1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TIỂU LUẬN CNXHKH “Lý luận chung về gia đình – thực trạng gia đình ở Việt Nam hiện nay” FULL ĐẦY ĐỦ

36 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận chung về gia đình – thực trạng gia đình ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nhóm sinh viên thực hiện: Lớp POS 361 N, Phạm Thị Thanh Thảo, Đỗ Trần Phương Uyên, Nguyễn Hương Trà, Lê Cao Triều Kha
Người hướng dẫn ThS. (TS.) Nguyễn Tấn Tài
Trường học Trường Đại Học Duy Tân
Chuyên ngành Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 654,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. PHẦN MỞ ĐẦU (4)
    • 1. Tính cấp thiết của đề tài (4)
    • 2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài (5)
    • 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu (5)
    • 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu (6)
    • 5. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài (6)
  • II. PHẦN NỘI DUNG PHẦN LÍ LUẬN (6)
    • 1. Một số quan niệm chung về gia đình và gia đình Việt Nam hiện nay (6)
      • 1.1. Khái niệm và đặc điểm gia đình (6)
      • 1.2. Vị trí, vai trò của gia đình trong xã hội (7)
      • 1.3. Chức năng cơ bản của gia đình (9)
        • 1.3.1. Chức năng sinh đẻ (sinh sản) (9)
        • 1.3.2. Chức năng giáo dục (9)
        • 1.3.3. Chức năng kinh tế (10)
        • 1.3.4. Các chức năng khác (11)
      • 1.4. Những hình thái gia đình phổ biến (11)
    • 2. Cơ sở xây dựng gia đình thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa (12)
      • 2.1. Cơ sở kinh tế – xã hội (12)
      • 2.2. Cơ sở chính trị – xã hội (13)
      • 2.3. Cở sở văn hóa (14)
      • 2.4. Chế độ hôn nhân tiến bộ (14)
    • 3. Sự biến đổi của gia đình Việt Nam trong thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa (17)
      • 3.1. Biến đổi trong quy mô, kết cấu (17)
      • 3.2. Biến đổi các chức năng của gia đình (17)
      • 3.3. Biến đổi trong mối quan hệ gia đình (18)
      • 3.4. Biến đổi chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng (19)
      • 3.5. Biến đổi chức năng giáo dục (xã hội hóa) (20)
      • 3.6. Biến đổi chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm (21)
    • 4. Thực trạng của gia đình Việt Nam hiện nay (22)
      • 4.1. Quy mô gia đình có xu hướng ngày càng nhỏ lại (22)
      • 4.2. Tuổi kết hôn trung bình lần đầu của cả nam và nữ có chiều hướng nâng cao (23)
      • 4.3. Tình trạng hôn nhân không đăng ký (23)
      • 4.4. Hiện tượng chung sống trước hôn nhân (24)
      • 4.5. Số lượng các vụ ly hôn tăng nhanh qua các năm (25)
      • 4.6. Bạo lực giới trong gia đình (26)
      • 4.7. Tệ nạn xã hội thâm nhập vào gia đình (26)
      • 4.8. Tâm lý chuộng con trai còn phổ biến (27)
      • 4.9. Tiềm năng phát triển kinh tế hộ gia đình trong bối cảnh hội nhập kinh tế (28)
    • 5. Phương hướng cơ bản xây dụng và phát triển gia đình việt nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (29)
  • III. LIÊN HỆ BẢN THÂN VỀ VẤN ĐỀ GIA ĐÌNH TẠI VIỆT NAM (30)
    • 1. Vấn đề bạo lực gia đình (30)
    • 2. Vấn đề tình yêu đồng tính song tính và chuyển giới (31)
  • IV. KẾT LUẬN (34)

Nội dung

“Lý luận chung về gia đình – thực trạng gia đình ở Việt Nam hiện nay” “Lý luận chung về gia đình – thực trạng gia đình ở Việt Nam hiện nay”“Lý luận chung về gia đình – thực trạng gia đình ở Việt Nam hiện nay”“Lý luận chung về gia đình – thực trạng gia đình ở Việt Nam hiện nay”“Lý luận chung về gia đình – thực trạng gia đình ở Việt Nam hiện nay”

PHẦN MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội của đất nước, công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đang thúc đẩy sự tiến bộ khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động xã hội Tuy nhiên, quá trình phát triển này cũng tạo ra những thách thức mới đối với các cấu trúc xã hội, đặc biệt là gia đình Bên cạnh những bước tiến tích cực, gia đình còn phải đối mặt với nhiều biến động phức tạp và dấu hiệu của khủng hoảng sớm, phản ánh sự thay đổi trong các giá trị và mối quan hệ truyền thống.

Trong những thập niên qua, gia đình Việt Nam đã trải qua những biến chuyển quan trọng từ hình thái gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại, tự do hơn Gia đình được xem là một thiết chế xã hội đặc biệt, đóng vai trò là tổ ấm mang lại giá trị, hạnh phúc và sự hài hòa trong cuộc sống cá nhân của từng thành viên Sự thay đổi này phản ánh sự phát triển của xã hội Việt Nam theo hướng mở cửa, hội nhập và tiến bộ.

Nghiên cứu về gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các luận cứ khoa học nhằm củng cố và phát triển gia đình Việt Nam Đây là một trong những yếu tố then chốt góp phần thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ngày càng vững mạnh Vì vậy, việc phân tích, hiểu rõ các yếu tố liên quan đến gia đình là rất cần thiết để đề xuất các giải pháp phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững của cộng đồng.

Thực trạng gia đình luôn là vấn đề được giới nghiên cứu và các nhà quản lý, hoạch định chính sách quan tâm theo dõi

Việc nắm bắt thực trạng gia đình qua các giai đoạn là nền tảng quan trọng để phát triển các chính sách và đề tài nghiên cứu mới phù hợp với những biến đổi kinh tế, xã hội của đất nước Trong 15 năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của đời sống gia đình, do các cơ quan khoa học, tổ chức xã hội và nhà nghiên cứu thực hiện, đi kèm với các số liệu thống kê và điều tra xã hội học liên quan Dựa trên các kết quả nghiên cứu và dữ liệu đã có, đề tài “Lý luận chung về gia đình – thực trạng gia đình ở Việt Nam” được chọn để phân tích và đề xuất các giải pháp phù hợp với thực tế hiện nay.

Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích của bài viết là làm sáng rõ những lý luận chung của chủ nghĩa xã hội khoa học về vai trò của gia đình và liên hệ với sự biến đổi chức năng gia đình trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Bài viết cũng phân tích thực trạng gia đình hiện nay tại nước ta, giúp độc giả nhận thức rõ về tầm quan trọng của gia đình đối với cá nhân và xã hội.

Gia đình giữ vai trò là nền tảng của xã hội, là nơi hình thành các giá trị đạo đức, truyền thống và nhân cách cho các thế hệ Trong bối cảnh chuyển đổi từ nền kinh tế truyền thống sang xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cấu trúc và chức năng của gia đình Việt Nam đã có sự biến đổi rõ rệt Gia đình không chỉ còn là nơi chăm sóc, nuôi dưỡng mà còn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa và xây dựng cộng đồng vững mạnh Tuy nhiên, thực trạng của gia đình Việt Nam hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức như sự tan vỡ gia đình, mất cân bằng giữa công việc và cuộc sống, và các vấn đề xã hội liên quan đến trẻ em, giới trẻ, và các gia đình nghèo Những thay đổi này phản ánh quá trình phát triển xã hội song song với những tác động tích cực và tiêu cực, đòi hỏi các giải pháp phù hợp để bảo vệ và củng cố giá trị truyền thống của gia đình trong thời kỳ đổi mới.

Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu: Gia đình trên toàn Thế giới và đặc biệt là gia đình ở Việt Nam

+ Phạm vi nghiên cứu: Trên toàn thế giới và Việt Nam, đặc biệt là Việt Nam trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

+ Cơ sở lý luận: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu bao gồm phân tích và đánh giá tổng hợp các vấn đề liên quan để làm rõ nội dung cần khám phá Ngoài ra, phương pháp logic, so sánh và đối chiếu được sử dụng để xem xét các vấn đề trong các giai đoạn và thời kỳ lịch sử cụ thể, giúp xác định các yếu tố quan trọng và đảm bảo tính khách quan của quá trình nghiên cứu.

Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài

Đề tài nghiên cứu làm rõ các lý luận chung về vấn đề gia đình và các cơ sở lý luận xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa, giúp hiểu rõ vai trò và chức năng của gia đình trong bối cảnh mới Trên phương diện thực tiễn, nghiên cứu phân tích tác động và nguyên nhân của những biến đổi trong chức năng gia đình tại Việt Nam, từ đó đánh giá thực trạng các vấn đề gia đình hiện nay Các nội dung này nhằm đề xuất các giải pháp phù hợp để hỗ trợ quá trình xây dựng và phát triển gia đình trong giai đoạn đổi mới, góp phần thúc đẩy tiến trình xây dựng xã hội công bằng, văn minh.

PHẦN NỘI DUNG PHẦN LÍ LUẬN

Một số quan niệm chung về gia đình và gia đình Việt Nam hiện nay

Gia đình là một tổ chức xã hội có từ rất sớm trong lịch sử loài người, bắt nguồn từ các mô hình cộng đồng nhỏ, hình thức sơ khai của gia đình Theo quan điểm của C.Mác và Ph Ăngghen, gia đình là nơi tái tạo cuộc sống hàng ngày và hình thành các mối quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái Cơ sở hình thành của gia đình dựa trên hai mối quan hệ chính: quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống.

Gia đình là thiết chế xã hội quan trọng, nơi những người có quan hệ ruột thịt hoặc cùng chung sống tạo thành nền tảng của cộng đồng Nó là phạm trù biến đổi mang tính lịch sử, phản ánh rõ nét văn hóa của dân tộc và thời đại Gia đình còn được xem như trường học đầu tiên, có mối quan hệ biện chứng với toàn bộ xã hội, góp phần hình thành nhân cách và giá trị đạo đức của cá nhân.

Gia đình là đơn vị xã hội nhỏ, đóng vai trò quan trọng trong đời sống cá nhân dựa trên mối quan hệ hôn nhân và huyết thống Nó gồm các mối quan hệ vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, cũng như giữa anh chị em trong cùng một tổ ấm Gia đình là nền tảng hình thành các giá trị, chuẩn mực xã hội và góp phần xây dựng cộng đồng vững mạnh.

7 thân thuộc khác cùng chung sống và có kinh tế chung

Gia đình là tập hợp các thành viên gắn bó với nhau qua quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, tạo nền tảng cho các nghĩa vụ và quyền lợi theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình Đây là hình mẫu các mối quan hệ gắn kết dựa trên sự đoàn kết, trách nhiệm và tình cảm thiêng liêng giữa các thành viên trong gia đình Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nền tảng đạo đức và nhân cách cho các thế hệ tương lai, góp phần xây dựng xã hội ổn định và phát triển bền vững.

Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, gồm những người gắn bó với nhau dựa trên quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng Gia đình cũng mang các quy định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên, góp phần tạo nên sự ổn định và gắn kết trong cộng đồng nhỏ này.

1.2 Vị trí, vai trò của gia đình trong xã hội

Gia đình là “tế bào của xã hội”, mối quan hệ mật thiết giữa gia đình và xã hội giống như sự tương tác hữu cơ của quá trình trao đổi chất để duy trì sự sống của cộng đồng Xã hội mạnh mẽ, phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các gia đình tiến bộ và hạnh phúc, góp phần vào sự phát triển hài hòa của xã hội Trình độ phát triển của xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến hình thức, tính chất, kết cấu và quy mô của gia đình trong từng giai đoạn lịch sử Theo C.Mác, các hình thức như tôn giáo, gia đình, nhà nước, pháp quyền, đạo đức, khoa học, nghệ thuật chỉ là những biểu hiện đặc thù của quá trình sản xuất, phản ánh quy luật chung của sự phát triển xã hội Thực tế chứng minh rằng, gia đình luôn biến đổi theo các giai đoạn phát triển của xã hội qua từng thời kỳ.

Gia đình đóng vai trò là cầu nối giữa các thành viên trong gia đình và xã hội, giúp xã hội hiểu rõ hoàn cảnh của mỗi cá nhân Thông tin xã hội tác động đến con người thông qua gia đình, góp phần nâng cao nhận thức toàn diện về nhân cách Các hoạt động của gia đình không chỉ thực hiện quyền và nghĩa vụ xã hội mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình quản lý xã hội Sự hợp tác chặt chẽ giữa các thành viên trong gia đình thúc đẩy ý thức công dân và củng cố mối liên hệ thực chất giữa gia đình và cộng đồng.

+ Gia đình là tổ ấm thân yêu đem lại hạnh phúc cho mỗi con người

Trong gia đình, mỗi cá nhân nhận được sự đùm bọc về mặt vật chất và giáo dục về tâm hồn, tạo điều kiện cho trẻ thơ được an toàn và phát triển toàn diện Người già có nơi nương tựa còn người lao động có cơ hội phục hồi sức khỏe và tinh thần thoải mái Hàng ngày, các mối quan hệ thiêng liêng giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái, anh chị em được duy trì và nuôi dưỡng, giúp xây dựng một tổ ấm thực sự nơi mỗi người tìm thấy sự yêu thương, sẻ chia và đồng cảm suốt cả cuộc đời.

Gia đình đóng vai trò là nguồn cung cấp nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội về trình độ và năng lực, những người lao động hiện nay cần có lòng yêu nước sâu sắc, ý thức trách nhiệm công dân, tri thức vững vàng, sức khỏe tốt, kỹ năng lao động giỏi, sống có văn hóa và nghĩa tình Họ cũng cần duy trì tinh thần quốc tế chân chính để góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Gia đình chính là môi trường quan trọng nhất để trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách cho mỗi cá nhân Gia đình góp phần phát triển những phẩm chất tốt đẹp của con người, tạo nền tảng vững chắc cho sự trưởng thành Đây cũng là yếu tố then chốt trong việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

Gia đình là nơi nuôi dưỡng, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, góp phần xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc qua nhiều thế hệ Các giá trị truyền thống quý báu như lòng yêu nước, yêu quê hương, tình thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, thủy chung, hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù, sáng tạo trong lao động, và ý chí kiên cường đã được gia đình Việt Nam giữ gìn và phát huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước Trong bối cảnh xã hội hiện nay, gia đình đóng vai trò trung tâm trong việc xây dựng cộng đồng vững mạnh, vì không thể phát triển một xã hội giàu mạnh và văn minh nếu không dựa trên nền tảng những gia đình ấm no, hạnh phúc, tiến bộ Do đó, xây dựng và duy trì các giá trị tốt đẹp trong gia đình là yếu tố cốt lõi trong mục tiêu xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.

1.3 Chức năng cơ bản của gia đình

Theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, gia đình có ba chức năng cơ bản gồm chức năng sinh đẻ, giáo dục và kinh tế Chức năng sinh đẻ đóng vai trò quan trọng trong việc tái sản xuất con người, giúp duy trì và phát triển nòi giống, đảm bảo sự tồn tại của xã hội Chức năng giáo dục trang bị cho con người các kiến thức cần thiết để phục vụ cuộc sống và thúc đẩy sự phát triển của đất nước, đóng vai trò then chốt trong sự tiến bộ của cộng đồng Chức năng kinh tế của gia đình nhằm tạo ra cuộc sống ấm no, tiền đề để nền kinh tế quốc gia phát triển mạnh mẽ hơn Bên cạnh đó, gia đình Việt Nam còn đảm nhận vai trò quan trọng trong việc chăm sóc, bảo vệ và quan tâm đến người cao tuổi.

1.3.1 Chức năng sinh đẻ (sinh sản)

Gia đình là hình thức tổ chức đời sống chung của xã hội, nơi diễn ra quá trình tái sản xuất sinh học nhằm duy trì và phát triển nòi giống Các quốc gia đều quan tâm đến việc điều tiết chức năng sinh đẻ của gia đình dựa trên yếu tố dân số, nguồn nhân lực và điều kiện kinh tế-xã hội Ở Việt Nam, Nhà nước áp dụng chính sách kế hoạch hóa gia đình nhằm đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội, trong đó quy định mỗi gia đình chỉ nên có từ một đến hai con.

Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục các thế hệ kế tiếp từ khi sinh ra đến trưởng thành và suốt đời Giáo dục gia đình góp phần hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, cần được kết hợp hiệu quả giữa giáo dục gia đình, nhà trường và cộng đồng để bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ một cách toàn diện.

Việt Nam là một quốc gia giữ gìn nét đẹp truyền thống về đạo đức và lối sống thuần phong mỹ tục, vì vậy nội dung giáo dục gia đình cần tập trung vào giáo dục toàn diện, bao gồm phẩm chất đạo đức, kinh nghiệm sống, thái độ, ý thức, cung cách cư xử và tri thức Để phát triển nhân cách con người toàn diện, gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc truyền đạt các giá trị văn hóa, giúp hình thành nhân cách tốt, ý thức trách nhiệm và kỹ năng sống phù hợp với truyền thống dân tộc Đồng thời, việc giáo dục gia đình cần cân đối giữa truyền thống và hiện đại để chuẩn bị cho thế hệ trẻ thích nghi và phát triển trong xã hội ngày càng đổi mới.

Cơ sở xây dựng gia đình thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa

2.1 Cơ sở kinh tế – xã hội

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền tảng kinh tế - xã hội của việc xây dựng gia đình dựa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất và trình độ của lực lượng sản xuất mới, phù hợp với quan hệ sản xuất trong xã hội chủ nghĩa Chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất đóng vai trò cốt lõi, từng bước thay thế sở hữu tư nhân nhằm hình thành và củng cố hệ thống sở hữu mới Sự thay đổi này giúp xoá bỏ nguồn gốc của sự áp bức, bóc lột và bất bình đẳng trong xã hội và gia đình, tạo nền tảng kinh tế vững chắc để xây dựng quan hệ bình đẳng gia đình và hướng tới giải phóng phụ nữ trong xã hội.

V.I.Lênnin đã viết: “Bước thứ hai và là bước chủ yếu là thủ tiêu chế độ tư hữu về ruộng đất, công xưởng và nhà máy Chính như thế và chỉ có như thế mới mở được con đường giải phóng hoàn toàn và thật sự cho phụ nữ, mới thủ tiêu được “chế độ nô lệ gia đình” nhờ có việc thay thế nền kinh tế gia đình cá thể bằng nền kinh tế xã hội hóa quy mô lớn” (2)

(2) V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva.1977, tập 42, tr.464

Xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất là cách để xóa bỏ nguồn gốc gây ra sự thống trị của đàn ông trong gia đình và xóa bỏ bất bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng Khi sự thống trị của đàn ông dựa trên kiểm soát kinh tế, thì nó sẽ tự tiêu tan khi cải thiện quyền bình đẳng và xóa bỏ sở hữu tư liệu sản xuất Việc loại bỏ tư hữu không chỉ giúp chuyển đổi lao động trong gia đình thành lao động xã hội trực tiếp mà còn thúc đẩy sự đóng góp của phụ nữ vào sự phát triển và tiến bộ của xã hội, bất kể họ tham gia lao động trong gia đình hay ngoài xã hội.

Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng khi tư liệu sản xuất trở thành tài sản chung, gia đình cá thể không còn là đơn vị kinh tế độc lập của xã hội, biến nền kinh tế tư nhân thành một ngành lao động xã hội và làm cho việc nuôi dạy con cái trở thành nhiệm vụ của xã hội Điều này góp phần thúc đẩy bình đẳng giới, nâng cao vị trí của phụ nữ trong xã hội Việc xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất cũng tạo điều kiện để hôn nhân được xây dựng dựa trên tình yêu thương, chứ không còn bị chi phối bởi lý do kinh tế, địa vị xã hội hay các tính toán về lợi ích cá nhân.

2.2 Cơ sở chính trị – xã hội

Cơ sở chính trị để xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là việc thiết lập chính quyền nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nhà nước xã hội chủ nghĩa Trong đó, lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân lao động được thực hiện quyền lực của mình mà không phân biệt giới tính, tạo điều kiện thúc đẩy bình đẳng giới trong gia đình Nhà nước đóng vai trò là công cụ xoá bỏ các luật lệ cũ kỹ, lạc hậu, gây bất công cho người phụ nữ, đồng thời thực hiện giải phóng phụ nữ và bảo vệ hạnh phúc gia đình Như V.I Lênin khẳng định, xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ là quá trình kiến tạo nền tảng bình đẳng và tiến bộ xã hội.

Chính quyền xô viết là chính quyền đầu tiên và duy nhất trên thế giới đã xóa bỏ các pháp luật cũ phản động, phân biệt giới tính, và đặc quyền của người đàn ông trong gia đình Chính quyền này đã loại bỏ các luật lệ tư sản, đồi truỵ, đặt người phụ nữ vào vị trí bình đẳng với nam giới Một chính quyền của nhân dân lao động, xô viết đã hủy bỏ tất cả các đặc quyền gắn liền với chế độ tư hữu cũng như những ưu đãi của người đàn ông, hướng tới xây dựng xã hội công bằng, bình đẳng giới.

(3) V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva 1977, t.40, tr.182.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa đóng vai trò quan trọng trong xây dựng gia đình thông qua hệ thống pháp luật và chính sách xã hội Luật Hôn nhân và Gia đình cùng các chính sách về lợi ích công dân, bình đẳng giới, dân số, việc làm, y tế và bảo hiểm xã hội vừa định hướng vừa thúc đẩy quá trình hình thành gia đình mới Hệ thống pháp luật và chính sách xã hội là yếu tố quyết định thành công của việc xây dựng gia đình hạnh phúc trong giai đoạn chuyển tiếp, bởi khi chưa hoàn thiện sẽ giới hạn khả năng xây dựng mái ấm gia đình ổn định và bền vững.

Trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đời sống văn hóa và tinh thần cũng trải qua những biến đổi mạnh mẽ, phản ánh những thay đổi chính trị và kinh tế căn bản Những giá trị văn hóa mới được xây dựng dựa trên nền tảng hệ tư tưởng chính trị của giai cấp công nhân, dần dần chi phối nền tảng văn hóa của xã hội Đồng thời, các yếu tố văn hóa cũ như phong tục tập quán, lối sống lạc hậu cũng từng bước bị loại bỏ để phù hợp với thời kỳ đổi mới.

Phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ đóng vai trò quan trọng trong nâng cao dân trí, kiến thức khoa học và công nghệ của xã hội Nó cung cấp kiến thức và nhận thức mới cho các thành viên trong gia đình, tạo nền tảng cho sự hình thành giá trị và chuẩn mực mới, điều chỉnh các mối quan hệ gia đình trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Thiếu cơ sở văn hóa hoặc cơ sở văn hóa không phù hợp với các yếu tố kinh tế, chính trị sẽ gây ra sự lệch lạc trong xây dựng gia đình và giảm hiệu quả của quá trình này.

2.4 Chế độ hôn nhân tiến bộ

Hôn nhân tiến bộ bắt nguồn từ tình yêu chân thành giữa nam và nữ, là nền tảng quyết định sự hạnh phúc của gia đình Tình yêu luôn là khát vọng universal của con người qua mọi thời đại, đóng vai trò then chốt trong xây dựng một cuộc sống hôn nhân viên mãn Khi hôn nhân không dựa trên nền tảng tình yêu, thì hạnh phúc gia đình sẽ gặp nhiều hạn chế và khó duy trì lâu dài Do đó, việc thúc đẩy hôn nhân dựa trên tình yêu là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của mái ấm.

Hôn nhân bắt nguồn từ tình yêu chân thành, trở thành bước phát triển tự nhiên của mối quan hệ nam nữ Theo Ph.Ăngghen, hôn nhân là kết quả tất yếu của tình yêu, phản ánh sự tự nguyện và cam kết giữa hai người yêu nhau Việc kết hôn dựa trên tình cảm chân thành góp phần xây dựng nền tảng vững chắc cho cuộc sống gia đình hạnh phúc.

Hôn nhân tự nguyện đảm bảo quyền tự do của nam nữ trong việc lựa chọn người kết hôn mà không bị áp đặt bởi cha mẹ Ngay cả khi có nghĩa vụ yêu thương nhau trong hôn nhân, những người đang yêu vẫn không nhất thiết phải kết hôn với nhau hoặc cưới người khác Sự tự nguyện trong hôn nhân không loại trừ vai trò của cha mẹ trong việc quan tâm, hướng dẫn con cái nhận thức đúng đắn và có trách nhiệm trong quyết định hôn nhân.

Hôn nhân tiến bộ không chỉ đề cao quyền tự do ly hôn khi tình yêu giữa nam và nữ không còn nữa mà còn dựa trên quan điểm rằng nếu tình yêu đã hoàn toàn phai nhạt hoặc bị một tình yêu đắm say mới thay thế, thì ly hôn có thể là điều tốt cho cả hai bên và xã hội Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng hôn nhân dựa trên tình yêu mới hợp đạo đức, và ly hôn trong trường hợp này giúp giải thoát cho đôi bên Tuy nhiên, hôn nhân tiến bộ không khuyến khích ly hôn một cách bốc đồng, vì hậu quả của việc ly hôn có thể ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội, vợ chồng và đặc biệt là con cái Chính vì vậy, cần có các biện pháp ngăn chặn những trường hợp ly hôn nông nổi, lợi dụng quyền ly hôn hoặc vì lý do ích kỷ, vụ lợi để bảo vệ các thành viên trong gia đình và xã hội.

– Hôn nhân một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng

Tình yêu chân thật mang tính chất không thể chia sẻ, khiến hôn nhân một vợ một chồng trở thành kết quả tất yếu của mối quan hệ xuất phát từ tình yêu đích thực Thực hiện mô hình hôn nhân này giúp đảm bảo hạnh phúc gia đình lâu dài, phù hợp với quy luật tự nhiên và đạo đức, đồng thời dễ dàng đáp ứng tâm lý, tình cảm của con người.

Hôn nhân một vợ một chồng đã xuất hiện từ sớm trong lịch sử xã hội loài người, bắt nguồn từ sự thắng lợi của chế độ tư hữu so với chế độ công hữu nguyên thủy Phiên bản này phản ánh sự chuyển biến về cấu trúc gia đình và các giá trị xã hội qua các giai đoạn phát triển Hình thức hôn nhân này đã trở thành chuẩn mực trong nhiều nền văn hóa nhằm duy trì trật tự xã hội và bảo vệ quyền lợi cá nhân Việc hiểu rõ quá trình hình thành và phát triển của chế độ hôn nhân một vợ một chồng giúp các nhà nghiên cứu nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố xã hội, lịch sử và pháp lý liên quan Trong bối cảnh hiện đại, hình thức hôn nhân này vẫn giữ vai trò trọng yếu trong việc định hình chuẩn mực gia đình và các chính sách liên quan.

Sự biến đổi của gia đình Việt Nam trong thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa

3.1 Biến đổi trong quy mô, kết cấu

Gia đình đơn, hay còn gọi là gia đình hạt nhân, đang trở nên ngày càng phổ biến tại các đô thị và cả nông thôn Xu hướng này thay thế dần kiểu gia đình truyền thống trước đây, phản ánh sự thay đổi trong lối sống và cấu trúc xã hội hiện đại.

Quy mô gia đình Việt Nam ngày càng nhỏ gọn hơn so với trước đây, với nhiều gia đình truyền thống từng có đến ba hoặc bốn thế hệ chung sống nay đã trở thành các gia đình 2 thế hệ gồm cha mẹ và con cái Số lượng con cái cũng giảm đáng kể, phản ánh xu hướng thay đổi trong cấu trúc gia đình hiện đại tại Việt Nam.

Trong thời đại mới, sự bình đẳng giới ngày càng được đề cao để đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội Cuộc sống riêng tư của mỗi người được tôn trọng hơn, góp phần xây dựng môi trường an toàn và công bằng cho tất cả mọi người.

Sự biến đổi xã hội gây ra những tác động tiêu cực, như làm gia tăng sự ngăn cách về không gian và cảm xúc giữa các thành viên trong gia đình Điều này gây khó khăn trong việc giữ gìn tình cảm gia đình cũng như các giá trị văn hóa truyền thống, bởi mọi người đều bị cuốn vào công việc và cuộc sống riêng, quên đi tầm quan trọng của gia đình và sự kết nối yêu thương.

3.2 Biến đổi các chức năng của gia đình

- Biến đổi chức năng tái sản xuất con người:

Nhờ vào thành tựu y học hiện đại, quá trình sinh đẻ của con người ngày càng trở nên chủ động và tự giác hơn trong việc lựa chọn thời điểm thích hợp cũng như số lượng con cái mong muốn Các tiến bộ trong y học đã giúp phụ nữ và gia đình dễ dàng lên kế hoạch sinh con, đảm bảo sức khỏe và khả năng chăm sóc tốt nhất cho các thế hệ tương lai Công nghệ y học hiện đại góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, giúp con người kiểm soát quá trình sinh sản một cách an toàn, hiệu quả hơn bao giờ hết.

+ Việc sinh con cũng chịu sự điều chỉnh bởi chính sách xã hội của Nhà nước tùy theo tình hình dân số và sức lao động của xã hội

Nhu cầu về con cái đã có nhiều thay đổi đáng kể theo thời gian Trước đây, gia đình coi trọng việc có nhiều con và xem con trai là người nối dõi, nhưng hiện nay xu hướng này đã thay đổi rõ rệt Người dân ngày càng giảm sự chênh lệch giới tính trong việc sinh con, đồng thời tỷ lệ sinh đẻ cũng giảm rõ rệt nhằm phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội hiện đại.

- Biến đổi chức năng kinh tế, tổ chức tiêu dùng:

Chuyển đổi từ kinh tế tự cấp tự túc sang kinh tế hàng hóa thể hiện quá trình phát triển của một đơn vị kinh tế từ việc sản xuất để đáp ứng nhu cầu của gia đình, trở thành hoạt động nhằm phục vụ nhu cầu của xã hội hoặc người khác Quá trình này phản ánh sự mở rộng quy mô sản xuất và chuyển đổi mô hình kinh tế, từ đó tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển cộng đồng bền vững Việc tham gia vào kinh tế hàng hóa giúp các đơn vị kinh tế nâng cao năng lực sản xuất, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của xã hội và thúc đẩy tiến bộ kinh tế chung.

Các đơn vị kinh tế có đặc trưng chính là sản xuất hàng hóa để đáp ứng nhu cầu của thị trường quốc gia Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, những tổ chức này ngày càng phát triển nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường Việc sản xuất hàng hóa phù hợp với xu hướng tiêu dùng là yếu tố then chốt giúp các doanh nghiệp giữ vững vị thế cạnh tranh Đồng thời, các tổ chức kinh tế phải liên tục đổi mới để thích nghi với sự biến động của thị trường hiện đại.

- Biến đổi chức năng giáo dục (xã hội hóa):

+ Giáo dục của xã hội mới vẫn nhấn mạnh sự hy sinh của cá nhân cho cộng đồng

Gia đình đang phát triển theo xu hướng đầu tư tài chính cho giáo dục con cái, nhằm giúp trẻ có nền tảng vững chắc trong học tập và phát triển bản thân Nội dung giáo dục không chỉ bao gồm đạo đức và ứng xử trong gia đình mà còn mở rộng sang đào tạo kiến thức khoa học hiện đại, trang bị các công cụ cần thiết để trẻ tự tin bước vào cuộc sống Việc đầu tư vào giáo dục gia đình ngày càng trở thành xu hướng quan trọng, giúp con cái phát triển toàn diện về trí tuệ và nhân cách.

Các hiện tượng tiêu cực trong xã hội gia tăng đang khiến lòng tin và sự kỳ vọng vào hệ thống giáo dục ngày càng giảm sút, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển và chất lượng giáo dục trong xã hội.

- Biến đổi chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm:

Sự bền vững của gia đình trong xã hội hiện nay phụ thuộc vào các mối quan hệ hòa hợp tình cảm giữa các thành viên Đảm bảo hạnh phúc cá nhân và quyền tự do sinh hoạt chính đáng của từng thành viên đóng vai trò quan trọng trong duy trì sự phát triển bền vững của gia đình.

+ Đời sống tâm lý-tình cảm cũng trở nên kém phong phú hơn do ngày càng thiếu đi tình cảm anh, chị em trong gia đình

Nhà nước cần đóng vai trò quan trọng trong việc tác động đến tâm lý xã hội, nhằm khắc phục khoảng cách giàu-nghèo và thúc đẩy sự công bằng Đồng thời, chính sách nhà nước cần tạo dựng quan điểm bình đẳng giới, đặc biệt là quyền lợi của phụ nữ và nam giới Việc đảm bảo quyền lợi cho các thành viên trong gia đình là mục tiêu thiết yếu nhằm xây dựng xã hội văn minh và hòa hợp.

3.3 Biến đổi trong mối quan hệ gia đình

- Biến đổi quan hệ hôn nhân và quan hệ vợ chồng:

Hiện nay, hôn nhân và gia đình Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức lớn như tỷ lệ ly hôn, ly thân và nạn ngoại tình ngày càng gia tăng Những biến đổi này dẫn đến ngày càng nhiều các bi kịch và thảm án gia đình, đồng thời chịu áp lực lớn từ cuộc sống hiện đại.

Trong gia đình truyền thống, người chồng được xem như là trụ cột, giữ vai trò quyền lực trong các vấn đề gia đình Tuy nhiên, ngày nay, các mô hình gia đình đã đa dạng hơn với sự xuất hiện của mô hình người phụ nữ làm chủ gia đình, cũng như mô hình cả hai vợ chồng cùng chia sẻ trách nhiệm làm chủ Những thay đổi này phản ánh xu hướng bình đẳng giới và sự tiến bộ trong quan niệm về vai trò của các thành viên trong gia đình.

Trong gia đình Việt Nam truyền thống, quyền uy và địa vị của người chồng được đề cao, họ là đại diện hợp pháp duy nhất của gia đình Trong khi đó, người vợ thường có vị trí thấp hơn, chủ yếu đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc gia đình và nuôi dưỡng con cái Sự biến đổi về mối quan hệ giữa các thế hệ và những giá trị, chuẩn mực văn hóa đã thúc đẩy sự thay đổi trong cấu trúc vai trò và địa vị của các thành viên trong gia đình Việt.

Thực trạng của gia đình Việt Nam hiện nay

Trong những thập niên qua, gia đình Việt Nam đã trải qua những biến chuyển quan trọng, từ hình mẫu truyền thống sang những đặc điểm hiện đại và tự do hơn Dù các thay đổi này đã giúp phá vỡ các hủ tục lạc hậu và duy trì những giá trị nhân văn, bản sắc dân tộc lâu đời, vẫn còn tồn tại những vấn đề tiêu cực như sự suy thoái đạo đức gia đình và các mối quan hệ hôn nhân vợ chồng.

4.1 Quy mô gia đình có xu hướng ngày càng nhỏ lại

Kết quả các cuộc tổng điều tra dân số qua các năm cho thấy quy mô gia đình Việt Nam liên tục giảm trong hơn 20 năm qua, từ mức trung bình 5,22 người mỗi hộ gia đình năm 1979 xuống còn 4,88 người năm 1989 và hiện nay là 4,6 người mỗi hộ Điều này phản ánh xu hướng giảm quy mô gia đình, phù hợp với các xu hướng xã hội và thay đổi trong đời sống người dân Việt Nam Góc nhìn này thể hiện sự thay đổi trong cấu trúc gia đình, ảnh hưởng đến các chính sách dân số và phát triển xã hội của đất nước.

Năm 1999, vùng Đồng bằng sông Hồng có quy mô gia đình trung bình thấp nhất là 4,1 người, trong khi vùng Tây Bắc cao nhất với 5,2 người Các vùng như Tây Nguyên và Đông Nam Bộ có quy mô gia đình lần lượt là 5 và 4,8 người, còn Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ đều có quy mô trung bình là 4,6 người Toàn quốc, hơn 55% các hộ gia đình có quy mô từ 1 đến 4 người, đặc biệt tại Đồng bằng sông Hồng, cứ ba hộ thì có đến hai hộ có từ 1 đến 4 người, thể hiện rõ xu hướng nhỏ gọn của quy mô gia đình tại khu vực này.

Nguyên nhân chính dẫn đến giảm quy mô gia đình bao gồm việc giảm mức sinh, thay đổi trong mô hình chung sống giữa các thế hệ, cùng với các yếu tố khác như ly hôn, ly thân và xu hướng sống độc thân.

4.2 Tuổi kết hôn trung bình lần đầu của cả nam và nữ có chiều hướng nâng cao

Năm 1989, tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam là 24,5 tuổi và của nữ là 24 tuổi, nhưng có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực đô thị, nông thôn, miền núi và vùng sâu, vùng xa Tại nội thành Hà Nội, theo khảo sát của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Hà Nội năm 2002, tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam là 28,25 tuổi, nữ là 24,26 tuổi Trong khi đó, ở một số vùng nông thôn miền núi, tuổi kết hôn trung bình còn thấp và tảo hôn vẫn còn khá phổ biến.

Thống kê năm 1998 cho thấy tỉ lệ tảo hôn ở nam và nữ tại khu vực miền núi phía Bắc chiếm tới 22,4% số người có đăng ký kết hôn

Nghiên cứu của ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em Việt Nam năm 2002 tại hai tỉnh Lai Châu và Cao Bằng cho thấy tỷ lệ người kết hôn dưới 18 tuổi của hai dân tộc H’Mông và Dao là 30,33% và 29,33% Tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam ở Lai Châu và Cao Bằng lần lượt là 19,23 và 18,29, thấp hơn so với quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam Trong khi đó, tuổi kết hôn lần đầu của nữ là 18,12 và 18,07, phản ánh mức độ phổ biến của việc kết hôn sớm trong các cộng đồng này (Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em Việt Nam, 2002: 40,20).

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng tảo hôn xuất phát từ quan niệm của đồng bào dân tộc, cho rằng tuổi trưởng thành về sinh lý (dậy thì) đồng nghĩa với tuổi lấy vợ lấy chồng Bên cạnh đó, việc tuyên truyền và phổ biến Luật Hôn nhân và Gia đình còn nhiều hạn chế, khi có tới 37% người được khảo sát chưa từng biết đến luật này Thêm vào đó, 63% biết đến luật nhưng lại không nắm rõ các quy định, trong khi đến 46,71% coi tảo hôn là chuyện bình thường, điều này cho thấy cần tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục về Luật Hôn nhân và Gia đình để giảm thiểu tình trạng tảo hôn.

4.3 Tình trạng hôn nhân không đăng ký

Hôn nhân không đăng ký là hiện tượng nam nữ chung sống như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn, do đó, không được pháp luật công nhận là vợ chồng

Trên thực tế, hiện tượng chung sống không kết hôn khá phức tạp, có thể tạm phân chia thành hai nhóm, nhóm thứ nhất: sự chung sống của đôi nam nữ được gia đình, họ hàng, cộng đồng thừa nhận được gọi là hôn nhân thực tế; nhóm thứ hai: chưa được gia đình, họ hàng, cộng đồng thừa nhận gọi là hiện tượng chung sống trước hôn nhân

Hôn nhân thực tế ở nước ta hiện nay vẫn tồn tại khá phổ biến do nhiều nguyên nhân như tảo hôn do chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn, phong tục tập quán lạc hậu, và thiếu kiến thức cũng như ý thức tuân thủ pháp luật về hôn nhân.

Dưới đây là các câu chính tóm tắt nội dung bài viết, được tối ưu hóa theo quy tắc SEO:Tính đến ngày 31.3.2002, có 929.319 cặp vợ chồng cần đăng ký kết hôn đã được rà soát tại 56/61 tỉnh thành của Việt Nam (Bộ Tư pháp, 2003) Nhiều địa phương vẫn đối mặt với hiện tượng nam nữ chung sống không đăng ký kết hôn, như ở Cao Bằng với tỷ lệ 42,2% và Lai Châu với 52,3% Nguyên nhân chính khiến người dân không đăng ký kết hôn bao gồm thiếu nhận thức về quy định pháp luật và cảm thấy không cần thiết, với 40,6% trả lời là “thấy không cần thiết” và 31,2% không biết về quy định pháp luật (ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em Việt Nam, 2002) Theo dự thảo luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, tỷ lệ không đăng ký kết hôn tại Hà Tây và An Giang chiếm 50%, trong khi tại Tiền Giang, tỷ lệ này cũng đạt 50% ở các vùng sâu, vùng xa; 100% tại hai xã dân tộc thiểu số ở Bình Định, còn ở TP.HCM, Long An, Kiên Giang, số ca không đăng ký kết hôn lần lượt là 8.963, 9.512 và 12.255 trường hợp.

4.4 Hiện tượng chung sống trước hôn nhân

Hiện chưa có số liệu thống kê chính thức về tỷ lệ chung sống trước hôn nhân, nhưng hiện tượng này thường tập trung ở giới trẻ sống xa gia đình, không chịu sự kiểm soát của cha mẹ như học sinh, sinh viên và người lao động nhập cư vào thành phố Một nghiên cứu tại TP Hồ Chí Minh năm 1996 cho thấy, trong 100 tổ dân phố được điều tra, có một tỷ lệ đáng kể các cặp đôi chung sống trước khi kết hôn, phản ánh xu hướng phát triển của xã hội hiện đại.

205 cặp nam nữ thanh niên chung sống trước hôn nhân (Khuất Thu Hồng và Daniele Belanger, 1996)

Một nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy có hơn 12.700 cặp đôi trẻ chung sống trước khi kết hôn, thể hiện xu hướng sống thử trước hôn nhân ngày càng phổ biến Bên cạnh đó, còn có hơn 10.000 cặp đôi chung sống không đăng ký kết hôn, phản ánh thực trạng đa dạng trong các hình thức xây dựng tổ ấm hiện nay.

Hiện tượng chung sống trước hôn nhân ngày càng gia tăng tại Việt Nam trong những năm gần đây Đây là sự tiếp nối tự nhiên của mối quan hệ tình dục trước hôn nhân và phản ánh xu hướng thay đổi trong lối sống và góc nhìn về hôn nhân của giới trẻ Việt Nam.

Chung sống trước hôn nhân ngày càng phổ biến thể hiện rõ xu hướng mất dần kiểm soát về tình dục của các gia đình Về khía cạnh nhân khẩu học, đời sống tình dục trước kết hôn xuất phát từ việc nam nữ kết hôn muộn, với tuổi kết hôn trung bình cao hơn so với tuổi trưởng thành về giới tính Tuy nhiên, hiện tượng này mang lại những hậu quả trước mắt và lâu dài đối với sức khỏe, đạo đức và lối sống của vị thành niên.

Phương hướng cơ bản xây dụng và phát triển gia đình việt nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức của xã hội về xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam

Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền và tổ chức đoàn thể từ trung ương đến cơ sở về vai trò và tầm quan trọng của gia đình trong sự phát triển bền vững của đất nước Gia đình và công tác xây dựng, phát triển gia đình Việt Nam là động lực quyết định thành công trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Các cấp ủy và chính quyền cần tích hợp nội dung và mục tiêu của công tác xây dựng gia đình vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cũng như kế hoạch công tác hàng năm của các bộ, ngành, địa phương nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện của gia đình Việt Nam.

Thứ hai, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, kinh tế hộ gia đình

Xây dựng và hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm củng cố, ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế gia đình bền vững Chính sách ưu tiên hỗ trợ phát triển kinh tế cho các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, các gia đình thuộc dân tộc ít người, gia đình nghèo, và những hộ sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn Việc tập trung vào các đối tượng đặc biệt này góp phần giảm nghèo, nâng cao mức sống và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của cộng đồng.

Chính sách hỗ trợ kịp thời giúp các gia đình thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao khả năng sản xuất và kinh doanh các sản phẩm mới, đặc biệt là các sản phẩm sử dụng nguyên liệu tại chỗ Đồng thời, các chương trình này tạo điều kiện để các hộ gia đình tham gia vào hoạt động sản xuất phục vụ xuất khẩu, góp phần nâng cao thu nhập và phát triển bền vững địa phương.

Chính sách thúc đẩy tích cực khai thác và tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình vay vốn ngắn hạn và dài hạn nhằm xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu sản xuất, mở rộng quy mô phát triển kinh tế Điều này góp phần đẩy mạnh phát triển các loại hình kinh tế trang trại, giúp các hộ nâng cao thu nhập và vươn lên làm giàu chính đáng một cách bền vững.

Thứ ba, chúng ta cần giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam, đồng thời tiếp thu những tiến bộ của nhân loại về xây dựng gia đình hạnh phúc và bền vững Việc kết hợp truyền thống và hiện đại giúp xây dựng hình mẫu gia đình Việt Nam phù hợp với thời kỳ mới, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của các thành viên trong gia đình.

Gia đình truyền thống được hun đúc từ lâu đời trong lịch sử dân tộc, nhưng khi bước vào thời kỳ mới, gia đình đó vừa thể hiện những mặt tích cực vừa bộc lộ những hạn chế Nhà nước và các cơ quan văn hóa cần xác định và duy trì các nét đẹp truyền thống có ích, đồng thời tìm ra giải pháp khắc phục những hủ tục của gia đình cũ Xây dựng mô hình gia đình Việt Nam hiện đại phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế để thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội.

LIÊN HỆ BẢN THÂN VỀ VẤN ĐỀ GIA ĐÌNH TẠI VIỆT NAM

Ngày đăng: 25/08/2023, 04:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Gia đình Việt Nam trong tiến trình lịch sử - VỤ GIA ĐÌNH. (2021). Retrieved 25 March 2023, from http://giadinh.bvhttdl.gov.vn/gia-dinh-viet-nam-trong-tien-trinh-lich-su/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam trong tiến trình lịch sử
Tác giả: VỤ GIA ĐÌNH
Năm: 2021
[2]. “Gia đình học”, NXB Lý luận chính trị, Đặng Cảnh Khanh - Lê Thị Quý, Hà Nội – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình học
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2007
[3]. Gia đình và vị trí, vai trò của gia đình trong xã hội hiện đại - VỤ GIA ĐÌNH. (2021). Retrieved 25 March 2023, fromhttp://giadinh.bvhttdl.gov.vn/gia-dinh-va-vi-tri-vai-tro-cua-gia-dinh-trong-xa-hoi-hien-dai/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và vị trí, vai trò của gia đình trong xã hội hiện đại
Tác giả: VỤ GIA ĐÌNH
Năm: 2021
[6]. Vài nét về thực trạng gia đình Việt Nam hiện nay. (2021). Retrieved 29 March 2023, from https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/vai-net-ve-thuc-trang-gia-dinh-viet-nam-hien-nay-p24518.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về thực trạng gia đình Việt Nam hiện nay
Năm: 2021
[7]. Vài nét về thực trạng gia đình Việt Nam hiện nay. (2021). Retrieved 29 March 2023, from https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/vai-net-ve-thuc-trang-gia-dinh-viet-nam-hien-nay-p24518.html Link
[8]. Trang, C. (2021). Pháp luật Việt Nam về người đồng tính - Một số vấn đề đặt ra. Retrieved 29 March 2023, from https://iluatsu.com/hon-nhan- gia-dinh/phap-luat-viet-nam-ve-nguoi-dong-tinh-mot-so-van-de-dat-ra/ Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG ĐÁNH GIÁ PHÂN CHIA CÔNG VIỆC - TIỂU LUẬN CNXHKH  “Lý luận chung về gia đình – thực trạng gia đình ở Việt Nam hiện nay” FULL ĐẦY ĐỦ
BẢNG ĐÁNH GIÁ PHÂN CHIA CÔNG VIỆC (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w