1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng pháp luật đối với đối tượng là người chưa thành niên phạm tội và thực tiễn giải quyết tại viện ksnd quận hải châu

58 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp dụng pháp luật đối với đối tượng là người chưa thành niên phạm tội và thực tiễn giải quyết tại viện KSND quận Hải Châu
Tác giả Bùi Thị Hồng Nhung
Người hướng dẫn Ths. Lê Thị Xuân Phương
Trường học Trường Đại học Duy Tân
Chuyên ngành Luật
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (7)
  • 2. Tình hình nghiên cứu (9)
  • 3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu (10)
    • 3.1. Mục đích nghiên cứu (10)
    • 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu (10)
  • 4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu (11)
    • 4.1. Đối tượng nghiên cứu (11)
    • 4.2. Phạm vi nghiên cứu (11)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (11)
  • 6. Kết cấu của chuyên đề (13)
  • Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VỀ TỘI PHẠM CHƯA THÀNH NIÊN (14)
    • 1.1. Khái niệm người chưa thành niên và người chưa thành niên phạm tội 10 1. Khái niệm người chưa thành niên (14)
      • 1.1.2. Khái niệm về người chưa thành niên phạm tội (15)
      • 1.1.3. Đặc điểm của người phạm tội là người chưa thành niên (16)
    • 1.2. Nội dung quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về người chưa thành niên phạm tội (18)
    • 1.3. Nguyên tắc xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội (21)
    • 1.4. Các biện pháp tư pháp và hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội (26)
      • 1.4.1. Các đặc điểm của biện pháp tư pháp (26)
      • 1.4.2. Các biện pháp tư pháp theo Bộ luật Hình sự năm 1985 (27)
  • Chương 2: TÌNH HÌNH PHẠM TỘI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU (33)
    • 2.1. Tổng quan về VKSND Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (33)
      • 2.1.1. Giới thiệu chung về VKSND quận Hải Châu (33)
      • 2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm Sát Nhân Dân quận Hải Châu (34)
      • 2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Viện Kiểm Sát Nhân sân quận Hải Châu (36)
    • 2.2. Tình hình người chưa thành niên phạm tội và thực trạng giải quyết của Viện Kiểm Sát trên địa bàn quận Hải Châu (37)
      • 2.2.1. Tình hình người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn quận Hải Châu hiện nay (37)
      • 2.2.2. Thực trạng giải quyết các vụ án có người phạm tội chưa thành niên tại Viện Kiểm Sát Nhân Dân quận Hải Châu (40)
      • 2.2.3. Đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả của tội phạm và vi phạm pháp luật (46)
      • 2.2.4. Nguyên nhân dẫn tới thực trạng người chưa thành niên phạm tội Nguyên nhân chủ quan (46)
  • Chương 3: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG ĐỀ HOÀN THIỆN VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI (48)
    • 3.1. Một số hạn chế về việc áp dụng phá luật đối với người chưa thành niên phạm tội (48)
    • 3.2. Một số định hướng để hoàn thiện việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án có đối tượng là người chưa thành niên (49)
  • KẾT LUẬN (53)

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài

Thời gian gần đây tình hình người chưa thành niên phạm tội liên tục xảy ra ở nước ta nói chung, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng và đang không ngừng gia tăng, gây ra nỗi nhức nhối không nhỏ cho gia đình, nhà trường và xã hội. Ở lứa tuổi thanh thiếu niên, các em dễ dàng bị lôi kéo, kích động, bị ảnh hưởng bởi những yếu tố bạo lực trên phim ảnh, mạng xã hội, lập ra các nhóm chat trên các mạng xã hội facebook, zalo để bàn bạc, rủ rê nhau cùng tham gia thực hiện các hành vi mà các em cho là hay, là ngầu, là đẳng cấp như đâm, chém nhau để giải quyết mâu thuẫn, ngang nhiên trộm cắp, cướp giật để thỏa mãn về vật chất, đua đòi, sử dụng trái phép chất ma túy Những hành vi này đều thể hiện sự manh động, xem thường pháp luật, manh nha của băng nhóm tội phạm.

Trong khi đó, nhiều bậc cha mẹ phải lo bươn chải do cuộc sống khó khăn, bỏ mặc, thiếu sự quan tâm, chăm lo cho con em mình trong cuộc sống hằng ngày, không nắm bắt được tâm tư, tình cảm của tuổi mới lớn, không biết con em mình làm gì, giao du với ai, thậm chí bỏ học đi lang thang mà cha mẹ cũng không biết Còn có những đối tượng thuộc thành phần gia đình khá giả, được gia đình đầu tư, cho học hành ở các trường tư chi phí cao nhưng chỉ vì mâu thuẫn cá nhân trên mạng xã hội mà hẹn nhau giải quyết mâu thuẫn bằng cách quyết chiến với hung khí nguy hiểm Những đối tượng này còn lôi kéo kích động, rủ rê hàng chục đối tượng khác cùng đi, chở nhau bằng xe máy đi tìm đối thủ, cầm theo mã tấu, dao dài, lạng lách, đánh võng, nẹt pô… gây náo loạn đường phố, mất trật tự công cộng, ảnh hưởng đến người dân Điển hình như vụ Trần Tiến Dũng và 17 đồng phạm khác “Gây rối trật tự công cộng” xảy ra tại địa bàn quận Hải Châu. Điều này cho thấy ngoài sự thiếu quan tâm, chăm sóc của gia đình, sự phối hợp của các đoàn thể, chính quyền ở một số địa phương, nhà trường trong giáo dục, tuyên truyền pháp luật; chúng ta còn chưa nắm bắt kịp thời tâm tư tình cảm, tâm sinh lý thanh thiếu niên tuổi dậy thì, chưa có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn phát sinh tội phạm chưa thành niên trong hình hình xã hội có nhiều thay đổi mới như hiện nay (sự phát triển của mạng xã hội, yếu tố bạo lực trong các văn hóa phẩm, trào lưu khoe khoang vật chất tràn lan trên internet…).

Vì vậy, để kịp thời phòng ngừa tình trạng vi phạm pháp luật của người chưa thành niên thì trước tiên gia đình phải là nền tảng, là chỗ dựa vững chắc cho các em, các bậc cha mẹ cần quan tâm hơn đến cuộc sống tinh thần của con em mình, gia đình hạnh phúc, cha mẹ phải là tấm gương tốt để con cái noi theo Đối với nhà trường, các đoàn thể xã hội cần tăng cường tuyên truyền pháp luật trong học sinh, trong nhân dân, đặc biệt có biện pháp quản lý, giáo dục các đối tượng thanh thiếu niên hư để từ đó ngăn chặn, uốn nắn các tư tưởng, hành vi lệch lạc, hướng cho các em đến những hành động tốt, có ích cho xã hội; đồng thời là sự vào cuộc của các cơ quan quản lý trong việc giám sát, kiểm duyệt văn hóa phẩm, xóa bỏ yếu tố bạo lực, tiêu cực, duy trì và tăng cường yếu tố lành mạnh, tích cực là điều vô cùng cần thiết trong thời đại hiện nay

Tình trạng trẻ em phạm tội ngày càng tăng ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt nam, là một những vấn đề nóng bỏng và là một trong những vấn đề đang được xã hội quan tâm Trong những năm gần đây, ở Việt Nam tình trạng tội phạm chưa thành niên có chiều hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng và mức độ phạm tội Thủ đoạn phạm tội của các đối tượng này không còn đơn giản do bồng bột, thiếu suy nghĩ, mà đã có sự tính toán, chuẩn bị kỹ càng và khá tinh vi, thậm chí đã hình thành các băng nhóm tội phạm có tính nguy hiểm cao

Số lượng các vụ án tăng nhanh, nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra, cùng với tính chất phức tạp của từng vụ án là những thủ đoạn tinh vi, do đó tính nguy hiểm ngày càng cao để lại những hậu quả nghiêm trọng Việc gia tăng các vụ án có bị cáo là người chưa thành niên phạm tội không chỉ tăng về số lượng các bị cáo, mà tuổi đời phạm tội của các bị cáo là người chưa thành niên cũng trẻ hoá, có nhiều vụ án các bị cáo là người chưa thành niên phạm tội đặc biệt nghiêm trọng có khung hình phạt cao nhất là chung thân hoặc tử hình như tội: “Cố ý gây thương tích”, “Giết người”,

“Cướp tài sản”, “Trộm cắp tài sản”

Tình hình tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên gia tăng đến mức báo động. Một số loại án tăng cao như cướp giật tài sản 63,8%, giết người tăng 38,7% Trung bình hằng năm xảy ra 10 nghìn vụ vi phạm pháp luật với hơn 13.000 đối tượng có liên quan; trong đó, 67,1% số trẻ em vi phạm pháp luật ở độ tuổi từ 16 đến 18 Trong khi đó ở Thành phố Đà Nẵng cũng xảy ra không ít vụ án tương tự điển hình như các vụ án:Trần Lê Anh Trung và đồng phạm “Cố ý gây thương tích” xảy ra ở quận Liên Chiểu,

Nguyễn Trần Quốc Huy và đồng phạm “Trộm cắp tài sản” xảy ra ở quận Cẩm Lệ, Nguyễn Ngọc Tùng và Phạm Thanh Hải “Mua bán trái phép chất ma túy” xảy ra tại quận Hải Châu

Nhận thấy tính cấp thiết của việc này nên em chọn đề tài “Áp dụng pháp luật đối với đối tượng phạm tội là người chưa thành niên và thực tiễn tại Viện Kiểm Sát NhânDân quận Hải Châu” để làm bài báo cáo thực tập trong quá trình thực tập tại ViệnKiểm Sát Nhân Dân quận Hải Châu.

Tình hình nghiên cứu

Từ trước đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến hình phạt như:

Về giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận có các công trình sau:

1) TS Trịnh Quốc Toản, “Chương XVIII – Những đặc thù về trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội”, trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, tái bản năm 2003, 2007 (Tập thể tác giả do GS.TSKH Lê Cảm chủ biên);

2) PGS.TS Trần Đình Nhã, “Chương XXIV – Trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội”, trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003 (tập thể tác giả do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên);

3) ThS Trịnh Đình Thể, áp dụng chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006;

4) ThS Trần Đức Châm, Thanh, thiếu niên làm trái pháp luật – Thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002…

Bên cạnh đó, dưới góc độ khoa học cho thấy mới có một số công trình ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học nhưng dưới khía cạnh pháp lý hình sự hoặc tội phạm học hay xem xét nội dung vấn đề trong tương quan với nhiều nội dung khác như quyết định hình phạt, lịch sử vấn đề trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên:

1) Đào Thị Nga, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, 1997;

2) Trần Văn Dũng, Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội,2003;

3) Nguyễn Minh Khuê, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007… Còn về các công trình dưới dạng bài viết đăng trên các tạp chí khoa học pháp lý có thể kể đến các công trình sau:

1) ThS Hoàng Thị Liên, Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Kiểm sát, số 4/2000;

2) TS Trần Văn Luyện, Những điểm mới về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 12/2000;….

Mặc dù, đã có nhiều công trình nghiên cứu nhưng chưa có nơi nào nghiên cứu cụ thể và vẫn chưa có tính cập nhật về vấn đề áp dụng pháp luật đối với đối tượng phạm tội là người chưa thành niên ở Viện KSND quận Hải Châu Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên sẽ giúp em hoàn thành báo cáo một cách hiệu quả hơn.

Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, hệ thống và hoàn thiện một số vấn đề lý luận và thực tiễn triển khai thực hiện áp dụng pháp luận đối với người chưa thành niên phạm tội ở quận Hải Châu hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cụ thể cho việc hoạch định và triển khai thực hiện việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, bài báo cáo đặt ra và phải giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

Kiến giải làm rõ nội hàm khái niệm áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội; xác định vị trí, vai trò, đặc điểm, mục tiêu, các nguyên tắc và ý nghĩa của áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, hay nói cách khác là xác định mối liên hệ giữa pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội và hiệu quả thực tế của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện;

Phân tích làm rõ yêu cầu và các yếu tố bảo đảm xây dựng và thực hiện áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội; nội dung, các nhân tố tác động và các biện pháp thực hiện pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội;

Phân tích sự thể hiện của pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam thông qua các khía cạnh: mục tiêu, quan điểm, đường lối xử lý, nguyên tắc xử lý, quy định về tội phạm, quy định về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội; Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng hoạch định, thực hiện (điều tra, truy tố, xét xử, định tội danh, quyết định hình phạt), phân tích và đánh giá việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay.

Phương pháp nghiên cứu

Báo cáo sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, cụ thể:

Về phương pháp luận : Báo cáo được thực hiện dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Marx-Lenin

Về phương pháp hệ: Một số phương pháp tiêu biểu thường được sử dụng trong lĩnh vực khoa học xã hội, chuyên ngành pháp lý bao gồm:

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đây là phương pháp chủ đạo xuyên suốt nội dung của Báo cáo trong việc tiếp cận, nghiên cứu các khái niệm vè những lauanj điểm khoa học, phân tích tài liệu, sử dụng để hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chính sách pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội; về quy trình chính sách từ việc hoạch định, tổ chức thực hiện đến việc phân tích, đánh giá chính sách; đánh giá thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội qua hệ thống 200 bản án hình sự được thu thập tại Viện Kiểm Sát Nhân Dân quận Hải Châu, Báo cáo tổng kết của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (Bộ Công an), Báo cáo chuyên đề, Báo cáo tổng kết hàng năm của Tổng cục Cảnh sát, của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Đà Nẵng, của Tổng cục thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (Bộ Công an).

Phương pháp so sánh: phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu lý luận và thực tiễn về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội thông qua các quy định cụ thể của pháp luật hình sự của nước ngoài, đối chiếu so sánh với các quy định của Việt Nam, để tìm được phương án, đề xuất hợp lý cho Việt Nam.

Phương pháp thống kê: Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh số liệu thống kê, sử dụng để điều tra, khảo sát thực tế và thống kê tình hình người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam trong thời gian qua nhằm làm căn cứ cho việc xây dựng và hoàn thiện chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội.

Phương pháp tổng kết thực tiễn, sử dụng để nghiên cứu tổng kết đánh giá những kết quả, tài liệu thu thập được từ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội phạm và hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam.

Phương pháp điều tra điển hình, sử dụng để thu thập thông tin một số vụ án điển hình và kết quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện trong thời gian qua của các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Về phương pháp lập luận cụ thể: Báo cáo kết hợp, sử dụng nhiều phương pháp lập luận để hành văn rõ ràng nhưng cũng đảm bảo tính trôi chảy, mạch lạc như:phương pháp diễn dịch, phươn pháp quy nạp.

Kết cấu của chuyên đề

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về người chưa thành niên và tội phạm chưa thành niên

Chương 2: Tình hình phạm tội của người chưa thành niên trên địa bàn quận HảiChâu và thực tiễn áp dụng pháp luật của Viện Kiểm Sát Nhân Dân quận Hải Châu Chương 3: Một số định hướng để hoàn thiện việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VỀ TỘI PHẠM CHƯA THÀNH NIÊN

Khái niệm người chưa thành niên và người chưa thành niên phạm tội 10 1 Khái niệm người chưa thành niên

1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên

Người chưa thành niên trong pháp luật quốc tế

Công ước về Quyền trẻ em năm 1989 quy định:

"Trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn" 1

Các quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do năm 1990 định nghĩa "Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi".

Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp quốc về hoạt động tư pháp đối với người chưa thành niên năm 1985 (Các quy tắc Bắc kinh) cho rằng "Trẻ em hay thanh thiếu niên mà tùy theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xử lý khi phạm tội, theo một phương thức khác với người lớn".

Người chưa thành niên trong pháp luật Việt Nam

Tại Việt Nam, khái niệm trẻ em và người chưa thành niên được định nghĩa không hoàn toàn giống với pháp luật quốc tế Luật trẻ em năm 2016, quy định “trẻ em là người dưới 16 tuổi” 2 Mặc dù đã có nhiều kiến nghị cần phải tăng độ tuổi của trẻ em lên để phù hợp với các công ước, văn kiện quốc tế nhưng các nhà làm luật vẫn giữ nguyên quy định, độ tuổi này.

Trong một số văn bản pháp luật của Việt Nam hiện nay, khái niệm người chưa thành niên được sử dụng có sự khác biệt nhất định, cụ thể:

Trong Bộ luật Dân sự 2015: Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi

(quy định tại Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015)

Trong Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 sử dụng cùm từ "người dưới

Trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 lại dùng "người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi".

1 Theo Điều 1 Phần 1 (Thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 44-25 ngày 20/11/1989 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc Có hiệu lực từ ngày 2/9/1990, theo điều 49 của Công ước Việt Nam phê chuẩn ngày 20/2/1990)

2 Theo Điều 1, Luật trẻ em 2016, Luật số 102/2016/QH13

Những cách gọi tên như trên không làm thay đổi bản chất của khái niệm người chưa thành niên, nhưng xét cho cùng thì khái niệm người chưa thành niên được hiểu rộng hơn khái niệm trẻ em dưới góc độ về độ tuổi

Tóm lại, từ những phân tích trên, người chưa thành niên có thể được hiểu như sau:

“Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi Người chưa thành niên có thể tham gia vào tất cả các quan hệ pháp luật dân sự, hình sự, hành chính, lao động với các vai trò chủ thể khác nhau”

1.1.2 Khái niệm về người chưa thành niên phạm tội

Pháp luật Việt Nam quy định độ tuổi đủ 18 tuổi là căn cứ để xác định người đó đã thành niên Điều 21 Bộ luật dân sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định

“Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi” Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam quy định “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân dưới 16 tuổi” Vì vậy, người chưa thành niên được xác định là người dưới 18 tuổi Trong pháp luật hình sự Việt Nam, người chưa thành niên phạm tội chỉ bao gồm những người đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định:

“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” Điều 68, chương X: Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội, Bộ luật Hình sự quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định của các Phần chung

Bộ luật không trái với những quy định của Chương này”

Căn cứ vào thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm và trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của một số nước khác, Bộ luật Hình sự Việt Nam xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ là đủ 16 tuổi trở lên và tuổi chịu trách nhiệm hình sự hạn chế là đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi Dù pháp luật quy định người đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, song những người phạm tội ở độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người chưa thành niên nên họ vẫn được hưởng chính sách xử lý hình sự của Nhà nước đối với người chưa thành niên phạm tội.

1.1.3 Đặc điểm của người phạm tội là người chưa thành niên

Chủ thể của tội phạm là những người tuổi đời còn ít, kinh nghiệm sống chưa nhiều, hiểu biết pháp luật và các chuẩn mực xã hội còn hạn chế Người chưa thành niên đang ở giai đoạn dậy thì, xảy ra những biến động mãnh liệt về tâm lý của mỗi con người, cũng là thời kỳ then chốt của phát triển tâm lý Đương nhiên, quá trình phát triển tâm lý có quan hệ chặt chẽ với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa mà những người chưa thành niên đang sống và cũng liên quan đến quá trình phát dục, thành thục về sinh lý Bước vào thời kỳ này, họ phải đối phó với những thay đổi to lớn trong môi trường học tập và rất nhiều yêu cầu mới của xã hội Con người đứng trước những thay đổi sinh lý hình thái rất đột ngột, như sức mạnh cơ bắp, kinh nguyệt, di tinh, vỡ giọng….tất nhiên sẽ dẫn đến hàng loạt những biến động tâm lý Ở thời kỳ này, đặc trưng tâm lý còn vương chút trẻ con lại có những mầm mống mới nhú của tâm lý người lớn Qua giai đoạn này có sự thay đổi căn bản về tâm, sinh lý nên thường mong muốn người lớn tôn trọng mình, luôn muốn khẳng định mình đã trưởng thành và không chấp nhận sự can thiệp quá sâu của người lớn vào đời sống cá nhân Ở lứa tuổi này, nếu không quan tâm sát sao thì sẽ tạo cho họ cơ hội vi phạm các chuẩn mực hành vi, chuẩn mực đạo đức và vi phạm pháp luật Bởi thời kỳ này bộc lộ cá tính rất mạnh, sự tự quan sát, tự đánh giá, tự thể hiện, tự đôn đốc, tự khống chế…đều được tăng cường Ý thức xã hội được tăng cường mau chóng, rất nhạy bén với mọi biến động của xã hội, dám nói lên ý kiến và nhận định của bản thân và khát khao được người khác đánh giá, hết sức quan tâm đến sự phát triển sở thích cá nhân Ở tuổi này, dễ bị ảnh hưởng ở hoàn cảnh bên ngoài, bởi tính nết, tình cảm Bên cạnh đó, xã hội hiện đại ẩn chứa nhiều mặt trái kích thích người chưa thành niên phạm tội: Những trò chơi điện tử bạo lực với những cảnh bắn súng, chém giết…; phim hành động bạo lực không chỉ chiếu ở rạp phim, băng đĩa mà còn cả trên truyền hình hàng ngày Những yếu tố này, khiến họ hoài nghi và cảm thấy xung quanh bất ổn, muốn bảo vệ bản thân Trạng thái tâm lý đó kéo khoảng cách giữa hành động ảo và hành động phạm tội gần nhau hơn và khiến chúng bắt chước theo

Những người chưa thành niên còn “có xu hướng thiếu khả năng kiềm chế do các quá trình hưng phấn của vỏ não mạnh và chiếm ưu thế, các quá trình ức chế có điều kiện bị suy giảm” Do vậy, nhiều khi họ không làm chủ được cảm xúc của mình, không kiềm chế được xúc động mạnh, dễ bị kích động, dễ bị tức, cáu kỉnh, mất bình tĩnh…nên dễ phạm sai lầm Ở lứa tuổi này còn xuất hiện hiện tượng “khủng hoảng” về tâm lý Sự khủng hoảng có thể dẫn đến những xung đột nhất định Những “khủng hoảng” và những “xung đột” này nếu không được giải tỏa kịp thời, đúng đắn sẽ dẫn đến các hành vi bạo động hoặc sống buông thả, bất cần.

Nhu cầu giao tiếp và mở rộng mối quan hệ bạn bè là một điểm đặc trưng của lứa tuổi chưa thành niên Họ thích giao du bạn bè, thích túm năm tụm ba Nếu không có sự quản lý chặt chẽ của gia đình, nhà trường thì dễ có khả năng họ có những hành vi phạm tội Nhóm bạn xấu cũng xuất hiện từ đây Đa số những người vi phạm pháp luật ở độ tuổi chưa thành niên đều có hiện tượng bỏ học, đi lang thang Lứa tuổi này rất dễ bị lôi kéo bởi bạn bè xấu Bởi ở lứa tuổi này, tính tình có sự bộc lộ hết sức mạnh mẽ, rất không ổn định, rất dễ chuyển từ cực này sang cực kia Sở dĩ gọi là lưỡng cực trong tính nết của người chưa thành niên là do họ có biểu hiện trong tính tình khẳng định và phủ định, tích cực và tiêu cực, khẩn trương và buông lỏng, hoạt động và lập lờ, yêu và ghét, vui vẻ và chán nản, hấp tấp và bình tĩnh, cáu bẳn và bình ổn…

Sự nhận thức của người chưa thành niên còn hạn chế, trình độ học vấn chưa hoàn thiện, vốn kinh nghiệm và hiểu biết xã hội còn ít, sự thông hiểu và chấp hành các chuẩn mực hành vi, chuẩn mực xã hội và pháp luật chưa cao Tuy nhiên, ở lứa tuổi này những điều kiện về mặt trí tuệ, nhân cách và xã hội để xây dựng một hệ thống quan điểm riêng đã được hình thành Đặc biệt là sự phát triển tư duy lý luận và tư suy trừu tượng nên các em có khả năng lĩnh hội nhanh những vấn đề được giáo dục Về mặt học tập, động cơ, thái độ, hứng thú và năng lực học tập đều được nâng cao Vì các môn học nhiều thêm, nội dung đã phân biệt nên tư duy trừu tượng logic được dịp phát triển Khả năng phân tích, tổng hợp, suy luận, phán đoán cũng được nâng cao Do thân hình lớn vổng lên, chuyển hóa trong cơ thể mạnh mẽ, tinh lực dồi dào, hiếu động luôn chân luôn tay, tựa như toàn thân chỗ nào cũng dư thừa sức lực, nhất là trong những hoạt động tranh đua, cùng với sự tự ý thức hơi quá và lòng tự tôn hừng hực, tạo nên sự bất kham, mọi trường hợp đều muốn bộc lộ nguyện vọng mãnh liệt của bản thân Trong đặc điểm tâm, sinh lý của người chưa thành niên phạm tội thì có hai khuynh hướng nổi bật liên quan tới việc thực hiện tội phạm và khả năng giáo dục cải tạo họ Họ dễ bị kích động, thúc đẩy vào việc thực hiện tội phạm nhưng cũng dễ uốn nắn, cải tạo, giáo dục thành người có ích cho xã hội

Những biểu hiện về nhận thức, tình cảm, hành động của lứa tuổi chưa thành niên phạm tội là rất yếu kém Để giáo dục, cải tạo những đối tượng này, cần có sự quan tâm sát sao, tỉ mỉ của gia đình, nhà trường, các tổ chức đoàn thể, chính quyền địa phương và của toàn xã hội Trong đó sự giáo dục của gia đình đóng một vai trò rất quan trọng.Bởi gia đình là môi trường tự nhiên cho sự phát triển của người chưa thành niên.Trong gia đình, họ được học tập các chuẩn mực và giá trị văn hóa.Gia đình có trách nhiệm đầu tiên trong việc nuôi nấng, bảo vệ, giáo dục, chăm sóc người chưa thành niên.

Nội dung quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về người chưa thành niên phạm tội

Các hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

Pháp luật hình sư Việt Nam quy định các hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định tại Điều 98 Bộ Luật Hình Sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định các hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên bao gồm: Cảnh cáo; Phạt tiền; Cải tạo không giam giữ; Tù có thời hạn.

Cảnh cáo ( Điều 34, Điều 98 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017)

Cảnh cáo được áp dụng là hình phạt chính đối với người chưa thành niên phạm tội thể hiện sự lên án công khai của nhà nước đối với người đó về tội phạm họ đã thực hiện Là hình phạt mang tính cưỡng chế thấp, cảnh cáo gây ra những tổn hại nhất định về tinh thần đối với người bị kết án.

Bộ Luật Hình Sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 không quy định điều kiện riêng biệt áp dụng cảnh cáo đối với người chưa thành niên phạm tội, do vậy, có thể hiểu điều kiện để áp dụng cảnh cáo đối với người chưa thành niên phạm tội không có sự khác biệt so với người đã thành niên Cụ thể, điều kiện áp dụng hình phạt cảnh cáo là khi người phạm tội đã phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại Điều

51 Bộ Luật Hình Sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 nhưng chưa đến mức miễn hình phạt (Điều 34 Bộ Luật Hình Sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017).

Phạt tiền ( Điều 99 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 ).

Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người chưa thành niên phạm tội nhằm tước bỏ ở họ khoản tiến nhất định sung qui nhà nước. Điều kiện để áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với người chưa thành niên phạm tội là: Người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; Người chưa thành niên phạm tội có thu nhập hoặc có tài sản riêng.

Mức phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định.

Việc quy định điều kiện áp dụng phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội thể hiện rõ chính sách hình sự của Nhà nước trong xử lý hình sự người chưa thành niên Người chưa thành niên nhìn chung chưa có thu nhập hoặc tài sản riêng, do vậy, họ chỉ bị áp dụng phạt tiền khi có khi năng chấp hành án.

Hơn nữa, Bộ Luật Hình Sự còn định chỉ phạt tiền người chưa thành niên ở độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi – Đây là độ tuổi có mức độ nhận thức cao hơn người chưa thành niên ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi Việc phân hoá độ tuổi và tương ứng với nó là quy định về phạt tiền chỉ với đối tượng từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi đã cho thấy rõ chính sách nhân đạo của Nhà nước ta khi xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội.

Cải tạo không giam giữ (Điều 100 Bộ Luật Hình Sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017)

Cải tạo không giam giữ áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội nhằm giáo dục, cải tạo họ mà không cần thiết phải cách ly họ khỏi đời sống xã hội Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, người chưa thành niên phạm tội phải tuân thủ các quy định của nhà nước về cải tạo không giam giữ.

Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng. Đối với người đã thành niên phạm tội, nếu bị áp dụng cải tạo không giam giữ thì bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% sung quĩ nhà nước ( trừ trường hợp đặc biệt có thể được miễn khấu trừ thu nhập ) Tuy nhiên, xuất phát từ chính sách nhân đạo sâu sắc đối với người chưa thành niên phạm tội, Bộ Luật Hình Sự nước ta quy định khi áp dụng cải tạo không giam giữ đối với đối tượng này thì không khấu trừ thu nhập của người đó.

Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên, phạm tội không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định.

Tù có thời hạn ( Điều 101 Bộ Luật Hình Sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 ).

Tù có thời hạn là hình phạt tước tự do của người bị kết án trong khoảng thời gian nhất định.

Trong các hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội thì tù có thời hạn là hình phạt nghiêm khắc nhất, vì vậy, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.

Người chưa thành niên phạm tội bị phạt tù có thời hạn phải cải tạo tại trại giam và tuân thủ các quy định của trại về học tập, lao động, sinh hoạt Để đảm bảo hiệu quả của giáo dục, cải tạo, phạm nhân là người chưa thành niên được giam giữ theo chế độ riêng phù hợp với sức khoẻ, giới tính và đặc điểm nhân thân Khi đủ 18 tuổi, phải chuyển họ sang chế độ quản lý giam giữ, giáo dục đối với người đã thành niên.

Trại giam có trách nhiệm giáo dục phạm nhân là người chưa thành niên về văn hoá, pháp luật và dạy nghề phù hợp với độ tuổi, trình độ văn hoá, giới tính và sức khoẻ, chuẩn bị điều kiện để họ hoà nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong án phạt tù, đồng thời thực hiện bắt buộc học chương trình tiểu học đối với phạm nhân chưa học xong chương trình tiểu học, phổ cập trung học Cơ sở và học nghề đối với họ Phạm nhân là người chưa thành niên được lao động ở khu vực riêng và phù hợp với độ tuổi, không phải làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.

Về mức hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, Điều 101 Bộ Luật Hình Sự sự quy định : Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tủ có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc từ hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.

Hình phạt không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

Căn cứ Điều 39 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tù chung thân như sau:

Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình.

Không áp dụng hình phạt tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội."

Căn cứ Điều 40 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tử hình như sau:

1 Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.

2 Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.

Nguyên tắc xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội

Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng khi điều tra, truy tố, xét xử phải xác định độ tuổi của người phạm tội Tuổi càng ít thì khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội càng hạn chế; ngay đối với người cùng độ tuổi, không phải người nào cũng có khả năng nhận thức như nhau, người ở thành phố nhận thức khác người ở vùng sâu, vùng xa, người có trình độ văn hóa cao nhận thức khác người có trình độ văn hóa thấp…

Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm Tuy nhiên, không phải tội nào người dưới 18 tuổi cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mà chỉ những người từ đủ 14 tuổi trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150,

290, 299, 303 và 304 của Bộ luật Hình sự (28 tội danh), còn người từ đủ 16 tuổi trở lên đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác Ví dụ: Tội "Giao cấu" hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì chỉ người đủ 18 tuổi trở lên mới là chủ thể của tội phạm này.

Khi quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, tòa án không chỉ căn cứ vào Điều 50 Bộ luật Hình sự (căn cứ quyết định hình phạt) mà còn phải căn cứ vào các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Chương XII

Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 từ Điều 90 đến Điều 104 Các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội bao gồm những nguyên tắc, những căn cứ để tòa án áp dụng khi xét xử tội phạm lúc người chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội. Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định 07 nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, trong đó có nguyên tắc chung, có nguyên tắc miễn trách nhiệm hình sự, có nguyên tắc quyết định hình phạt

Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 91

Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 như sau: a) Nguyên tắc việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội (khoản 1 Điều 91

Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017)

Nguyên tắc này không chỉ Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 mới nêu, mà ngay từ Bộ luật Hình sự 1985 đã nêu nhưng trên thực tế không phải lúc nào các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng cũng quán triệt nguyên tắc này. Bảo đảm lợi ích tốt nhất và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ người dưới

18 tuổi phạm tội là trong mọi tình huống, mọi trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải tạo mọi điều kiện và áp dụng các biện pháp phi trừng trị đối với họ

Yêu cầu của nguyên tắc này là giáo dục, giúp đỡ người dưới 18 tuổi phạm tội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Do đó, việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi cũng phải thể hiện sao cho bảo đảm việc giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, chứ không nhằm trừng trị Do đó, ngay từ khi khởi tố, điều tra, cơ quan điều tra không chỉ áp dụng các biện pháp lý có lợi nhất, đồng thời phải quán triệt tinh thần là: Nếu không cần thiết bắt giữ, tạm giữ, tạm giam đối với họ thì không được áp dụng các biện pháp này đối với họ Mặt khác, phải bảo đảm các quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự đối với họ như phải có người bào chữa ngay từ khi bị bắt; nếu trường hợp buộc phải bắt giữ để ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội thì sau khi bị bắt, nếu có người bảo lĩnh hoặc thấy việc cho tại ngoại không gây ảnh hưởng cho xã hội thì cương quyết phải cho tại ngoại. b) Nguyên tắc người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung

2017, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục quy định tại Mục 2 Chương XII Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 (khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017)

Các trường hợp mà người dưới 18 tuổi có thể được miễn trách nhiệm hình sự gồm:

Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại Điều 134 (tội "Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác"); Điều 141 (tội "Hiếp dâm"); Điều 171 (tội

"Cướp giật tài sản"); Điều 248 (tội "Sản xuất trái phép chất ma túy"); Điều 249 (tội

"Tàng trữ trái phép chất ma túy"); Điều 250 (tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy"); Điều 251 (tội "Mua bán trái phép chất ma túy"); Điều 252 (tội "Chiếm đoạt chất ma túy") của Bộ luật Hình sự 2015;

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự 2015, trừ trường hợp quy định tại Điều 123 (tội "Giết người"); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6 (tội "Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác"); Điều 141 (tội "Hiếp dâm"), Điều 142 (tội "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi"); Điều 144 (tội "Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi"); Điều 150 (tội "Mua bán người"); Điều 151 (tội "Mua bán người dưới 16 tuổi"); Điều 168 (tội "Cướp tài sản"); Điều 171 (tội "Cướp giật tài sản"); Điều

248 (tội "Sản xuất trái phép chất ma túy"); Điều 249 (tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"); Điều 250 (tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy"); Điều 251 (tội "Mua bán trái phép chất ma túy"); Điều 252 (tội "Chiếm đoạt chất ma túy") của Bộ luật Hình sự 2015;

Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án c) Nguyên tắc việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm (khoản 3 Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017) Đây là nguyên tắc đã được quy định từ Bộ luật Hình sự năm 1985 nhưng trên thực tế ít được các cơ quan tiến hành tố tụng quán triệt đầy đủ Một mặt do nhận thức, mặt khác do không có hướng dẫn cụ thể và tình hình tội phạm đối với người dưới 18 tuổi thực hiện ngày một gia tăng ở nước ta nên nguyên tắc này phần nào bị xem nhẹ. Đã có lúc trên nghị trường cũng có đại biểu lo lắng khi Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định nương nhẹ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, nhất là trong điều kiện hiện nay tình hình tội phạm đối với người chưa thành niên gia tăng và ngày càng nghiêm trọng Tuy nhiên, quan điểm nhất quán, chủ đạo và thể hiện chính sách hình sự của nước ta đối với người chưa thành niên phạm tội nên Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 vẫn quy định nguyên tắc này đối với người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội. d) Nguyên tắc khi xét xử, tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa (khoản 4 Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017).

Các biện pháp tư pháp và hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

1.4.1 Các đặc điểm của biện pháp tư pháp

Biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trước hết là một biện pháp của pháp luật hình sự và chỉ có thể được áp dụng khi có hành vi phạm tội do người chưa thành niên thực hiện.

Biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên là biện pháp cưỡng chế về hình sự ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt và việc áp dụng biện pháp tư pháp thay thế hình phạt không để lại án tích

Biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên là biện pháp tư pháp nhằm thay thế hoặc hỗ trợ hình phạt do cơ quan có thẩm quyền áp dụng Giữa biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên và hình phạt có điểm khác nhau như sau:

Về mức độ nghiêm khắc trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế về hình sự:

Hình phạt được coi là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của hình sự, do đó, các loại chế tài khác đều có mức độ ít nghiêm khắc hơn, trong đó có biện pháp tư pháp

Về chủ thể có thẩm quyền áp dụng và đối tượng bị áp dụng: Hình phạt do Tòa án áp dụng đối với chủ thể phạm tội Nhưng biện pháp tư pháp có thể do cơ quan tố tụng khác ngoài Tòa án và các chủ thể khác ngoài chủ thể phạm tội cùng tham gia thực hiện biện pháp tư pháp.

Về điều kiện áp dụng (ranh giới giữa áp dụng hình phạt và áp dụng biện pháp tư pháp): Khi xét thấy trong trường hợp không cần thiết phải áp dụng hình phạt thì Tòa quyết định áp dụng các biện pháp tư pháp thay thế

Về hậu quả pháp lý của việc áp dụng: Người phạm tội khi bị áp dụng hình phạt thì chắc chắn sẽ chịu án tích Nhưng nếu áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Điều

70 Bộ luật hình sự thì người phạm tội không phải chịu án tích.

1.4.2 Các biện pháp tư pháp theo Bộ luật Hình sự năm 1985

Bộ luật cũng dành một điều quy định về biện pháp tư pháp và hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội Theo đó, biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội bao gồm:

Biện pháp buộc phải chịu thử thách;

Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng

Biện pháp buộc phải chịu thử thách Được áp dụng trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng, thời gian phải chịu thử thách từ một đến hai năm Trong quá trình chấp hành biện pháp buộc phải chịu thử thách, người chưa thành niên phải chấp hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, lao động, tuân thủ kỷ luật xã hội và pháp luật dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền cơ sở và tổ chức xã hội được Tòa án giao trách nhiệm Trong trường hợp người chịu thử thách đã chấp hành một nửa thời hạn do Tòa án quyết định và tỏ ra

8 nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của tổ chức được giao trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án quyết định chấm dứt thời hạn thử thách.

Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng Được áp dụng khi tính chất của hành vi phạm tội nghiêm trọng, do nhân thân và môi trường sống của họ cần đưa họ vào một tổ chức giáo dục của kỷ luật chặt chẽ. Thời hạn ở trường giáo dưỡng là từ một năm đến ba năm.

Cũng như biện pháp buộc phải chịu thử thách, nếu người chưa thành niên phạm tội đã chấp hành được một nửa thời hạn do Tòa án quyết định, có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của người phụ trách trường, Tòa án có thể quyết định chấm dứt thời hạn ở trường giáo dưỡng

Sau 14 năm thi hành Bộ luật Hình sự 1985, do tình hình kinh tế xã hội có nhiều thay đổi, Bộ luật Hình sự 1985 đã bộc lộ những bất cập và hạn chế, đến năm 1999, Bộ luật Hình sự mới được ban hành Theo đó, các quy định về biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên cũng được sửa đổi, bổ sung Theo quy định Bộ luật Hình sự

1999, biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên bao gồm:

Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Đưa vào trường giáo dưỡng

Như vậy, biện pháp buộc phải chịu thử thách quy định tại Bộ luật Hình sự 1985 đã bị bãi bỏ, thay thế bởi biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Bên cạnh đó, trong một số trường hợp nếu không trái với quy định tại Chương X

Bộ luật Hình sự 1999, người chưa thành niên phạm tội còn có thể bị áp dụng các biện pháp tư pháp quy định tại phần chung của Bộ luật

Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng trong thời gian từ một năm đến hai năm

Xét theo Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định trách nhiệm hình sự thì người từ đủ

14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm Như vậy, biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là chỉ áp dụng trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, thì biện pháp này chỉ áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên

TÌNH HÌNH PHẠM TỘI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU

MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG ĐỀ HOÀN THIỆN VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

Ngày đăng: 24/08/2023, 21:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Ban Chỉ đạo thi hành Bộ luật hình sự (2000), Tài liệu Tập huấn chuyên sâu về Bộ luật hình sự năm 1999, Nhà in Bộ Công an, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Tập huấn chuyên sâu về Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Ban Chỉ đạo thi hành Bộ luật hình sự
Nhà XB: Nhà in Bộ Công an
Năm: 2000
9. Bản Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước đoạt tự do (JDLs) (1990), (Được thông qua theo Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 14/12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước đoạt tự do (JDLs)
Năm: 1990
10. Lê Cảm (2000), Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự, Tập III, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2000
11. Lê Cảm (Chủ biên) (2003), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
12. Lê Cảm (Chủ biên) (2003), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
13. Lê Văn Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Sách chuyên khảo Sau đại học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
14. Lê Cảm, Đỗ Thị Phượng (2004), Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên: Những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học, Tòa án nhân dân, (20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên: Những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học
Tác giả: Lê Cảm, Đỗ Thị Phượng
Nhà XB: Tòa án nhân dân
Năm: 2004
15. Chính phủ (2015), Tờ trình số 186/TTr - CP ngày 27/4 về Dự án Bộ luật hình sự (sửa đổi), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình số 186/TTr - CP ngày 27/4 về Dự án Bộ luật hình sự (sửa đổi)
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
16. Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (1989), (do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 theo Nghị quyết số 44/25, có hiệu lực02/9/1990). 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em
Nhà XB: Đại hội đồng Liên hợp quốc
Năm: 1989
17. Trần Văn Dũng (2003), Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Dũng
Nhà XB: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2003
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
20. Nguyễn Đình Gấm (2002), Nguyên nhân tâm lý xã hội của tội phạm vị thành niên, Tâm lý học, tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân tâm lý xã hội của tội phạm vị thành niên
Tác giả: Nguyễn Đình Gấm
Nhà XB: Tâm lý học
Năm: 2002
22. Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
23. Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn (2006), Từ điển pháp luật hình sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển pháp luật hình sự
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
24. Đỗ Thị Phương (2015), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Phương
Nhà XB: Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
25. Đặng Thanh Sơn (2008), Pháp luật Việt Nam về tư pháp người chưa thành niên, Nghiên cứu lập pháp. 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam về tư pháp người chưa thành niên
Tác giả: Đặng Thanh Sơn
Nhà XB: Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2008
26. UNICEF - Cục trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp (2016), Nghiên cứu, đánh giá, phân tích tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật và hệ thống xử lý tại Việt Nam, Báo cáo tổng hợp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, đánh giá, phân tích tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật và hệ thống xử lý tại Việt Nam
Tác giả: UNICEF, Cục trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp
Nhà XB: Báo cáo tổng hợp
Năm: 2016
27. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội (2016), Báo cáo tổng kết của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội từ năm 2012 đến năm 2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội từ năm 2012 đến năm 2016
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2016
28. Nguyễn Tất Viễn (2014), Tòa án người chưa thành niên, Vì trẻ thơ, Số chuyên đề, tr7-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án người chưa thành niên
Tác giả: Nguyễn Tất Viễn
Nhà XB: Vì trẻ thơ
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w