MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài 2 Mục tiêu và nhiệm vụ CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1 1 Khái quát 1 1 1 Vị trí địa lý 1 1 2 Lịch sử hình thành 1 1 3 Kinh tế 1 1 4 Kiến trúc và q[.]
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Mục tiêu và nhiệm vụ
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU………
1.1 Khái quát
1.1.1 Vị trí địa lý………
1.1.2 Lịch sử hình thành
1.1.3 Kinh tế
1.1.4 Kiến trúc và quy hoạch đô thị………
1.2 Hà Nội – Một trong hai đô thị có tốc độ đô thị hóa cao nhất Việt Nam
1.3 Tác động của đô thị hóa với quá trình phát triển của Hà Nội………
1.3.1 Tích cực………
1.3.2 Tiêu cực………
1.4 Hướng tới một đô thị Hà Nội phát triển bền vững………
1.4.1 Mục tiêu phát triển bền vững trong đô thị hóa Hà Nội………
1.4.2 Quan điểm chi phối quá trình đô thị hóa Hà Nội theo hướng bền vững…………
1.4.3 Định hướng chính sách đô thị hóa theo hướng bền vững trong tương lai CHƯƠNG 2 – CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SỰ MỞ RỘNG ĐÔ THỊ TỪ ẢNH VỆ TINH………
2.1 Phương pháp đo đạc truyền thống
2.2 Phương pháp đo đạc trên ảnh hàng không
2.3 Phương pháp đo đạc trên ảnh viễn thám
2.3.1 Giải đoán bằng mắt
2.7 Phân loại ảnh vệ tinh bằng phương pháp xử lý ảnh số
2.8 So sánh hai phương pháp phân loại định hướng đối tượng và phân loại dựa trên pixel
Trang 2CHƯƠNG 3 - ỨNG DỤNG TƯ LIỆU VIỄN THÁM ĐA THỜI GIAN QUAN
TRẮC SỰ MỞ RỘNG ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ HÀ NỘI THÔNG QUA SỐ LIỆU BIẾN ĐỘNG CÁC BỀ MẶT KHÔNG THẤM………3.1 Tư liệu sử dụng 3.2 Quy trình thành lập hiện trạng sử dụng đất từ ảnh vệ tinh 3.3 Sự mở rộng đô thi Hà Nội trong giai đoạn 2000-2015
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
1 Kết luận 70
2 Kiến nghị 71
Trang 4MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Từ nửa sau thế kỉ 20, thế giới phát triển và chuyển biến theo hướng mới, tạo
cơ hội cho các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là Châu Á, có những bước pháttriển nhảy vọt.Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đã tạo cơ sở cho quá trình
đô thị hóa diễn ra một cách nhanh chóng Dân số tập trung đến các đô thị ngàymột đông và tạo thành một xu thế chung Việt nam cũng không nằm ngoài xuthế đó Đặc biệt là Hà Nội, thủ đô nước Việt Nam, là một trong hai đô thị pháttriển sớm nhất ở nước ta và có tốc độ đô thị hóa nhanh bậc nhất cả nước Việc
đô thị hóa nhanh chóng ở Hà nội là một tất yếu hiển nhiên đối với sự phát triểncủa cả nước Và cũng chính quá trình đô thị hóa đã có nhiều tác động về nhiềumặt cho Hà Nội: cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật, kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhội, trong đó có cả tác động tích cực lẫn tiêu cực Từ việc nhận thức những tácđộng đó, các cấp lãnh đạo, các nhà quản lí, các nhà quy hoạch sẽ phải tìm ranhững xu hướng phát triển tiếp theo của quá trình đô thị hóa, và tìm ra nhữnggiải pháp thiết thực để hạn chế những tác động tiêu cực, đồng thời phát huynhững mặt tích cực, làm sao cho quá trình đô thị hóa thực sự là nền tảng cho sựphát triển của Hà Nội, mà nói rộng ra là sự phát triển của cả đất nước
Trang 5Dữ liệu viễn thám có độ bao phủ trên một diện rộng và tần suất thời gian cao rất hữu ích cho việc nghiên cứu hiện trạng và theo dõi biến động sử dụng đất theo các giai đoạn, thời kỳ khác nhau Trong khi đó các công cụ quản lý sử dụng đất như số liệu kiểm kê đất đai hay bản đồ sử dụng đất thường bị mâu thuẫn hoặc 7 không đủ và chỉ được cập nhật 5 năm / 1 lần, hơn nữa lại do địa phương quản lý nên rất khó để có đủ thông tin cho việc theo dõi thay đổi sử dụng đất Vì vậy, để bổ sung cho những thiếu sót về độ chính xác, không gian và thời gian của các công cụ ở trên thì dữ liệu viễn thám đa thời gian được sử dụng như một công cụ thay thế, bổ sung thông tin để theo dõi xu hướng biến đổi sử dụng đất, đặc biệt trong công tác quy hoạch và quản lý đô thị.
Xuất phát từ các lý do trên chúng tôi đề tài “… ”
1.2 Mục Tiêu và nhiệm vụ.
-Mục tiêu: Nghiên cứu và đánh giá quá trình mở rộng đô thị thủ đô Hà Nội dựa
trên chuỗi ảnh viễn thám đa thời gian
-Nhiệm vụ: Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, quá trình nghiên cứu thực hiện các nhiệm vụ sau:
Nội dung 1: Tổng qua quá trình đô thị hóa của khu vực nghiên cứu
Nội dung 2: Nghiên cứu phương pháp chiết tách các đối tượng bề mặt không
thấm từ ảnh vệ tinh
Nội dung 3: Ứng dụng tư liệu viễn thám đa thời gian quan trắc sự mở rộng
đô thị thành phố Hà Nội thông qua số liệu biến động các bề mặt không thấm.
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
I/ Khái quát:
Hà Nội là một trong hai đô thị đặc biệt có quy mô lớn nhất nước ta, với tốc
độ đô thị hóa cao bậc nhất ở Việt Nam.
- 18 huyện:Ðông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm (Hà Nội cũ);
Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa (Hà Tây cũ) và Mê Linh (từ Vĩnh Phúc).
Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Mường, Tày, Dao
Hà Nội là Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
1/ Vị trí địa lý:
Trang 7Hà Nội nằm ở đồng bằng Bắc bộ, tiếp giáp với các
tỉnh: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía bắc; phía nam
giáp Hà Nam và Hoà Bình; phía đông giáp các tỉnh
Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; phía tây giáp tỉnh
Hoà Bình và Phú Thọ
Hà Nội nằm ở phía hữu ngạn sông Đà và hai bên
sông Hồng, vị trí và địa thế thuận lợi cho một trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học và đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam
2/ Lịch sử hình thành
Hà Nội có dân cư từ vài ngàn năm trước nhưng cái tên gọi Hà Nội thì chỉ có
từ năm 1831
Năm 1883, Pháp chiếm đóng Hà Nội
Năm 1886 họ thành lập "thành phố Hà Nội", ban đầu chỉ có 3 km2, đến năm
3/ Kinh tế:
Năm 2007, GDP bình quân đầu người của Hà Nội lên tới 31,8 triệu đồng, trongkhi con số của cả Việt Nam là 13,4 triệu Hà Nội là một trong những địa phươngnhận được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhiều nhất, với 1.681,2 triệu USD và
290 dự án
Năm 2003, với gần 300.000 lao động, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp77% giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố Ngoài ra, 15.500 hộ sản xuất
Trang 8công nghiệp cũng thu hút gần 500.000 lao động Tổng cộng, các doanh nghiệp
tư nhân đã đóng góp 22% tổng đầu tư xã hội, hơn 20% GDP, 22% ngân sáchthành phố và 10% kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội
Sau khi mở rộng địa giới hành chính, với hơn 6 triệu dân, Hà Nội có 3,2triệu người đang trong độ tuổi lao động Mặc dù vậy, thành phố vẫn thiếu laođộng có trình độ chuyên môn cao Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đào tạolại, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu cơ cấungành kinh tế Hà Nội còn phải đối đầu với nhiều vấn đề khó khăn khác Nănglực cạnh tranh của nhiều sản phẩm dịch vụ cũng như sức hấp dẫn môi trườngđầu tư của thành phố còn thấp Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chậm, đặcbiệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm chủ lực mũi nhọn.Chất lượng quy hoạch phát triển các ngành kinh tế ở Hà Nội không cao và thànhphố cũng chưa huy động tốt tiềm năng kinh tế trong dân cư
4/ Kiến trúc và quy hoạch đô thị:
Năm 2010, Hà Nội lập Đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nộiđến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 cho một thành phố 9,1 triệu dân vàonăm 2030 và trên 10 triệu người vào năm 2050 Về mặt kiến trúc, có thể chia HàNội ngày nay thành bốn khu vực: khu phố cũ, khu thành cổ, khu phố Pháp vàcác khu mới quy hoạch
Trang 9Vào những năm 1960 và 1970, hàng loạt các khu nhà tập thể theo kiểu lắp ghép xuất hiện Cuối thập niên 1990 và thập niên 2000, nhiều con đường
giao thông chính của Hà Nội, như Giải Phóng, Nguyễn Văn Cừ, được mở rộng Các khách sạn, cao ốc văn phòng mọc lên, những khu đô thị mới như Khu
đô thị mới Nam Thăng Long, Bắc Thăng Long, Du lịch Hồ Tây, cũng dần xuấthiện Tuy vậy, các khu đô thị mới này cũng gặp nhiều vấn đề, như công năng không hợp lý, thiếu quy hoạch đồng bộ, không đủ không gian công cộng
I Hà Nội- một trong hai thành phố có tốc độ đô thị hóa cao nhất ở Việt Nam :
Việt Nam là một nước có tỷ lệ đô thị hóa thấp, kể cả so với các nước trong khu vực Đông Nam Á có mức thu nhập trung bình.
Năm 2020, tỷ lệ đô thị hoá của Việt Nam sẽ đạt khoảng 45% Trong xu thế
đó, Hà Nội là một trong hai thành phố (Thành phố Hồ Chí Minh) có mức và tốc
độ đô thị hóa đạt cao nhất Quá trình đô thị hóa của Hà Nội đã phát triển mạnh theo chiều rộng và có sức lan tỏa mạnh (đô thị hóa theo chiều rộng) Những địa chỉ hấp dẫn đã và đang tạo nên tốc độ đô thị hóa nhanh nhất Diện tích đất tự nhiên của Hà Nội hiện nay đã lên tới trên 300 nghìn ha (tăng lên gấp 3,6 lần so với trước) Dân số Hà Nội gia tăng lên với tốc độ cao: năm 1990, Hà Nội mới chỉ có 2 triệu người, đến năm 2000 lên được 2,67 triệu thì đến năm 2009 đã đạt tới con số 6,5 triệu dân Trong vòng 10 năm, dân số Hà Nội đã tăng lên khoảng
4 triệu người Như thế, có thể kết luận rằng: trong khi mức độ và tốc độ đô thị hóa trên phạm vi toàn quốc ở Việt Nam chậm hơn so với các nước khác trên thế giới và trong khu vực, thì Hà Nội, đã có tốc độ đô thị hóa nhanh hơn nếu so sánhvới chính bản thân thành phố qua các thời điểm, nó đã đạt được tương đương với tỷ lệ đô thị hóa ở các thành phố của các nước phát triển trong khu vực Châu
Á và đang phấn đấu gia nhập hàng ngũ các thành phố có dân số lớn hơn 10 triệu người của thế giới Tuy nhiên việc đô thị hóa nhanh diễn ra trong thời gian ngắn cần phải được đánh giá khách quan những mặt được và không được, nhất là dưới góc độ tính bền vững của nó
Quá trình đô thị hóa của Hà Nội kéo theo sự phát triển tất yếu của hệ thống cơ sở hạ tầng Sự phát triển đó thể hiện qua nhiều mặt như giao thông, điện, nước, môi trường, công trình công cộng
Về giao thông:
Hà Nội là một trong những thành phố có số dân và mật độ dân cư cao của cả nước nên giao thông Hà Nội có tầm quan trọng nhất định trong việc
Trang 10đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hành khách và hàng hóa ngày một
tăng
Hệ thống đường bộ
Cho đến cuối năm 2011, Hà Nội hiện có 7.365 km đường giao thông, trong
đó 20% là trục đường chính, 7 trục hướng tâm và 3 tuyến vành đai, cũng như đang quản lý hơn 4,3 triệu phương
tiện giao thông các loại, trong đó
riêng xe máy chiếm gần 4 triệu
Hệ thống xe buýt
Mặc dù Hà Nội đã phát triển
nhanh hệ thống xe buýt để phục vụ tới
300 triệu lượt người trong 2005
Trang 11dựng
Hàng không
Hà Nội có hai sân bay: sân bay Nội Bài (quốc tế và nội địa) và sân bay Gia Lâm (sân bay nhỏ, nơi có thể thuê trực thăng du lịch)
Trong một đô thị hiện đại, dân số trên triệu người và mật độ cao, hệ
thống giao thông ngầm luôn được xác định là một công cụ hữu hiệu, góp phần giải quyết tốt những nan giải, bất cập giao thông mà đô thị lớn thường phải đối mặt
Nhầm giảm bớt tình trạng ùn tắc giao thông Sở Quy Hoạch Kiến trúc Hà Nộivừa phê duyệt dự án tuyến metro số 2 dài 11.5 km trong đó có 8.5 km đi ngầm,
dự kiến hoàn thành vào năm 2017
Trang 12Theo kế hoạch, năm 2017, đoàn tàu sẽ có 4 toa và sang giai đoạn 2 (sau năm 2017) sẽ tăng lên 6 toa Năm 2020, tàu sẽ vận chuyển khoảng 535.000 lượt hànhkhách mỗi ngày; năm 2030 là 661.000 và năm 2040 là 777.000 lượt hành khách.
Ở Hà Nội, hệ thống đường sắt đô thị đi ngầm và đi trên cao đã được đề cập
từ đồ án Điều chỉnh quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 được phê duyệt năm 1998, sau đó đã được cụ thể hóa trong Quy hoạch phát triển GTVT Thủ đô Hà Nội đến năm 2020, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2008 tại Quyết định số 90/2008/QĐ-TTg Theo đó, đường sắt đô thị của Thủ đô bao gồm 6 tuyến: Tuyến 1: Ngọc Hồi - Như Quỳnh (38,7km); Tuyến 2: Nội Bài - Thượng Đình (35,2km); Tuyến 2A: Cát Linh - Hà Đông (14km); Tuyến 3: Nhổn
- Hoàng Mai (21km); Tuyến 4: Tuyến vòng, nối các tuyến 1, 2, 3 và 5 (53km);
và Tuyến 5: Nam Tây Hồ - Hòa Lạc (34,5km) Đến năm 2020 sẽ có khoảng 35km Metro đi ngầm trong tổng số gần 200km đường sắt đô thị
Về điện, nước:
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay,ngầm hóa mạng lưới điện được áp dụng ở các thành phố lớn,nhiều khu tái chế nước sạch được xây dựng chúng ta có thể sử dụng nước sạch sau khi tái chế, đồng thời giảm lượng nước thải qua môi trường.Cụ thể là:
Cấp nước cho Hà Nội hiện nay chủ yếu sử dụng nước ngầm, công suất
700.000 m3/ngđ, chất lượng không đồng đều tại các khu vực Định hướng cấp nước đạt 90-100% dân số sử dụng nước sạch, tiêu chuẩn: 150-200 l/ng.ngđ tại thành thị & từ 100-120 l/ng.ngđ tại nông thôn Tổng nhu cầu cấp nước đến năm 2030: 2.628.544 m3/ngđ, đến năm 2050: 3.633.171 m3/ngđ Trong đó lượng nước cấp cho đô thị chiếm tỷ lệ 82% Hạn chế không khai thác nước ngầm, tiếp tục khai thác nước mặt sông Đà, sông Lô, sông Đuống để tránh sụt lún nền đất
đô thị, tỷ lệ khai thác nước mặt đến năm 2020 là 65% và đến năm 2030 đạt 83%
Dự báo đến năm 2030, tổng nhu cầu cấp cho Hà nội cần khoảng 10.000MW (năm 2009 đạt 1650MW) Để đáp ứng nhu cầu tăng thêm này, phải đảm bảo đúng tiến độ xây dựng và đưa vào vận hành các nhà máy thủy điện cấp vùng tại Sơn La, Lai Châu; các nhà máy nhiệt điện vùng duyên hải Bắc bộ ở Quảng Ninh, Hài Phòng… Cần xây dựng mới 04 trạm 500KV cho Hà nội gồm Hiệp Hòa, Đan Phượng, Đông Anh, Xuân Mai; nâng công suất trạm 500KV Thường Tín Xây mới khoảng 21 trạm và cải tạo 5 trạm 220KV đến 2030 với tổng công
Trang 13suất 14.500MVA Tiếp tục phát triển hệ thống chiếu sáng đô thị Hà Nội phải đảm bảo an toàn cho người dân, tiết kiệm năng lượng, hiệu quả cao, hạn chế ô nhiễm ánh sáng Đến 2030, dự kiến 100% đường đô thị và 90% đường trong khudân cư nông thôn được chiếu sáng đạt tiêu chuẩn
Về hệ thống năng lượng:
Bên cạnh các nguồn năng lượng đã sử dụng, Hà Nội đang hướng tới sử dụng
có hiệu quả và tiết kiệm các nguồn năng lượng có sẵn trong tự nhiên như năng lượng gió, năng lượng mặt trời,…
Về môi trường:
Trang 14Cần cũng cố và bảo vệ hệ thống cây xanh, đồng thời bảo vệ các khu sinh thái, vườn quốc gia, bảo tồn các di sản thiên nhiên thế giới
Quá trình đô thị hoá tương đối nhanh đã có những ảnh hưởng đáng kể đếnmôi trường và tài nguyên thiên nhiên, đến sự cân bằng sinh thái: tài nguyên đất
bị khai thác triệt để để xây dựng đô thị, làm giảm diện tích cây xanh và mặtnước, gây ra úng ngập, cùng với nhu cầu nước phục vụ sinh hoạt, dịch vụ, sảnxuất ngày càng tăng làm suy thoái nguồn tài nguyên nước
Các hoạt động sản xuất của các khu công nghiệp, xí nghiệp đã làm cho bầukhông khí trở nên tồi tệ Nhiều loại khí thải chưa qua xử lí đã được thải ra môitrường làm ô nhiễm nguồn nước và không khí
Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở hạ tầng không đáp ứng đủ, đường xá giao thôngtắc nghẽn, nguồn nước ngầm và các dòng sông bị đe dọa nhiễm bẩn nghiêm trọng vì chất thải, không khí ngày càng ô nhiễm nặng nề vì bụi công trường, khói xe, khói nhà máy sản xuất công nghiệp Phần lớn hệ thống nước thải khôngđược xử lý, khối lượng chất thải rắn đang gia tăng nhanh chóng, và chỉ có một phần nhỏ lượng chất thải công nghiệp nguy hại được xử lý an toàn
III/ Tác động của quá trình đô thị hóa đối với sự phát triển của Hà Nội
ngoài nhiều nhất, với 1.681,2 triệu USD và 290 dự án Thành phố cũng là địa điểm của 1.600 văn phòng đại diện nước ngoài, 14 khu công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp Đi đôi với việc là thành phố có tốc
độ đô thị hóa cao nhất cả nước, các chỉ số phản ánh kinh tế và thu nhập của
Hà nội cũng có những động thái tăng trưởng khả quan
Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế của Hà Nội
Tiêu chí Đơn vị tính 1996-2000 2001-2005 2006-2009
Tốc độ tăng trưởng
Trang 15Nguồn: tính toán từ số liệu của Bộ KH&ĐT
Bảng số liệu trên cho thấy các chỉ số kinh tế của Hà Nội đã thay đổi theo xuhướng khá tích cực, nhất là tiêu chí đo lường hiệu quả kinh tế và thu nhập bìnhquân Hà Nội luôn có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn mức trung bình của cả vùngđồng bằng sông Hồng và mức trung bình của cả nước Mật độ kinh tế, tính theotiêu chí GDP/km2 phản ánh mức độ tập trung kinh tế cũng có xu hướng gia tăngđáng kể, cao gấp 2 lần so với mức đạt được của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ.Năm 2009, GDP/người của Hà Nội đã đạt tới 32 triệu đồng, trong khi đó mứcthu nhập trung bình quả cả nước chỉ đạt khoảng 17- 18 triệu đồng/người Theo
xu hướng này, dự báo đến 2015, với tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 9 -9,5%,thu nhập bình quân đầu người của Hà Nội sẽ lên tới 72-73 triệu đồng (tươngđương với xấp xỉ 4000$)
b Đô thị hóa gắn với quá trình công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại
Thứ nhất, đó là sự phát triển mạnh các khu công nghiệp, khu chế xuất cáctrung tâm dịch vụ trên địa bàn thành phố Hà Nội là địa phương có nhiềukhu công nghiệp nhất trên vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
Hầu hết các KCN Hà Nội đều nằm ở các vị trí khá đắc địa về giao thông Các KCN nằm chủ yếu ven các quốc lộ 5 (Hà Nội – Hải Phòng), đường cao tốc Thăng Long – Nội Bài, Quốc lộ 2 (Hà Nội – Lào Cai)., điều này đã tạo sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư Các khu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội luôn thể hiện sự vượt trội về mọi mặt so với các khu công nghiệp của các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, ví dụ như: tỷ lệ lấp đầy đạt 85,1% (so với bình quân chung toàn vùng là 70%);
tỷ lệ vốn trên lao động đạt 34,3 nghìn $/lao động (so với mức chung của toàn vùng là 25 nghìn); năng suất lao động đạt 72,3 triệu $/lao động; v.v… Sự phát triển các khu công nghiệp đã các khu công nghiệp đã đem lại cho hà Nội khoảng 3,5 tỷ dô la giá trị sản xuất ngành công nghiệp.
Trang 16 Thứ hai, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng: giảm dần tỷtrọng giá trị nông, lâm, thuỷ sản trong tổng thu nhập quốc dân thủ đô(GDP) và tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụtrong GDP
Từ năm 1990 đến nay, cơ cấu ngành kinh tế của Hà Nội có sự chuyển dịch khá tích cực Ngành dịch vụ có xu hướng giảm tỷ trọng phản ánh xu thế tăng trưởng mạnh của ngành công nghiệp Với tỷ trọng ngành dịch vụ chiếm 53,61% (năm 2009), tỷ trọng ngành phi nông nghiệp (công nghiệp và dịch vụ) chiếm khoảng 98%, kinh tế Hà Nội được xem như ở trình độ phát triển khá cao xét theo các tiêu chí phân kỳ phát triển kinh tế Đây là đóng góp đáng kể của quá trình đô thị hóa gắn kết chặt chẽ với công nghiệp hóa trên địa bàn thủ đô Hà Nội
c Đô thị hóa với gắn liền với việc mở rộng quy mô thủ đô, tạo không gian thuận lợi bảo đảm tính bền vững của quá trình đô thị hóa
Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII (Ngày 29/5/2008) đã thông qua Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội Theo đó thành phố Hà Nội mở rộng có diện tích tự nhiên 334.470,02ha (3.344,7002km2) và dân số là 6.232.940 người Sau khi mở rộng, thành phố
Hà Nội có 29 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm 10 quận, 18 huyện, 1 thị xã – và 580 đơn vị hành chính cấp xã – gồm 404 xã, 154 phường và 22 thị trấn Việc mở rộng Hà Nội là thực sự cần thiết cho hướng phát triển bền vững thủ đô, nhất là nhu cầu phát triển công nghiệp và vấn đề bảo vệ môi trường: Thủ đô mở rộng bao gồm cả tỉnh Hà Tây có các trục xuyên tâm và dải xanh đan xen cho phép Hà Nội phát triển các khu mới ra xa khu trung tâm, có những vùng đệm mầu xanh ở giữa khu mới và thành phố cũ Các dải xanh đó là các hành lang dẫn gió, đóng góp việc bảo vệ môi trường sinh thái Nếu các dải xanh đó chật hẹp, thì đơn thuần chỉ là giải cách ly, chống
ồn, chống bụi Nếu dải xanh lớn hơn, có thể là một trang trại trồng cây ăn quả, hoặc là khu sản xuất rau sạch, hoa tươi cho thành phố, lớn hơn nữa, có thể tạo thành khu du lịch sinh thái hoặc thành phố vệ tinh như đang hình thành ở Khu Công nghệ cao Hòa Lạc.
d Đô thị hóa gắn với mở rộng tác phạm vi lan tỏa qua việc hình thành
và phát triển vùng thủ đô với tư cách là “bệ đỡ” cho phát triển Hà Nội
Vùng Thủ đô Hà Nội được hình thành theo Quyết định 490/QĐ-TTg ngày 5/5/2008 bao gồm toàn bộ ranh giới hành chính Thủ đô và 6 tỉnh: Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nam và Hoà Bình với diện tích tự nhiên khoảng 13.436km2, bán kính ảnh hưởng từ 100-
Trang 17150km Đâysẽ là động lực, một bệ đỡ vững vàng cho sự phát triển của Hà Nội cũng như các tỉnh nằm trong vùng Cụ thể: Sự phát triển của Vùng Thủ đô Hà Nội, bên cạnh Vùng đô thị hạt nhân và phụ cận còn có Vùng phát triển đối trọng Vùng phát triển đối trọng của Vùng Thủ đô Hà Nội (phạm vi 30-60 km) hình thành với ba tiểu vùng lớn: Vùng đối trọng phía Tây của Thủ đô Hà Nội là Hoà Bình; Vùng đối trọng phía Đông và Đông Nam gồm các tỉnh chuyển tiếp giữa Đồng bằng sông Hồng với vùng Duyên hải Bắc Bộ như Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương và Hà Nam; Vùng đối trọng phía Bắc và Đông Bắc gồm các khu vực Bắc sông Hồng, dọc theo hành lang trục đường 18, chủ yếu là bán sơn địa thuộc tỉnh Vĩnh Phúc và Nam các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên và Quảng Ninh Tất cả sẽ làm cho
Hà Nội có điều kiện cũng như có trách nhiệm quan trọng trong phát triển
và thực hiện sự lan tỏa, liên kết kinh tế với với các tỉnh khác
2/ Tiêu cực
(i) Xu hướng phát triển theo chiều rộng các khu đô thị.
Khu dân cư, khu đô thị Hà Nội phần lớn được quy hoạch theo kiểu lấp chỗ trống, chiếm đất, nhà xưởng một tầng Đô thị “một tầng” không bảo đảm yêu cầu về độ caovà tính hiện đại Vì thế tình trạng hiện nay, nhất là những khu đô thị mới, sức chứa gần như đã “cạn”, và bắt đầu có hiện tượng tắc nghẽn, các cơ sở hạ tầng về giao thông, đường xá đều quá tải.
(ii) Mô hình “kinh tế mặt đường” thể hiện rõ rệt trong phát triển các khu đô thị
Hiện nay các khu đô thị, KCN nằm quá gần nhau và bám sát trên các tuyến giao thông trọng điểm, huyết mạch đã và đang cản trở đến lưu thông của nhiều đoạn, trong đó quốc lộ 5 là một điển hình Trên đường quốc lộ 5,
có tới 80% các KCN chỉ nằm cách mép đường khoảng 30m đổ lại Mặc dù khi xây dựng giao thông, đã tránh đi qua các đô thị nhưng các địa phương lại san đất, giao mặt bằng đất phát triển các KCN và KĐT hình thành bám đường phát triển, và như vậy đường đến đâu, nhà đến đó Hậu quả đường 5
đã trở thành “phố 5” Các làng xã đô thị hóa thường được bao bọc bởi các tuyến giao thông đô thị Do đó, khu vực phía ngoài nhanh chóng bị lấp đầy bởi những dãy nhà ở chiếm mật độ cao sánh vai cùng nhiều công trình công cộng của thành phố.
(iii) Tính chất ồ ạt, phần nào thể hiện tính tự phát trong phát triển đô thị
Trang 18Biểu hiện rõ nét nhất là các công trình xây dựng mọc lên như nấm sau mưa tại các khu vực mới mở nhưng không tuân theo hoặc theo không đúng các quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết đã được duyệt Trên địa bàn thành phố Hà Nội đã đồng loạt triển khai lập dự án khu đô thị mới một cách ồ ạt, trong đó nhiều dự án không mang lại hiệu quả, gây lãng phí đất đai và vốn đầu tư, nhiều khu đô thị được quy hoạch nhưng không thể lấp đầy được (ví
dụ KĐT mới Mê Linh) Nhiều đô thị, do công tác quy hoạch chưa có tầm nhìn dài hạn và đúng tầm vóc nên thực tế chưa có đô thị hiện đại, đẹp như mong muốn.
Mặt khác, giữa phát triển đô thị và phát triển KCN cũng như hệ thống giao thông và mạng lưới dịch vụ phát triển mang những yếu tố thiếu đồng bộ: Nhiều nơi có KCN nhưng lại không quy hoạch đô thị, nhà ở và ngược lại Trong cơn sốt phát triển đô thị, Hà Nội nhìn giống như một công trường xây dựng lớn, khá hỗn độn Không ít công trình cũ đã bị phá bỏ để xây dựng các công trình to lớn hơn và mở rộng đường sá, sân bay, thiên nhiên
bị phá hủy, đất nông nghiệp bị lấn chiếm, nhà ở ngoại ô và cả sân golf trên địa bàn thành phố.
(iv) Sự không hợp lý trong tổ chức kinh tế và điểm dân cư đô thị
Trên địa bàn Hà Nội, hệ thống các đô thị - trung tâm chưa hình thành một cách hợp lý, việc đặt các khu công nghiệp, trung tâm thương mại dịch
vụ, các khu công nghệ cao, các đơn vị cơ quan nghiên cứu chưa thực sự dựa trên những dấu hiệu lợi thế so sánh của từng khu vực khác nhau trên địa bàn thành phố Phần lớn các cơ sở kinh tế cũng như dân cư vẫn tập trung ở những khu đô thị truyền thống mà chưa có xu hướng dãn ra các đô thị mới, hay các địa danh mới sát nhập vào Hà Nội, làm cho các đô thị truyền thống trở nên quá tải nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu điều hòa quá trình tăng trưởng đó.
Mặc dù phát triển khá mạnh song các đô thị Việt Nam hiện vẫn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu xã hội hóa nhà ở cho mọi đối tượng Tại Hà Nội Thống kê của UNFPA cho thấy, hiện 25% cư dân thành thị Hà Nội không đủ tiền để mua nhà ở, 20% nhà ở thành thị bị xếp vào loại không đạt tiêu chuẩn Đặc biệt, ở Hà Nội khoảng 30% dân số có diện tích nhà ở dưới 3m2/người.Trong các khu đô thị mới, phần lớn đất đai dành phát triển quỹ nhà ở, xây dựng các công trình dịch vụ để bán và cho thuê, diện tích cây xanh, các khu vui chơi công cộng bị thu hẹp tối đa để giảm bớt suất đầu tư
hạ tầng cơ sở Xét về lâu dài, nó lại ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường cũng như chất lượng dịch vụ xã hội của khu vực (khu nhà ở ngày càng bị thiếu diện tích vườn hoa, cây xanh, nhà trẻ, các tuyến đi bộ ) Cơ
sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật tại các khu dân cư đô thị thành phố nhìn
Trang 19chung không đồng bộ, mạng lưới giao thông trong và ngoài đô thị chưa phát triển, gây trở ngại cho các mối liên thông giữa đô thị với các vùng lân cận cũng như với hoạt động: làm việc - nghỉ ngơi - sinh hoạt của người dân trong đô thị.
a Phát triển nguồn nhân lực không theo kịp được với quá trình đô thị hóa
Thứ nhất, quá trình đô thị hóa đã tạo ra một dòng di chuyển ồ ạt dân cư
ở các địa phương khác vào Hà Nội Dự kiến dân số Hà Nội đến 2020 là 8 triệu với tỷ lệ đô thị hóa là 54%, 2030 lên tới 9 triệu và 70% Tình trạng tăng vọt dân số cơ học ở Hà Nội làm đậm thêm sự mất cân đối trong phân
bố dân cư, lao động trên phạm vi toàn quốc Hà Nội phải gánh chịu áp lực quá tải rất nặng nề về dân số, áp lực về tạo công ăn việc làm, chỗ ở cho người dân nghèo, nâng cao chất lượng môi trường, về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
Thứ hai, (theo số liệu điều tra của Trường Đại học kinh tế quốc dân Hà
Nội), hiện nay, thành phố Hà Nội có tới trên 70% số người bị thu hồi đất do
đô thị hóa và xây dựng khu đô thị không có trình độ chuyên môn Trong đó,
số người được đào tạo tay nghề sau khi bị thu hồi đất chỉ chiếm 0,22% Trong đó, Nhà nước đào tạo 0,03%; đơn vị nhận đất đào tạo 0,03%; gia đình tự đào tạo 0,16%.hiện có 37,7% số người bị mất đất có thu nhập thấp hơn so với khi còn đất Tỷ lệ thất nghiệp trước và sau khi thu hồi đất tăng
từ 5,22% lên 9,1%; làm thuê, xe ôm tăng từ 4,76% lên 8,4%; buôn bán tăng từ 10,88% lên 13,6% và số người bị thu hồi đất được nhận vào làm trong các khu công nghiệp chỉ có 2,79% Nhiều người sau khi nhận tiền đền
bù, tiền hỗ trợ đã sử dụng vào việc mua sắm phương tiện đi lại, vật dụng sinh hoạt chứ không chú tâm đến việc học nghề, giải quyết việc làm; có gia đình trở nên giàu có sau khi nhận tiền bồi thường, nhưng chỉ sau một vài năm lại rơi vào tình trạng khó khăn do thất nghiệp Thực trạng này chứng
tỏ quá trình đô thị hoá Hà Nội chưa gắn kết và tác động mạnh mẽ đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân Tình trạng thiếu việc làm, dư thừa lao động;
sự phân hoá thu nhập và những khó khăn về đời sống của người nông dân
Hà Nội ngày càng rõ ràng hơn.
Thứ ba, thiếu trầm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao, vì thế, không
đáp ứng được yêu cầu sử dụng và phát triển công nghệ cao trên địa bàn thành phố, bắt đầu có sự “ra đi” của một số nhà đầu tư nước ngoài (hãng SONY đóng cửa là dấu hiệu đáng nói do không thể bán được mặt hàng chất lượng kỹ thuật như hiện nay) Mô hình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hợp lý mà hiện nay đô thị lớn của nhiều nước đã làm là xây dựng các khu “sinh dưỡng công nghiệp” khu “:nuôi dưỡng công nghiệp” để cải tiến
Trang 20công nghệ và đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao chưa được phát triển trên địa bàn thành phố.
b Cơ sở hạ tầng đô thị chưa đảm bảo các tiêu chuẩn phát triển đô thị hiện đại
Đầu tiên, phải kể đến sự không đồng bộ giữa đô thị hóa với hệ thống cơ
sở hạ tầng giao thông: (i) tính tất cả các loại đường giao thông thì Hà Nội mới chỉ đạt 1,24 km đường/km2, quỹ đất dành cho giao thông rất ít, chỉ đạt dưới 8% đất đô thị ( dưới 40% mức hợp lý cho đô thị), hạ tầng lạc hậu, nhỏ
bé không đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống, (ii) Mạng lưới đường giao thống không hợp lý, không liên hoàn để tạo giao thông thông suốt, thiếu tổ chức phân luồng giao thông hợp lý; (iii) Về giao thông công cộng Hà Nội mới đáp ứng chưa quá 15% nhu cầu đi lại.; (iv) sự gia tăng nhanh của các phương tiện cá nhân chưa được kiểm soát, ý thức của một số người dân tham gia giao thông chưa được cao; ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường còn diễn ra nghiêm trọng.
Trang 21Kế đến là sự bất cập về cơ sở hạ tầng cấp, thoát nước.Về cấp nước: Tỷ lệ bao
phủ dịch vụ cấp nước còn thấp, bình quân 70-80%, một số đô thị lớn đạt 90%, các thị trấn đạt khoảng 50- 60%; tiêu chuẩn cấp nước bình quân 90-120l/người/ngày; chất lượng dịch vụ cấp nước chưa ổn định; Hệ thống cấp nướcsạch chưa bảo đảm yêu cấu chất lượng, tỷ lệ đường ống cũ đang được sử dụngtrong mạng lưới đường ống cấp nước trong các đô thị Hà Nội cũn cao Mạnglưới thoát nước trở nên đáng lo ngại hơn cả: Năng lực thoát nước tại đô thị HàNội hiện nay chỉ đạt 35% so với nhu cầu, làm cho hiện tựợng úng ngập trở thành
80-những “thảm họa” đối với đô thị Hà Nội Năm 1995, Hà Nội có 110 hồ với hơn
2.100 ha, trong tổng diện tích đất xây dựng 10.000ha, song trên thực tế hiện nay
đã san lấp hết 30% diện tích hồ trong khi đó lại không có hồ mới Hồ Yên Sở dựđịnh là 130ha thì hiện không xây dựng đủ, trong khu đô thị Ciputra dự kiến có30ha hồ song nhà đầu tư vẫn không đào Khu Yên Hoà có 20 ha mặt nước song
Trang 22thực tế không có Khu Mỹ Đình dự kiến có công viên và hồ khoảng 10ha songkhông ai làm Trong quy hoạch đều có hồ song các chủ đầu tư chỉ làm nhà màkhông đầu tư đào hồ.
c Ô nhiễm môi trường đô thị Hà nội trở thành điểm “điểm nóng” cản trở sự phát triển.
(i) Ô nhiễm môi trường nước trở nên cực kỳ nghiêm trọng: hệ thống thoát
nước thải, nước mưa còn yếu kém so với quy mô đô thị hóa, thường xuyên gây ra úng ngập trong mùa mưa, chất lượng nước thải đều không đạt tiêu chuẩn loại B Các kênh, mương, sông thoát nước như các sông Tô Lịch, Kim Ngưu, Sét, Lừ đều bị ô nhiễm trầm trọng do hàng ngày phải tiếp nhận khối lượng lớn nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp chưa qua xử lý (ví dụ lượng nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp trung bình của thành phố Hà Nội xấp xỉ 450.000 m 3 /ngày.đêm) Các hồ trong nội thành cũng đều đã bị ô nhiễm chủ yếu do nước thải sinh hoạt không qua xử lý và rác thải đô thị đổ trực tiếp vào hồ 9/ 11 khu công nghiệp của Hà Nội chưa xây dựng hoàn chỉnh hệ thống nước thải tập trung.
(ii) Hà Nội đang là một (trong hai) thành phố ô nhiễm nhất cả nước về môi trường không khí Hơn thế nữa, Nghiên cứu của UNFPA cho thấy, chất
lượng không khí tại Hà Nội còn thuộc vào loại tồi nhất trong khu vực.Tính trung bình trên toàn thành phố, nồng độ bụi gấp 1,5 đến 3 lần tiêu chuẩn cho phép Thiệt hại do ô nhiễm không khí gây ra đối với Hà Nội ước tính khoảng 1 tỷ đồng/ngày, chưa tính đến thiệt hại đối với với nông nghiệp và cây xanh Kết quả quan trắc môi trường không khí cho thấy nồng độ SO 2 ,
CO, NO 2 trong các KCN đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 6 lần Tại các nút giao thông lớn, các điểm gần khu công nghiệp hoặc trong các khu công nghiệp đang có chiều hướng gia tăng ô nhiễm môi trường cục bộ Nồng độ bụi tại ven các trục giao thông đều đã vượt tiêu chuẩn cho phép Tại một số làng nghề như làng nghề truyền thống Bát Tràng (Hà Nội), tình trạng ô nhiễm không khí là vấn đề hết sức bức xúc.
(iii) Ô nhiễm môi trường chất thải rắn ngày càng gia tăng do việc mở rộng
sản xuất công nghiệp, đô thị hoá và mức tiêu thụ dân cư tăng lên Các khu công nghiệp trên địa bàn thải khoảng 30% tổng lượng rác thải công nghiệp
Trang 23của thành phố Hà Nội Việc thu gom, vận chuyển rác thải chỉ thực hiện trong phạm vi từng nhà máy, việc xử lý chủ yếu thực hiện bằng các lò đốt tương đối đơn giản với vốn đầu tư khá khiêm tốn; rác thải ra khỏi nhà máy gần như chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu Tỷ lệ thu gom rác thải rắn mới chỉ đạt 60% Đặc biệt, các rác thải công nghiệp nguy hại hầu như chưa được xử lý.
IV Hướng tới một đô thị Hà Nội phát triển bền vững
1 Mục tiêu phát triển bền vững trong đô thị hóa Hà Nội
Nhìn tổng quát, đô thị hóa Hà Nội theo hướng bền vững là quá trình kết hợpchặt chẽ, hài hòa của 3 mặt phát triển KT-XH và MT Mục tiêu kinh tế: đạt được
sự tăng trưởng cao và ổn định với cơ cấu kinh tế hợp lý hiện đại; phát triển dịch
vụ - công nghiệp - nông nghiệp, theo hướng ưu tiên các lĩnh vực công nghệ cao,hiệu quả kinh tế lớn, ít gây ô nhiễm MT, phù hợp với hội nhập kinh tế quốc tế.Mục tiêu xã hội: xây dựng Thủ đô thành trung tâm văn hóa tiêu biểu của quốcgia; xây dựng con người mới, thực hiện công bằng xã hội; tập trung giải quyếttình trạng nghèo, tệ nạn xã hội và giải quyết việc làm Mục tiêu về môi trường:tính toán các phương án do tác động của con người với thiên nhiên, chọnphương án tối ưu nhằm nâng cao chất lượng sống cho con người, nhưng vẫn bảođảm cân bằng các hệ sinh thái
Trang 242 Quan điểm chi phối quá trình đô thị hóa Hà Nội theo hướng bền vững
(i) Quá trình đô thị hóa phải dựa trên các nguyên tắc về phát triển bền vững.
Theo quan điểm này, trước hết tốc độ đô thị hóa phải tương xứng với tốc độtăng trưởng kinh tế, tránh các quyết định đô thị hóa vô cớ, đô thị hóa ồ ạt, dẫnđến các dự án đô thị hóa thiếu khả thi Các nhà kinh tế đã đưa ra sự “tươngxứng” này: nếu tốc độ tăng GDP 5% thì tôc độ tăng đô thị hóa chỉ là 8% thôi.Một khía cạnh khác, theo quan điểm này, cần bảo đảm tính đồng bộ trong cácyếu tố cấu thành đô thị, nhất là giữa tăng trưởng kinh tế đô thị với việc phát triển
hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế- kỹ thuật- xã hội của đô thị Theo yếu cầu này,nếu tốc độ tăng GDP 7 - 8% thì tốc độ tăng cơ sở hạ tầng phải đạt 3 - 4%
(ii) Tổ chức phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Hà Nội phải hướng tới một bức tranh về một thành phố hiện đại.
Bức tranh về một thành phố hiện đại được hình thành trên tiêu chí hình hành
và phát triển đô thị “Ba cao – ba lớn” Quan điểm này dựa trên lập luận chủ yếu
là Hà Nội phải thực sự là “bộ mặt” của cả nước không chỉ về kinh tế mà cả trong
tổ chức không gian đô thị.Hà Nội phải thực sự trở thành điểm động lực tăngtưởng và có khả năng thích ứng với tính chất tập trung kinh tế xã hội cao và hiệnđại.“Ba cao”, đó là: nhân lực chất lượng cao, công nghệ cao, không gian cao;
“Ba lớn” bao gồm: tổ chức lớn, sản xuất lớn và phải có những người bạn lớn
(iii) Quá trình đô thị hóa phải nhằm đạt được những “ ưu thế nhờ đô thị hóa” trong phát triển thủ đô.
Tính “ưu thế nhờ đô thị hóa” thể hiện: hệ thống đô thị phải được tổ chức xâydựng đồng bộ để chủ động đáp ứng những yêu cầu của sự tập trung kinh tế và xãhội, nhằm tạo ra các yếu tố thích nghi của môi trường sống, của con người, củacác phương tiện sinh hoạt, của sự ổn định cuộc sống trong điều kiện kinh tế, sảnxuất tập trung hóa cao Tính kinh tế nhờ đô thị hóa còn thể hiện ở việc đa dạnghóa đô thị có thể nuôi dưỡng việc trao đổi ý tưởng và công nghệ, kích thích sựsáng tạo lớn hơn, tạo hiệu ứng lan tỏa tri thức cao hơn và tạo sự tăng trưởngkinh tế mạnh hơn
3 Định hướng chính sách đô thị hóa theo hướng bền vững trong tương lai
Theo quy hoạch thành phố Hà Nội đến 2030: Quy mô dân số của thủ đô HàNội đạt 8 triệu người vào năm 2020, tỷ lệ đô thị hóa đạt 54%; đạt 9 triệu ngườivào năm 2030, tỷ lệ đô thị hóa đạt đến 70% Hà Nội sẽ được tổ chức không giantheo chùm đô thị, bao gồm đô thị trung tâm hạt nhân và 5 đô thị vệ tinh, 13 thị
Trang 25trấn Ngoài ra, phát triển các đô thị đối trọng để đảm trách các chức năng trungtâm của một số ngành dịch vụ, công nghiệp có bán kính 50-60km như HảiDương, Hưng Yên, Phú Lý, Hòa Bình, Việt Trì Với quy mô là một thành phốlớn trong “top” 20 trên thế giới, để bảo đảm các yêu cầu về phát triển bền vững,dưới góc nhìn các khía cạnh về kinh tế, cần hướng các chính sách đô thị hóa HàNội, nhất là các chính sách về tổ chức họat động và tổ chức không gian kinh tếcủa Hà Nội theo các nội dung sau đây:
(i) Tổ chức hoạt động kinh tế trong các khu đô thị Hà Nội phù hợp với điều kiện hình thành và phát triển của từng loại đô thị.
Theo quan điểm địa kinh tế mới, để bảo đảm tính kinh tế nhờ đô thị, cần có
sự phân công tổ chức sản xuất, tổ chức lao động xã hội theo hợp lý dựa theo quy
mô và trình độ phát triển cũng như độ dày về thời gian các từng loại đô thị trênđịa bàn Hà nội Theo đó:
- Đối với các khu đô thị lớn: bao gồm đô thị hạt nhân, trung tâm, cần hướng môhình tổ chức theo xu hướng phát triển đa dạng hóa cao và định hướng dịch vụnhiều hơn; đây cũng là nơi sáng tạo, phát kiến, ươm trồng và nuôi dưỡng cácdoanh nghiệp mới và loại dần các ngành đã trưởng thành Các đô thị lớn, chủyếu tập trung vào dịch vụ, chế tạo sản phẩm hàng hóa không theo quy chuẩn, vàcác hoạt động nghiên cứu triển khai (R&D)
- Các đô thị có quy mô trung bình và nhỏ, bao gồm đô thị vệ tinh, các thị trấn,
đô thị mới thành lập, cần được tổ chức ngay từ đầu theo hướng chuyên môn hóasâu và sản xuất đại trà, quy mô lớn đối với các ngành, sản phẩm đã trưởngthành Khi đó các ngành, các doanh nghiệp có điều kiện chia sẻ với nhau nhữngquy trình sản xuất tương tự, hoặc sự chuyên môn hóa, sử dụng tính kinh tế nhờchuyên môn hóa sâu theo quy trình cung cấp và tiêu thụ sản phẩm lẫn cho nhau
(ii) Chính sách phát triển đô thị của thành phố cần có sự phân biệt đối với từng loại đô thị Các chính sách phải dựa trên những đặc điểm khác nhau về lịch sử
hình thành và phát triển của từng loại đô thị để thực hiện việc ưu tiên và phốihợp hợp lý
- Đối với các khu vực bắt đầu đô thị hóa, mục tiêu phải là hỗ trợ sự chuyển đổi
tự nhiên giữa nông thôn và thành thị
- Các khu đô thị hóa ở giai đoạn giữa, sự tăng trưởng mạnh mẽ ở đô thị gây ra sựtắc nghẽn ngày càng tăng, cần có chính sách tập trung giảm sự tắc nghẽn vàkhoảng cách kinh tế, sử dụng tính kinh tế nhờ mạng lưới, bao gồm đầu tư cao cơ
sở hạ tầng để tăng cường tính liên kết bên trong khu đô thị và khuyến khích cácquyết định lựa chọn địa bàn hoạt động có hiệu quả về mặt xã hội của các đơn vịkinh tế
Trang 26- Đối với các khu vực đô thị hóa phát triển ở trình độ cao, điều quan trong là cácchính sách cần tập trung vào phát triển hệ thống khu dân cư sinh sống hiện đại,bảo đảm tiêu chí đô thị phát triển theo chiều cao và chiều sâu, bảo đảm vấn đềmôi trường và chất lượng cuộc sống.
(iii) Các chính sách đầu tư hướng tới quan điểm phát triển hiện đại, bền vững, đồng bộ về cấu trúc kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng
Quá trình đô thị hóa nói riêng và phát triển Hà Nội nói chung phải bảo đảm cho
Hà Nội phát triển ổn định và bền vững kinh tế; trình độ dân trí và nguồn nhânlực; trình độ quản lý đô thị; dịch vụ đô thị; cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội; đôthị sinh thái Mặt khác phải chú trọng đến việc phát triển đô thị Hà Nội trong sựhợp tác phối hợp và phát triển đồng bộ với Vùng Thủ đô, Vùng đồng bằng sôngHồng theo tiêu chí phát triển bền vững, trong đó Hà Nội có vị trí là đô thị hạtnhân, đóng vai trò chủ đạo Vì vậy, các chính sách đô thị hóa Hà Nội phải tậptrng vào xây dựng và triển khai có hiệu quả các chương trình chương trình pháttriển kinh tế-xã hội trên từng lĩnh vực và chương trình về xây dựng, phát triển vàquản lý đô thị, trong đó ưu tiên đầu tư hạ tầng, hình thành vành đai xanh baoquanh trung tâm đô thị hạt nhân và liên kết đô thị vệ tinh; phối hợp các tỉnh,thành phố trong vùng có kế hoạch phát triển các loại hình dịch vụ, du lịch,thương mại, y tế, đào tạo, công nghiệp Đầu tư hệ thống cung cấp nước sạch,triển khai công nghệ xử lý nước thải, chuyển xử lý rác thải theo công nghệ tiêntiến và tái chế, tái sử dụng vừa có tính phục vụ từng đô thị và cả vùng Để đạtđược mục tiêu trên, quá trình ban hành các quyết định, chương trình, chính sách,quy hoạch và kế hoạch hành động phải đồng bộ, kết hợp hiệu quả các yếu tốngắn hạn, dài hạn về kinh tế-xã hội-môi trường và bảo đảm sự tham gia rộng rãicủa cộng đồng trong các vấn đề liên quan Các cấp chính quyền phải giám sát,kiểm tra hoạt động quy hoạch đô thị và xây dựng, cải tạo theo quy hoạch, đàotạo phát triển nguồn nhân lực đi đôi với cải thiện hệ thống tổ chức quy hoạch vàquản lý đô thị các cấp, trên cơ sở có sự phối hợp đồng bộ của các ngành chứcnăng, các tỉnh, thành phố lân cận, việc phát triển đô thị bền vững ở Thủ đô và cảvùng, khu vực
CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SỰ MỞ RỘNG ĐÔ THỊ TỪ ẢNH
VỆ TINH
Trang 27
2.1 Phương pháp đo đạc truyền thống
Phương pháp đo đạc truyền thống đó là công việc đo đạc trực tiếp từng đối tượng sử dụng đất sau đó thống kê tổng hợp để thành lập bản đồ hiện trạng cũngnhư bản đồ biến động sử dụng đất từ đó suy ra sự mở rộng đô thị dựa vào đất xây dựng
Ưu điểm của phương pháp này:
- Tiếp cận trực tiếp được với các đối tượng cần nghiên cứu
- Phân loại một cách chi tiết các đối tượng
- Kết quả thu được có độ chính xác cao
Nhược điểm:
- Mất nhiều thời gian và tốn kém về mặt kinh tế
- Phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết và địa hình khu đo do phương pháp nàyphụ thuộc vào các điều kiện ngoại nghiệp
- Không thu được dữ liệu một cách liên tục theo thời điểm cần quan trắc biến động
- Phương pháp này gặp nhiều hạn chế trong nghiên cứu biến động các yếu tố môi trường
3 Phương pháp đo đạc trên ảnh hàng không
Đây chính là phương pháp đo đạc gián tiếp các đối tượng qua các hình ảnh thu được từ các thiết bị chụp ảnh hàng không, giúp ta xác định được vị trí, hình dáng, kích thước, mỗi quan hệ tương hỗ giữa các đối tượng đo từ đó xây dựng các bản đồ hiện trạng cũng như biến động các đối tượng
Ưu điểm của phương pháp này:
- Có khả năng đo đạc tất cả các đối tượng đo mà không nhất thiết phải tiếp xúc hoặc đến gần chúng, miễn các đối tượng này có thể chụp ảnh được (bằng phim toàn sắc, phim màu hoặc phim quang phổ)
- Nhanh chóng thu được các tư liệu đo đạc trong thời gian chụp ảnh, giảm nhẹ công tác ngoài trời, tránh các ảnh hưởng của thời tiết đối với công tác đo đạc
- Có thể đo trong cùng một thời điểm nhiều điểm đo khác nhau của các đối tượng đo
Nhược điểm:
Trang 28- Nhược điểm chủ yếu của phương pháp đo ảnh là trang bị kỹ thuật cồng kềnh
và đắt tiền, đòi hỏi những điều kiện nhất định trong sử dụng và bảo quản, đặc biệt là đối với khí hậu nhiệt đới ở nước ta
- Yêu cầu trình độ trình độ của cán bộ chuyên môn phải cao.
4 Phương pháp đo đạc trên ảnh viễn thám
Để khắc phục những hạn chế của các phương pháp đo đạc truyền thống, viễn thám đã được đưa vào sử dụng với nhiều ưu điểm nổi trội
Ưu điểm của phương pháp :
- Độ phủ trùm không gian của tư liệu, phương pháp này có thể nghiên cứu biến động trên các khu vực có phạm vi khác nhau, ở các thời điểm khác nhau.
- Phương pháp có thể được áp dụng nghiên cứu trên những khu vực
có điều kiện địa hình, thời tiết phức tạp nơi mà phương pháp đo đạc truyền thống khó có thể thực hiện được.
- Xử lý nhanh và có hiệu quả kinh tế.
- Đảm bảo được độ chính xác cần có và các yêu cầu kỹ thuật.
- Thuận tiện trong nghiên cứu biến động các yếu tố môi trường.
Nhược điểm của phương pháp :
- Với khu vực nhỏ, chi phí cho nghiên cứu bằng phương pháp viễn thám và GIS sẽ đắt hơn các phương pháp truyền thống.
- Phương pháp này đòi hỏi yêu cầu trình độ của cán bộ chuyên môn phải cao, đội ngũ cán bộ làm được còn hạn chế.
- Nhiều dạng đối tượng có thể bị lẫn vào nhau, không phân biệt được trên ảnh.
6 Phương pháp phân loại bằng mắt
Giải đoán bằng mắt là sử dụng mắt người cùng với trí tuệ để tách chiết các thôngtin từ tư liệu viễn thám dạng hình ảnh Trong việc xử lý thông tin viễn thám thì giải đoán bằng mắt (visual interpretaion) là công việc đầu tiên, phổ biến nhất và
có thể áp dụng trong mọi điều kiện có trang thiết bị từ đơn giản đến phức tạp
Trang 29Việc phân tích ảnh bằng mắt có thể được trợ giúp bằng một số thiết bị quang học từ đơn giản đến phức tạp như kính lúp, kính lập thể, kính phóng đại, kính tổ hợp mầu, nhằm nâng cao khả năng phân tích của mắt người Phân tích ảnh bằng mắt là công việc có thể áp dụng một cách dễ dàng trong mọi điều kiện và
có thể phục vụ cho nhiều nội dung nghiên cứu khác nhau: nghiên cứu lớp phủ mặt đất, nghiên cứu rừng, thổ nhưỡng, địa chất, địa mạo, thuỷ văn, sinh thái, môi trường (Hà Văn Hải, 2002)
Nhìn chung, có thể chia các yếu tố giải đoán thành 8 nhóm chính sau:
- Kích thước: Kích thước của đối tượng tùy thuộc vào tỷ lệ ảnh, kích thước có thể được xác định nếu lấy kích thước đo được trên ảnh nhân với nghịch đảo tỷ lệcủa ảnh (cần phải chọn một tỷ lệ ảnh phù hợp để giải đoán)
- Hình dạng: Là đặc trưng bên ngoài tiêu biểu cho đối tượng và có ý nghĩa quan trọng trong giải đoán ảnh Hình dạng đặc trưng cho mỗi đối tượng khi nhìn từ trên cao xuống được coi là dấu hiệu giải đoán ảnh quan trọng (ruộng thường có dạng hình vuông hay chữ nhật, khu vực chung cư cao tầng khác với nhà riêng lẻ…)
Hình 2.14: Kích thước và hình dạng của nhà là khác nhau: nhà ở, sân vận
động, sân tennis, bụi cây…
- Bóng râm: Khi nguồn phát năng lượng (mặt trời hay radar) không nằm ngay trên đỉnh đầu hoặc trong trường hợp chụp ảnh xiên sẽ xuất hiệnbóng của đối tượng Căn cứ theo bóng của vật thể xác định được chiều cao của chúng, trong ảnh radar bóng râm là yếu tố giúp cho việc xác định địa hình và hình dạng mặt đất Tuy nhiên, bóng râm trong ảnh vệ tinh quang học thường làm giảm khả năng giải đoán đối với khu vực nhiều nhà cao tầng, rất khó khăn trong việc xác định diện tích của vật thể
Trang 30Hình 2.15: Bóng của đối tượng
- Độ đậm nhạt: Là tổng hợp năng lượng phản xạ bởi bề mặt của đối tượng Mỗi vật thể được thể hiện bằng một cấp độ sáng nhất định tỷ lệ với cường độ phản xạánh sáng của nó (ảnh đen trắng biến thiên từ trắng đến đen tuyền, ảnh màu thì tone ảnh sẽ cho độ đậm nhạt màu để phân biệt các vật thể khác nhau) Độ đậm nhạt của ảnh là yếu tố rất quan trọng và cơ bản trong việc giải đoán ảnh
- Màu sắc: Là một yếu tố rất thuận lợi trong việc xác định chi tiết các đối tượng
Ví dụ, các kiểu loài thực vật vật có thể được phát hiện dễ dàng qua màu sắc (ngay cả cho những người không có kinh nghiệm) Trong giải đoán ảnh khi sử dụng ảnh hồng ngoại màu, các đối tượng khác nhau sẽ có tổ hợp màu khác nhau,đặc biệt sử dụng ảnh đa phổ tổ hợp màu Tùy theo mục tiêu giải đoán, việc chọn lựa các kênh phổ để tổ hợp màu sẽ hiển thị được tốt nhất các đối tượng mà người giải đoán quan tâm
Hình 2.16: Độ đậm nhạt và màu sắc của: nước biển, nước hồ, rừng…
- Cấu trúc: Là tần số lặp lại của sự thay đổi cấu trúc ảnh cho một khu vực cụ thể trên ảnh quang học Cấu trúc còn là một tập hợp của nhiều hình mẫu (đối tượng)
Trang 31nhỏ phân bố thường theo một quy luật nhất định trên một vùng ảnh mà trong một mối quan hệ với đối tượng cần nghiên cứu, các đối tượng nhỏ này sẽ quyết định đối tượng đó có cấu trúc là mịn hay sần sùi.
Hình 2.17: Cấu trúc mịn của nước biển và cỏ, cấu trúc thô của cây
- Hình mẫu: Liên quan đến việc sắp xếp của các đối tượng về mặt không gian
và mắt người giải đoán có thể phân biệt được Đây là dạng tương ứng với vật thểtheo một quy luật nhất định, nghĩa là sự lặp lại theo trật tự cụ thể của ảnh hay cấu trúc sẽ tạo ra sự phân biệt và đồng thời có thể nhận biết được hình mẫu Hình mẫu cung cấp thông tin từ sự đồng nhất về hình dạng của chúng
Hình 2.18: Hình mẫu đều của nhà trong khu dân cư, hình mẫu không đều của
cây trong công viên và dọc đường giao thông
- Mối liên quan: Sự phối hợp tất cả các yếu tố giải đoán, môi trường xung quanhhoặc mối liên quan của đối tượng nghiên cứu với các đối tượng khác sẽ cung cấp một thông tin giải đoán quan trọng để giảm nhẹ việc xác định chính xác đối tượng
Trang 32Hình 2.19: Chiều cao, vị trí, sự kết hợp
Khóa giải đoán ảnh là chuẩn giải đoán cho đối tượng nhất định bao gồm tập hợpcác yếu tố và dấu hiệu do nhà giải đoán thiết lập, nhằm trợ giúp cho công tác giải đoán nhanh và đạt kết quả chính xác thống nhất cho các đối tượng từ nhiều người khác nhau
Kết quả giải đoán chủ yếu phụ thuộc vào khóa giải đoán, thông thường khóa giảiđoán được thành lập dựa trên những vùng nghiên cứu thử nghiệm đã được điều tra kỹ lưỡng Bằng cách sử dụng khóa giải đoán, người giải đoán có thể phát triển mở rộng và phân tích cho nhiều vùng khác trên cơ sở cùng một loại tư liệu cũng như cùng mùa và thời gian chụp ảnh do đó giúp cho công tác giải đoán nhanh hơn và đảm bảo được tính thống nhất trong quá trình giải đoán
7 Phân loại ảnh vệ tinh bằng phương pháp xử lý sốPhân loại ảnh vệ tinh bằng phương pháp xử lý số: Hiện nay có rất nhiều phương pháp phân loại cho
dữ liệu ảnh viễn thám, nhưng nhìn chung, phương pháp tiếp cận phân loại ảnh viễn thám có thể được nhóm lại bao gồm các nhóm chính sau: có giám sát và không giám sát, hoặc phân loại có tham số và không (mờ) tham số, hoặc cứng
và mềm, hoặc dựa trên điểm ảnh, sub-pixel và vùng đối tượng
- Phân loại dựa trên pixel:
+ Phân loại không kiểm định
Là việc phân loại thuần túy theo tính chất phổ mà không biết rõ tên hay tính chấtcủa lớp phổ đó và việc đặt tên chỉ là tương đối dựa vào việc phân lớp phổ
(Chistens)
+ Phân loại có kiểm định:
Trang 33Là phân chia một cách có kiểm định các giá trị DN (Digital Number) của các pixel ảnh theo từng nhóm đơn vị lớp phủ mặt đất bằng việc sử dụng máy tính và các thuật toán Để thực hiện việc phân loại có kiểm định, phải tạo được “chìa khoá phân tích phổ” nghĩa là tìm được tính chất phổ đặc trưng cho từng đối tượng lớp phủ mặt đất và đặt tên cho chúng Công việc xác định chìa khoá phân tích phổ được gọi là tạo các vùng mẫu (hay vùng kiểm tra – trainning areas) Từ các vùng này, các pixel khác trong toàn ảnh sẽ được xem xét và sắp xếp theo nguyên tắc “giống nhất” (Look must like) để đưa về các nhóm đối tượng đã được đặt tên Trong phân loại có kiểm định có một số phương pháp thường được
sử dụng là: phân loại hình hộp (Parallelpiped Classification), phân loại theo khoảng cách nhỏ nhất (Minimum distance Classification), phân loại hàm xác suất cực đại (Maximum Likelihood Classification)
Ưu điểm của phương pháp phân loại dựa trên pixel: Tận dụng được hết thông tin trên tất cả các kênh ảnh Rất ít phụ thuộc vào trình độ của người giải đoán, do thuật toán phân loại được máy tính thực hiện Các thuật toán phân loại được kiểm tra và tùy biến nhiều lần Các chỉ tiêu phân loại là định lượng, không phụ thuộc vào cảm tính của người giải đoán Dễ dàng kết hợp với các phương pháp chiết xuất thông tin phi phân loại khác như tính toán chỉ số thực vật; tính toán sinh khối… Tuy nhiên trong phương pháp này các ảnh phân loại chỉ đơn thuần dựa vào giá trị các pixel không thể liên kết với các cảnh quan xung quanh nên nhiều trường hợp sẽ bị giải đoán nhầm các đối tượng làm giảm độ chính xác của kết quả phân loại.
- Phân loại mờ (fuzzy classification):
Lý luận mờ là một phương pháp toán học nhằm lượng hóa các phát biểu mơ hồ
Ý tưởng cơ bản là thay thế hai phát biểu lý luận nghiêm ngặt “có” và “không” bởi dãy liên tục [0…1], mà 0 nghĩa là “không chính xác” và 1 là “chính xác” Mọi giá trị giữa 0 và 1 đại diện một phát biểu ít nhiều chắc chắn của “chính xác”
và “không chính xác” Vì vậy, các hệ phân loại mờ thích hợp tốt với việc xử lý hầu hết các vấn đề trong tách thông tin viễn thám
Tuy nhiên do các loại thuộc lớp phủ mặt đất khá đa dạng nên việc chỉ định chínhxác pixel đến từng loại cụ thể là không đơn giản Mục tiêu phân loại là tìm sự phù hợp 1 - 1 giữa thông tin phổ của pixel và thông tin loại tương ứng (dựa vào
Trang 34bộ dữ liệu mẫu) và mong muốn sự phân loại đạt sự chính xác cao nhất Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều trường hợp gặp phải bởi các phương pháp phân loại truyền thống đó là sự không phân biệt rõ ràng giữa “chính xác” và “không chínhxác”.
- Phương pháp phân vùng đối tượng
Phân vùng đối tượng được thiết kế để phân phối sự không đồng nhất về môi trường, cải thiện độ chính xác phân loại GIS đóng vai trò quan trọng trong việc phân vùng đối tượng Với hệ thống định vị vệ tinh cung cấp một phương tiện để thực hiện phân loại cho mỗi lĩnh vực qua việc kết hợp các dũ liệu vector và raster Các dữ liệu vector thường được dùng để phân chia ảnh đầu thành các vùng nhỏ tách rời thỏa mãn tính đồng nhất và liên thông bằng các nhóm pixel gần kề nhau thành nhóm dựa trên tiêu chí giống nhau định trước nào đó Các phương pháp phân vùng đối tượng:
+ Phân vùng theo điểm ảnh: dựa trên các thống kê mức xám đồ của ảnh để tạo racác vùng đóng thuộc về các đối tượng có trong ảnh Đây là phương pháp phân vùng đơn giản nhất, tính toán nhanh, có thể thực hiện dễ dàng trong thời gian thực, sử dụng phần cứng chuyên biệt
+ Phân vùng dựa theo đường biên: dựa trên thông tin về đường biên của ảnh để xác định đường bao của các đối tượng Các đường bao này sau đó được phân tích, sửa đổi nếu cần thiết nhằm tạo ra các vùng đóng thuộc về các đối tượng có trong ảnh
+ Phân vùng dựa theo miền: các pixel được phân tích một cách trực tiếp trong quá trình phát triển vùng dựa trên một tiêu chí giống nhau cho trước để hình thành nên các vùng đóng thuộc về các đối tượng có trong ảnh Khi các vùng được xác đinh, các đặc điểm có thể được tính toán để biểu diễn vùng nhằm mô
tả, phân tích, phân loại Các đặc điểm có thể là thông tin về hình dạng, cấu trúc của vùng cũng như các thông tin xác suất
- Phương pháp phân loại định hướng đối tượng
Nguyên lý của phương pháp này được xây dựng trên khái niệm cho rằng tập hợpcác pixel của ảnh sẽ hình thành nhiều đối tượng chuyên đề mà mắt ta có thể nhận biết
Trang 35Bước xử lý cơ bản trong phân tích đối tượng ảnh là các phân mảnh ảnh
(segment) chứ không phải pixel Để mắt người nhận biết được đối tượng đã được phân mảnh (segmentation) thì hàng loạt thông tin đã được xử lý Các thôngtin này dùng để mô tả một số đặc điểm hình dạng (shape) kiến trúc ảnh (texture),các quan hệ không gian (topology) của đối tượng được phân loại và cách tích hợp các thông tin này chính là các quy tắc cần được xây dựng để phần mềm có thể phân biệt các đối tượng Trong quá trình phân loại chúng ta còn có thể sử dụng các lớp thông tin chuyên đề ngoài dữ liệu viễn thám như mô hình số độ cao, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ địa chất, bản đồ sử dụng đất Việc tích hợp cácthông tin nói trên trong phân loại định hướng đối tượng dựa chủ yếu vào logic
mờ (fuzzylogic) (Ravi Chauhan, Nitin K Tripathi et al 2004)
Đặc điểm của phân loại định hướng đối tượng:
+) Mỗi đối tượng có thể được phân loại bằng một thuật toán khác nhau chứ không phải bằng một thuật toán thống nhất
+) Nguyên ký phân cấp đối tượng: Quy trình phân loại bao gồm các bước xác định đối tượng ở các cấp bậc khác nhau Ví dụ: các lớp đối tượng thực vật được gộp lại thành một lớp và dưới đó là các phụ lớp của các lớp thực vật cụ thể Cách phân chia như vậy đảm bảo rằng mỗi đối tượng được phân loại theo một thuật toán khác nhau nhưng các đối tượng thuộc cùng một nhóm sẽ có thể kế thừa các đặc trưng chung của nhóm đó Hệ thống cấp bậc này được xắp xếp theomột mạng lưới có cấu trúc chặt chẽ
Trang 36Hình 2 20: Mạng phân cấp đối tượng ảnh
Cấu trúc của việc phân bậc đảm bảo theo hai quy tắc sau :
- Đường bao đối tượng bậc cao phải theo đường bao của các đối tượng bậcthấp hơn
- Đối tượng bậc thấp hơn bị phân mảnh trong phạm vi đường bao của các đối tượng bậc cao hơn
Trên những dữ liệu khác nhau thì mức độ phân cấp các đối tượng cũng khác nhau Hình dạng của đối tượng được dựa trên sự tập hợp của các đối tượng phụ.Trong phương pháp phân loại định hướng đối tượng ta cần nắm rõ được các vấn
đề như: đặc trưng phổ của dữ liệu viễn thám, lựa chọn tỷ lệ thích hợp cho việc phân mảnh ảnh, xác định bối cảnh và mối phụ thuộc có tính phân cấp giữa các đối tượng, tính bất định của bản thân dữ liệu viễn thám, dữ liệu chuyên đề và khái niêm mờ sử dụng trong phân loại định hướng đối tượng Xuất phát từ đặc điểm hiện trạng sử dụng đất của khu vực nghiên cứu và mục đích của đề tài thì các yếu tố này đề cần được tính đến một cách đầy đủ về phương diện phương pháp luận và phương diện thử nghiệm phân loại để ứng dụng
Trong phương pháp phân loại định hướng thì yếu tố cơ bản sẽ là các đối tượng ảnh Người ta phân biệt hai loại đối tượng: đối tượng nguyên thủy và đối tượng chuyên đề Đối tượng nguyên thủy được dùng trong các bước phân loại trung
Trang 37gian và chúng ta chỉ chiết xuất các đối tượng chuyên đề Với cách hiểu như vậy thì đối tượng nhỏ nhất sẽ là pixel Các đối tượng ảnh có để được khảo sát trong mối liên quan với các đối tượng khác trên ảnh theo mạng phân cấp.
Như vậy, việc lựa chọn phương pháp phân loại định hướng đối tượng là phù hợp
để giải quyết sự lẫn phổ trong quá trình xử lý ảnh Phương pháp này được coi là tối ưu vì nó có khả năng tích hợp với các dữ liệu khác như bản đồ chuyên đề,
mô hình số độ cao và các kiến thức chuyên gia nhằm bổ trợ cho quá trình phân loại ảnh nhằm nâng cao mức độ tin cậy cho kết quả giải đoán