng như đưa ra được biện pháp giải quyết cuộc Đại Suy thoái. Đến giữa những năm 30, những thách thức đặt ra với kinh tế học chính thống không còn kìm nén lâu hơn được nữa. Keynes đã đóng vai trò của Martin Luther, mang đến cho những tư tưởng dị biệt sự nghiêm cẩn về mặt học thuật cần thiết để chúng được tôn trọng. Mặc dù Keynes không phải là một người thiên tả ông xuất hiện để bảo vệ chủ nghĩa tư bản chứ không phải chôn vùi nó – lý thuyết của ông nói rằng không thể trông đợi vào thị trường tự do để cung cấp đầy đủ việc làm, từ đó tạo ra cơ sở mới cho sự can thiệp sâu rộng hơn của chính phủ vào nền kinh tế. Bước chuyển từ CNTB độc quyền sang chủ nghĩa đế quốc, sự phát triển của CNTB độc quyền nhà nước lúc đầu chưa ảnh hưởng đến các quan điểm của chủ nghĩa tự do. Sau đó, sự phát triển mạnh mẽ của CNTB độc quyền nhà nước, mâu thuẫn giữa chính sách của CNTB độc quyền Nhà nước với các tư tưởng tự do kinh tế nổi lên rõ rệt. Đồng thời, khủng hoảng kinh tế thế giới 29 – 33 và những mâu thuẫn trong xã hội tư sản đang ngày càng trở nên sâu sắc cho thấy không thể coi kinh tế TBCN như một hệ thống tự điều chỉnh. Vì vậy, xuất hiện sự cần thiết hiểu thấu các hiện tượng kinh tế xã hội và trình bày thành lý luận cho phù hợp với giai cấp thống trị. Thêm vào đó, sự xuất hiện lý thuyết Keynes và những thành tựu của quản lý kinh tế kế hoạch ở các nước XHCN cũng tác động mạnh mẽ tới tư tưởng tự do. Trước bối cảnh đó, các nhà kinh tế học tư sản đã sửa đổi lại hệ thống tư tưởng tự do kinh tế cho thích hợp với tình hình mới. Chủ nghĩa tự do mới là một trong các trào lưu tư tưởng tư sản hiện đại. Họ muốn áp dụng và kết hợp tất cả các quan điểm cũng như phương pháp luận của các trường phái tự do cũ, trường phái trọng thương mới, trường phái Keynes để hình thành tư tưởng mới điều tiết nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa tự do mới là cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước ở một mức độ nhất định. Khẩu hiệu của họ là thị trường nhiều hơn, Nhà nước can thiệp ít hơn. Họ đặc biệt nhấn mạnh yếu tố tâm lý của các cá nhân quyết định sản xuất và tiêu dùng. Lý thuyết kinh tế của chủ nghĩa tự do mới ở Cộng hòa Liên bang Đức, chủ nghĩa cá nhân mới ở Anh, chủ nghĩa giới hạn mới ở Áo và Thụy Điển, đặc biệt là chủ nghĩa bảo thủ mới (học thuyết trọng tiền hiện đại) ở Mỹ. 2 Tác giả tiêu biểu
Trang 1John Maynard Keynes được công nhận là một nhà kinh tế lỗi lạc vì đã hìnhthành và kết hợp những lý thuyết kinh tế trong đời sống linh hoạt về ngoại giao, tàichánh, ký giả và nghệ thuật của mình Học thuyết của ông có sức ảnh hưởng rất lớnđối với việc lãnh đạo, quản lý nền kinh tế và được công chúng biết đến rất nhiều.Còn Milton Friedman được xem đối thủ nổi tiếng và nặng ký nhất đối với họcthuyết Keynes, là đại diện tiêu biểu nhất của trường phái trọng tiền hiện đại.
Như vậy, để tìm hiểu rõ hơn vì sao lý thuyết trọng tiền được xem là đối thủnổi tiếng của học thuyết Keynes, chúng ta sẽ đi vào nghiên cứu nội dung lý thuyếtcũng như những điểm khác biệt với học thuyết Keynes, từ đó rút ra bài học kinhnghiệm cho nước ta trong điều hành, quản lý nền kinh tế
Trang 2I/- HỌC THUYẾT TRỌNG TIỀN HIỆN ĐẠI Ở MỸ
1/- Hoàn cảnh ra đời và phương pháp luận
Lịch sử kinh tế học thế kỷ 20 có chút gì đó giống với lịch sử Cơ-đốc giáo thế
kỷ 16 Mãi cho tới khi John Maynard Keynes xuất bản tác phẩm Lý thuyết tổngquát về lao động, lãi suất và tiền tệ vào năm 1936, kinh tế học - ít ra là trong cácnước nói tiếng Anh – hoàn toàn bị tư tưởng chính thống về thị trường tự do thốngtrị Những tư tưởng khác biệt đôi khi cũng xuất hiện, nhưng luôn bị lấn át Kinh tếhọc cổ điển, theo như Keynes viết năm 1936, “thống trị hoàn toàn nước Anh giốnghệt như Tòa án Dị giáo thống trị Tây Ban Nha.” Và kinh tế học cổ điển tuyên bốrằng lời giải cho hầu hết các vấn đề là cứ để mặc mọi việc dưới các tác động củacung và cầu
Nhưng kinh tế học cổ điển đã không có lời giải thích cũng như đưa ra đượcbiện pháp giải quyết cuộc Đại Suy thoái Đến giữa những năm 30, những thách thứcđặt ra với kinh tế học chính thống không còn kìm nén lâu hơn được nữa Keynes đãđóng vai trò của Martin Luther, mang đến cho những tư tưởng dị biệt sự nghiêm cẩn
về mặt học thuật cần thiết để chúng được tôn trọng Mặc dù Keynes không phải làmột người thiên tả - ông xuất hiện để bảo vệ chủ nghĩa tư bản chứ không phải chônvùi nó – lý thuyết của ông nói rằng không thể trông đợi vào thị trường tự do để cungcấp đầy đủ việc làm, từ đó tạo ra cơ sở mới cho sự can thiệp sâu rộng hơn của chínhphủ vào nền kinh tế Bước chuyển từ CNTB độc quyền sang chủ nghĩa đế quốc, sựphát triển của CNTB độc quyền nhà nước lúc đầu chưa ảnh hưởng đến các quanđiểm của chủ nghĩa tự do Sau đó, sự phát triển mạnh mẽ của CNTB độc quyền nhànước, mâu thuẫn giữa chính sách của CNTB độc quyền Nhà nước với các tư tưởng
tự do kinh tế nổi lên rõ rệt Đồng thời, khủng hoảng kinh tế thế giới 29 – 33 vànhững mâu thuẫn trong xã hội tư sản đang ngày càng trở nên sâu sắc cho thấykhông thể coi kinh tế TBCN như một hệ thống tự điều chỉnh Vì vậy, xuất hiện sựcần thiết hiểu thấu các hiện tượng kinh tế - xã hội và trình bày thành lý luận cho phùhợp với giai cấp thống trị Thêm vào đó, sự xuất hiện lý thuyết Keynes và nhữngthành tựu của quản lý kinh tế kế hoạch ở các nước XHCN cũng tác động mạnh mẽ
Trang 3tới tư tưởng tự do Trước bối cảnh đó, các nhà kinh tế học tư sản đã sửa đổi lại hệthống tư tưởng tự do kinh tế cho thích hợp với tình hình mới.
Chủ nghĩa tự do mới là một trong các trào lưu tư tưởng tư sản hiện đại Họmuốn áp dụng và kết hợp tất cả các quan điểm cũng như phương pháp luận của cáctrường phái tự do cũ, trường phái trọng thương mới, trường phái Keynes để hìnhthành tư tưởng mới điều tiết nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Tư tưởng cơ bản của chủnghĩa tự do mới là cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước ở một mức độnhất định Khẩu hiệu của họ là thị trường nhiều hơn, Nhà nước can thiệp ít hơn Họđặc biệt nhấn mạnh yếu tố tâm lý của các cá nhân quyết định sản xuất và tiêu dùng
Lý thuyết kinh tế của chủ nghĩa tự do mới ở Cộng hòa Liên bang Đức, chủ nghĩa cánhân mới ở Anh, chủ nghĩa giới hạn mới ở Áo và Thụy Điển, đặc biệt là chủ nghĩabảo thủ mới (học thuyết trọng tiền hiện đại) ở Mỹ
2/- Tác giả tiêu biểu
Milton Frideman sinh năm 1912 tại New York, đậu tiến sĩ kinh tế năm 1967
và sau đó giảng dạy tại Đại học Chicago Năm 1967 ông là chủ tịch hội kinh tế Mỹ.Các tác phẩm nổi tiếng như: Nghiên cứu về lý thuyết số lượng tiền tệ (1956), Lịch
sử tiền tệ Hoa Kỳ 1867 – 1960 (1963) Ông đạt giải Nobel năm 1976, là một trongnhững nhà kinh tế có ảnh hưởng nhất trong nửa sau của thế kỷ 20, vừa từ trần ngày
Friedman được sinh ra trong một gia đình Do Thái nhập cư từ Đông Âu Khicậu bé Milton được hơn một tuổi, gia đình chuyển đến Rahway, một thị trấn nhỏ ở
Trang 4phía bắc bang New Jesey Là con trai út và duy nhất trong bốn chị em, cậu lớn lêntrong tuổi thơ nghèo khó Cả nhà Milton sống dựa vào một cửa hàng tạp hoá nhỏ,trong hoàn cảnh chật vật bấp bênh, mà sau này ông từng hóm hỉnh ôn lại rằng
“khủng hoảng tài chính thường xuyên diễn ra.”
Từ nhỏ, Milton đã say mê với những cuốn sách trong cái thư viện nhỏ bé củathị trấn Rahway và hầu như đã đọc hết sách ở đó Cậu luôn là một học sinh xuất sắctrong lớp và qua năm lớp năm liền học nhảy cóc lên luôn lớp bảy Sau khi tốtnghiệp trung học, cậu nhận được học bổng miễn học phí để vào trường Đại họcRutgers không quá xa nhà Tuổi sinh viên trôi qua với đủ thứ nghề để kiếm sống,như chạy bàn, gia sư, hay làm sổ sách kế toán cho một cửa hàng tạp hoá
Chính trong thời kỳ đại học, cậu sinh viên đã được hai vị giáo sư kèm cặp,những người sẽ có ảnh hưởng lâu dài đến tư tưởng của cậu trong tương lai Ngườithứ nhất là Arthur Burns, sau này sẽ có lúc trở thành Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang(FED), người chắc hẳn đã làm Friedman quan tâm đến các vấn đề tiền tệ Người thứhai là Homer Jones, vị giáo sư trẻ luôn nhiệt thành truyền bá cho sinh viên nhữnggiá trị cao cả của tự do cá nhân
Dù sao, khi sắp sửa tốt nghiệp, tìm đường cho cuộc mưu sinh là nhu cầu thiếtyếu cho chàng trai nghèo Chàng sinh viên Friedman đã nghĩ sẽ tìm kiếm một côngviệc có thu nhập ổn định, như làm chuyên viên bán bảo hiểm Nhưng đó cũng lànhững năm định mệnh của thế kỷ XX, khi cuộc Đại khủng hoảng đang tàn phá dữdội nền kinh tế Mỹ và lan ra như cơn lốc trong các nước công nghiệp phương Tây,cướp đi thành quả của nhiều năm phồn vinh trước đó
Giống như nhiều nhà kinh tế vĩ đại của thế kỷ XX, thực tại nghiệt ngã đãkhiến Friedman không thể không ý thức về các vấn đề kinh tế Đó là năm 1932,năm quyết định số phận ông Sau này ông lý giải: “Nếu anh là một sinh viên sắp ratrường ở tuổi 19, điều gì sẽ là quan trọng hơn đối với anh: tìm cách tính ra mức giáđúng cho các khoản bảo hiểm nhân thọ, hay là thử cố tìm hiểu xem điều gì đã khiếncho thế giới thành ra nông nỗi này?”
Vậy là người thanh niên 20 tuổi đã từ bỏ con đường dẫn tới một chỗ làm ổnđịnh, để đi theo tiếng gọi của niềm ham hiểu biết Arthur Burns sẵn lòng viết thư
Trang 5giới thiệu để giúp cậu học trò xuất sắc của mình được nhận vào chương trình sau đạihọc của khoa Kinh tế trường Đại học Chicago.
Đại học Chicago đã mở ra cho Friedman một thế giới huy hoàng của kinh tếhọc, nơi ông khám phá những chân trời mới và có cơ hội tham gia vào những dự ánnghiên cứu nghiêm túc Đây cũng là nơi ông quen biết và yêu Rose Director, mộtnghiên cứu sinh cùng khoa, người sẽ trở thành vợ ông sau đó Ông vừa theo học ởĐại học Chicago và Đại học Columbia, đồng thời làm việc tích cực ở các trung tâmnghiên cứu, và cuối cùng chuyển tới làm việc với nhà kinh tế danh tiếng SimonKuznets ở Ban Nghiên cứu kinh tế Quốc gia (NBER) trong một dự án nghiên cứu
về thu nhập của các ngành có chuyên môn cao
Kết quả của dự án là một cuốn sách ông đứng tên tác giả cùng Kuznets.Cũng chính trên kết quả nghiên cứu này, Friedman đã phát triển luận văn tiến sỹ củamình Trong luận văn ông vạch ra rằng vì các ngành có chuyên môn cao như luật
sư, bác sỹ, cần phải có giấy chứng nhận của ngành, nên đã tạo ra một rào cản khôngcho mọi người tự do gia nhập ngành, dẫn đến hiện tượng độc quyền nhóm Do đó,ông kết luận rằng những người làm trong các ngành này được hưởng một mức thunhập cao hơn hẳn các ngành khác nhờ vị thế độc quyền của họ, dẫn đến hậu quả làngười tiêu dùng phải trả mức giá cao hơn trong khi lượng dịch vụ cung ứng lại íthơn mức mong đợi
Vấn đề ông nêu lên quá nhạy cảm vào thời gian đó và đe doạ làm nổ ranhững cuộc tranh cãi gây chia rẽ Đại học Columbia đã đình luận văn của ông lại 5năm liền không để ông tốt nghiệp, nghĩa là mãi đến 1946 ông mới nhận được bằngTiến sỹ Đây là một bài học quan trọng đầu đời cho nhà kinh tế trẻ, khiến ông thấmthía rằng những khám phá khoa học hàn lâm có thể gây phiền phức cho cá nhânngười nghiên cứu như thế nào, nhưng đồng thời nó cũng có thể khuấy lên nhữngcơn bão táp ra sao
Sau khi nhận bằng Tiến sỹ, Friedman được bổ nhiệm giảng dạy kinh tế học ởĐại học Chicago Từ đây sự nghiệp của ông bắt đầu phát triển rực rỡ với nhữngđóng góp to lớn cho kinh tế học Cùng với George J Stigler (Giải Nobel 1982), ônggóp phần phục hưng trường phái Chicago sau Thế chiến II, biến Khoa Kinh tế thành
Trang 6nơi tụ hợp và đào tạo nên những nhà kinh tế lỗi lạc như Theodore W Schultz (GiảiNobel 1979), Ronald H Coase (Giải Nobel 1991), Gary S Becker (Giải Nobel1992), Merton H Miller (Giải Nobel 1990), Robert W Fogel (Giải Nobel 1993),Robert E.Lucas (Giải Nobel 1995), Hebert A Simon (Giải Nobel 1978), James M.Buchanan (Giải Nobel 1986), Harry M Markowitz (Giải Nobel 1990) và Myron S.Scholes (Giải Nobel 1997).
Sự phục hưng trường phái Chicago không chỉ là việc bành trướng ảnh hưởngcủa Khoa Kinh tế Chicago trong ngành kinh tế học nói riêng, mà còn là sự bànhtrướng chính môn kinh tế học thành một đế chế trong khoa học xã hội, với thamvọng giải thích sự vận động của lịch sử cũng như nhiều hành vi cá nhân và xã hộitrên những nền tảng căn bản của kinh tế học
Suốt trong ba thập kỷ ở Chicago, từ năm 1946 cho đến khi nghỉ hưu năm
1977, Friedman đã cống hiến không ngừng nghỉ cho kinh tế học, từ triết lý vàphương pháp luận kinh tế, đến lý thuyết tiêu dùng, và quan trọng hơn cả là lý thuyếttiền tệ cùng những nguyên lý làm nền tảng cho chính sách tiền tệ và tài khoá
Ngay từ cuối những năm 1950, khi chủ nghĩa can thiệp của trường pháiKeynes như ngọn triều cường đang lan tràn trên khắp thế giới tư bản chủ nghĩa,Friedman đã khẳng định mình như một tư tưởng gia kiên quyết bảo vệ chủ nghĩa tự
do kinh tế, truyền thống được gây dựng suốt từ trước thế kỷ XIX, nhưng đã bị cáibóng vĩ đại của Keynes che khuất từ sau cuộc Đại khủng hoảng
Cùng với một số ít các nhà tư tưởng tự do kiên định lúc bấy giờ như Hayek,Friedman đã truyền bá không mệt mỏi đức tin vào thị trường tự do và sự hài hoà mà
nó có thể mang lại cho nền kinh tế, đồng thời cương quyết chống lại chủ nghĩa canthiệp và bảo hộ của chính phủ Chính trên truyền thống này, ông đã gây dựng nên
hệ thống triết lý xã hội tự do có ảnh hưởng lâu dài và vươn ra rất xa ngoài giới hànlâm
Năm 1962, ông xuất bản tác phẩm “Chủ nghĩa tư bản và Tự do” (Capitalismand Freedom) trong đó nêu rõ những gì chính phủ nên làm và không nên làm, nhằmkiến tạo một xã hội thịnh vượng mà vẫn bảo đảm được quyền tự do cho các côngdân của mình Quan điểm chủ đạo xuyên suốt tác phẩm này là chính phủ chỉ nên
Trang 7đóng vai trò tối thiểu, như làm người bảo đảm pháp luật và trật tự xã hội, phân địnhquyền sở hữu, duy trì và chỉnh sửa luật chơi cho các tác nhân kinh tế, bảo đảmnghĩa vụ thực hiện hợp đồng, cung cấp một hệ thống tiền tệ thống nhất, khuyếnkhích cạnh tranh và chống độc quyền, cung cấp dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật vàtrẻ vị thành niên.
Cũng trong thời gian này, ông công bố lý thuyết về hàm tiêu dùng (1957),nội dung chủ yếu cho rằng tiêu dùng của cá nhân hoặc hộ gia đình phụ thuộc vàothu nhập dài hạn kỳ vọng chứ không phải thu nhập hiện thời như quan điểm củaKeynes Do đó, ông cho rằng tổng tiêu dùng của nền kinh tế ổn định hơn nhữngngười theo Keynes vẫn nghĩ Lý luận này của Friedman được biết đến như là giảthuyết thu nhập lâu dài trong các lý thuyết chuẩn hiện nay về hàm tiêu dùng
Tuy nhiên, từ trước tới nay, có lẽ Friedman vẫn được biết tới nhiều nhất như là nhàlãnh đạo của phái Trọng tiền (Monetarism) trong kinh tế học Là người ngay từ đầu
đã bảo vệ lý thuyết số lượng tiền tệ, Friedman chắc chắn là lý thuyết gia có công lớnnhất trong thế kỷ XX làm mới và truyền bá học thuyết này, đưa nó vào làm nền tảng
lý luận cho những cuộc tranh luận không khoan nhượng của ông về chính sách tiền
tệ Ông thống lĩnh những cuộc tấn công làm xói mòn bức trường thành tín điều doKeynes dựng nên cho rằng chính sách tiền tệ có thể đẩy lui được nạn thất nghiệpnhờ tạo ra lạm phát
Gần như đồng thời, vào cuối những năm 1960, Friedman và Edmund Phelps,một nhà kinh tế ở Đại học Columbia (người mới được nhận giải Nobel Kinh tế nămnay), cùng đưa ra khái niệm “thất nghiệp tự nhiên,” là mức mà mọi tham vọng đẩythất nghiệp xuống thấp hơn mức này bằng chính sách tiền tệ sớm muộn đều thất bại,
và cái giá phải trả chỉ có thể là lạm phát triền miên và ngày càng tăng tốc
Với khái niệm này, Friedman và Phelps đã chấm dứt giấc mộng của các nhàkinh tế trường phái Keynes muốn đưa nền kinh tế đến toàn dụng nhân công thôngqua chính sách tài khoá và tiền tệ
Để có bằng chứng củng cố cho lý thuyết số lượng tiền tệ, Friedman dành mộtphần lớn công sức và thời gian cho các công trình nghiên cứu về lịch sử tiền tệ.Những nghiên cứu này của ông, hoàn thành với sự góp sức của nhà kinh tế Anna
Trang 8Schwartz, đã trở thành những công trình kinh điển có một không hai về lịch sử tiền
tệ của Mỹ và Anh
Cũng thông qua những nghiên cứu này, Friedman lại một lần nữa đưa ra kếtluận rất táo bạo, rằng chính chính sách thắt chặt tiền tệ một cách sai lầm vào cuốithập kỷ 1920 là nguyên nhân gây ra cuộc Đại khủng hoảng
Dù những luận điểm của Friedman luôn gây nhiều tranh cãi, năm 1976, ônglên đến đỉnh cao vinh quang trong giới hàn lâm khi được trao giải Nobel về Kinh tếhọc Những cống hiến to lớn của Friedman được Hội đồng trao giải khẳng định mộtcách rõ ràng và súc tích: “vì những thành tựu của ông trong lĩnh vực phân tích tiêudùng, lịch sử và lý thuyết tiền tệ, và vì việc làm rõ tính phức tạp của chính sách bìnhổn”
Một năm sau khi nhận giải Nobel, ở tuổi 65, Friedman ngừng công việcgiảng dạy ở Đại học Chicago, và hai ông bà chuyển sang San Francisco để andưỡng tuổi già Nhưng thực ra công việc của ông hầu như không bị gián đoán, vì ởđây ông chuyển sang cộng tác với Viện Nghiên cứu Hoover của Đại học Stanford.Đồng thời, đây cũng là quãng thời gian làm việc không kém phần năng suất và lýthú của hai ông bà Đây là khi ông gây được ảnh hưởng to lớn tới quần chúng Mỹnhờ bộ phim tài liệu nhiều tập “Tự do lựa chọn!” (Free to Choose, 1979), mà nềntảng triết lý hoàn toàn nhất quán với những gì ông đã viết ra trong “Chủ nghĩa tưbản và Tự do” gần 20 năm về trước Bộ phim và cuốn sách cùng tên xuất bản sau đó
đã góp phần định hình dư luận của quảng đại quần chúng Mỹ cũng như quan điểmchính sách kinh tế ở nước này trong thập kỷ 1980
Friedman là một nhà lý thuyết đầy uy tín được ngưỡng mộ, nhưng ông khôngngự trên tháp ngà của giới hàn lâm, mà tham gia tích cực vào đời sống xã hội
Trong nhiều năm trời, Friedman đã viết hàng trăm bài xã luận và bình luậntrên báo chí đại chúng, nêu cao những giá trị của chủ nghĩa tự do, truyền bá niềm tin
vô bờ vào cơ chế thị trường như là công cụ giúp ổn định xã hội và làm nền tảng chonền văn minh
Về mặt chính trị, ông ủng hộ các quan điểm tự do, liên tục làm cố vấn kinh tếcho các ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hoà từ những năm 1960 Khi Nixon
Trang 9và Reagan trúng cử, họ đều ít nhiều áp dụng các chính sách kinh tế của ông Mộtthành công chính trị mà Friedman thực sự thừa nhận và cảm thấy tự hào vì đã thamgia vào quá trình vận động, là việc bãi bỏ chế độ quân dịch bắt buộc tại Mỹ vàonăm 1973.
Khi Trung Quốc đang trong giai đoạn đầu của quá trình cải cách kinh tế, cácnhà lãnh đạo nước này đã mời Friedman sang thuyết trình về kinh nghiệm xây dựngnền kinh tế thị trường Trong một bài viết vào năm ngoái, ở tuổi 93, Friedman đãkhông che dấu niềm hạnh phúc được tận mắt chứng kiến khúc khải hoàn của thịtrường tự do đang tấu lên trên khắp đất nước đông dân nhất thế giới này
Nhìn lại sự nghiệp bao trùm gần như toàn bộ nửa sau thế kỷ XX của MiltonFriedman, có thể nhận thấy ở đây sự tiếp nối không ngưng nghỉ của truyền thốngnhân văn phương Tây, truyền thống tin tưởng vào sự tự do trong bản chất conngười, cái mà họ có thể tự đấu tranh để gìn giữ bằng lương tri và sự sáng suốt nơibản thân mà không cần được ban phát
Triết lý kinh tế của Friedman không gì khác là sự vận dụng truyền thống đótrong đời sống hiện đại, bằng cách đặt niềm tin sắt đá vào thị trường, vào sức sốngmãnh liệt của nó, cũng như sự hài hoà mà nó có thể tạo ra
3/- Nội dung học thuyết
3.1/- Lý thuyết ứng xử của người tiêu dùng
Trong tác phẩm lý thuyết về chức năng tiêu dùng M.Friedman đã chỉ ra là:
“những giả thuyết của J.M.Keynes về tiêu dùng hình như không hoàn toàn đượckinh nghiệm công nhận Vì vậy, phải có nhũng giả thuyết khác để trình bày cái đó”
* Lý thuyết về thái độ ứng xử của người tiêu dùng
Theo M.Friedman trong điều kiện ổn định sẽ có hai nguyên nhân làm cho tiêudùng cao hơn thu nhập Đó là sự ổn định chi tiêu và các khoản thu nhập được giatăng
Khi đó, tiết kiệm sẽ phụ thuộc vào những khoản thu thông thường và nó thểhiện như là số dư của tiêu dùng Nếu xét hai năm liên tiếp, sự tiêu dùng trong nămthứ hai sẽ tùy thuộc vào thu nhập của năm thứ nhất, thu nhập của năm thứ hai và lãisuất Vậy tiêu dùng của một năm không chỉ phụ thuộc vào thu nhập của năm đó
Trang 10Trong trường hợp tình hình không chắc chắn, sẽ có một lý do bổ sung để thựchiện tiết kiệm, như việc nắm giữ một khoản dự trữ sẵn để phòng những trường hợpbất ngờ không dự kiến chẳng hạn như thu nhập giảm sút
Thông thường, sự tiêu dùng được xem như phụ thuộc vào thu nhập, lãi suất và
cả một phần thu nhập được từ tài sản vật chất Tương quan giữa tài sản vật chất vàthu nhập càng cao thì lượng dự trữ phụ sẽ càng nhỏ đi và tiêu dùng thông thườngcàng tăng lên
* Giả thuyết về thu nhập thường xuyên
Thu nhập của một cá nhân trong một thời kỳ nhất định có thể do hai bộ phậncấu thành Đó là: thu nhập thường xuyên (Yp) và thu nhập tức thời ( Yt)
Vậy toàn bộ thu nhập Y =Yp + Yt
Ở đây Yp được coi là sự biểu hiện của những của cải mà cá nhân nhận đượcmột cách tất yếu do trình độ nghề nghiệp của họ mang lại Yt phản ảnh thu nhập donhững nhân tố khác
Tiêu dùng của mỗi cá nhân cũng được xem là tổng số của tiêu dùng thườngxuyên (Cp) và tiêu dùng nhất thời (Ct)
w là tương quan giữa tài sản vật chất và thu nhập thường xuyên
u là phân chia thu nhập cho tiêu dùng và tiết kiệm
Từ đó ông khẳng định là, tiêu dùng thường xuyên phụ thuộc i, w, u là chính,chứ không phải là phụ thuộc vào thu nhập thường xuyên
3.2/- Lý thuyết chu kỳ tiền tệ và thu nhập quốc dân
Lý thuyết nổi tiếng của M.Friedman và trường phái trọng tiền hiện đại là chu
kỳ tiền tệ và thu nhập quốc dân Tiền đề xuất phát của lý thuyết này phù hợp với tư
Trang 11tưởng của chủ nghĩa tự do mới ở cộng hòa liên bang Đức Đó là tư tưởng ủng hộ tự
do kinh doanh, chống lại sự can thiệp của nhà nước
Nội dung cơ bản của thuyết chu kỳ tiền tệ và thu nhập quốc dân :
* Thứ nhất, mức cung tiền tệ là nhân tố có tính quyết định đến việc tăng sản lượng quốc gia:
Theo công thức của trường phái trọng tiền MV = PQ, vì V ổn định nên cácbiến số của kinh tế vĩ mô như giá cả, sản lượng, việc làm phụ thuộc vào mức cungtiền tệ chứ không phải vào chính sách tài chính (thuế và chi tiêu ngân sách) củatrường phái Keynes
Nếu mức cung tiền tệ tăng thì sản lượng quốc gia, việc làm… cũng tăng lên.Bởi vì, khi tăng mức cung tiền tệ M sẽ làm cho lãi suất cho vay L giảm xuống, dẫnđến đầu tư I tăng lên, tăng việc làm, tăng sức cầu, tăng giá cả, tăng thu nhập, giảm
tỷ lệ thất nghiệp
Khi tăng mức cung tiền tệ M sẽ xảy ra hai trường hợp :
Một là: Nếu sản lượng thực tế nhỏ hơn sản lượng tiềm năng, thì khi tăng mức
cung tiền tệ làm cho sản lượng tăng với quy mô lớn, còn giá cả tăng chậm chưa làmcho lạm phát tăng cao Bởi vì, lúc này lao động và tài nguyên chưa sử dụng còn dồidào Các doanh nghiệp có điều kiện thuê mướn nhân công, mua sắm nguyên vật liệuvới giá cả rẻ để mở rộng quy mô sản xuất
Hai là: Nếu sản lượng thực tế lớn hơn sản lượng tiềm năng, lúc này nếu vẫn
tiếp tục tăng mức cung tiền tệ, sẽ làm cho sản lượng tăng chậm, còn giá cả tăngnhanh, đẩy lạm phát lên cao Bởi vì, lúc này các nguồn lao động và tài nguyên đãhầu hết được sử dụng, trở nên khan hiếm đã hạn chế các doanh nghiệp mở rộng quy
mô sản xuất Vì vậy, sản lượng tăng chậm và giá cả tăng nhanh
Điều này đối lập với lý luận của trường phái Keynes Theo Keynes, chính sáchtài chính (thuế, chi tiêu của ngân sách) ảnh hưởng tới các biến số của kinh tế vĩ mô.Ngược lại, trường phái trọng tiền hiện đại cho rằng chính sách tài chính chỉ liênquan tới phân phối thu nhập quốc dân cho quốc phòng và tiêu dùng công cộng, còncác biến số của kinh tế vĩ mô, theo họ thuộc vào mức cung tiền tệ