BỘ CÔNG THƯƠNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG Tên đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Tên đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu
của người dân Thành phố Hồ Chí Minh trong Đại dịch Covid-19
Mã số đề tài: 21.2QTKDSV0
Chủ nhiệm đề tài: Lê Thị Huy Hương
Đơn vị thực hiện: Khoa Quản trị kinh doanh trường Đại học Công Nghiệp
TP.HCM
Tp Hồ Chí Minh, …
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Nhóm nghiên cứu xin gửi đến quý thầy, cô trong khoa Quản trị kinh doanh trường Đại học Công Nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh lời cảm ơn chân thành Đồng thời, nhóm nghiên cứu cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý nhà trường đã tạo cơ hội và cung cấp kinh phí thực hiện đề tài cho cả nhóm
Trang 3PHẦN I THÔNG TIN CHUNG
I Thông tin tổng quát
1.1 Tên đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu của
người dân Thành phố Hồ Chí Minh trong Đại dịch Covid-19
1.2 Mã số: 21.2QTKDSV0
1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài
TT Họ và tên
(học hàm, học vị) Đơn vị công tác Vai trò thực hiện đề tài
1 Lê Thị Huy Hương Trường Đại học Công
Nghiệp TP HCM Chủ nhiệm đề tài
2 Nguyễn Thị Hoàng Thơ Trường Đại học Công
1.6 Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có):
(Về mục tiêu, nội dung, phương pháp, kết quả nghiên cứu và tổ chức thực hiện; Nguyên
nhân; Ý kiến của Cơ quan quản lý)
1.7 Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài: 10.000.000đ (mười triệu đồng)
II Kết quả nghiên cứu
lý do người dân đổ xô mua giấy vệ sinh” (Thế Giới & Việt Nam, 2020)
Trong thời gian dịch bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng và kéo dài từ đầu năm 2020 đến nay,
đã có nhiều bài nghiên cứu khoa học đánh giá về sự tác động to lớn của dịch bệnh đến nền
Trang 4kinh tế thế giới cũng như những hành vi bất thường của người tiêu dùng trong đại dịch đặc biệt là hành vi tích trữ hàng hoá Phải kể đến bài nghiên cứu về hành vi mua hàng bất thường giai đoạn đầu đại dịch Covid-19 của Miri & cộng sự (2020) Bài nghiên cứu đề cập đến sự kiện tháng 03/2020 khi tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) công bố mức độ lây nhiễm của vi rút Corona ở mức đáng báo động và trở thành đại dịch Ông đã chỉ ra rằng song song với bản tin về mức độ nguy hiểm của dịch bệnh là hình ảnh đáng kinh ngạc khi người tiêu dùng “nhiệt tình” mua giấy vệ sinh Những video về sự hoảng loạn khi mua nhiều giấy vệ sinh để tích trữ đã gây sốc và nhanh chóng được lan truyền trên toàn thế giới chỉ trong vài giờ qua mạng xã hội (Miri & cộng sự, 2020)
Thật vậy, khi nhận thấy mức độ nguy hiểm của đại dịch nói riêng và khi xã hội gặp phải biến động nói chung, con người sẽ có xu hướng thay đổi một số hành vi mua hàng hoá thường ngày Cụ thể trong bài báo “Hiệu ứng đám đông mùa dịch Covid-19” được Vietnamplus đưa tin vào tháng 03/2020 cho biết: Kết quả khảo sát của hãng nghiên cứu bán lẻ Retail Economics đối với trên 2.000 người tiêu dùng, cứ 10 người dân Anh thì có 1 người tới “càn quét” các siêu thị để tích trữ nhu yếu phẩm Nhiều người bày tỏ nỗi lo sợ thiếu thốn thực phẩm và nhu yếu phẩm nếu phải tự cách ly vài tuần ở nhà trong trường hợp bùng dịch Covid-19, trong khi nhiều người thừa nhận họ hành động theo đám đông (Vietnamplus, 2020)
Thật ra, mọi người thường có tâm lý lo lắng về sự khan hiếm của hàng hoá khi xã hội biến động, cụ thể là dịch bệnh, nên đã đổ xô đi mua nhiều mặt hàng thiết yếu như thuốc men, thực phẩm… để tích trữ, đặc biệt là người dân sống tại TP.HCM Đây là thành phố đông dân nhất Việt Nam với hơn 9 triệu người và có nền kinh tế phát triển nhất cả nước Ngoài
ra, như đã đề cập trước đó TP.HCM cũng là ổ dịch lớn trong đợt bùng phát Covid-19 lần thứ 4 tại Việt Nam Để kiểm soát và hạn chế dịch bệnh lây lan trong cộng động, Ủy ban nhân dân TP.HCM đã đưa ra những chỉ thị giãn cách xã hội như chỉ thị 16 Trong thời gian này, việc lưu thông của người dân bị hạn chế và họ chỉ có thể ra đường khi thật sự cần thiết hoặc có lý do chính đáng
Với tình trạng "Ngăn sông cấm chợ" của thành phố, các chợ đầu mối lớn như Bình Điền, Hóc Môn, chợ đầu mối Nông sản Thủ Đức lần lượt đóng cửa Tính đến ngày 16/07/2022 thì "Hầu như không" còn chợ đầu mối lớn nhỏ hay chợ tự phát nào còn được phép hoạt động Tất cả đều phải tạm ngừng đóng cửa để hạn chế tiếp xúc và lây lan, hỗ trợ công tác chiến đấu với dịch bệnh hiệu quả Người dân rơi vào thế bị động khi chưa có đủ các mặt hàng lương thực, thuốc men cần thiết trong gia đình nếu thành phố thực hiện giãn cách gây khó khăn cho việc đi lại Họ sẽ khó có thể tìm mua được rau, củ, lương thực và các mặt hàng nhu yếu phẩm cần thiết cho mình khi siêu thị và chợ đã ngưng hoạt động Từ những nhận thức về rủi ro và mối đe dọa của dịch bệnh đã dẫn đến việc người dân TP.HCM đổ
xô nhau mua hàng tích trữ
Chính những thay đổi trong hành vi mua hàng bất thường của người dân sống tại TP.HCM
đã làm cho nhu cầu về hàng hoá tăng đột biến và gây khó khăn trong công tác kiểm soát dịch bệnh Câu hỏi đặt ra ở đây là, những yếu tố nào khiến người dân TP.HCM lại đổ xô
đi mua nhiều hàng hoá tích trữ? Làm thế nào để hạn chế được tình trạng mua hàng tích trữ của người dân trong các trường hợp xã hội bị biến động tương tự trong tương lai? Để nghiên cứu và làm rõ ý định mua hàng tích trữ của người dân TP.HCM vừa qua, nhóm nghiên cứu quyết định chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân Thành phố Hồ Chí Minh trong đại dịch Covid-19” Kết quả nghiên cứu của
Trang 5đề tài sẽ đóng góp tài liệu xác thực vào hệ thống tri thức nước nhà về những vấn đề nghiên cứu liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân khi xã hội xảy ra biến động Đồng thời, bài nghiên cứu cũng đưa
ra những khuyến nghị, hàm ý chính sách phù hợp để nhà nước có thể trấn an tâm lý lo lắng của người dân trước các tình hình dịch bệnh, lũ lụt, thiên tai… Bao gồm cả những hàm ý liên quan đến việc phòng ngừa, xử phạt những cá nhân, tổ chức muốn trục lợi như tăng giá, bán sản phẩm không chất lượng… trong bối cảnh xã hội bị biến động
Thứ nhất, xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu
của người dân tại TP.HCM trong đại dịch Covid-19
Thứ hai, đo lường mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết
yếu của người dân tại TP.HCM trong đại dịch Covid-19
Thứ ba, dựa trên kết quả nghiên cứu để đưa ra hàm ý chính sách nhằm hạn chế ý định tích
trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân tại TP.HCM trong đại dịch Covid-19
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Đối với nghiên cứu định tính, nhóm tác giả sử dụng phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia, thảo luận nhóm để kiểm tra mức độ tin cậy và sự phù hợp của các biến quan sát trong
mô hình, thông qua việc gửi bảng câu hỏi sơ bộ, tài liệu thuyết minh của đề tài Trong thời gian thực hiện nghiên cứu nhóm tác giả đã tham khảo ý kiến chuyên gia từ hội đồng thẩm định để hoàn thiện đề tài Từ đó bài nghiên cứu đã khái quát được các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ của người dân, bao gồm: Thái độ, Truyền thông xã hội, Ảnh hưởng xã hội, Nhận thức rủi ro về dịch bệnh Covid-19, Nhận thức lợi ích Trong đó yếu tố “Nhận thức lợi ích” được chuyên gia từ hội đồng gợi ý, để thay thế cho yếu tố “Nhận thức nhu
cầu” mà nhóm đề xuất trước đó
3.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Đối với nghiên cứu định lượng, nhóm thực hiện các kiểm định dựa trên mô hình nghiên cứu mà nhóm đề xuất thông qua các kết quả thu thập từ bảng câu hỏi các bài nghiên cứu
có liên quan được thực hiện bởi những thành viên trong nhóm nhằm xác định cụ thể mức
độ tác động của Đại dịch Covid-19 ảnh hưởng đến ý định tích trữ của người dân như thế nào Thông qua phần mềm SPSS 20.0, nhóm tác giả tiến hành phân tích và đồng thời đánh giá các thang đo, kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích các nhân tố EFA, phân tích tương quan Pearson và phân tích hồi quy tuyến tính
4 Tổng kết về kết quả nghiên cứu
Trang 6Nhóm tác giả đã thực hiện kiểm định các giả thuyết nghiên cứu thông qua việc phân tích
dữ liệu bao gồm: đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha của thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan, phân tích hồi quy đa biến Kết quả sau khi thực hiện phân tích cho thấy, mô hình còn lại 4 yếu tố tác động đến ý định tích trữ của người dân TP.HCM với mức độ tác động lần lượt là: (1) Nhận thức rủi ro về dịch bệnh Covid-19 (β = 0.357); (2) Ảnh hưởng xã hội (β = 0.212); (3) Nhận thức lợi ích (β = 0.121); (4) Truyền thông xã hội (β = 0.118)
5 Đánh giá các kết quả đã đạt được và kết luận
Kết quả bài nghiên cứu được kiểm định với mẫu khảo sát gồm 374 người dân cho thấy ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân bị chi phối và tác động bởi 4 yếu tố: Nhận thức rủi ro về dịch bệnh Covid-19, Ảnh hưởng xã hội, Nhận thức lợi ích và Truyền thông xã hội Trong đó, biến Nhận thức rủi ro về dịch bệnh Covid-19 có tác động mạnh nhất đến Ý định tích trữ với hệ số hồi quy chuẩn hóa là 0.357, xếp thứ hai là Ảnh hưởng
xã hội (β = 0.212), tiếp đến là Nhận thức lợi ích (β = 0.121) và ở vị trí ảnh hưởng sau cùng chính là biến Truyền thông xã hội (β = 0.118) Bên cạnh đó nghiên cứu đã kiểm định 4 giả thuyết đặt ra và 4 giả thuyết này đều được chấp nhận cụ thể như sau: (H2) Truyền thông
xã hội có tác động cùng chiều với Ý định tích trữ; (H3) Ảnh hưởng xã hội có tác động cùng chiều với Ý định tích trữ; (H4) Nhận thức lợi ích có tác động cùng chiều với Ý định tích trữ; (H5) Nhận thức rủi ro về dịch bệnh Covid-19 có tác động cùng chiều với Ý định tích trữ Kết quả nghiên cứu đã đáp ứng được các mục tiêu và chấp nhận những giả thuyết đã
đề ra
Về mặt thực tiễn, bài nghiên cứu đã cung cấp những thông tin về thực trạng và hậu quả của việc tích trữ hàng hóa mất kiểm soát khi xã hội xảy ra biến động Kết quả của bài nghiên cứu đã kết luận được các nhân tố chính tác động đến "Ý định tích trữ", từ đó đề xuất những hàm ý chính sách, khuyến nghị mang tính tham khảo cho các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc nâng cao nhận thức và trấn an tâm lý của người dân khi xảy ra trường hợp giãn cách xã hội tương tự trong tương lai Bên cạnh đó, kết quả của bài nghiên cứu này cũng đóng góp về mặt khoa học khi thực hiện thu thập, kiểm định dữ liệu và đưa ra kết luận có cơ sở về 4 yếu tố độc lập: (1) Truyền thông xã hội, (2) Ảnh hưởng xã hội, (3) Nhận thức rủi ro về dịch bệnh Covid-19, (4) Nhận thức lợi ích tác động đến "Ý định tích trữ" các mặt hàng thiết yếu của người dân Do đó, bài nghiên cứu đóng vai trò như một tài liệu tham khảo hữu ích định hướng cho những nghiên cứu liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân TP.HCM trong đại dịch Covid-19 trong tương lai
6 Tóm tắt kết quả (tiếng Việt và tiếng Anh)
6.1 Tóm tắt kết quả bằng Tiếng Việt
Kết quả bài nghiên cứu cho thấy ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân bị chi phối và tác động bởi 4 yếu tố: Nhận thức rủi ro về dịch bệnh Covid-19, ảnh hưởng xã hội, nhận thức lợi ích và truyền thông xã hội Trong đó, biến Nhận thức rủi ro về dịch bệnh Covid-19 có tác động mạnh nhất đến ý định tích trữ với hệ số hồi quy chuẩn hóa là 0.357, xếp thứ hai là ảnh hưởng xã hội (β=0.212), tiếp đến là nhận thức lợi ích (β=0.121) và ở vị trí ảnh hưởng sau cùng chính là biến truyền thông xã hội (β=0.118) Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ phù hợp của mô hình so với thực tế là 34.1% Điều này cho thấy, ngoài những yếu tố mà nhóm tác giả đề xuất trong mô hình nghiên cứu thì ý định tích
Trang 7trữ của người dân còn bị ảnh hưởng bởi 65.9% các yếu tố khác, chưa được đề cập Bên cạnh đó, phạm vi khảo sát của bài nghiên cứu bị giới hạn ở một kích thước mẫu nhỏ và thời gian thực hiện khảo sát rơi vào giai đoạn sau đại dịch Covid-19, xã hội đang đi vào bình thường mới, ít còn tình trạng tích trữ hàng hóa nên giá trị dữ liệu thu thập được mang tính chính xác không cao
6.2 Tóm tắt kết quả bằng Tiếng Anh
The results of the study show that people's intention to hoard essential goods is influenced
by 4 factors: Risk Perception about the Covid-19 pandemic, Social Influence, Perceived Benefit, and Social Media In which, the variable Risk Perception about the Covid-19 pandemic has the strongest impact on the intention to hoard with a standardized regression coefficient of 0.357, the second one is Social Influence (β=0.212), the next one is Perceived Benefit (β=0.121) and the last one is Social Media which has the weakness influence (β=0.118) In addition, the research results show that the fit of the model compared to reality is 34.1% This shows that, in addition to the factors proposed by the authors in the research model, people's intention to hoard is also affected by 65.9% other factors, which have not been mentioned In addition, the survey scope of the study is limited to a small sample size and the survey implementation time falls in the post-Covid-19 pandemic, the society is entering a new normal, there is little left over Due to the situation of hoarding essential goods, the value of collected data is not very accurate
Trang 8III Sản phẩm đề tài, công bố và kết quả đào tạo
3.1 Kết quả nghiên cứu (Sản phẩm dạng 1,2,3)
trong đại dịch Covid-19
Báo cáo khoa học tổng kết đề tài
Báo cáo khoa học được nghiệm thu thành công
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến ý
định tích trữ các mặt hàng
thiết yếu của người dân
Thành phố Hồ Chí Minh
trong đại dịch Covid-19
Bài báo đăng kỷ yếu hội nghị khoa học trẻ lần 04 2022; ISBN:
978-604-920-154-7
Bài báo được xét duyệt để đăng kỷ yếu hội nghị khoa học trẻ
…
Ghi chú:
- Các ấn phẩm khoa học (bài báo, báo cáo KH, sách chuyên khảo…) chỉ được chấp nhận nếu có ghi nhận địa chỉ và cảm ơn trường ĐH Công Nghiệp Tp HCM đã cấp kính phí thực hiện nghiên cứu theo đúng quy định
- Các ấn phẩm (bản photo) đính kèm trong phần phụ lục minh chứng ở cuối báo cáo (đối với ấn phẩm là sách, giáo trình cần có bản photo trang bìa, trang chính và trang cuối kèm thông tin quyết định và số hiệu xuất bản)
3.2 Kết quả đào tạo
TT Họ và tên Thời gian
Nghiên cứu sinh
Sinh viên Đại học
1 Lê Thị Huy
Hương
03/2022 - 03/2023
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân Thành phố Hồ Chí Minh trong đại dịch Covid-19
Trang 9IV Tình hình sử dụng kinh phí
T
Kinh phí được duyệt
(triệu đồng)
Kinh phí thực hiện
(triệu đồng)
Ghi chú
A Chi phí trực tiếp
1 Thuê khoán chuyên môn
2 Nguyên, nhiên vật liệu, cây con…
V Kiến nghị (về phát triển các kết quả nghiên cứu của đề tài)
Dựa trên những hạn chế của đề tài, các bài nghiên cứu tiếp theo có thể định hướng xây dựng mô hình nghiên cứu hoàn thiện và kết quả mang lại giá trị tốt hơn Cụ thể: Tiến hành thực hiện khảo sát với số lượng mẫu lớn hơn và phạm vi rộng hơn để có thể đạt được mức
độ đại diện cho tổng thể tốt Nhóm nghiên cứu nên tập trung vào phân tích nhóm đối tượng
cụ thể nhằm phân loại ra nghiên cứu, giúp tăng độ xác thực và chính xác về số liệu khảo sát thu thập được để nghiên cứu đạt độ tin cậy cao và có giá trị hơn
Các nghiên cứu tiếp theo cũng có thể nghiên cứu theo chiều hướng lặp lại nghiên cứu này theo hướng điều chỉnh mô hình nghiên cứu nhằm phát hiện ra những yếu tố mới mang lại mức độ phù hợp của mô hình với thực tế cao, từ đó đề xuất các hàm ý quản trị phù hợp, mang lại giá trị nghiên cứu Đồng thời các nghiên cứu tiếp theo có thể dựa vào phương pháp nghiên cứu định tính một cách tốt hơn để tìm thêm các yếu tố khác ảnh hưởng đến ý định tích trữ và tiến hành kiểm định chúng
VI Phụ lục sản phẩm (liệt kê minh chứng các sản phẩm nêu ở Phần III)
Tp HCM, ngày …… tháng 05 năm 2023
Chủ nhiệm đề tài Phòng QLKH&HTQT (ĐƠN VỊ)
Trưởng (đơn vị) (Họ tên, chữ ký)
Trang 10PHẦN II BÁO CÁO CHI TIẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
(báo cáo tổng kết sau khi nghiệm thu, đã bao gồm nội dung góp ý của hội đồng nghiệm thu)
BỘ CÔNG THƯƠNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Tên đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu
của người dân Thành phố Hồ Chí Minh trong Đại dịch Covid-19
Mã số đề tài: 21.2QTKDSV0
Chủ nhiệm đề tài: Lê Thị Huy Hương
Đơn vị thực hiện: Trường Đại học Công Nghiệp TP.HCM
Trang 11TÓM TẮT NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Khi xã hội gặp phải những biến động như thiên tai (động đất, lũ lụt ), dịch bệnh thì hành
vi mua hàng của người tiêu dùng cũng có sự thay đổi bất thường Giai đoạn đại dịch
Covid-19 vừa qua là một trong những ví dụ điển hình cho sự thay đổi về ý định và hành vi mua sắm của người tiêu dùng Cụ thể, trên các diễn đàn báo như Cafebiz, VnExpress, Vietnamnet…; trên các kênh truyền hình đều đưa tin và ghi lại hình ảnh người dân tích trữ nhiều hàng hóa, thực phẩm thiết yếu như: gạo, thuốc, khẩu trang Điều này đã dẫn đến việc làm mất kiểm soát về nguồn cung sản phẩm trên thị trường, nảy sinh các hành vi nâng giá trục lợi và tạo cơ hội lây lan dịch bệnh Mục đích của bài nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân Thành phố
Hồ Chí Minh trong đại dịch Covid-19 nói riêng và trong bối cảnh xã hội bị biến động nói chung Dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, nhóm nghiên cứu đã đưa ra mô hình đề xuất phù hợp Với kết quả nghiên cứu trên 374 quan sát cho thấy các biến: (1) Truyền thông xã hội, (2) Ảnh hưởng xã hội, (3) Nhận thức rủi ro về dịch bệnh Covid-19, (4) Nhận thức lợi ích có tác động cùng chiều với ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân Qua đó, nhóm tác giả đề xuất các hàm ý chính sách phù hợp nhằm góp phần hạn chế tình trạng tích trữ của người dân, hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền trong việc nâng cao nhận thức về sức khỏe cộng đồng, khuyến khích mua hàng hóa hợp lí trong
các trường hợp xã hội biến động tương tự như dịch bệnh Covid-19 trong tương lai
Trang 12LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện bài nghiên cứu khoa học, nhóm chúng tôi đã nhận được không ít sự giúp đỡ từ thầy cô, gia đình và bạn bè Trước tiên, chúng tôi xin gửi đến quý thầy cô thuộc khoa Quản trị kinh doanh Trường Đại học Công Nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh lời cảm ơn chân thành đã tạo điều kiện cho nhóm có cơ hội tiếp cận và thực hiện bài nghiên cứu này
Đồng thời, chúng tôi gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và bạn bè vì đã cùng đồng hành và hỗ trợ để cả nhóm có động lực thực hiện tốt bài nghiên cứu này
Vì kiến thức còn hạn chế, trong quá trình thực hiện bài nghiên cứu sẽ khó tránh khỏi những sai sót, rất mong quý thầy cô bỏ qua Đồng thời, do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiếu sót, nhóm rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ quý thầy cô để học hỏi thêm được nhiều kinh nghiệm
bổ ích để bổ sung và chỉnh sửa cho bài nghiên cứu này được hoàn thiện cũng như để trang
bị thêm kiến thức và chuẩn bị một cách tốt hơn cho những bài nghiên cứu sắp tới
Nhóm chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Tp.HCM, ngày 13 tháng 05 năm 2023
Chủ nhiệm đề tài
Trang 13LỜI CAM KẾT
Nhóm chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cả nhóm Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong nội dung nghiên cứu khoa học là trung thực, không sao chép từ bất kì một nguồn nào và dưới bất kì hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Trang 14MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 17
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 4
1.5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 4
1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu 5
1.6.1 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu 5
1.6.2 Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu 5
1.7 Bố cục đề tài nghiên cứu 6
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 9
2.1 Các khái niệm 9
2.1.1 Khái niệm tích trữ 9
2.1.2 Khái niệm mặt hàng thiết yếu 9
2.1.3 Khái niệm hành vi người tiêu dùng (khách hàng) 10
2.1.4 Khái niệm ý định 12
2.1.5 Khái niệm ý định tích trữ 12
2.2 Một số mô hình lý thuyết liên quan 14
2.2.1 Thuyết hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) 14
2.2.2 Thuyết hành vi có hoạch định (Theory of Planned Behavior – TPB) 15
2.2.3 Tháp nhu cầu Maslow 17
2.3 Một số mô hình nghiên cứu liên quan 18
2.3.1 Một số nghiên cứu trong nước 18
2.3.2 Một số nghiên cứu ngoài nước 21
2.3.3 Bảng tổng hợp các yếu tố từ các mô hình nghiên cứu trong và ngoài nước 25
2.3.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất 25
2.4 Giả thuyết nghiên cứu 28
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 Quy trình nghiên cứu 36
3.2 Xác định kích thước mẫu 38
3.2.1 Xác định kích thước mẫu 38
Trang 153.2.2 Phương pháp chọn mẫu phi xác suất – chọn mẫu thuận tiện 39
3.3 Xây dựng thang đo sơ bộ 39
3.3.1 Thang đo “Thái độ” 39
3.3.2 Thang đo “Truyền thông xã hội” 40
3.3.3 Thang đo “Ảnh hưởng xã hội” 41
3.3.4 Thang đo “Nhận thức rủi ro về dịch bệnh Covid-19” 41
3.3.5 Thang đo “Nhận thức lợi ích” 42
3.3.6 Thang đo "Ý định tích trữ” 43
3.4 Nghiên cứu định tính 43
3.5 Nghiên cứu định lượng 44
3.5.1 Nghiên cứu định lượng sơ bộ 44
3.5.2 Nghiên cứu định lượng chính thức 45
3.6 Phương pháp thu thập thông tin 47
3.6.1 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 47
3.6.2 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 48
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50
4.1 Tổng quan tình hình xã hội trong giai đoạn 2020-2022 50
4.2 Kết quả nghiên cứu định lượng 51
4.2.1 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ 51
4.2.2 Kết quả nghiên cứu định lượng chính thức 56
4.3 Mô hình kết quả của đề tài nghiên cứu 74
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 76
5.1 Kết luận 76
5.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu 77
5.2 Hàm ý chính sách 80
5.2.1 Nhận thức rủi ro về dịch bệnh Covid-19 81
5.2.2 Ảnh hưởng xã hội 81
5.2.3 Truyền thông xã hội 82
5.2.4 Nhận thức lợi ích 84
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 85
5.3.1 Hạn chế của nghiên cứu 85
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 85
Trang 16DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Tổng hợp các biến độc lập mô hình nghiên cứu đề xuất 28
Bảng 3.1 Thang đo Thái độ sơ bộ 39
Bảng 3.2 Thang đo Truyền thông xã hội sơ bộ 40
Bảng 3.3 Thang đo Ảnh hưởng xã hội sơ bộ 41
Bảng 3.4 Thang đo Nhận thức rủi ro về dịch bệnh Covid-19 sơ bộ 42
Bảng 3.5 Thang đo Nhận thức lợi ích sơ bộ 42
Bảng 3.6 Thang đo Ý định tích trữ sơ bộ 43
Bảng 4.1 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha bộ thang đo Thái độ 51
Bảng 4.2 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha bộ thang đo Truyền thông xã hội 52
Bảng 4.3 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha bộ thang đo Ảnh hưởng xã hội 52
Bảng 4.4 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha bộ thang đo Nhận thức rủi ro về dịch bệnh Covid-19 53
Bảng 4.5 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha bộ thang đo Nhận thức lợi ích 53
Bảng 4.6 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha bộ thang đo Ý định tích trữ 54
Bảng 4.7 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho các biến độc lập 55
Bảng 4.8 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho biến phụ thuộc 56
Bảng 4.9 Cơ cấu mẫu trong nghiên cứu định lượng chính thức (N = 374) 57
Bảng 4.10 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha bộ thang đo Thái độ 58
Bảng 4.11 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha bộ thang đo Truyền thông xã hội 58
Bảng 4.12 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha bộ thang đo Ảnh hưởng xã hội 59
Bảng 4.13 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha bộ thang đo Nhận thức rủi ro về dịch bệnh Covid-19 59
Bảng 4.14 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha bộ thang đo Nhận thức rủi ro về dịch bệnh Covid-19 (lần 2) 60
Bảng 4.15 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha bộ thang đo Nhận thức lợi ích 61
Bảng 4.16 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha bộ thang đo Ý định tích trữ 61
Bảng 4.17 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho các biến độc lập 62
Bảng 4.18 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho biến phụ thuộc 63
Bảng 4.19 Kết quả phân tích tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc 64
Bảng 4.20 Kiểm định mức độ giải thích mô hình và hiện tượng tự tương quan 64
Bảng 4.21 Kết quả kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 65
Bảng 4.22 Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến 66
Bảng 4.23 Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến sau khi loại biến Thái độ 66
Bảng 4.24 Tầm quan trọng của các nhân tố đến ý định tích trữ 68
Bảng 4.25 Tổng hợp kết quả các giả thuyết nghiên cứu 69
Bảng 4.26 Thống kê trung bình cho thang đo Ảnh hưởng xã hội 70
Bảng 4.27 Thống kê trung bình cho thang đo Truyền thông xã hội 71
Bảng 4.28 Thống kê trung bình cho thang đo Nhận thức rủi ro về dịch bệnh Covid-19 72 Bảng 4.29 Thống kê trung bình cho thang đo Nhận thức lợi ích 73
Trang 17DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1 Sơ đồ lý thuyết hành vi hợp lý - TRA 15
Hình 2.2 Sơ đồ lý thuyết hành vi có kế hoạch - TPB 17
Hình 2.3 Tháp nhu cầu của Maslow 18
Hình 2.4 Mô hình các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định mua mặt nạ của người tiêu dùng trong đại dịch Covid-19 19
Hình 2.5 Mô hình ý định tích trữ thực phẩm trong Đại dịch Covid -19 20
Hình 2.6 Mô hình Hành vi của người tiêu dùng trong thời kỳ khủng hoảng 21
Hình 2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua hàng bất thường trong giai đoạn đầu của đại dịch Covid-19 22
Hình 2.8 Mô hình về ý định tích trữ lương thực trong Đại dịch Covid-19 ở Indonesia 23
Hình 2.9 Mô hình tác động của giai đoạn đầu tiên của lệnh kiểm soát di chuyển trong đại dịch Covid-19 ở Malaysia đối với hành vi mua hàng của người tiêu dùng 24
Hình 2.10 Mô hình nghiên cứu đề xuất 27
Hình 3.1 Sơ đồ quy trình thực hiện nghiên cứu 36
Hình 4.1 Mô hình kết quả của đề tài nghiên cứu 74
Trang 18DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
SPSS : Statistical Products for the Social Services EFA : Exploratory Factor Analysis
KMO : Kaiser – Meyer – Olkin
TRA : Theory of Reasoned Action
TPB : Theory of Planned Behavior
Trang 191
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhìn lại lịch sử hàng nghìn năm của thế giới, “kẻ giết người hàng loạt” luôn đe dọa đến tính mạng của toàn nhân loại không ai khác là dịch bệnh và vi rút Dịch bệnh ngày càng trở nên nguy hiểm và mức độ thiệt hại mà chúng mang lại đang vượt qua sức tưởng tượng của chúng ta mỗi ngày Gần đây nhất chính là đại dịch Covid-19, vi rút này rất có thể là căn bệnh của thời đại, khởi phát từ một thành phố đông đúc và phồn hoa của Trung Quốc, sau đó nhanh chóng lan rộng ra khắp thế giới chỉ trong vài tháng Theo thống kê mới nhất ngày 02/02/2023 của Bộ Y Tế, số lượng người tử vong do dịch bệnh Covid-19 tại Việt Nam đã lên đến 43.167 người, chiếm tỷ lệ 0,4% so với tổng số ca nhiễm Tháng 04/2021 làn sóng Covid-19 lần thứ 4 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh tế và đời sống
xã hội của người dân, đáng báo động là số trường hợp nhiễm bệnh tính đến hiện tại của Việt Nam đã lên đến hơn 11 triệu ca (11.509.975 ca) Riêng TP.HCM tính đến ngày 02/02/2023 đã có đến 622.702 ca nhiễm bệnh, đây cũng là ổ dịch lớn thứ hai trên cả nước (đứng sau Hà Nội) trong giai đoạn vừa qua (Bộ Y Tế, 2023)
Hành vi mua các mặt hàng thiết yếu để tích trữ không phải chỉ mới xuất hiện trong đại dịch Covid-19, mà chúng đã từng tồn tại trong những thời kỳ trước Theo Taylor, rất nhiều hành
vi cư xử mà chúng ta thấy từ trước đến nay đã từng xảy ra trong các đợt dịch bệnh trước đây, trong đó có cả dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918 làm gần 700.000 người Mỹ thiệt mạng, khiến người dân trong cơn hoảng loạn đổ xô đến các cửa hàng, hiệu thuốc để tích trữ hàng hóa Lập luận của ông đã nhận được nhiều sự đồng tình trên thế giới và được tờ Báo Quốc Tế của Việt Nam trích dẫn trên bài đăng “Dịch Covid-19: Chuyên gia giải thích
lý do người dân đổ xô mua giấy vệ sinh” (Thế Giới & Việt Nam, 2020)
Trong thời gian dịch bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng và kéo dài từ đầu năm 2020 đến nay,
đã có nhiều bài nghiên cứu khoa học đánh giá về sự tác động to lớn của dịch bệnh đến nền kinh tế thế giới cũng như những hành vi bất thường của người tiêu dùng trong đại dịch đặc biệt là hành vi tích trữ hàng hoá Phải kể đến bài nghiên cứu về hành vi mua hàng bất thường giai đoạn đầu đại dịch Covid-19 của Miri & cộng sự (2020) Bài nghiên cứu đề cập đến sự kiện tháng 03/2020 khi tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) công bố mức độ lây nhiễm của vi rút Corona ở mức đáng báo động và trở thành đại dịch Ông đã chỉ ra rằng song song với bản tin về mức độ nguy hiểm của dịch bệnh là hình ảnh đáng kinh ngạc khi người tiêu dùng “nhiệt tình” mua giấy vệ sinh Những video về sự hoảng loạn khi mua nhiều giấy vệ
Trang 20Ở góc độ khác, để giải thích cho hiện tượng mua hàng hoảng loạn trên, Giáo sư tâm lý học rủi ro tại Đại học Doshisha (Nhật Bản) Kazuya Nakayachi cho rằng hiện tượng tích trữ hàng hóa liên quan tới việc mọi người nghe nói rằng một loại mặt hàng nào đó sẽ khan hiếm, dẫn tới họ mua thật nhiều mặt hàng đó Những người đến sau thấy mặt hàng này đã
“biến mất”, đổ xô đi săn lùng và cố gắng mua hết những gì còn lại
Thật ra, mọi người thường có tâm lý lo lắng về sự khan hiếm của hàng hoá khi xã hội biến động, cụ thể là dịch bệnh, nên đã đổ xô đi mua nhiều mặt hàng thiết yếu như thuốc men, thực phẩm… để tích trữ, đặc biệt là người dân sống tại TP.HCM Đây là thành phố đông dân nhất Việt Nam với hơn 9 triệu người và có nền kinh tế phát triển nhất cả nước Ngoài
ra, như đã đề cập trước đó TP.HCM cũng là ổ dịch lớn trong đợt bùng phát Covid-19 lần thứ 4 tại Việt Nam Để kiểm soát và hạn chế dịch bệnh lây lan trong cộng động, Ủy ban nhân dân TP.HCM đã đưa ra những chỉ thị giãn cách xã hội như chỉ thị 16 Trong thời gian này, việc lưu thông của người dân bị hạn chế và họ chỉ có thể ra đường khi thật sự cần thiết hoặc có lý do chính đáng
Với tình trạng "Ngăn sông cấm chợ" của thành phố, các chợ đầu mối lớn như Bình Điền, Hóc Môn, chợ đầu mối Nông sản Thủ Đức lần lượt đóng cửa Tính đến ngày 16/07/2022 thì "Hầu như không" còn chợ đầu mối lớn nhỏ hay chợ tự phát nào còn được phép hoạt động Tất cả đều phải tạm ngừng đóng cửa để hạn chế tiếp xúc và lây lan, hỗ trợ công tác chiến đấu với dịch bệnh hiệu quả Người dân rơi vào thế bị động khi chưa có đủ các mặt hàng lương thực, thuốc men cần thiết trong gia đình nếu thành phố thực hiện giãn cách gây khó khăn cho việc đi lại Họ sẽ khó có thể tìm mua được rau, củ, lương thực và các mặt hàng nhu yếu phẩm cần thiết cho mình khi siêu thị và chợ đã ngưng hoạt động Từ những
Trang 213
nhận thức về rủi ro và mối đe dọa của dịch bệnh đã dẫn đến việc người dân TP.HCM đổ
xô nhau mua hàng tích trữ
Chính những thay đổi trong hành vi mua hàng bất thường của người dân sống tại TP.HCM
đã làm cho nhu cầu về hàng hoá tăng đột biến và gây khó khăn trong công tác kiểm soát dịch bệnh Câu hỏi đặt ra ở đây là, những yếu tố nào khiến người dân TP.HCM lại đổ xô
đi mua nhiều hàng hoá tích trữ? Làm thế nào để hạn chế được tình trạng mua hàng tích trữ của người dân trong các trường hợp xã hội bị biến động tương tự trong tương lai? Để nghiên cứu và làm rõ ý định mua hàng tích trữ của người dân TP.HCM vừa qua, nhóm nghiên cứu
quyết định chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu
của người dân Thành phố Hồ Chí Minh trong đại dịch Covid-19” Kết quả nghiên cứu
của đề tài sẽ đóng góp tài liệu xác thực vào hệ thống tri thức nước nhà về những vấn đề nghiên cứu liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân khi xã hội xảy ra biến động Đồng thời, bài nghiên cứu cũng đưa ra những khuyến nghị, hàm ý chính sách phù hợp để nhà nước có thể trấn an tâm
lý lo lắng của người dân trước các tình hình dịch bệnh, lũ lụt, thiên tai… Bao gồm cả những hàm ý liên quan đến việc phòng ngừa, xử phạt những cá nhân, tổ chức muốn trục lợi như tăng giá, bán sản phẩm không chất lượng… trong bối cảnh xã hội bị biến động
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu
của người dân tại TP.HCM trong đại dịch Covid-19
Thứ hai, đo lường mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết
yếu của người dân tại TP.HCM trong đại dịch Covid-19
Thứ ba, dựa trên kết quả nghiên cứu để đưa ra hàm ý chính sách nhằm hạn chế ý định tích
trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân tại TP.HCM trong đại dịch Covid-19
Trang 224
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Tương ứng với ba mục tiêu cụ thể đã đề cập ở trên của đề tài sẽ là những câu hỏi nghiên cứu dưới đây:
Thứ nhất, những yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người
dân tại TP.HCM trong đại dịch Covid-19?
Thứ hai, mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố trong thang đo ảnh hưởng như thế nào đến ý
định tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân tại TP.HCM trong đại dịch Covid-19?
Thứ ba, một số hàm ý chính sách nào giúp hạn chế ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu
của người dân tại TP.HCM trong đại dịch Covid-19?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu
của người dân TP.HCM trong đại dịch Covid-19
Đối tượng khảo sát: Người dân đang cư trú trên địa bàn TP.HCM
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu trong đại dịch Covid-19 của người dân đang cư trú trên địa bàn TP.HCM
Phạm vi thời gian: từ 21/07/2021 đến 20/07/2022
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân Thành phố Hồ Chí Minh trong đại dịch Covid-19”, nhóm tác giả sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Đối với nghiên cứu định tính, nhóm tác giả sử dụng phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia, thảo luận nhóm để kiểm tra mức độ tin cậy và sự phù hợp của các biến quan sát trong
mô hình, thông qua việc gửi bảng câu hỏi sơ bộ, tài liệu thuyết minh của đề tài Trong thời gian thực hiện nghiên cứu nhóm tác giả đã tham khảo ý kiến 3 chuyên gia từ hội đồng thẩm
Trang 235
định để hoàn thiện đề tài Từ đó bài nghiên cứu đã khái quát được các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ của người dân, bao gồm: Thái độ, Truyền thông xã hội, Ảnh hưởng xã hội, Nhận thức rủi ro về dịch bệnh Covid-19, Nhận thức lợi ích Trong đó yếu tố “Nhận thức lợi ích” được chuyên gia từ hội đồng gợi ý, để thay thế cho yếu tố “Nhận thức nhu
cầu” mà nhóm đề xuất trước đó
1.5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Đối với nghiên cứu định lượng, nhóm thực hiện các kiểm định dựa trên mô hình nghiên cứu mà nhóm đề xuất thông qua các kết quả thu thập từ bảng câu hỏi các bài nghiên cứu
có liên quan được thực hiện bởi những thành viên trong nhóm nhằm xác định cụ thể mức
độ tác động của Đại dịch Covid-19 ảnh hưởng đến ý định tích trữ của người dân như thế nào Thông qua phần mềm SPSS 20.0, nhóm tác giả tiến hành phân tích và đồng thời đánh giá các thang đo, kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích các nhân tố EFA, phân
tích tương quan Pearson và phân tích hồi quy tuyến tính
1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu
Thông qua quá trình phân tích và nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân Thành phố Hồ Chí Minh trong đại dịch Covid-19, đề tài
đã thể hiện rõ ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học
1.6.1 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Kết quả của bài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân Thành phố Hồ Chí Minh trong đại dịch Covid-19” cung cấp được những nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hiểu được các yếu tố nào tác động đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân trong tình hình dịch bệnh Covid-19 trong năm 2021, 2022 Đồng thời bài nghiên cứu cũng đưa ra những khuyến nghị, hàm ý chính sách phù hợp cho người dân có thể an tâm không cần phải mua hàng về nhà tích trữ quá nhiều Cũng như đưa ra các chiến lược, chính sách phòng ngừa, xử phạt những cá nhân, tổ chức có nhu cầu muốn trục lợi trong đại dịch này như tăng giá bán, bán sản phẩm không chất lượng Ngoài ra đây cũng là cơ sở để các hệ thống siêu thị, các doanh nghiệp đang kinh doanh sản xuất các mặt hàng nhu yếu phẩm hiểu được tâm lý của người dân trong giai đoạn khó khan để đưa ra hướng khắc phục, cùng nhau chung tay giúp đỡ để vượt qua tình hình khó khăn này
Trang 246
1.6.2 Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu
Báo cáo đề tài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân Thành phố Hồ Chí Minh trong đại dịch Covid-19” đã đưa ra năm yếu
tố ảnh hưởng đến Ý định tích trữ, bao gồm: Thái độ, Truyền thông xã hội, Ảnh hưởng xã hội, Nhận thức rủi ro về dịch bệnh Covid-19 và Nhận thức lợi ích Dựa trên kết quả tổng hợp, tham khảo từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, bài nghiên cứu đã xác định được những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu trong đại dịch Covid-19 của người dân TP.HCM với các mức tin cậy khoa học và đã đưa ra được
mô hình giả thuyết cho đề tài nghiên cứu Nhờ đó bài nghiên cứu có thể xem là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các sinh viên khi thực hiện nghiên cứu các đề tài có liên quan Ngoài ra, kết quả của bài nghiên cứu sẽ đóng góp những kiến thức cũng như tài liệu xác thực vào hệ thống tri thức nước nhà về những vấn đề nghiên cứu liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân TP.HCM trong đại dịch Covid-19
1.7 Bố cục đề tài nghiên cứu
Bố cục của đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân Thành phố Hồ Chí Minh trong đại dịch Covid-19” gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan về đề tài
Giới thiệu tổng quan về hướng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng
và phạm vi nghiên cứu, tổng quan bố cục của đề tài
Chương 2: Tổng quan lý thuyết liên quan
Trình bày các khái niệm và lý thuyết liên quan đến dề tài nghiên cứu Đưa ra các nghiên cứu khoa học liên quan làm cơ sở phát triển đề tài, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu và thang đo sơ bộ
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Tổng quan về đề tài và tiến trình nghiên cứu, thu thập thông tin Đưa ra mô hình nghiên cứu và thang đo cuối cùng, trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trang 257
Từ dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thu được, nhóm tác giả thực hiện phân tích dữ liệu thông qua phần mềm Microsoft Office – Excel 2016 và SPSS phiên bản 20.0 Sau đó đưa ra kết quả của phân tích
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Từ quá trình nghiên cứu và phân tích dữ liệu, đưa ra kết luận của nghiên cứu cùng một số hàm ý chính sách nhằm thay đổi nhận thức về ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu của người dân trong mùa dịch Covid-19
Trang 268
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Ở chương 1, bài nghiên cứu đã trình bày các nội dung cơ sở như: tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, thiết lập câu hỏi nghiên cứu, xác định đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, cũng như đề cập đến ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trang 27Ứng dụng đối với đề tài nghiên cứu liên quan đến ý định tích trữ các mặt hàng thiết yếu trong đại dịch Covid-19 của nhóm nghiên cứu, thì khái niệm do Frost và Steketee (1998); Shou, Xiong và Shen (2011) đề cập có tính phù hợp, được nhóm kế thừa làm cơ sở lý thuyết cho bài nghiên cứu Chung quy lại, khái niệm tích trữ hàng hóa là hành vi mua sắm bất thường của khách hàng, có mối liên hệ chặt chẽ với nhận thức về mức độ rủi ro mà xã hội sẽ đối mặt trong tương lai gần Tức là, khi nhận thấy nhiều mối đe dọa về nguy cơ thiếu hụt hàng hóa hoặc các yếu tố thảm họa bất ngờ ảnh hưởng đến đời sống của bản thân, người tiêu dùng sẽ có nhu cầu cho việc tích trữ để đảm bảo an toàn, hạn chế rủi ro cho bản thân
và gia đình
Trang 2810
2.1.2 Khái niệm mặt hàng thiết yếu
“Mặt hàng thiết yếu” là cụm từ thường xuyên xuất hiện trong các công văn của Chính phủ
ở thời điểm đại dịch Covid-19 vừa qua Theo công văn Số: 2601/VPCP-KGVX ban hành ngày 03.04.2020 về việc thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg phòng, chống dịch Covid-19 thì mặt hàng thiết yếu là tên gọi chung cho các loại thực phẩm tươi sống như thịt (các sản phẩm từ thịt), thủy sản (các sản phẩm từ thủy sản), rau, củ, quả, các loại gia vị, sữa, mì gói
và một số mặt hàng lương thực, thực phẩm khác phục vụ nhu cầu tiêu dùng như: nước ngọt đóng chai, lon, thùng, gạo, vừng, đậu, ngô, khoai, sắn; bột, tinh bột (các sản phẩm từ bột, tinh bột) (Bộ Y Tế, 2020) Ngoài ra, các nhu yếu phẩm cần thiết khác được đề cập trong công văn bao gồm: khẩu trang, sản phẩm dùng để tẩy rửa, diệt côn trùng, vệ sinh cá nhân, nước kháng khuẩn, giấy vệ sinh, gia đình, nhà máy, cơ sở sản xuất kinh doanh (vật tư ngành điện dân dụng, công nghiệp, nông nghiệp, điện tử, vật tư ngành nước, vật tư nguyên liệu xây dựng, ) (Bộ Y Tế, 2020)
Bằng cách tuyên bố một mặt hàng là thiết yếu, chính phủ có thể kiểm soát việc sản xuất, phân phối hàng hóa đó và áp đặt giới hạn tồn kho Một số khái niệm về hàng hóa thiết yếu
đã được bộ Luật giá thông qua như sau: Hàng hóa, dịch vụ thiết yếu là những hàng hóa, dịch vụ không thể thiếu cho sản xuất, đời sống, quốc phòng, an ninh, bao gồm: nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, dịch vụ chính phục vụ sản xuất, lưu thông; sản phẩm đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người và quốc phòng, an ninh (Luật giá 2012, 2021)
Đặt trong bối cảnh nghiên cứu khi xã hội xảy ra biến động, cụ thể như đại dịch Covid-19 vừa qua, nhu cầu về các mặt hàng thiết yếu tích trữ của người dân ở mỗi quốc gia cũng có
sự khác biệt Tại Ấn Độ, khi dịch Covid-19 bùng phát, người dân đã có xu hướng mua các loại hàng hóa như xà phòng, kem đánh răng, thực phẩm đóng hộp, các loại bánh mì ngọt…
để phòng tình trạng thiếu hụt hàng hóa xảy ra với chính họ (Kaur & Sharma, 2020) Còn ở
Mỹ, nhu cầu của người bản địa dành cho giấy vệ sinh, khẩu trang, thuốc men, nước rửa tay, máy thở… cao hơn so với các loại thực phẩm, vì theo họ đây là nhóm hàng cần thiết
và quan trọng hơn (Sodhi, Tang & Willenson, 2021) Đỉnh điểm là vào tháng 04/2020, tại các kệ hàng về giấy vệ sinh tại Mỹ đã liên tục bị cháy hàng, và sự việc này vẫn tiếp diễn cho đến tận tháng 08… Tổng quát lại thì mặt hàng thiết yếu được hiểu là nhóm hàng hóa phục vụ và đáp ứng cho các nhu cầu cần thiết hàng ngày của con người Khi xã hội rơi vào tình trạng biến động về kinh tế hay xã hội, thì nhu cầu mua của người tiêu dùng đối với các mặt hàng thiết yếu sẽ tăng cao và có thể dẫn đến việc mất kiểm soát nguồn cung - cầu trên thị trường
Trang 2911
2.1.3 Khái niệm hành vi người tiêu dùng (khách hàng)
Một quan điểm khác được cung cấp bởi Kotler (2009) cho rằng hành vi mua sắm của khách hàng là những cân nhắc, suy nghĩ và hành động của họ trong quá trình nhận biết, lựa chọn mua và sử dụng hàng hóa nhằm thỏa mãn một nhu cầu hoặc mong muốn nào đó của bản thân Hành vi người tiêu dùng chính là các quyết định của người tiêu dùng trước, trong và sau khi mua sắm hàng hóa, dịch vụ cho nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và gia đình (Kotler, 2009) Hay có thể hiểu, hành vi tiêu dùng là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ” (Philip Kotler, 2012) Mặt khác, khi nhắc đến hành vi của người tiêu dùng tức là nghiên cứu về các cá nhân, tổ chức, các quy trình họ sử dụng để lựa chọn, bảo mật và định đoạt sản phẩm, dịch
vụ nhằm đáp ứng nhu cầu và tác động của quy trình này đối với người tiêu dùng và xã hội (Hawkins & cộng sự, 2007) Ngoài ra, một định nghĩa khác được cung cấp bởi Schiffman
và cộng sự (2007) đề cập hành vi của người tiêu dùng rất phức tạp, chúng đòi hỏi các nhà tiếp thị phải nắm bắt được nhu cầu, lý do, thời gian, tần suất mua sắm… của khách hàng
Để có được thành công trong kinh doanh, những thông tin trên vẫn chưa đủ, nhà tiếp thị cần xác định rõ người tiêu dùng của mình là ai, điều gì ảnh hưởng đến quyết định mua hàng
và cách các quyết định này được đưa ra (Schiffman & cộng sự, 2007)
Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: hành vi người tiêu dùng là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ (Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, 2001) Hay nói cách khác, hành vi khách hàng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được trong quá trình tiêu dùng Những yếu tố như ý kiến từ những người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì, bề ngoài sản phẩm đều có thể tác động đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của khách hàng Một trong những lý thuyết nhận được rất nhiều
sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và có ứng dụng lớn trong xã hội chính là lý thuyết về hành vi người tiêu dùng Theo quan điểm của tác giả Loudon và Bitta (1993) cho rằng: hành vi người tiêu dùng được định nghĩa là quá trình ra quyết định và hành động thực tế của các cá nhân khi đánh giá, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ những hàng hoá và dịch vụ (Loudon & Bitta, 1993)
Đến nay, hành vi của người tiêu dùng đã có sự thay đổi mạnh mẽ và những thay đổi đó được phản ánh cụ thể qua các thế hệ (Solomon, 2017) Đề cập về các tình huống xã hội biến động, cụ thể như suy thoái nền kinh tế hoặc đại dịch Covid-19 gần đây nhất, hành vi người tiêu dùng đã thiết lập thành hành vi mua hàng mới theo mốc hành vi Theo Ang và cộng sự (2000), người đã nghiên cứu về cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á, báo cáo
Trang 3012
rằng: người tiêu dùng đã giảm hành vi mua sắm và lãng phí trong cuộc khủng hoảng, khi
đó họ trở nên cẩn thận hơn trong quá trình ra quyết định bằng cách tìm kiếm thêm thông tin về sản phẩm và nhu cầu mua thay vì xa xỉ, chuyển sang các thương hiệu rẻ hơn và dùng gói nhỏ hơn Có thể thấy, các cuộc khủng hoảng liên quan đến kinh tế và xã hội đều ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng (Kar, 2010) Giai đoạn đại dịch Covid-19 vừa qua, hành vi người tiêu dùng cũng có sự thay đổi bất thường khi khách hàng tập trung vào việc tích trữ nhiều hàng hóa thiết yếu Kể từ tháng 3 năm 2020, hành vi trên đã được gọi là hành
vi “bình thường mới” (The Straits Times, 2020), nghĩa là người tiêu dùng đã thay đổi hành
vi mua sắm của họ, trở nên thận trọng hơn về tác động của môi trường, mua sắm nhiều thứ
có giá trị thiết thực hơn như thức ăn, thuốc trong đại dịch Covid-19
Tóm lại, điểm chung của hầu hết các khái niệm về hành vi người tiêu dùng đều khẳng định đây là những hành động liên quan đến quá trình mua sắm, tiêu dùng của cá nhân, nhóm người hay tổ chức nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của họ Hành vi này không chỉ dừng lại ở quá trình ra quyết định sử dụng hàng hóa, dịch vụ mà còn bao gồm tâm lý trước, trong
và sau khi thực hiện hành vi Với bối cảnh nghiên cứu là đại dịch Covid-19, nhóm đã tổng hợp thông tin và đưa ra khái niệm cơ sở như sau: Hành vi người tiêu dùng trong giai đoạn
xã hội biến động là quyết định mua sắm bất thường của khách hàng liên quan đến việc mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ… chịu chi phối bởi sự thay đổi của môi trường xung quanh, nhằm thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu của bản thân và gia đình Hành vi này chỉ xảy ra tại một thời điểm nhất định và không phát triển thành thói quen
2.1.4 Khái niệm ý định
Khi tìm kiếm những lý thuyết liên quan đến ý định, thì Ajzen (1991) luôn là cái tên được
đề cập nhiều nhất Bằng những lập luận nghiên cứu của mình qua mô hình lý thuyết TRA
và TPB, Ajzen cho rằng ý định là hành động của con người được hướng dẫn bởi việc cân nhắc các yếu tố liên quan đến: niềm tin vào hành vi, niềm tin vào chuẩn mực và niềm tin vào sự kiểm soát Hay nói cách khác, ý định chứa đựng những yếu tố thúc đẩy, ảnh hưởng đến hành vi, nó chỉ ra mức độ mà một cá nhân sẵn sàng thử, mức độ nỗ lực thực hiện để hoàn thành hành vi Điều này cho thấy, khi con người có ý định mạnh mẽ để tham gia vào một hành vi nào đó thì họ có khả năng thực hiện hành vi đó nhiều hơn (Ajzen, 1991) Trên thực tế, trong giai đoạn đánh giá phương án mua, người tiêu dùng thường có xu hướng cho điểm các thương hiệu khác nhau cung cấp sản phẩm/dịch vụ để hình thành nên ý định mua (Philips Kotler & cộng sự, 2001) Đồng tình với quan điểm của Philips Kotler, Miniard
và Engel (2006) cũng cho rằng một trong những cách tiếp cận phổ biến nhất mà các nhà tiếp thị thực hiện để hiểu được hành vi thực tế của người tiêu dùng là thông qua việc nghiên
Trang 3113
cứu ý định của họ (Miniard & Engel, 2006) Tuy nhiên, ý định mua của người tiêu dùng khi đặt trong bối cảnh cụ thể như xã hội bị biến động, thực hiện giãn cách lại có nhiều sự thay đổi khác biệt Khi đó, khách hàng không còn chú trọng quá nhiều vào việc đánh giá, cho điểm và so sánh các thương hiệu với nhau để chọn lựa sản phẩm phù hợp Hành vi của người tiêu dùng trong giai đoạn này chịu tác động mạnh mẽ bởi 3 yếu tố mà mô hình TPB của Ajzen (1991) đã đề cập như: Niềm tin vào hành vi, Niềm tin vào chuẩn mực và Niềm tin vào sự kiểm soát (Ajzen, 1991)
Chung quy lại, ý định mua hàng có vai trò quan trọng như một giải pháp thay thế dùng để
đo lường hành vi mua của người tiêu dùng (Kim & Pysarchik, 2000) Điều này có nghĩa là
ý định càng cao thì xác suất để quyết định mua hay sử dụng một sản phẩm hay dịch vụ nào
đó của khách hàng sẽ càng lớn (Schiffman & cộng sự, 2007) Tóm lại, ý định là cơ sở, động lực chính để thúc đẩy con người có nên thực hiện một hành vi nào đó hay không Do đó, nhóm tác giả sử dụng khái niệm ý định của Ajzen (1991) làm cơ sở nghiên cứu và xây dựng lý thuyết cho đề tài
2.1.5 Khái niệm ý định tích trữ
Tình hình thế giới có nhiều biến đổi trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2022, do chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19 Cũng trong thời gian này, ý định và hành vi tiêu dùng của mọi người cũng bị tác động, phát sinh các nhu cầu về tích trữ thực phẩm thiết yếu Xét về khía cạnh lịch sử, ý định và hành vi mua hàng hóa tích trữ đã xuất hiện lần đầu tiên trong Dịch cúm Tây Ban Nha bùng phát vào năm 1918 (Honigsbaum, 2013), sau đó khi Hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng (SARS) bùng phát tại Hong Kong năm 2003, hiện tượng mua hàng tích trữ cũng xảy ra (Cheng, 2004; Fast, González, Wilson, & Markuzon 2015; Wai Man Fung & Yuen Loke, 2010) Bên cạnh đó, ngoại trừ dịch bệnh,
ý định, hành vi mua hàng tích trữ cũng có thể xảy ra khi các dự báo về thiên tai xuất hiện (Wai Man Fung & Yuen Loke, 2010) đối với các thảm họa phi thiên nhiên như khủng hoảng hạt nhân (Li, Wang, Gao, & Shi, 2017; Zhao, Zhang, Tang, & Kou, 2016) Gần đây nhất, cụm từ "mua hàng tích trữ" được xuất hiện và đề cập thường xuyên trong giai đoạn đại dịch Covid-19, tuy nhiên vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh nào cho hành động này của khách hàng
Theo Shou, Xiong, và Shen (2011) định nghĩa rằng: “Việc thực hiện mua hàng tích trữ được định nghĩa là hành vi của người tiêu dùng dưới hình thức mua một số lượng lớn sản phẩm để phòng ngừa bị thiếu hụt trong tương lai Hiện tượng này xảy ra khi người tiêu dùng mua một số lượng lớn sản phẩm với dự đoán giá cả tăng và tình trạng thiếu hụt hàng hóa trong tương lai” Tuy nhiên, khi xét trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19, Garfin, Silver,
Trang 3214
và Holman (2020) cho rằng: “Hành động mua hàng tích trữ xuất hiện như một phản ứng đối với căng thẳng, lo lắng quá mức và sự lo ngại” Chung quy lại, Ý định tích trữ của người dân trong đại dịch Covid-19 là phản ứng của họ trước tình hình xã hội có nhiều lo ngại như dịch bệnh, dự báo về tình trạng khan hiếm, thiếu hụt thực phẩm thiết yếu và không thể tự do đi lại
2.2 Một số mô hình lý thuyết liên quan
2.2.1 Thuyết hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA)
Những yếu tố như thái độ của một cá nhân, kết hợp với các chuẩn mực chủ quan sẽ hình thành nên ý định hành vi của cá nhân đó Cụ thể, thái độ bao gồm niềm tin về đánh giá tích cực hoặc tiêu cực khi thực hiện hành vi và kết quả mong đợi Chuẩn mực chủ quan được coi là những áp lực xã hội gây ra cho một cá nhân do nhận thức của họ về những gì người khác nghĩ họ nên làm và xu hướng tuân thủ những điều này Nói cách khác, nhận thức của một người bị ảnh hưởng bởi hầu hết những người quan trọng đối với họ nghĩ rằng họ nên hoặc không nên thực hiện hành vi được đề cập (Azjen & Fishbein, 1975) Tuy nhiên, Fishbein và Ajzen nói rằng thái độ và chuẩn mực không có trọng số như nhau trong việc
dự đoán hành vi Thật vậy, tùy thuộc vào từng cá nhân và tình huống, những yếu tố này có mức độ ảnh hưởng khác nhau đến ý định hành vi Do đó một trọng số được liên kết với mỗi yếu tố này trong công thức dự đoán của lý thuyết Ví dụ, bạn có thể là kiểu người ít quan tâm đến những gì người khác nghĩ Nếu trường hợp này xảy ra, các tiêu chuẩn chủ quan sẽ có ít trọng lượng trong việc dự đoán hành vi của bạn” (Miller, 2005, trang 127) Chung quy lại, mục đích của lý thuyết TRA là dự đoán và hiểu được hành vi của một cá nhân, nhóm người bằng cách xem xét ảnh hưởng của cảm xúc (thái độ) và áp lực xã hội được nhận thức (chuẩn mực chủ quan) của họ Trong các bối cảnh xã hội biến động, cụ thể như đại dịch Covid-19 vừa qua thì ý định, hành vi của người tiêu dùng cũng chịu tác động bởi thái độ và nhận thức về áp lực xã hội xung quanh Do đó, lý thuyết này sẽ là nền tảng cho việc xây dựng mô hình, đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu về hành vi và ý định của người tiêu dùng trong và sau đại dịch Covid-19 nói riêng, khi xã hội bị biến động nói chung Dưới đây là mô hình đo lường ý định hành vi (Behavior Intention) của lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) như sau:
Thái độ
Ý định Hành vi
Niềm tin đối với
thuộc tính sản phẩm
Đo lường niềm tin
đối với thuộc tính
sản phẩm
Trang 3315
Hình 2.1 Sơ đồ lý thuyết hành vi hợp lý - TRA
Nguồn: Fishbein và Ajzen, 1975
2.2.2 Thuyết hành vi có hoạch định (Theory of Planned Behavior – TPB)
Lấy cơ sở từ lý thuyết hành động hợp lý TRA (1975), Ajzen (1991) đã phát triển nên lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB Đây là một trong những nhóm lý thuyết có liên quan chặt chẽ với nhau áp dụng cách tiếp cận nhận thức để giải thích hành vi tập trung vào thái độ và niềm tin của cá nhân Trước đó, mô hình TRA cho rằng hành vi của một cá nhân được quyết định hoàn toàn do kiểm soát lý trí Tuy nhiên, đến năm 1991, mô hình TPB đã được Ajzen bổ sung và khẳng định việc nhận thức có ảnh hưởng rất lớn trong việc kiểm soát hành vi của con người, bắt nguồn từ lý thuyết hiệu quả bản thân (SET - Self-efficacy Theory) Thuyết này được Bandura đề xuất vào năm 1977, xuất phát từ lý thuyết nhận thức
xã hội Theo Bandura, những kỳ vọng như động lực, hiệu suất và cảm giác thất vọng liên quan đến thất bại lặp đi lặp lại sẽ xác định hiệu quả và phản ứng hành vi Bandura đã tách
kỳ vọng thành hai loại riêng biệt: hiệu quả bản thân và kỳ vọng kết quả Ông định nghĩa hiệu quả bản thân là niềm tin rằng một người có thể thực hiện thành công hành vi cần thiết
để tạo ra kết quả Dự báo kết quả đề cập đến ước tính của một người rằng một hành vi nhất định sẽ dẫn đến kết quả nhất định Theo quan điểm của ông thì hiệu quả của bản thân là điều kiện tiên quyết quan trọng nhất để thay đổi hành vi, vì nó quyết định việc bắt đầu hành
vi đối phó
Trang 3416
Thời gian gần đây, quá trình đưa ra quyết định thực hiện hành vi của một cá nhân trong điều kiện xã hội biến động như thiên tai, dịch bệnh cũng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Hầu hết, các nghiên cứu đều tham khảo mô hình TPB như một lý thuyết cơ bản trong việc phân tích ý định mua hàng của người tiêu dùng khi xã hội gặp biến động Cụ thể, trong giai đoạn đại dịch Covid-19 vừa qua, Silver, Garfin và Holman (2020) cho rằng hành động mua hàng tích trữ xuất hiện như một phản ứng đối với căng thẳng, lo lắng quá mức và sự lo ngại Việc nghiên cứu các lý thuyết về nhận thức và hành
vi của người tiêu dùng trước và trong đại dịch dựa trên các yếu tố trong mô hình hành vi
có kế hoạch giúp mọi người hiểu rõ hơn nguyên nhân dẫn đến hành vi mua hàng tích trữ một cách toàn diện
Ngoài hai yếu tố “Thái độ” và “Chuẩn chủ quan” đề cập từ mô hình lý thuyết TRA, nhóm tác giả cũng kế thừa yếu tố “Nhận thức kiểm soát hành vi” từ mô hình TPB để xây dựng được mô hình nghiên cứu vững chắc hơn về các biến độc lập tác động đến “Ý định tích trữ” của người dân Không thể phủ nhận rằng, ý định thực hiện hành vi tích trữ của một cá nhân hay tổ chức đều chịu sự chi phối của nhận thức, cách họ nhìn nhận, suy nghĩ, đánh giá về sự vật, sự việc liên quan đến hành vi Vì vậy, nhóm tác giả đã bổ sung thêm lý thuyết TPB để làm rõ hơn các mối liên kết trong mô hình nghiên cứu của mình Dưới đây là mô hình hoàn chỉnh về thuyết hành vi có hoạch định (TPB) chỉ ra 3 nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của con người gồm: thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi
Thái độ đối với
hành vi
Nhận thức kiểm
soát hành vi
Chuẩn chủ quan Ý định Hành vi
Trang 3517
Hình 2.2 Sơ đồ lý thuyết hành vi có kế hoạch - TPB
Nguồn: Ajzen, 1991.
2.2.3 Tháp nhu cầu Maslow
Mô hình tháp nhu cầu của Maslow là lý thuyết mô tả động cơ và tâm lý của con người, được chia làm năm cấp độ tương ứng với năm bậc của tháp thể hiện nhu cầu tự nhiên của con người bao gồm: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu khẳng định bản thân
Trong nghiên cứu của Black và Cuthbert (2012) thiết lập mối tương quan giữa hệ thống thứ bậc nhu cầu của Maslow và hoạt động kinh doanh kinh tế chu kỳ trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008-2011 cho thấy hành vi của người tiêu dùng thay đổi và chi tiêu nhiều hơn cho các mặt hàng cơ bản, thiết yếu, không lâu bền do đó tạo ra sự biến động chi tiêu cho các mặt hàng xa xỉ Tương tự khi đại dịch Covid-19 nổ ra trên toàn cầu đã tác động đến sức khỏe và kinh tế, gây ra phản ứng mạnh mẽ của con người từ cơ sở kim tự tháp phân cấp nhu cầu của Maslow Nhu cầu cơ bản được ưu tiên trong thời gian này là nhu cầu sinh lý, người tiêu dùng chuyển hành vi của họ vào những hàng hóa không lâu bền hỗ trợ cho sự tồn tại bao gồm thức ăn, nước uống và thuốc men và những mặt hàng thiết yếu khác với mức chi trả khá cao Hay nói cách khác, những nhu cầu này tương tự như bản năng và đóng một vai trò quan trọng là động lực thúc đẩy hành vi của con người (Maslow, 1954)
Trang 3618
Hình 2.3 Tháp nhu cầu của Maslow
Nguồn: Abraham Maslow, 1943
2.3 Một số mô hình nghiên cứu liên quan
Kể từ tháng 12 năm 2019 ngay khi lần đầu tiên Virus Corona được phát hiện tại một thành phố lớn và đông đúc của Trung Quốc Thì tính đến thời điểm hiện tại, thế giới đã và đang đối mặt với đại dịch này trong suốt gần hai năm Cũng trong chính khoảng thời gian này, ngoài những nghiên cứu về vaccine trị bệnh của các bác sĩ và chuyên gia y tế Thì không
ít các nhà nghiên cứu xã hội bắt tay vào việc phân tích các ảnh hưởng do dịch bệnh mang lại và đề xuất các giải pháp khắc phục Trong đó, đối với đề tài mà nhóm nghiên cứu đang thực hiện về “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua các mặt hàng thiết yếu để tích trữ của người dân trong đại dịch Covid-19” cũng có một số nghiên cứu liên quan
2.3.1 Một số nghiên cứu trong nước
2.3.1.1 Nghiên cứu của Trần Phạm Khánh Toàn (2021) về “Các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định mua khẩu trang của người tiêu dùng trong đại dịch Covid-19”
Trần Phạm Khánh Toàn (2021) đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định mua mặt nạ của người tiêu dùng trong đại dịch Covid-19, nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam được đăng trên Tạp chí Tài chính, Kinh tế và Kinh doanh Châu Á Tập
8 số 5 (2021) Bài nghiên cứu dựa trên lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) và dữ liệu được thu thập từ 243 người trả lời tại TP.HCM Nghiên cứu đã chỉ ra có tổng cộng sáu biến ảnh hưởng đến ý định mua khẩu trang của người tiêu dùng trong Đại dịch Covid-19 bao gồm: thái độ đối với việc mua khẩu trang, các chuẩn mực chủ quan, khả năng kiểm soát
Thể hiện bản thân
Được tôn trọngNhu cầu xã hộiNhu cầu được an toànNhu cầu sinh lý
Trang 37Hình 2.4 Mô hình các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định mua khẩu trang của người
tiêu dùng trong đại dịch Covid-19
Trang 38Dựa trên kết quả phân tích từ 155 biến quan sát cho thấy yếu tố thái độ và chuẩn chủ quan
là các biến số tác động tích cực đến nhận thức hành vi, mức độ tác động tương ứng là 52%
và 31% Bên cạnh đó, biến Nhận thức rủi ro ảnh hưởng mạnh đến Thái độ (52,1%) và Chuẩn chủ quan (47,8%) Trong khi đó Nhận thức rủi ro chỉ ảnh hưởng 16,1% đến hành vi nhận thức Điều này chứng tỏ rằng khi người tiêu dùng nhận thấy sự tác động mạnh mẽ về rủi ro của đại dịch Covid-19, chúng có thể ảnh hưởng đến niềm tin của những người xung quanh về những rủi ro mà họ đang gặp phải đối mặt, và nó cũng thúc đẩy thái độ của họ để đối phó với các mối đe dọa từ môi trường bên ngoài Sau đó, lần lượt thái độ của người tiêu dùng có tác động mạnh mẽ đến nhận thức hành vi của chính họ Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nhận thức hành vi nhận được tác động thấp nhất từ thái độ của người tiêu dùng Điều này có thể dễ dàng giải thích rằng mọi người có thể nhận thức được nguy cơ gia tăng của đại dịch, nhưng họ nhận thức được sự khó khăn để thực hiện hành vi tích trữ Kết quả là, tác động của Nhận thức rủi ro đối với Nhận thức hành vi không mạnh như trên các biến khác
Hình 2.5 Mô hình ý định tích trữ thực phẩm trong Đại dịch Covid -19
Nguồn: Nguyễn Ngọc Long và Bùi Huy Khôi (2020)
Nhận thức hành vi
Ý định tích trữ
Nhận thức rủi
ro
Thái độ
Chuẩn chủ quan
H1 H2
H5
H6
Trang 3921
2.3.2 Một số nghiên cứu ngoài nước
2.3.2.1 Nghiên cứu của Loxton và cộng sự (2020) về “Hành vi của người tiêu dùng trong thời kỳ khủng hoảng: Nghiên cứu sơ bộ về cách Coronavirus đã biểu hiện sự hoảng sợ khi mua của người tiêu dùng, tâm lý bầy đàn, thay đổi chi tiêu tùy ý và vai trò của phương tiện truyền thông trong việc ảnh hưởng đến hành vi”
Loxton, Truskett, Scarf, Sindone, Baldry và Zhao (2020) đã tiến hành nghiên cứu các yếu
tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng trong thời kỳ khủng hoảng Bài nghiên cứu
đã dựa trên mô hình phân cấp nhu cầu của Maslow và phân tích dữ liệu chi tiêu của người tiêu dùng chủ yếu tập trung vào thị trường Úc và Mỹ Theo kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm hoảng sợ của người tiêu dùng trong thời kì dịch Covid-19 là tâm lý bầy đàn, thay đổi chi tiêu tùy ý và vai trò của phương tiện truyền thông Trong đó tác động chính của việc mua hàng hoảng loạn trong giai đoạn này là lạm phát giá
do thiếu hụt nguồn cung và các hành vi cơ hội, sự gia tăng đột ngột nhu cầu đối với các sản phẩm cụ thể Yếu tố tâm lý bầy đàn gia tăng là hệ quả của bối cảnh xã hội, nỗi sợ hãi
sự khan hiếm và mất kiểm soát đối với môi trường xung quanh, gây ra các hoạt động tích trữ và chuẩn bị như một cơ chế đối phó của người tiêu dùng Đồng thời bài nghiên cứu còn khẳng định rằng phương tiện truyền thông đã đóng một vai trò quan trọng và ảnh hưởng gián tiếp đến hành vi của người tiêu dùng trong đợt bùng phát Covid-19 cho đến nay
Hình 2.6 Mô hình hành vi của người tiêu dùng trong thời kỳ khủng hoảng
Nguồn: Loxton và cộng sự, 2020
Mua hàng hoảng sợ
Tâm lý bầy đàn
Thứ bậc nhu cầu Maslow
Phương tiện truyền thông
Hành vi của người tiêu dùng trong thời kỳ khủng hoảng
Trang 4022
2.3.2.2 Nghiên cứu của Laato và cộng sự (2020) về “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua hàng bất thường trong giai đoạn đầu của đại dịch Covid-19: Cách tiếp cận kích thích - sinh vật - phản ứng”
Laato, Islam, Farooq và Dhir (2020) đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua hàng bất thường trong giai đoạn đầu của đại dịch Covid-19: Cách tiếp cận kích thích - sinh vật - phản ứng Bài nghiên cứu áp dụng mô hình RANAS, lý thuyết động
cơ bảo vệ (PMT), thu thập dữ liệu từ các sinh viên đại học và nhân viên ở Phần Lan thông qua một cuộc khảo sát trên web và bảng câu hỏi khảo sát trực tiếp cho những dân cư ở Phần Lan Nghiên cứu đã đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua hàng bất thường trong giai đoạn đầu của đại dịch Covid-19 là tác động của việc tiếp xúc với các nguồn thông tin trực tuyến, tác động của quá tải thông tin, tác động của mức độ nghiêm trọng được nhận thức… Phân tích kết quả khảo sát từ 211 biến quan sát cho thấy rằng số lượng nguồn thông tin những người tiếp xúc trong tháng 3 năm 2020 không có tác động đến nhận thức của họ về mức độ nghiêm trọng của tình huống Bài nghiên cứu chỉ ra được rằng ý định tự cô lập là một dự đoán mạnh mẽ về các giao dịch mua bất thường, cho thấy rằng lý
do chính mọi người mua hàng bất thường trong Covid-19 là để chuẩn bị cho cách ly và kiểm dịch đồng thời khẳng định rằng miễn là mọi người tiếp tục tự cô lập, họ cũng sẽ tiếp tục mua hàng bất thường trong mùa dịch Covid-19
Hình 2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua hàng bất thường trong giai đoạn đầu
của đại dịch Covid-19
Nguồn: Laato và cộng sự, 2020
H4 Quá tải thông tin
Nhận thức mức độ
rủi ro
Cyberchondria
Tiếp xúc với nguồn
thông tin trực tuyến
H1 H2
H3
H5
Ý định mua hàng bất thường
Mua hàng hiệu quả
H9
H11
H7 H8
Tự cô lập Hiệu quả bản thân
Ý định tự cô lập H6
H10
H12