1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

xác định tỉ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã đăkrmăng, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông

82 474 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác định tỷ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã Đak r măng, huyện Đak glong, tỉnh Đak nông
Tác giả Nguyễn Đức Hảo
Người hướng dẫn TS. Hồ Văn Hoàng
Trường học Trường Đại học Tây Nguyên
Chuyên ngành Y học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Buôn Ma Thuột
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

xác định tỉ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã đăkrmăng, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông

Trang 1

-

NGUYỄN ĐỨC HẢO

Xác định tỷ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc tự điều trị sốt rét cho người ngủ rẫy

tại xã Đak r măng, huyện Đak glong,

tỉnh Đak nông năm 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Buụn Ma Thuột, năm 2010

Trang 2

t¹i x· §ak r m¨ng, huyÖn §ak glong,

tØnh §ak n«ng n¨m 2010

Chuyên ngành : Ký sinh trùng – Côn trùng

Mã số : 60 72 65

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS HỒ VĂN HOÀNG

Buôn Ma Thuột, năm 2010

Trang 3

(Artemisinin based combination Therapy) BNSR : Bệnh nhân sốt rét

CI 95% : Khoảng tin cậy 95% (Confidence Interval 95%) DCTD : Di cư tự do

DHA : Dihydroartemisinin

KAP : Knowlegde - Attitude - Practice

KST : Ký sinh trùng

KSTSR : Ký sinh trùng sốt rét

MT-TN : Miền Trung-Tây Nguyên

NVYT : Nhân viên y tế

Trang 4

Biểu ñồ 3.1 Tỷ lệ nhiễm KST SR ë cộng ñồng d©n ngñ rÉy

Biểu ñồ 3.2 Tỷ lệ giao bào và lách sưng qua ñiều tra tại ñiểm nghiên cứu Biểu ñồ 3.3 Cơ cấu KST SR ở cộng ñồng dân ngủ rẫy

Biểu ñồ 3.4 Tỷ lệ biểu hiện sốt ở các trường hợp nhiễm KSTSR

Biểu ñồ 3.5 Tỷ lệ nhiễm KSTSR theo giới

Biểu ñồ 3.6 Tỷ lệ ñến nhận thuốc tự ñiều trị của người dân ngủ rẫy

Biểu ñồ 3.7 Tỷ lệ các loại thuốc tự ñiều trị người dân nhận khi ngủ rẫy

Biểu ñồ 3.8 Tỷ lệ nam và nữ ñến nhận thuốc tự ñiều trị khi ngủ rẫy

Biểu ñồ 3.9 Nơi ñến nhận thuốc tự ñiều trị sốt rét của người dân khi ñi ngủ rẫy Biểu ñồ 3.10 Nguyên nhân không uống thuốc tự ñiều trị ñủ liều

Trang 5

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ

liệu và kết quả trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công bố

trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Ký tên

Nguyễn Đức Hảo

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh sốt rét vẫn là một bệnh xã hội phổ biến ở nhiều nước trên thế giới

và những vùng nhiệt ñới như Việt Nam, ảnh hưởng lớn ñến sức khỏe con người và thiệt hại to lớn về kinh tế, xã hội [23], [34], [36], [50], [51]

Hiện nay tình hình sốt rét nhiều vùng trên thế giới giảm, nhưng nguy cơ mắc sốt rét ở một số khu vực có ảnh hưởng của xung ñột, ñói nghèo, ñặc biệt tại các vùng có dân giao lưu với rừng hoặc có hoạt ñộng ñi rừng, ngủ rẫy là rất ñáng quan tâm [8], [12], [30], [36], [39]

Chương trình phòng chống sốt rét ở Việt Nam từ 1991 ñến nay mặc dù

có những thành công ñáng kể trong việc khống chế sự gia tăng cũng như giảm thiệt hại do ảnh hưởng của bệnh sốt rét ñến sức khỏe con người, nhưng công tác phòng chống sốt rét vẫn tiếp tục ñối mặt với một số khó khăn và thách thức [23], [34], [36]

Trong những năm qua, tỷ lệ mắc sốt rét và tử vong do sốt rét ở Việt Nam ñã giảm ñáng kể Tuy vậy, kết quả phòng chống sốt rét là chưa bền vững

và bệnh sốt rét vẫn còn là vấn ñề y tế quan trọng và ñe doạ sức khỏe của người dân vùng rừng núi, ñặc biệt ở vùng có dân di biến ñộng, ñi rừng, ngủ rẫy Di biến ñộng dân cư kết hợp với các yếu tố tự nhiên khác góp phần làm cho sự lan truyền sốt rét vẫn tiếp tục duy trì một cách dai dẵng ở nhiều nơi, ñồng thời làm cho sốt rét quay trở lại ở một số ñịa phương mà trước ñó không còn sốt rét [24], [34], [36]

Theo thống kê của Viện Sốt rét KST-CT Trung ương, số bệnh nhân sốt rét tăng từ 60.426 ca mắc năm 2008 lên 60.867 ca mắc năm 2009; số chết do sốt rét năm 2009 tăng 1 ca so với năm 2008 (từ 25 ca tăng lên 26 ca tử vong),

số ký sinh trùng sốt rét ñược xác ñịnh năm 2009 là 16.130 ca tăng 42% so với năm 2008 (11.355) Các số liệu trên cho thấy tình hình sốt rét có chiều hướng

Trang 7

gia tăng trở lại, nguy cơ dịch sốt rét có thể xảy ra nếu không có các biện pháp khống chế tích cực [36]

So sánh với khu vực khác, công tác phòng chống bệnh sốt rét của miền Trung-Tây Nguyên vẫn có nhiều khó khăn hơn Tại khu vực này, năm 2009

số bệnh nhân sốt rét tăng 14,61%, tử vong tăng 2 ca, số ký sinh trùng sốt rét tăng 55,72% so với năm 2008 Nhiều vùng ở khu vực miền Trung-Tây Nguyên do các khó khăn về màng lưới y tế, giao lưu biên giới, di biến ñộng dân số, hoạt ñộng ñi rừng, ngủ rẫy ñó làm cho tình hình sốt rét một số vùng của khu vực không ổn ñịnh, có diễn biến phức tạp [32], [33], [34]

Một số nghiên cứu về sốt rét trong thời gian gần ñây cho thấy nhóm có nguy cơ mắc sốt rét cao là những người thường xuyên có hoạt ñộng và ngủ trong rừng, trong rẫy Số tử vong và mắc bệnh do sốt rét sốt rét ở những người ngủ rừng, ngủ rẫy chiếm tỷ lệ ñáng kể trong tổng số ca tử vong và bệnh nhân sốt rét hàng năm trên toàn quốc Các nghiên cứu mới ñây ở miền Trung

ñã chứng minh rằng những người thường xuyên ngủ trong rừng có nguy cơ nhiễm sốt rét cao hơn 2-4 lần so với những người khác và mức ñộ tiếp xúc giữa người với véc tơ sốt rét trong rừng cao hơn khoảng 10-20 lần so với trong khu dân cư [10], [13], [26], [37]

Hoạt ñộng phun tồn lưu và tẩm màn với hoá chất diệt muỗi là các biện pháp chính ñược sử dụng ñể phòng chống véc tơ sốt rét ở Việt Nam Cả hai biện pháp này ñều có hiệu quả cao trong phòng chống sốt rét cho những người sinh sống cố ñịnh ở khu vực dân cư Ngược lại, ñể phòng chống sốt rét cho những người thường xuyên ngủ rừng, rẫy thì cả phun tồn lưu và tẩm màn

là rất khó thực hiện vì ở trong rừng họ thường ngủ trong những ngôi lều tạm

bợ hoặc ngủ ngoài trời Vì vậy, cần phải tìm kiếm biện pháp phòng chống khác, vừa ñơn giản vừa hiệu quả và phù hợp cho nhóm ñối tượng ngủ rừng, ngủ rẫy

Trang 8

Cấp thuốc tự ñiều trị sốt rét ñã ñược chương trình Quốc gia phòng chống sốt rét ñề xuất từ năm 2003 nhằm hạn chế tử vong do sốt rét khi người dân ở xa cơ sở y tế không có khả năng tiếp với hệ thống ñiều trị [2], [3], [4] Tuy nhiên, cho ñến nay thực trạng sử dụng thuốc tự ñiều trị như thế nào

thì chưa ñược ñánh giá ñầy ñủ Đề tài : “Xác ñịnh tỷ lệ mắc sốt rét và thực

trạng sử dụng thuốc tự ñiều trị sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã Đak R Mang, huyện Đak Glong, tỉnh Đak Nông năm 2010” là rất cần thiết trong

giai ñoạn hiện nay nhằm 2 mục tiêu:

1 Xác ñịnh tỷ lệ mắc sốt rét của người dân ngủ rẫy tại xã Đak R Mang, huyện Đak Glong, tỉnh Đak Nông năm 2010

2 Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc tự ñiều trị sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã Đak R Mang, huyện Đak Glong, tỉnh Đak Nông năm 2010

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình sốt rét và những khó khăn của công tác PCSR trên thế giới hiện nay

Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG-WHO-2008), hiện nay trên thế giới có khoảng 247 triệu ca mắc bệnh sốt rét (SR) trong số 3,3 tỷ người sống trong vùng nguy cơ mắc bệnh, nguyên nhân của 1 triệu người chết, phần lớn là trẻ em dưới 5 tuổi Năm 2008 có 109 nước có sốt rét lưu, 45 nước thuộc khu vực Châu Phi-WHO Các biện pháp kiểm soát bệnh sốt rét tổng hợp ñang triển khai hiện nay bao gồm tẩm màn với hóa chất tồn lưu kéo dài, hóa trị liệu phối hợp kết hợp với phun tồn lưu trong nhà và ñiều trị dự phòng cho phụ nữ có thai [50], [51]

Mặc dù ñã có sự hỗ trợ rất lớn về màn tẩm, ñặc biệt cho Châu Phi, nhưng vẫn còn lâu nữa mới ñáp ứng ñược cho toàn thế giới

Việc cung cấp thuốc sốt rét thông qua các dịch vụ y tế công cộng ñã tăng ñáng kể nhưng sự tiếp cận với ñiều trị, ñặc biệt với các thuốc phối hợp (Artemisinin based combination Therapy-ACT) vẫn còn khó khăn

Kết quả ñiều tra hộ gia ñình tại 18 quốc gia Châu Phi cho thấy chỉ 34%

hộ có 1 màn tẩm hóa chất, 23% trẻ em và 27% phụ nữ có thai ngủ màn, 38% trẻ em sốt ñược ñiều trị với thuốc sốt rét nhưng chỉ có 3% với các thuốc ACT; 18% phụ nữ có thai ñược ñiều trị dự phòng Chỉ có 5 quốc gia Châu Phi báo cáo ñộ bao phủ phun tồn lưu bảo vệ cho 70% dân số trong vùng nguy cơ Ngoài Châu Phi, ñộ bao phủ của can thiệp khó ñánh giá ñược bởi vì các ñiều tra hộ gia ñình không ñược thực hiện thường xuyên, các biện pháp bảo vệ chỉ nhằm vào ñối tượng nguy cơ cao, Chương trình phòng chống sốt rét quốc gia

Trang 10

khơng báo cáo đầy đủ về chẩn đốn và điều trị ở các cơ sở y tế tư nhân [50], [51]

Trong khi mối liên kết giữa can thiệp và tác động của kiểm sốt sốt rét khơng rõ ràng, ít nhất cĩ 7/45 nước ở Châu Phi nơi cĩ giám sát tốt và độ bao phủ cao đã làm giảm 50% hoặc hơn số mắc và chết vào năm 2006/2007 so với năm 2000

Báo cáo cũng cho thấy, trong 22 quốc gia khác số ca mắc sốt rét giảm hơn 50% trong khoảng thời gian 2000-2006 Tuy nhiên cần cĩ các điều tra cụ thể hơn nữa để xác nhận tại 29 quốc gia này cĩ các biện pháp kiểm sốt bệnh hiệu quả để giảm gánh nặng bệnh vào năm 2010 [51]

Mặc dù chương trình tiêu diệt sốt rét (TDSR) trong những năm đầu cĩ những thành cơng đáng kể, nhưng cơng cuộc chống bệnh SR đã gặp những thách thức và những khĩ khăn mới cản trở chương trình này Chiến lược phịng chống sốt rét (PCSR) mặc dù đĩ khống chế số mắc và tử vong do sốt rét nhưng hiện nay vẫn gặp nhiều khĩ khăn

Các khĩ khăn trong PCSR hiện nay là :

- Khĩ khăn về chuyên mơn kỹ thuật: P.falciparum kháng chloroquin và

đa kháng với hĩa liệu pháp chống SR [19], [20], [23], [44], [48] Muỗi Anopheles kháng hĩa chất diệt, thay đổi sinh lý sinh thái, trú ẩn ngồi nhà,

nhưng đốt máu trong nhà Kể từ 1960 khi P.falciparum kháng chloroquin

được cơng bố tại Nam Mỹ (Brasil), Đơng Dương (Thái Lan, Việt Nam) thì hiện tượng kháng lan rộng ngày càng nhanh Về kháng hĩa chất của muỗi Anopheles, 1946 chỉ cĩ 2 lồi Anopheles kháng DDT nhưng 1991 cĩ 55 lồi kháng hĩa chất Trong số 55 lồi kháng cĩ 53 lồi kháng với DDT, 27 lồi kháng với phospho hữu cơ, 17 lồi kháng carbamate và 10 lồi với

Trang 11

pyrethroides, 16 lồi cho thấy kháng với 3 hoặc 4 loại hĩa chất Hiện tượng kháng của Anopheles xuất hiện ở cả Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ

- Khĩ khăn về kinh tế, xã hội, tài chính: Do thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, và nền sản xuất chậm phát triển ở những quốc gia cĩ SR, đặc biệt là ở các nước chậm phát triển và đang phát triển đã khiến thu nhập của nhiều quốc gia cịn rất thấp, thiếu kinh phí cho PCSR Tình hình kinh tế, xã hội bất ổn, thay đổi mơi trường sinh thái với những phương án phát triển kinh tế phổ biến khắp mọi nơi nhất là ở các nước đang phát triển Thủy lợi, nơng nghiệp trồng rừng làm thay đổi mơi trường, vi khí hậu biến đổi những vùng trước đây khơng cĩ SR hoặc ít nay lại quay trở lại Sự di biến động dân cư, chiến tranh,

di dân đi khai hoang, kinh tế mới, lấn chiếm rừng, du canh du cư của đồng bào các dân tộc, khách du lịch, tìm trầm đãi vàng khi khơng được bảo vệ làm cho tình hình SR càng thêm nghiêm trọng Nhiều nước phải chịu chấp nhận

- Hệ thống y tế, đặc biệt y tế cơ sở cịn thiếu và yếu, cán bộ làm cơng tác vệ sinh phịng dịch cũng như PCSR của địa phương khơng đủ về số lượng

và chưa đạt về chất lượng Đối với bệnh SR, cán bộ y tế cơ sở cịn nhiều khĩ khăn trong chẩn đốn và điều trị, chỉ dựa chủ yếu vào triệu chứng lâm sàng để chẩn đốn, khơng cĩ xét nghiệm (XN) hoặc XN chưa kịp thời để phát hiện KSTSR trong máu của bệnh nhân, đặc biệt khi gặp những trường hợp bệnh

Trang 12

SR cĩ triệu chứng lâm sàng khơng điển hình thì rất khĩ khăn trong việc chẩn đốn và ra quyết định điều trị [15]

- Hiện nay, một trong những khĩ khăn mà chương trình phịng chống sốt rét các nước trên thế giới trong đĩ cĩ cả Việt Nam đang gặp khĩ khăn đĩ

là các biện pháp can thiệp áp dụng cho dân di biến động (di cư tự do, đi rừng, ngủ rẫy) Các biện pháp thường quy áp dụng với cộng đồng dân ổn định hầu như khơng cĩ hiệu quả đối với những đối tượng này Hơn nữa, việc tiếp cận với những đối tượng này rất khĩ, người dân khi đi rừng ngủ rẫy lại xa cơ sở y

tế nên việc chăm sĩc sức khỏe cho họ là khĩ thực hiện được [23], [50], [51]

1.2 Tình hình sốt rét và những khĩ khăn trong chương trình PCSR tại Việt Nam và khu vực miền Trung- Tây Nguyên:

1.2.1 Tình hình sốt rét những năm gần đây

Việt Nam ở trong vùng khí hậu nhiệt đới giĩ mùa, thuộc Đơng Nam Á,

đa số diện tích là rừng, núi đồi cĩ điều kiện thuân lợi cho bệnh SR phát triển,

cĩ nhiều địa phương ở trong vùng sốt rét lưu hành (SRLH) Trong chiến lược tiêu diệt sốt rét tồn cầu, chương trình TDSR đã được tiến hành ở miền Bắc

và diệt trừ SR tại miền Nam từ 1958-1975 Sau ngày miền Nam được giải phĩng, cả nước thống nhất tiến hành thanh tốn SR từ 1976-1990 và chuyển sang chiến lựơc PCSR từ năm 1991 cho đến nay [23]

So với các khu vực khác, miền Trung - Tây Nguyên (MT-TN) là khu vực cĩ sốt rét lưu hành nặng nhất so với các khu vực khác của cả nước, số BNSR và TVSR của khu vực này thường chiếm tỷ lệ rất cao Năm 1990, thống kê cho thấy tại khu vực MT-TN cĩ 137.435 bệnh nhân sốt rét (BNSR), 1.334 tử vong do sốt rét (TVSR) Số liệu thống kê cho thấy mặc dù BNSR, TVSR giảm từ 1990 đến nay nhưng tỷ lệ mắc và chết của khu vực này luơn cao nhất so với các khu vực khác [23]

Trang 13

Trong giai đoạn sau 1991 do tình hình SR quay trở lại và tăng cao trong

cả nước, đặc biệt ở khu vực MT-TN, chiến lược PCSR được thực hiện ở Việt Nam với mục tiêu là giảm mắc, giảm chết và khống chế dịch SR xảy ra Trong giai đoạn này việc tích cực tổ chức thực hiện các biện pháp phát hiện, chẩn đốn và điều trị được xem là yếu tố quan trọng để giảm tử vong, thì PCSR được xem là 1 nhiệm vụ chăm sĩc sức khỏe ban đầu của y tế cơ sở, vì vậy xây dựng, củng cố y tế cơ sở, huấn luyện cho y tế cơ sở về SR được xem

là một nhiệm vụ rất quan trọng để đạt được các mục tiêu của chương trình PCSR [23]

Trong những năm gần đây, nhờ sự đầu tư kinh phí và áp dụng các biện pháp đặc biệt là sự ra đời của artemisinine và các dẫn xuất nên tình hình sốt rét cĩ xu hướng giảm xuống Năm 2006, cả nước chỉ cĩ 41 TVSR, khu vực MT-TN cĩ 25 TVSR [33], [35]

Mặc dù tình hình sốt rét giảm nhưng các số liệu thống kê và phân tích cho thấy, số TVSR khu vực MT-TN luơn luơn cao so với các khu vực khác

Từ năm 1997 đến nay số TVSR khu vực này luơn chiếm tỷ lệ >70% so với tổng số TVSR cả nước, riêng năm 2002 tỷ lệ này chiếm đến 97,73%, năm

2003 chiếm 73,08% [32], [33], [34]

Như vậy sốt rét ở MT-TN, đặc biệt các tỉnh Tây Nguyên vẫn là vấn đề ảnh hưởng đến sức khoẻ cả người dân và sự phát triển kinh tế xã hội ở khu vực này nếu khơng cĩ các giải pháp ưu tiên

Trong giai đoạn 2001-2005, mặc dù cĩ nhiều khĩ khăn như trên nhưng cơng tác phịng chống sốt rét của khu vực MT-TN vẫn đạt được các mục tiêu

đề ra So sánh với năm 2001, số BNSR năm 2005 giảm 62,47%; số SRAT giảm 73,00%; TVSR giảm 82,89%, tỷ lệ KSTSR giảm 68,74%, khơng cĩ dịch sốt rét xảy ra từ 2001-2005 Đối chiếu với các chỉ số mục tiêu đề ra năm 2001

Trang 14

thì cho ñến năm 2005, các chỉ số mục tiêu sốt rét ñều ñạt và vượt Đặc biệt không có dịch sốt rét xảy ra từ 2001-2005 [33]

Từ năm 2006 ñến 2007 tỷ lệ mắc bệnh và tử vong tại khu vực miền Trung-Tây Nguyên tiếp tục giảm nhưng từ năm 2008-2009 do tác ñộng của nhiều nguyên nhân khác nhau ñặc biệt là thiên tai, lũ lụt hạn hán kéo dài dưới ảnh hưởng của biến ñổi khí hậu tình hình sốt rét có diễn biến phức tạp Số bệnh nhân sốt rét các năm 2007-2008-2009 có xu hướng tăng cao so với những năm trước ñó Thống kê cho thấy so với năm 2008 bệnh nhân sốt rét toàn khu vực năm 2009 tăng 14,61%,, trong ñó miền Trung tăng 6,18%, Tây Nguyên tăng 26,58% Số tử vong năm 2009 là 16 trường hợp so với 14 ca năm 2008 Như vậy sau nhiều năm khống chế số mắc và chết do bệnh sốt rét những năm gần ñây bệnh sốt rét có xu hướng gia tăng trở lại Chương trình PCSR cần tìm các nguyên nhân và ñề xuất các giải pháp ñể dự phòng nguy cơ gia tăng mắc bệnh và khả năng xảy dịch sốt rét [32], [33], [34]

1.2.2 Những khó khăn trong PCSR cho dân di biến ñộng tại khu vực

MT-TN

Tại khu vực MT-TN trong những năm qua mặc dù tỷ lệ mắc và tử vong giảm, nhưng nguy cơ gia tăng sốt rét vẫn tiềm ẩn tại nhiều vùng, ñặc biệt là tại các vùng sốt rét lưu hành nặng, vùng có dân di biến ñộng (di cư tự do, ngủ rẫy và ñi rừng dài ngày), vùng kinh tế khó khăn Tại những vùng này hệ thống

y tế thiếu về số lượng và yếu về chất lượng không ñủ khả năng phát hiện và quản lý bệnh nhân Trong khi ñó mầm bệnh và vectơ lan truyền vẫn tồn tại, các biện pháp bảo vệ khó ñảm bảo hiệu quả tuyệt ñối bảo vệ cho các cộng ñồng này [7], [8], [9], [10], [11]

Đây là một trong những khó khăn mà công tác PCSR ñang phải tìm các giải pháp hiệu quả Nhiều cộng ñồng người dân tộc của các tỉnh Bình Định, Khánh Hoà, Quảng Nam, Gia Lai, Kon Tum, Đak Lak, Đak Nông vẫn còn

Trang 15

hoạt ñộng làm nương rẫy, làm nhà rẫy và ngủ lại ñó trong thời gian mùa vụ Một số lớn người dân do nhiều khó khăn khác nhau nên ñi vào rừng khai thác lâm thổ sản, chặt cây, tìm vàng [32], [31], [32]

Ngủ rẫy là thói quen canh tác phổ biến hiện nay của ñồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh Tây Nguyên và các huyện miền núi Trung Bộ trong các dịp mùa vụ, trong mùa rẫy ñồng bào thường kéo cả nhà lên chòi rẫy chỉ ñược làm tạm bợ ñể tiện việc làm ăn hoặc thu hoạch trong thời gian từ một tuần ñến một tháng, nên khả năng nhiễm bệnh cao

Vấn ñề bảo vệ cho dân ngủ rẫy hết sức khó khăn vì các biện pháp phun hóa chất diệt muỗi chỉ thực hiện ñược cho nhà ở cố ñịnh trong làng, biện pháp tẩm màn cũng không phù hợp vì diện tích nhà rẫy quá nhỏ cho nên không thể treo màn, biện pháp quản lý ñiều trị cũng rất khó thực hiện vì nhà rẫy rải rác khắp nơi trong rừng sâu nên số mắc và số tử vong sốt rét ở dân ngủ rẫy chiếm

2003, tình hình dân di biến ñộng, rầm rộ nhất là sự DCTD của ñồng bào dân tộc phía Bắc vào sống tại các vùng rừng núi Tây Nguyên cũng như hoạt ñộng

Trang 16

ñi rừng ngủ rẫy của người dân làm cho tình hình sốt rét càng phức tạp, ñặc biệt số tử vong tăng cao ñáng kể [8], [9], [32]

Tình trạng dân di cư tự do ñó xảy ra nhiều năm trước nhưng rầm rộ nhất trong những năm gần ñây Trước ñây di biến ñộng dân thường có tổ chức

và ñược quản lý chặt chẽ trược khi ñi và khi ñến nơi ở, theo dạng dân ñi kinh

tế mới hoặc dân ñi vào các công, nông, lâm trường Tuy nhiên thường nơi ñến ñịnh cư hầu hết thuộc các vùng sốt rét lưu hành nặng nên nguy cơ mắc và xảy dịch sốt rét rất cao

Theo những số liệu mới ñây của Tổng cục ñịa chính và Bộ NN&PTNN, từ năm 1991 ñến nay một số lượng lớn dân di cư tự do (DCTD) sinh sống tại 3 tỉnh Tây Nguyên (Gia Lai, Kon Tum ,Đak Lak) Đối tượng DCTD này chủ yếu là ñồng bào miền núi phía Bắc (36,7%), vùng ven biển khu IV cũ (30,9%) Trong ñó tỉnh có dân DCTD nhiều nhất là là Cao Bằng (9.710 hộ, 48.700 khẩu), Lạng Sơn (8.500 hộ, 41.550 khẩu), Thanh Hoá (3.500 hộ, 19.200 khẩu), Lào Cai (3.200 hộ, 20.000 khẩu), Hà Giang (1.900

hộ, 6.600 khẩu), Tuyên Quang (860 hộ, 4.800 khẩu) Chia theo dân tộc: Nùng: >100.000 người, Tày:>80.000 người, Dao: >31.000người, Thái:

>26.000 người, Mông: 134.000 người Ngoài ra thống kê còn có khoảng 5.000 nhân khẩu DCTD qua lại giữa Việt Nam và Lào [8], [9], [10], [11], [28]

Trong ñó Đak Lak là tỉnh có số DCTD lớn nhất, hiện nay có 100.000

hộ, 463.000 người Phần lớn dân DCTD sống trong rừng sâu, tránh sự kiểm soát của chính quyền ñịa phương, và theo thông báo số 52/TB-VPCP ngày 25/3/2002 của Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn tại Hội nghị bàn biện pháp giải quyết tình trạng dân DCTD ñến các tỉnh Tây Nguyên nếu ñể dân DCTD sau thời ñiểm 13/3/2002 thì tỉnh phải ñến nhận về [8], [9], [10], [28]

Trang 17

Với lý do ñó hầu hết dân di cư tự do sống lẩn tránh trong rừng sâu nơi

có sốt rét lưu hành nặng, không thể tiếp cận với hệ thống y tế, nên nguy cơ mắc bệnh và tử vong do sốt rét rất cao

Tại các vùng biên giới (Việt-Lào, Việt-Campuchia) giao lưu biên giới làm cho nguy cơ lan truyền sốt rét tiếp diễn và phức tạp Việc kiểm dịch biên giới tập trung tại các cửa khẩu, nhưng sự giao lưu và nhiễm bệnh lại chủ yếu thông qua các ñường tiểu ngạch, nên rất khó khăn trong việc quản lý BNSR Phân tích số liệu BNSR nhiều năm tại huyện Hướng Hoá (Quảng Trị) nơi có hoạt ñộng giao lưu giữa cộng ñồng người Việt và Lào cho thấy số mắc bệnh

do qua Lào là rất cao Một số bệnh nhân mắc bệnh sau khi ñi qua Lào trở về, một số là người Lào mắc bệnh ñược y tế xã quản lý, một số nhiễm từ các vùng SRLH khác nhau [13], [21], [22], [34]

Tóm lại ñối với dân di biến ñộng (ñi rừng, ngủ rẫy, giao lưu biên giới ), hệ thống y tế khó tiếp cận ñối với những ñối tượng này, giao thông ñi lại khó khăn các biện pháp phòng chống hiện nay vẫn chưa hiệu quả, nguy cơ gia tăng mắc và tử vong do sốt rét ở những ñối tượng này rất cao, cần nghiên cứu những biện pháp có hiệu quả hơn

1.3 Một số nghiên cứu sốt rét và phòng chống sốt rét cho dân di biến ñộng, ñi rừng ngủ rẫy

Một số nghiên cứu trong những năm gần ñây cho thấy sự di biến ñộng dân số ñó làm gia tăng nguy cơ mắc và lan truyền sốt rét trong cộng ñồng

Báo cáo của Pim Martens and Lisbeth Hall năm 2000 về “Sốt rét ñang

di chuyển: Biến ñộng dân cư và lan truyền sốt rét “ cho thấy sốt rét ñang gia tăng ở nhiều nước và ở một số vùng dù bệnh sốt rét ñã hết lưu hành Một trong những yếu tố góp phần vào sự gia tăng trở lại này là do sự di biến ñộng dân ñến ñịnh cư ở những vùng ñất khác do nhiều lý do như: do kinh tế, do

Trang 18

xung ñột, do thiên tai Xác ñịnh và hiểu ñược ảnh hưởng của sự di dân này

có thể cải thiện ñược các biện pháp phòng chống sốt rét Ở các nước ñang phát triển di dân liên quan ñến nông nghiệp, ñào vàng và nguy cơ mắc , tử vong sốt rét là rất cao [39], [41]

Cũng theo phân tích này cho thấy, sốt rét là một trong những nguyên nhân tử vong cao ở ñối tượng di biến ñộng dân ở một số vùng của Thailand, Sudan, Somalia, Burundi, Rwanda, Cộng Hòa Congo Vụ dịch mới ñây nhất xảy ra ở cộng ñồng dân Burundi di cư ñến ở Tây Bắc Tanzania, chết do sốt rét

và thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi tăng gấp 10 lần so với trước khi có dịch; phản ảnh sự thiếu miễn dịch của nhóm tuổi này [39]

Tại Hội nghị Nam Phi (2003) về dân di cư tác giả Marcia Caldas de Castro, Burton Singer ñã cho thấy sốt rét là bệnh có nguy cơ mắc và tử vong cao nhất ở cộng ñồng dân di cư của Cambodia ñến Thailan, Mozambic ñến Malawi, Ethiopi ñến Đông Sudan [40]

Cũng như nhiều vùng trên thế giới, tại Việt Nam, hoạt ñộng ñi rừng, ngủ rẫy cũng như tình hình di biến ñộng dân là một trong những thách thức cho phòng chống sốt rét ở nhiều vùng

Những nghiên cứu của Vũ Thị Phan cho thấy nguy cơ xảy dịch rất cao khi dân di biến ñộng từ các vùng không có sốt rét vào vùng sốt rét lưu hành,

do chưa có miễn dịch ñi vào vùng sốt rét ñể xây dựng kinh tế mới, khai thác vàng, trầm, ñá quý Trong quá khứ các vụ dịch xảy ra: Nông trường LT,NM (Đồng Hỷ, Bắc Thái) tháng 3/1964; Hợp tác xã khai hoang Quỳnh Lưu, Nghệ An; Hợp tác xã khai hoang TĐ Kỳ Anh, Hà Tĩnh tháng 11/1964; Hợp tác xã

HS, Hà Trung, Thanh Hóa tháng 4/1965 Tổng kết 512 vụ dịch sốt rét xảy ra ở miền Bắc từ 1971-1985 thì các vụ dịch xảy ra ở vùng kinh tế mới chiếm 46 vụ (9%) [23]

Trang 19

Nghiên cứu các vụ dịch xảy ra ở khu vực miền Trung-Tây Nguyên cho thấy tại khu vực này từ 1976-1996 có 155 vụ dịch, trong ñó dịch vùng kinh tế mới có 28 vụ (17,53%), Tây Nguyên có 25/53 vụ, miền Trung 3/102 vụ [23] Bên cạnh nguy cơ sốt rét ở nhóm dân di cư tự do, hoạt ñộng ñi rừng ngủ rẫy khó kiểm soát là một trong những thách thức ñối với công tác phòng chống sốt rét trong giai ñoạn hiên nay và thời gian ñến Mặc dù tỷ lệ mắc và

tử vong giảm, nhưng nguy cơ gia tăng sốt rét vẫn tiềm ẩn tại nhiều vùng vẫn còn cao, ñặc biệt là tại các vùng có dân có hoạt ñộng ñi rừng ngủ rẫy Tại những vùng này hệ thống y tế không thể tiếp cận ñược, không ñủ khả năng phát hiện và quản lý bệnh nhân Trong khi ñó mầm bệnh và vectơ lan truyền vẫn tồn tại, các biện pháp bảo vệ khó ñảm bảo hiệu quả tuyệt ñối bảo vệ cho các cộng ñồng này

Kết quả ñiều tra của Viện sốt rét-KST-CT Quy Nhơn tại một số cộng ñồng dân ngủ rẫy ở xã Đak Rin, Ngọc Lây (Kon Tum); Ia O (Gia Lai); Sơn Thái, Khánh Thượng (Khánh Hòa); xã Thanh (Quảng Trị) cho thấy tỷ lệ nhiễm từ trên 6,80% có nơi ñến 29,77% Tại những vùng này ñều phát hiện có

mặt các vectơ chính lan truyền bệnh như An.minimus, An.dirus [10], [13]

Một nghiên cứu khác nhằm xác ñịnh tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét

ở cộng ñồng dân ngủ rẫy và ñánh giá tỷ lệ người ngủ rẫy nhận thuốc và sử dụng thuốc tự ñiều trị ñược tiến hành tại 3 xã (Thanh-Quảng Trị, Trà Don-Quảng Nam, Ia O-Gia Lai) cho thấy tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét ở người dân ngủ rẫy rất cao: 9,90% (95% CI: 7,66%-12,54%) Tại xã Thanh

P.falciparum chiếm 75%, xã Ia O loài P.falciparum chiếm 86,36% và tại xã

Trà Don loài P.falciparum chiếm tỷ lệ là 52,63% [13]

Như vậy cho ñến nay tỷ lệ nhiễm KSTSR ở nhóm dân ngủ rẫy là rất cao, hơn nữa các biện pháp hiện nay ñể bảo vệ cho người ñi rừng ngủ rẫy chưa ñược xác ñịnh rõ và cũng chưa ñược ñánh giá ñầy ñủ

Trang 20

Nghiên cứu của Annette Erhart (2004) về sốt rét rừng ở Bình Thuận, Việt Nam cho thấy hoạt ñộng ñi rừng và ngủ trong rừng là yếu tố nguy cơ chính của nhiễm bệnh sốt rét Sử dụng màn ñể ngủ (kể cả màn chưa tẩm hóa chất) có thể bảo vệ 60% dân bảo vệ mắc sốt rét [37]

Báo cáo của Ron Marchand về nguy cơ của người dân ñi rừng và ngủ rẫy cho thấy nhóm dân này có nguy cơ nhiễm sốt rét rất cao, ñặc biệt khi họ

ngủ tại những vùng có An.dirus Tuy nhiên báo cáo này cũng nêu lên những

khó khăn của việc phòng chống sốt rét cho nhóm ñối tượng này và cũng ñề xuất cần nghiên cứu những nguyên nhân mắc bệnh và biện pháp phòng chống

có hiệu quả [17], [18]

Trước năm 2003 ñó có một số thử nghiệm hiệu quả biện pháp cấp thuốc tự ñiều trị Trong 2 năm 2001 và 2002, một nghiên cứu can thiệp có ñối chứng ñã ñược tiến hành nhằm so sánh hiệu quả biện pháp cấp thuốc tự ñiều trị Kết quả cho thấy người ñi rừng ngủ rẫy nhiễm bệnh cao (13,1%) so với nhóm không ñi rừng ngủ rẫy (8,3%) Nghiên cứu ñó so sánh 2 loại thuốc sử dụng cấp tự ñiều trị là CV8 (liều 3 ngày) và artesunat (liều 7 ngày), kết quả nghiên cứu này cho thấy nếu cấp thuốc tự ñiều trị có thể giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm sốt rét nặng, hạn chế sự lây lan trong cộng ñồng Đối với nhóm ñược cấp artesunate, sau 5 lần ñiều tra tỷ lệ nhiễm KSTSR nhóm ngủ rẫy giảm từ 28,4% xuống còn 4,1% Đối với nhóm sử dụng CV8 tỷ lệ KSTSR giảm từ 14,6% xuống còn 0,6%, nhóm ñi rừng [7]

Một nghiên cứu khác nhằm khắc phục sốt rét gia tăng ở người dân ñi rừng ngủ rẫy (Lê Khánh Thuận, Lê Thành Đồng-2002), cho thấy ñi rừng ngủ rẫy là một trong những vấn ñề rất khó khăn ñối với công tác phòng chống sốt rét Nghiên cứu ñó cho thấy 77,4% ñối tượng này ñã từng bị sốt rét, chỉ có 57,1% người khi vào rừng mang theo màn Đề tái áp dụng biện pháp uống dự

Trang 21

phịng bằng Fansidar, mefloquine, phát thuốc tự điều trị (artemisinine+ mefloquine) đều cĩ tác dụng giảm tỷ lệ nhiễm bệnh [6], [7], [8], [27]

Từ năm 2003 đến nay, Chương trình PCSR Việt Nam đề nghị biện pháp cấp thuốc tự điều trị cho người đi rừng ngủ rẫy xa cơ sở y tế, biện pháp này đĩ được Bộ y tế ban hành trong hướng dẫn phác đồ chẩn đốn và điều trị sốt rét năm 2003 [2], [3], [4]

Sau năm 2003 đĩ cĩ một số nghiên cứu về hiệu quả của biện pháp này Năm 2006-2007, một điều tra nhằm bước đầu đánh giá thực trạng sử dụng thuốc tự điều trị tại một số xã thuộc khu vực miền Trung-Tây Nguyên cho thấy tỷ lệ nhận thuốc tự điều trị là 58,12% Phân tích cho thấy CV8 được cấp với tỷ lệ 61,73%, artesunat được cấp với tỷ lệ 25,59%, chloroquin được cấp với tỷ lệ 12,29% ; người dân đi ngủ rẫy đến nhận thuốc ở y tế thơn bản chiếm tỷ lệ 72,07% cao hơn so với đến Trạm y tế xã (27,93%) Tỷ lệ người dân ngủ rẫy cĩ uống thuốc tự điều trị là 37,11% Đối với CV8 và chloroquine: 25,26% uống đủ 3 ngày, với artesunat khơng cĩ trường hợp nào uống thuốc

đủ 7 ngày Nguyên nhân khơng uống đủ liều: 50,56% khơng uống tiếp do hết sốt, 26,97% trở về nhà uống tiếp ; 14,61% khơng nhớ và 7,87% khơng muốn uống tiếp [13], [14]

Một số nước trên thế giới cĩ sốt rét lưu hành, biện pháp tự điều trị tại nhà cũng được áp dụng những người khĩ tiếp cận y tế

Tự điều trị là biện pháp quan trọng để quản lý sốt rét, và rất cần thiết tại các khu vực nơng thơn Ethiopia Một đánh giá về sử dụng thuốc tự điều trị

và tự quản lý bệnh sốt rét trên 630 hộ gia đình cĩ bệnh nhân sốt rét trong 6 tháng từ tháng 1-9 năm 1999 được chọn ngẫu nhiên ở huyện Butajira, southern Ethiopia, cho thấy >97% hộ quản lý sốt rét ở nhà, 17.8% hộ sử dụng thuốc sốt rét ở nhà, 46.7% hộ đến cơ sở y tế sau khi uống thuốc ở nhà, 33,3%

hộ đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế khi chưa cĩ điều trị ở nhà Thuốc sử dụng

Trang 22

bao gồm chloroquine (457, 73.5%) and sulfadoxine–pyrimethamine (377, 60.6%) Thuốc từ chương trình PCSR là chủ yếu, trong ñó chloroquine và sulfadoxine-pyrimethamine chiếm 60.6% thông qua cán bộ y tế cộng ñồng, hợp tác của các bà mẹ, người bán thuốc Khảo sát ñó ñưa ra kết luận tự ñiều trị là biện pháp chủ yếu, nhưng cần cải thiện việc cung cấp thuốc ñến các vùng nông thôn có sốt rét, ñặc biệt thông qua nhân viên y tế cộng ñồng, hợp tác của các bà mẹ, người bán thuốc, chủ hiệu thuốc [38]

Tự ñiều trị là rất phổ biến ở Tây Kenya Một báo cáo kết quả nghiên cứu kiến thức người dân về sốt rét, sử dụng thuốc sốt rét và thói quen tìm ñến

cơ sở ñiều trị khi bị bệnh ở vùng nông thôn Tây Kenya cho thấy sốt rét ñược xem như là bệnh tương ñối nhẹ, không trầm trọng so với so với AIDS, sởi, khó thở và ỉa chảy, vì vậy tự ñiều trị sốt rét là rất thông thường Trong số 138 người có sốt ñược khảo sát, 60% ñược ñiều trị ở nhà với thảo dược hoặc y học

cổ truyền mua ở hiệu thuốc ñịa phương, chỉ 18% ñến ñiều trị ở cơ sở y tế hoặc

ở bệnh viện; số còn lại không có ñiều trị gì Thuốc chloroquine ñược xem là thuốc có hiệu quả hơn các thuốc chống sốt hoặc thảo dược khác ñể ñiều trị sốt rét Choloroquin ñược sử dụng tự ñiều trị cho 58% các trường hợp sốt, nhưng chỉ 12% sử dụng ở liều ñiều trị 25 mg/kg [42]

Như vậy cho ñến nay do nhiều khó khăn trong công tác phòng chống bệnh sốt rét cho những người di biến ñộng, ñi rừng, ngủ rẫy, ñi du lịch vào vùng sốt rét lưu hành nên biện pháp tự ñiều trị ñược xem là giải pháp hạn chế nguy cơ mắc bệnh cho những ñối tượng này

1.4 Cấp thuốc tự ñiều trị sốt rét

Việc áp dụng biện pháp cấp thuốc tự ñiều trị sốt rét cũng ñược thực hiện ở một số nước trên thế giới, chủ yếu cho ñối tượng khách du lịch vào vùng có sốt rét lưu hành

Trang 23

Trong tài liệu hướng dẫn dự phịng cho những người đi du lịch của nước Anh đề cập ở trên người ta đề nghị nên hướng dẫn sử dụng thuốc sốt rét cho những người đi du lịch đến vùng sâu, vùng xa khơng thể tiếp cận với cán

bộ y tế trong vịng 24 giờ Thuốc tự điều trị được cấp cho những người đi du lịch để tự điều trị khi họ nghi mình bị sốt rét Họ nên được thơng tin đầy đủ

để điều chỉnh khi sử dụng thuốc tự điều trị sốt rét [43]

Tổ chức y tế thế giới cũng cĩ hướng dẫn sử dụng thuốc khẩn cấp cho những người đi du lịch khi họ nghi mình bị nhiễm sốt rét Trong hướng dẫn này nếu 1 người cĩ biểu hiện sốt 1 tuần hoặc hơn sau khi vào vùng sốt rét nên được bác sỹ tư vấn hoặc xét nghiệm máu để cĩ chẩn đốn đúng và điều trị an tồn, hiệu quả Nhiều người đi du lịch khơng thể tiếp cận được dịch vụ y tế, đặc biệt nếu họ tiếp tục ở lại (1tuần hoặc hơn sau khi vào vùng sốt rét) ở vùng sâu, xa, trong những trường hợp như vậy, nên mang theo thuốc sốt rét để tự điều trị Sự lựa chọn tùy theo từng vùng cĩ kháng hay khơng [43], [47], [49] Tại Việt Nam cấp thuốc tự điều trị đã được khuyến cáo sử dụng trong chương trình phịng chống sốt rét từ năm 2003 để giảm tác hại của bệnh sốt rét ở đối tượng đi rừng, ngủ rẫy Tuy nhiên hiện nay chưa cĩ nhiều đánh giá thực trạng sử dụng và hiệu quả của biện pháp này cho đối tượng là người đi

rừng ngủ rẫy

Trong phác đồ hướng dẫn năm 2003, Bộ y tế cho phép sử dụng thuốc tự điều trị như là giải pháp khống chế thiệt hại và giảm số tử vong cho người

ngủ rẫy khi mắc bệnh sốt rét Biện pháp này là “Cấp thuốc tự điều trị cho

người vào vùng sốt rét lưu hành và xa cơ sở y tế để họ tự điều trị khi bị sốt nghi sốt rét (dân đi rừng ngủ rẫy, cán bộ, bộ đội đi cơng tác vào vùng sốt rét lưu hành ), cán bộ y tế hướng dẫn điều trị khi cấp thuốc, theo dõi kết quả sử dụng khi họ trở về” Tuy nhiên trong hướng dẫn năm 2003, chưa nêu cụ thể

Trang 24

tuyến nào được phép cấp thuốc, cũng như cấp loại thuốc nào chưa được nêu lên rõ ràng [2], [3], [4]

Đến năm 2007, Bộ y tế cĩ mở rộng định nghĩa “ Cấp thuốc cho phụ nữ

cĩ thai vào vùng SRLH., khách du lịch, người đi vào vùng sốt rét trong vịng 6 tháng Đi rừng, ngủ rẫy, qua lại biên giới” Mặc dù cĩ mở rộng đối tượng

nhưng cũng như năm 2003, hướng dẫn năm 2007 chưa nêu cụ thể tuyến nào được phép cấp thuốc, cũng như cấp loại thuốc nào cũng chưa được nêu lên rõ ràng

Năm 2009, Bộ y tế hướng dẫn cấp thuốc tự điều cụ thể hơn Hướng dẫn

nêu rỏ: “Cán bộ y tế từ tuyến xã trở lên mới được cấp thuốc tự điều trị cho

các đối tượng đi vào vùng sốt rét lưu hành nặng trên 1 tuần (khách du lịch, người đi rừng, ngủ rẫy, người qua lại biên giới vùng sốt rét lưu hành) và phải hướng dẫn cho họ biết cách tự chẩn đốn, tự điều trị, theo dõi sau khi trở về” Thuốc sốt rét được cấp để tự điều trị là dihydroartemisinin-piperaquine,

liều theo tuổi trong 3 ngày [4]

1.5 Thuốc artemisinin và Arterakin điều trị sốt rét

Artemisinin hay Qinghaosu ("ching-how-soo") là thành phần chính của

thảo dược Trung Quốc cĩ tên là Artemisia annua Người Trung Quốc sử dụng

thảo dược này để điều trị sốt trên 1000 năm trước

Các nhà khoa học Trung Quốc đĩ chiết xuất thành cơng artemisin bằng dung mơi n_hecxan và lấy tên thuốc là Quinghaosu Tuy nhiên, artemisinin vẫn chưa được biết đến rộng rãi cho đến khi nĩ xuất hiện trên một tạp chí khoa học về thuốc của Trung Quốc vào gần chục năm sau đĩ Ban đầu, artemisinin bị hồi nghi về hoạt tính điều trị sốt rét của nĩ do các thí nghiệm chứng minh kết quả này chưa được cơng nhận Bên cạnh đĩ, với lý do về cấu trúc hĩa học khơng bền vững (chứa vịng peroxide –O-O-) nên artemisinin

Trang 25

không ñược sử dụng ñể sản xuất như một loại thuốc chính thức Tổ chức Y tế thế giới -WHO ñã xác ñịnh tính ưu tiên hàng ñầu ñể phát triển các dẫn xuất có tác dụng nhanh của artemisinin nhằm ñiều trị sốt rét ác tính thể não cũng như

kiểm soát các trường hợp sốt rét P falciparum ña kháng thuốc [45], [46],

[50], [51]

Đến năm 2004, Tổ chức y tế thế giới mới chính thức công nhận artemisinin là loại thuốc kỳ diệu, thay thế ñược nhiều loại thuốc sốt rét không còn tác dụng chữa bệnh sốt rát ác tính Hiện nay, artemisinin ñược sử dụng trên toàn thế giới, ñặc biệt là Châu Phi, nơi hàng năm có gần 1 triệu người chết vì bệnh sốt rét

Hiện nay tình hình sốt rét kháng thuốc lan rộng với một số thuốc sốt rét vốn lâu nay rất ñặc hiệu (mefloquine, chloroquin, quinine,…) không những một vùng ñơn thuần mà lan rộng khắp toàn cầu; ngay cả thuốc có hiệu quả nhất hiện nay trong ñiều trị sốt rét là artemisinine và các dẫn suất cũng ñó sớm bắt ñầu có hiện tượng giảm nhạy, và ñó có một số báo cáo trên thế giới

về sự xuất hiện một số ca không còn ñáp ứng thuốc artesunate nữa Trước tình hình nguy cơ sốt rét kháng thuốc ñe dọa toàn cầu, Tổ chức y tế thế giới ñề nghị không nên quảng cáo, sản xuất thuốc sốt rét loại artesunate dưới dạng ñơn trị liệu nữa và chuyển sang dùng phác ñồ thuốc phối hợp dựa trên nền có gốc artemisinin Một trong số các phối hợp ñó, Tổ chức y tế thế giới ñánh giá cao hoặc khuyến cáo dùng loại thuốc ACT gồm thuốc artemisinine + piperaquine hoặc dihydroartemisinin + piperaquine với các biệt dược hiện ñang có mặt trên thị trường là Artequick, Artekin, Arterakine, CV artecan,…[20], [44], [45], [48]

Hợp chất có artemisinin là một nhóm thuốc sốt rét mới có ñặc ñiểm sinh ra một ñáp ứng rất nhanh trong cơ thể bệnh nhân, chống lại sốt rét do ký

sinh trùng P.falciparum ña kháng thuốc, thuốc dung nạp tốt và có tiềm năng

Trang 26

giảm lan truyền sốt rét thông qua bước làm giảm quần thể người mang giao bào

Artequick, một phối hợp thuốc sốt rét bao gồm thành phần artemisinin

và piperaquine, gần ñây ñược xem là một phối hợp thuốc lý tưởng trong ñiều trị bệnh sốt rét, ñặc biệt ñiều trị và xử lý chống kháng với các trường hợp

P.falciparum kháng thuốc Để ñạt ñược một thuốc lý tưởng như vậy, thuốc ñó

phải hội ñủ các tiêu ñiểm sau: tác ñộng lên ký sinh trùng nhanh, hiệu lực và ngăn ngừa kháng thuốc cao, ñộc tính thấp, liệu trình ñiều trị ngắn ngày và ñặc biệt giúp giảm lan truyền bệnh [29]

Về ñặc ñiểm tác ñộng lên ký sinh trùng sốt rét nhanh: qua nhiều kết quả nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng tại Trung Quốc, Việt Nam, Cambodia, Indonesia và Thái Lan cho thấy rằng thuốc Artequick kiểm soát hay nói ñúng

hơn là khống chế triệu chứng và dấu chứng sốt rét do P.falciparum và P.vivax

nhanh chóng Thời gian cắt sốt chỉ từ 16 -30 giờ và thời gian sạch ký sinh trùng từ 36 -60 giờ Thuốc Artequick làm ngừng sự phát triển ký sinh trùng trong vòng 2 giờ và hơn 95% lượng ký sinh trùng sốt rét bị tiêu diệt trong vòng 24 giờ Từ ưu ñiểm tác ñộng nhanh như thế, thuốc Artequick giảm tỷ lệ

mắc bệnh và ñặc biệt là giảm tỷ lệ tử vong do P.falciparum ñáng kể [29]

Hiệu lực cao và ngăn ngừa kháng thuốc: hoặc làm chậm quá trình kháng thuốc diễn ra: nhiều nghiên cứu lâm sàng cho thấy thuốc Artequick cho tỷ lệ

chữa khỏi cao trong những vùng sốt rét do P.falciparum ña kháng thuốc Thử

nghiệm INVIVO theo dõi 28 ngày cho biết tỷ lệ chữa khỏi ñến 97% và tỷ lệ tái phát sớm chỉ 3% Sự phối hợp artemisinin với piperaquine làm trì hoãn

quá trình phát triển kháng thuốc, nhất là của ký sinh trùng P.falciparum Phối hợp này cũng có hiệu lực cao trong sốt rét do P.vivax, nhiều kết quả thử nghiệm lâm sàng ñối với sốt rét do P.vivax này cho biết tỷ lệ tái phát chỉ 2%

sau một tháng theo dõi

Trang 27

Độc tính thấp: thuốc artemisinin và dẫn suất từ lâu ñược biết ñến là thuốc ñiều trị sốt rét có hiệu lực cao và an toàn cao, ngay cả phụ nữ mang thai

và trẻ em nhỏ Hiện nay các thuốc phối hợp dựa trên sự phối hợp với artemisinine hoặc dihydroartemisinin cũng ñó ñược chứng minh rất an toàn trong ñiều trị: tác dụng phụ trên lâm sàng chỉ gặp ở một số trường hợp như buồn nôn, nôn, chóng mặt, ñau bụng nhẹ, tiêu chảy xảy ra 0-3%, không thấy bất thường nào về kết quả cận lâm sàng huyết học và sinh hóa hoặc ñiện tâm

ñồ trong khi theo dỏi ñiều trị ở liều cho phép

Liệu trình ñiều trị ngắn ngày: thuốc Artequick chỉ cần 2 liều, liều ñầu vào thời ñiểm 0 giờ và liều thứ 2 thời ñiểm 24 giờ sau ñó với hiệu quả ñiều trị rất cao

Về khả năng ngăn lan truyền bệnh: ñây chỉ là tác ñộng gián tiếp, trực tiếp thuốc không thể diệt giao bào Artemisinin, thành phần chính của thuốc viên Artequick, có tác dụng ức chế phát triển hình thành giao bào của

P.falciparum Một phối hợp gồm artemisinin và primaquine liều thấp cho một

hiệu ứng cộng lực nhằm làm giảm tính nhiễm của giao bào và làm sạch giao bào rất sớm; do vậy gián tiếp tác ñộng làm giảm sự lan truyền bệnh [45], [47], [49]

Nếu tất cả bệnh nhân nhiễm sốt rét ñều ñược ñiều trị bằng thuốc này sớm sẽ giúp phá hủy ký sinh trùng sốt rét, giảm ñáng kể lượng ký sinh trùng sinh ra ñối với cộng ñồng dân tại các vùng sốt rét lưu hành, tỷ lệ bệnh cũng như tỷ lệ người mang giao bào sẽ giảm ñi rất có ý nghĩa, sẽ giúp ñẩy lùi sốt rét nhanh chóng và loại trừ sốt rét trong một thời gian ngắn

Dạng thuốc thứ 2 trong thế hệ thuốc phối hợp hiện ñang dùng rất phổ biến tại các quốc gia có sốt rét, ñặc biệt châu Phi và khu vực Đông Nam Á, trong ñó có Việt Nam ñó là phối hợp gồm dihydroartemisinin và piperaquine, với các biệt dược khác nhau như Artekin, Arterakin, CV-Artecan,…và thuốc

Trang 28

này cũng là một trong những phối hợp ñược Tổ chức y tế thế giới khuyến cáo sản xuất và sử dụng nhiều nhất hiện nay Đây là một thuốc lý tưởng, ñạt ñược các ñặc ñiểm như thuốc Artequick ñược ñề cập ở trên: Tác ñộng lên KSTSR nhanh hiệu lực và ngăn ngừa kháng thuốc cao, ñộc tính thấp, liệu trình ñiều trị ngắn ngày và gián tiếp làm giảm lan truyền bệnh, tuy nhiên liệu trình dùng là trong thời gian 3 ngày, khác so với thuốc Artequick (chỉ 2 ngày)

Dihydroartemisinin (DHA) là dẫn xuất của artemisinin, là một sesquiterpen lacton với cầu nối endoperoxid, có tác dụng rất quan trọng ñối với ký sinh trùng sốt rét Dihydroartemisinin có tác dụng mạnh diệt thể phân liệt, nhưng thực tế không có tác dụng trên thể ngoại hồng cầu, thể thoa trùng

và thể giao tử

DHA, với vai trò là một thuốc ñồng thời là một chất chuyển hoá chính có hoạt tính sinh học của artesunat và artemether, ñó ñược sử dụng rất lâu ñời trên bệnh sốt rét của hàng triệu bệnh nhân trên khắp thế giới Cơ chế tác dụng của DHA hiện chưa ñược biết thấu ñáo.Một vài nghiên cứu cho rằng thuốc tập trung chọn lọc vào tế bào nhiễm KSTSR và phản ứng với hemozoin dẫn ñến tiêu diệt ký sinh trùng Trên In vitro, phản ứng này sinh ra các gốc tự do ñộc hại có thể phá huỷ các màng của KSTSR

Khác với DHA, thì piperaquine (PPQ) là dẫn xuất thuộc nhóm aminoquinoline, là một thuốc sốt rét loại biquinoline có cơ chế tác dụng tương

4-tự như các thuốc sốt rét nhóm quinoline khác, ñược Trung Quốc dùng thay cho chloroquine và ñóng vai trò quan trọng trong việc phòng chống sốt rét trên thế giới trong những năm của thập kỷ 80 Piperaquine có tác dụng tốt trên

các thể hồng cầu của P.vivax và P.malariae và hầu hết các chủng

P.falciparum (ngoại trừ giao bào) Liều LD50 của piperaquine là 10.98,5 ± 78,2mg/kg so với chloroquin là 437,9 ± 50,4mg/kg Thuốc sốt rét piperaquin

an toàn và ít ñộc [29]

Trang 29

Một trong những vấn ñề chủ yếu của 2 thuốc trên khi dùng ñơn trị liệu là

tỷ lệ tái phát cao sau khi ngừng ñiều trị ñối với DHA và hiện tượng kháng

thuốc ñó xuất hiện khi sử dụng PPQ trong dự phòng P.falciparum kháng

chloroquin Nhiều nghiên cứu gần ñây khẳng ñịnh sự phối hợp DHA và PPQ

là một phối hợp ACT có hiệu quả cao và an toàn ñối với các thể sốt rét kể cả

sốt rét do P.falciparum ña kháng tại Việt Nam

Phác ñồ phối hợp DHA+PPQ này khắc phục nhược ñiểm của cả 2 thuốc khi dùng ñơn trị liệu Phối hợp với DHA có khả năng làm chậm sự kháng thuốc của piperaquine dựa trên kinh nghiệm khi sử dụng mefloquin (tỷ lệ thất bại 50% khi dùng ñơn ñộc, nhưng khi phối hợp với 1 dẫn xuất của artemisinin sau 8 năm sử dụng vẫn còn hiệu quả > 95%)

Trên nghiên cứu lâm sàng ở dạng phối hợp DHA và PPQ mang lại lợi ñiểm rằng tỷ lệ tái phát xảy ra tương ñối ít hơn và chậm hơn, có lẽ do PPQ có thời gian bán huỷ pha cuối dài

Nghiên cứu hiệu lực ñiều trị của DHA và PPQ ở Bệnh viện bệnh nhiệt ñới thành phố Hồ Chí Minh từ 2001-2004 cho thấy sự phối hợp này có hiệu lực cao trong cắt sốt và làm sạch ký sinh trùng sốt rét Nghiên cứu ñiều trị 520

ca nhiễm sốt rét (gồm 448 nhiễm P.falciparum và P.vivax tại Bệnh viện này

cho thấy tỷ lệ khỏi bệnh từ 98% ñến 100%, cắt sốt và sạch ký sinh trùng nhanh trong vòng 2 ngày, tỷ lệ tái phát thấp chỉ 1,9% Nghiên cứu ñiều trị cho

3458 bệnh nhân tại thực ñịa cho kết quả tỷ lệ khỏi bệnh từ 98,7%-100%; hết sốt và sạch ký sinh trùng sốt rét trong vòng 1-2 ngày

Một số phác ñồ nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng tại Việt Nam trên những vùng sốt rét lưu hành nặng, ña kháng thuốc ñều cho kết quả tỷ lệ ñáp ứng lâm sàng và ký sinh trùng ñầy ñủ rất cao Một nghiên cứu ñánh giá hiệu lực ñiều trị của CV artecan (dihydroartemisinin và piperaquine) ở bệnh nhân sốt rét chưa biến chứng tại Đak Nông và Quảng Trị cho thấy thuốc có tác

Trang 30

dụng diệt KSTSR và cắt sốt nhanh trong vòng 1-2 ngày, tỷ lệ khỏi bệnh 100%

ở cả bệnh nhân nhiễm P.falciparum và P.vivax Thuốc còn có ưu ñiểm là ít

tác dụng phụ, chỉ có 1 trường hợp mẫn ngứa liên quan ñến thuốc trong số 137 trường hợp theo dõi [20]

Việc áp dụng thuốc phối hợp DHA và PPQ trong ñiều trị bệnh nhân sốt rét rất có hiệu quả, tỷ lệ khỏi bệnh cao, ít tác dụng phụ, thời gian sử dụng thuốc chỉ có 3 ngày rất dễ sử dụng cho người ñi rừng, ngủ rẫy xa cơ sở y tế Tuy nhiên cho ñến nay việc ứng dụng thuốc này ñể cấp tự ñiều trị chưa ñược nghiên cứu và ñánh giá hiệu quả một cách ñầy ñủ Thực tế cho ñến nay rất ít ñề tài nghiên cứu thực trạng sử dụng thuốc tự ñiều trị hiện nay như thế nào

Hơn nữa các phác ñồ từ 2007 trở về trước, việc cấp thuốc tự ñiều trị chưa ñược hướng dẫn cụ thể: cấp thuốc nào, cấp như thế nào, ai hướng dẫn, ai theo dõi…vẫn cũng chưa rõ Nghiên cứu này nhằm mô tả thực trạng sử dụng thuốc tự ñiều trị sốt rét hiện nay của người dân ñi rừng ngủ rẫy và ñánh giá hiệu quả của biện pháp cấp thuốc tự ñiều trị ñang áp dụng, hoàn chỉnh mô hình quản lý người ñi rừng, ngủ rẫy tại cộng ñồng cũng như biện pháp truyền thông giáo dục tăng cường cho việc sử dụng thuốc tự ñiều trị khi thuốc ñược ñóng gói có hướng dẫn

Hiệu quả biện pháp này nhằm mục tiêu giảm mắc và tử vong ở người ñi rừng ngủ rẫy, giảm thiệt hại do bệnh sốt rét gây ra tại các vùng sốt rét lưu hành trong thời gian tới

Trang 31

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa ñiểm nghiên cứu

Nghiên cứu ñược tiến hành tại xã Đak R Mang, thuộc huyện Đak Glong, với dân số 5.306 nằm trong vùng sốt rét lưu hành nặng Toàn xã có 5 thôn buôn, chiếm ña số người dân tộc thiểu số tại chổ Mnông, Ê ñê ngoài ra còn có một số ñồng bào khác và 1616 cụm dân di cư tự do Đây là xã có nhiều dân ñi rừng ngủ rẫy, ngoài ra dân di cư tự do với số dân 2.800 từ các tỉnh phía Bắc vào (Bắc Cạn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Lào Cai, Hà Giang…) càng làm cho tình hình sốt rét phức tạp Trạm Y tế xã có 5 nhân viên trong ñó 1 y sỹ, 2

y tá, 1 nữ hộ sinh, 1 ñiều dưỡng Trạm có ñiểm kính hiển vi chủ yếu là phát hiện bệnh thụ ñộng cho những bệnh nhân ñến trạm y tế

Hiện nay hoạt ñộng ngủ trong rừng, trong rẫy khá phổ biến ở người dân ñịa phương.và phần lớn những người mắc sốt rét trong xã là người thuộc nhóm ñối tượng thường xuyên ngủ rừng, ngủ rẫy

2.2 Đối tượng nghiên cứu:

2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn: 2 tiêu chuẩn lựa chọn

- Có hoạt ñộng ngủ trong rẫy là tiêu chuẩn bắt buộc ñể chọn ñối tượng cho nghiên cứu này

- Tuổi: từ 15 tuổi trở lên, ñồng ý tham gia nghiên cứu

Những người ñược coi là thường xuyên ngủ rẫy nếu họ ngủ trong rẫy ít nhất một lần trong vòng 2 tháng Tuy vậy, ưu tiên chọn những người ngủ trong rừng, trong rẫy ít nhất một tháng một lần Số người này sẽ ñược theo dõi trong quá trình nghiên cứu

Trang 32

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ:

- Những người không hợp tác nghiên cứu

- Không thường xuyên có hoạt ñộng ngủ ngủ rẫy

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1.Phương pháp mô tả dịch tễ học

 Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả :

Điều tra cắt ngang xác ñịnh tỷ lệ nhận thuốc và thực trạng sử dụng thuốc

tự ñiều trị sốt rét tại nhóm ñối tượng có hoạt ñộng ngủ rẫy

p : Dựa vào kết quả một số nghiên cứu trước ñây cho thấy tỷ lệ ký sinh trùng sốt rét ở người dân ngủ rẫy ở miền Trung-Tây Nguyên khoảng 10%, và tỷ lệ người dân ñến nhận thuốc tự ñiều trị khoảng 58% Để ñảm bảo cho cả 2 ñiều kiện này, nghiên cứu tính toán cỡ mẫu dựa vào p=0,50 ñể ñạt cỡ mẫu ñảm bảo cho cả 2 ñiều kiện trên

q = (1- p)=1-0,50= 0,50

d : Độ chính xác là khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu ñược

từ mẫu (p) và từ tỷ lệ quần thể (P) Chọn d=0,05,

Trang 33

1,962 0,50.0,50

n1=n2 = - = 385 0,052

Để bổ sung cho các trường hợp không thu thập ñược số liệu, cộng thêm 5% vào mẫu, vì vậy ta cần ñiều tra khoảng 400 người

Khung mẫu: Danh sách người ngủ rẫy trong các thôn của xã

Đơn vị lấy mẫu: cá nhân người có ngủ rẫy

Đơn vị quan sát: cá nhân người có ngủ rẫy

2.3.2 Các kỹ thuật nghiên cứu:

- Xét nghiệm tìm KSTSR: lấy lam máu (giọt ñặc và ñàn), nhuộm giêm sa

soi và ñếm mật ñộ KSTSR (theo phương pháp ñịnh lượng và ñịnh tính) Mật ñộ KST sẽ ñược tính toán dựa trên số lượng thể vô tính và giao bào trên 200 tế bào bạch cầu, với giả ñịnh số lượng bạch cầu trung bình là 8000/µl máu Kỹ thuật lấy máu ñược thực hiện bằng cách lấy máu ngoại vi ở ñầu ngón tay áp út ñể làm giọt mỏng và giọt dày trên cùng một lam kính sạch Sau khi giọt máu khô, sử dụng dung dịch giemsa 3% ñược pha với dung dịch ñệm (pH=7,2) ñể nhuộm giọt máu trong thời gian 30-45 phút Soi lam và ñọc kết quả dưới vật kính dầu của kính hiển vi quang học Kết quả có thể biểu thị bằng hệ thống dấu

Trang 34

(+) (định tính) và đếm mật độ KSTSR/µl máu (định lượng) Khi kết luận một lam cĩ kết quả âm tính cần phải soi ít nhất 100 vi trường (mỗi vi trường chuẩn cĩ 15-20 bạch cầu) mà khơng tìm thấy KSTSR [23], [47], [49]

- Khám lâm sàng phát hiện sốt, bệnh nhân sốt rét, lách sưng: Cặp nhiệt

độ hố nách, nếu nhiệt độ cơ thể đối tượng nghiên cứu ≥ 37,5 oC được chẩn đốn là cĩ sốt

- Phỏng vấn trực tiếp: Phỏng vẩn người cĩ hoạt động ngủ rẫy theo các

chỉ số điều tra Ghi nhận thơng tin vào các phiếu điều tra Phỏng vấn nhân viên y tế (xã, thơn bản) về cấp thuốc tự điều trị

2.3.3 Vật liệu và cơng cụ thu thập số liệu:

- Kính hiển vi, lam, kim, vật tư và các dụng cụ xét nghiệm cần thiết

- Nhiệt kế, ống nghe

- Thuốc : sốt rét và các thuốc hỗ trợ điều tra

- Phiếu điều tra, phiếu xét nghiệm

2.3.4 Các thuật ngữ và chỉ số trong nghiên cứu:

+ Các thuật ngữ trong nghiên cứu

- Ca bệnh sốt rét: theo Tài liệu Hướng dẫn Chẩn đốn và điều trị sốt rét của

Trang 35

 Để chẩn đốn 1 bệnh nhân SRLS cần căn cứ vào 4 đặc điểm sau đây:

- Hiện đang sốt (≥ 37,50C) hoặc cĩ sốt trong 3 ngày gần đây

- Khơng giải thích được các nguyên nhân gây sốt khác

- Đang ở hoặc qua lại vùng sốt rét trong vịng 9 tháng gần đây

- Điều trị bằng thuốc sốt rét cĩ đáp ứng tốt trong vịng 3 ngày

- Thống kê bệnh nhân sốt rét: bao gồm các bệnh nhân được xác định là sốt rét

và bệnh nhân sốt rét lâm sàng

- Rẫy-nhà rẫy và ngủ rẫy:

- Rẫy: là mảnh đất ở trong rừng hoặc bìa rừng cách xa buơn làng được dùng để trồng lúa và các hoa màu khác

- Nhà rẫy: được làm tại rẫy, cĩ cấu trúc sơ sài tạm bợ bằng các nguyên liệu như lồ ơ, tre, nứa hoặc gỗ, diện tích thường rất nhỏ

- Ngủ rẫy: người dân làm rẫy và ngủ lại tại nhà rẫy qua đêm hoặc nhiều đêm để trơng coi và bảo vệ cây trồng

Trang 36

- Cấp thuốc tự ñiều trị [2], [3]

Cấp thuốc tự ñiều trị cho người vào vùng sốt rét lưu hành và xa cơ sở y

tế ñể họ tự ñiều trị khi bị sốt nghi sốt rét (dân ñi rừng ngủ rẫy, cán bộ,

bộ ñội ñi công tác vào vùng sốt rét lưu hành ), cán bộ y tế hướng dẫn ñiều trị khi cấp thuốc, theo dõi kết quả sử dụng khi họ trở về

+ Các chỉ số trong nghiên cứu [5], [31]:

- Tỉ lệ lam dương tính ( Slide Positive Rate-SPR) : Là tỉ lệ % lam có

KSTSR(+) trên tổng số lam xét nghiệm

- Tỉ lệ giao bào : Là tỉ lệ % số giao bào trên tổng số người ñược xét

nghiệm Tổng số giao bào

Tỉ lệ giao bào = - x 100 Tổng số người xét nghiệm

Trang 37

- Tỷ lệ nhận thuốc tự ñiều trị: Là tỷ lệ % số người ñến nhận thuốc tự

ñiều trị ñể mang vào rẫy sử dụng khi nghi mắc sốt rét

Tổng số người ñến nhận thuốc

Tỉ lệ nhận thuốc = -x 100 Tổng số người ngủ rẫy

- Tỷ lệ sử dụng thuốc: Tỷ lệ người ñi vào rẫy sử dụng thuốc tự ñiều trị khi nghi mắc sốt rét

Tổng số người có sử dụng thuốc

Tỉ lệ sử dụng thuốc = - x 100 Tổng số người ngủ rẫy theo dõi

- Cơ cấu các loại thuốc ñược cấp: Tỷ lệ % các loại thuốc tự ñiều trị ñược cấp

- Đối tượng ñến nhận thuốc: Tỷ lệ nam, nữ ñến nhận thuốc

- Tỷ lệ người dân ñến báo cáo sau khi trở về lại nhà

2.3.5 Đạo ñức trong nghiên cứu

Nghiên cứu dịch tễ học mô tả với thiết kế nghiên cứu cắt ngang ñiều tra

tỷ lệ mắc sốt rét và phỏng vấn nhằm khảo sát thực trạng sử dụng thuốc tự ñiều trị bệnh sốt rét nên không có các biện pháp can thiệp nào trên con người

Kỹ thuật nghiên cứu gồm lấy máu xét nghiệm và phỏng vấn ñược giải thích trước ñể có ñược sự ñồng ý của người dân

Tất cả những người nghi mắc sốt rét trong quá trình ñiều tra ñược khám, xét nghiệm và ñiều trị ñúng theo phác ñồ của Bộ Y tế

Trang 38

Cấp thuốc tự ñiều trị ñó ñược Bộ y tế Việt Nam ñồng ý trong chính sách sử dụng thuốc sốt rét, có vai trò giảm mắc, giảm triệu chứng bệnh và tử vong do sốt rét [2], [3], [4], [31]

2.3.6 Thời gian tiến hành nghiên cứu: từ tháng 3/2010 ñến tháng 6/2010 2.3.7 Phân tích số liệu: theo các thuật toán thống kê y sinh học [31]

Dak R mang, Dak Glong, Dak Nong

XÃ ĐAK R MANG, HUYỆN ĐAK GLONG, TỈNH ĐAK NONG

Trang 39

Bản ñồ Huyện Đak Glong - Tỉnh Đak Nông

Trang 40

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu gồm các nội dung chính sau ñây:

- Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét của người ngủ rẫy nhóm nghiên cứu (Phân bố theo tuổi, giới, dân tộc, thói quen …)

- Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét ở người có hoạt ñộng ngủ rẫy (ký sinh trùng, giao bào), phân bố theo tuổi, giới, dân tộc, thói quen …

- Tỷ lệ người dân ñến nhận thuốc tự ñiều trị trước khi ñi ngủ rẫy

- Các triệu chứng nghi sốt rét xuất hiện trong khi người dân ngủ rẫy

- Các loại thuốc tự ñiều trị người dân ñến nhận thuốc tại cơ sở y tế khi ñi ngủ rẫy

- Đối tượng ñến nhận thuốc khi ñi ngủ rẫy

- Nơi ñến nhận thuốc của người ngủ rẫy

- Tỷ lệ người ngủ rẫy sử dụng thuốc trong thời gian ngủ rẫy

- Nguyên nhân không sử dụng thuốc ñủ ngày trong quá trình ngủ rẫy

Ngày đăng: 12/06/2014, 16:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Hồ Văn Hoàng (2006), “Di cư tự do, ngủ rẫy và nguy cơ gia tăng sốt rét ở các tỉnh miền Trung-Tây Nguyên”, Tạp chí y học thực hành, số 3 (537)/2006, tr.23-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di cư tự do, ngủ rẫy và nguy cơ gia tăng sốt rét ở các tỉnh miền Trung-Tây Nguyên”, "Tạp chí y học thực hành
Tác giả: Hồ Văn Hoàng
Năm: 2006
11. Hồ Văn Hoàng (2006), “Di cư tự do và nguy cơ gia tăng sốt rét ở Đak Lak và Đak Nông”. Y học thành phố Hồ Chí Minh, tập 10, số 4/2006, tr.348-352 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di cư tự do và nguy cơ gia tăng sốt rét ở Đak Lak và Đak Nông”. "Y học thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Hồ Văn Hoàng
Năm: 2006
14. Hồ Văn Hoàng (2009), “Nghiên cứu tình trạng nhiễm ký sinh trùng sốt rột và sử dụng thuốc tự ủiều trị sốt rột của cộng ủồng dõn ngủ rẫy”. Tạp chí y học Quân sự, số CĐ1/2009, tr.42-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình trạng nhiễm ký sinh trùng sốt rột và sử dụng thuốc tự ủiều trị sốt rột của cộng ủồng dõn ngủ rẫy”. "Tạp chí y học Quân sự
Tác giả: Hồ Văn Hoàng
Năm: 2009
15. Hồ Văn Hoàng (2010), “Đỏnh giỏ thực trạng hoạt ủộng cỏc ủiểm kớnh hiển vi phục vụ tại khu vực miền Trung-Tây Nguyên năm 2009.”. Tạp chí y dược học Quân sự, vol 35, số 4/2010, tr.73-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỏnh giỏ thực trạng hoạt ủộng cỏc ủiểm kớnh hiển vi phục vụ tại khu vực miền Trung-Tây Nguyên năm 2009.”. "Tạp chí y dược học Quân sự, "vol" 35
Tác giả: Hồ Văn Hoàng
Năm: 2010
12. Hồ Văn Hoàng, Triệu Nguyên Trung (2009), Nghiên cứu thực trạng nhiễm sốt rột và biện phỏp phũng chống sốt rột thớch hợp cho cộng ủồng dân di cư tự do tại huyện Đak Glong tỉnh Đak nông. Đề tài NCKH cấp Bộ y tế, nghiệm thu 2009 Khác
13. Hồ Văn Hoàng, Triệu Nguyên Trung (2009), Nghiên cứu yếu tố nguy cơ ở một số xã có sốt rét dai dẳng tại các tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam, Gia Lai và áp dụng một số biện pháp nâng cao hiệu quả phòng chống bệnh sốt rét Đề tài NCKH cấp Bộ y tế, nghiệm thu 2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Đặc ủiểm về tuổi, giới, dõn tộc, trỡnh ủộ văn húa ở nhúm nghiờn  cứu - xác định tỉ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã đăkrmăng, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông
Bảng 3.1. Đặc ủiểm về tuổi, giới, dõn tộc, trỡnh ủộ văn húa ở nhúm nghiờn cứu (Trang 41)
Bảng 3.2. Tỷ lệ nhiễm KSTSR ở cộng ủồng dõn ngủ rẫy xó Đak R Mang - xác định tỉ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã đăkrmăng, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông
Bảng 3.2. Tỷ lệ nhiễm KSTSR ở cộng ủồng dõn ngủ rẫy xó Đak R Mang (Trang 42)
Bảng 3.3. Tỷ lệ giao bào và lỏch sưng qua ủiều tra tại xó Đak R Mang - xác định tỉ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã đăkrmăng, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông
Bảng 3.3. Tỷ lệ giao bào và lỏch sưng qua ủiều tra tại xó Đak R Mang (Trang 43)
Bảng 3.4. Cơ cấu KST SR trong cộng ủồng - xác định tỉ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã đăkrmăng, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông
Bảng 3.4. Cơ cấu KST SR trong cộng ủồng (Trang 44)
Bảng 3.5. Phân tích  biểu hiện sốt ở các trường hợp nhiễm KSTSR - xác định tỉ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã đăkrmăng, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông
Bảng 3.5. Phân tích biểu hiện sốt ở các trường hợp nhiễm KSTSR (Trang 45)
Bảng 3.6. Mật ủộ nhiễm KSTSR ở bệnh nhõn (theo số lượng/àl mỏu) - xác định tỉ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã đăkrmăng, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông
Bảng 3.6. Mật ủộ nhiễm KSTSR ở bệnh nhõn (theo số lượng/àl mỏu) (Trang 46)
Bảng 3.7. Tỷ lệ nhiễm KSTSR theo giới ở người dân ngủ rẫy - xác định tỉ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã đăkrmăng, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông
Bảng 3.7. Tỷ lệ nhiễm KSTSR theo giới ở người dân ngủ rẫy (Trang 46)
Bảng 3.8. Tỷ lệ nhiễm KSTSR theo dân tộc ở người dân ngủ rẫy  TT  Thôn - xác định tỉ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã đăkrmăng, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông
Bảng 3.8. Tỷ lệ nhiễm KSTSR theo dân tộc ở người dân ngủ rẫy TT Thôn (Trang 47)
Bảng 3.9. Biện phỏp tự bảo vệ của người dõn khi ủi ngủ rẫy - xác định tỉ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã đăkrmăng, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông
Bảng 3.9. Biện phỏp tự bảo vệ của người dõn khi ủi ngủ rẫy (Trang 48)
Bảng 3.10. Thụng tin chớnh sỏch cấp thuốc tự ủiều trị ủến người dõn - xác định tỉ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã đăkrmăng, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông
Bảng 3.10. Thụng tin chớnh sỏch cấp thuốc tự ủiều trị ủến người dõn (Trang 48)
Bảng 3.12. Tỷ lệ cỏc loại thuốc sốt rột người dõn ủến nhận thuốc tự ủiều trị - xác định tỉ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã đăkrmăng, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông
Bảng 3.12. Tỷ lệ cỏc loại thuốc sốt rột người dõn ủến nhận thuốc tự ủiều trị (Trang 50)
Bảng 3.13. So sỏnh tỷ lệ nam và nữ ủến nhận thuốc khi ủi ngủ rẫy - xác định tỉ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã đăkrmăng, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông
Bảng 3.13. So sỏnh tỷ lệ nam và nữ ủến nhận thuốc khi ủi ngủ rẫy (Trang 51)
Bảng 3.14. So sánh tỷ lệ người dân tộc và người kinh nhận thuốc khi ngủ rẫy - xác định tỉ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã đăkrmăng, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông
Bảng 3.14. So sánh tỷ lệ người dân tộc và người kinh nhận thuốc khi ngủ rẫy (Trang 52)
Bảng 3.15. Nơi ủến nhận thuốc tự ủiều trị của người ủi ngủ rẫy - xác định tỉ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã đăkrmăng, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông
Bảng 3.15. Nơi ủến nhận thuốc tự ủiều trị của người ủi ngủ rẫy (Trang 52)
Bảng 3.16. Tỷ lệ uống thuốc, số ngày sử dụng thuốc tự ủiều trị của người dõn - xác định tỉ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã đăkrmăng, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông
Bảng 3.16. Tỷ lệ uống thuốc, số ngày sử dụng thuốc tự ủiều trị của người dõn (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w