1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đồ án tốt nghiệp: Phương án kinh tế kỹ thuật xây dựng lưới khống chế cơ sở bằng công nghệ GPS cho khu đô thị tại xã Vân Canh Hoài Đức Hà Nội

47 795 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đồ án tốt nghiệp: Phương án kinh tế kỹ thuật xây dựng lưới khống chế cơ sở bằng công nghệ GPS cho khu đô thị tại xã Vân Canh Hoài Đức Hà Nội
Tác giả Nguyễn Hồng Hải
Người hướng dẫn TS. Lờ Minh Tỏ
Trường học Trường Đại Học Mỏ-Địa Chất
Chuyên ngành Trắc địa
Thể loại đồ án tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồ án tốt nghiệp: Phương án kinh tế kỹ thuật xây dựng lưới khống chế cơ sở bằng công nghệ GPS cho khu đô thị tại xã Vân Canh Hoài Đức Hà Nội Đồ án tốt nghiệp với đề tài Phương án kinh tế kỹ thuật xây dựng lưới khống chế cơ sở bằng công nghệ GPS cho khu đô thị tại xã Vân Canh –Hoài Đức Hà Nội có nội dung gồm 3 chương: chương 1 khái quát về công nghệ GPS, chương 2 thiết kế lưới khống chế cơ sở khu đô thị Vân Canh Hoài Đức Hà Nội, chương 3 hạch toán kinh tế.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong giai đoạn hiện nay, trước sự phát triển như vũ bão của khoa họccông nghệ, việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào trongtất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội là một tất yếu khách quan Trong trắcđịa cũng vậy, công nghệ GPS đã mở ra một kỷ nguyên mới, đã thay thế côngnghệ truyền thống trong việc thành lập và xây dựng các mạng lưới toạ độ cáccấp

Ứng dụng công nghệ GPS cho phép chúng ta thành lập các mạng lướitoạ độ trên diện rộng, không những bao phủ toàn quốc mà còn cho phép liênkết với các mạng lưới trên thế giới Công nghệ GPS đã giúp các nhà quản lýgiải quyết được bài toán vĩ mô mang tính toàn cầu

Chúng ta ứng dụng công nghệ GPS trong hơn 10 năm qua đã giải quyếtđược các bài toán lớn như (xây dựng hệ VN2000, thành lập được mạng lướiĐịa chính cơ sở phủ trùm toàn quốc, ghép nối toạ độ VN2000 với các hệ toạ

Đồ án gồm 3 chương:

Chương I: Khái quát về công nghệ GPS

Chương II: Thiết kế lưới khống chế cơ sở khu đô thị Vân Canh – Hoài

Đức – Hà Nội

Chương III: Hạch toán kinh tế

Trang 2

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Trong quá trình nghiên cứu, em đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tìnhcủa TS Lê Minh Tá và các thầy cô giáo trong bộ môn trắc địa cao cấp, cũngnhư các thầy cô giáo trong khoa Trắc địa – Trường Đại học Mỏ-Địa Chất

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do trình độ còn hạn chế nên bản đồ

án này không thể tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự chỉ bảo củacác thầy cô giáo và sự đóng góp của các bạn đồng nghiệp để bản đồ án của

em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 10 năm 2011

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Hồng Hải

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

MỤC LỤC 3

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ CÔNG NGHỆ GPS 5

I.1 CẤU TRÚC VÀ NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG GPS 5

I.1.1 Đoạn không gian 6

1.1.2 Đoạn điều khiển 7

1.1.3 Đoạn sử dụng 7

1.2 CÁC NGUYÊN LÝ ĐỊNH VỊ 8

1.2.1 Các đại lượng đo 8

1.2.2 Định vị tuyệt đối (Point Positioning) 10

1.2.3 Định vị tương đối (Relative Positioning) 11

I.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO VÀ CÁC NGUỒN SAI SỐ 12

I.3.1 Đo cải chính phân sai GPS (Code – based Differential GPS) 13

I.3.2 Đo tĩnh (Static) 14

I.3.3 Kỹ thuật đo động (Kinematic) 14

I.3.4 Kỹ thuật đo giả động (Pseudo - Kinematic) 15

I.3.5 Các nguồn sai số trong định vị GPS 16

I.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP CƠ BẢN THÀNH LẬP LƯỚI 19

I.5 CÁC ỨNG DỤNG CỦA GPS TRONG TRẮC ĐỊA 22

I.5.1 Xây dựng lưới khống chế mặt bằng 22

I.5.2 GPS phục vụ đo vẽ địa chính 24

CHƯƠNG II: THIẾT KẾ LƯỚI KHỐNG CHẾ CƠ SỞ KHU ĐÔ THỊ VÂN CANH- HOÀI ĐỨC- HÀ NỘI 26

II.1 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU 26

II.2 ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH KHU ĐO 28

Trang 4

II.3 THIẾT KẾ LƯỚI GPS 29

II.3.1 Phương án thành lập lưới 29

II.3.2 Thiết kế đồ hình lưới 31

II.3.3 Phương án tổ chức thi công 32

CHƯƠNG III: HẠCH TOÁN KINH TẾ 35

III.1 CĂN CỨ PHÁP LÝ 35

III.2 DỰ TOÁN KINH PHÍ 35

III.2.1 Chi phí trực tiếp A 36

III.2.2 Tính chi phí chung (B) và chi phí khác (F) 40

III.2.3 Thuế giá trị gia tăng 41

III.3 CÁC BIỆN PHÁP ĐỀ PHÒNG VÀ THỰC HIỆN AN TOÀN LAO ĐỘNG 46

III.4 Các biện pháp nâng cao năng suất lao động 47

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 5

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ CÔNG NGHỆ GPS

Từ những năm 1960, Bộ Quốc phòng Mỹ và cơ quan hàng không quốcgia (NASA) đã triển khai hệ thống đạo hành mang tên TRANSIT Hệ thốngnày đã sớm đạt được các ưu điểm của hệ thống đạo hàng và trở thành dịch vụdẫn đường từ năm 1967 Hệ thống TRANSIT hoạt động trên nguyên lýDopper, các vệ tinh của TRANSIT phát tín hiệu ở hai tần số là 150 MHz và400MHz Với tần số này các tín hiệu truyền từ vệ tinh dễ bị tầng điện ly làmchậm và bị nhiễu Việc quan sát vệ tinh TRANSIT chỉ kéo dài trong 20’,trong khi đó yêu cẩu của định vị điểm phải quan sát vệ tinh 1h-3h Theo ướctính có khoảng 80.000 đơn vị dân sự đã sử dụng hệ thống TRANSIT cho đạohàng Hệ thống TRANSIT kết thúc sử dụng vào năm 1996

Hệ thống định vị toàn cầu GPS được viết đầy đủ là NAVSTAR GPS(Navigation Satellite Timing and Global Positioning System) Ngày 22 tháng

2 năm 1978 vệ tinh đầu tiên của hệ thống định vị toàn cầu GPS đã đưa lênquỹ đạo Từ năm 1978-1985 có 11 vệ tinh Block I được phóng lên quỹ đạo.Hiện nay, hầu hết số vệ tinh thuộc Block I đã hết thời hạn sử dụng Việcphóng vệ tinh thế hệ Block II bắt đầu vào năm 1989, sau giai đoạn này hệthống gồm 24 vệ tinh triển khai trên 6 quỹ đạo nghiêng 550 so với mặt phẳngxích đạo trái đất với chu kỳ 12h ở độ cao khoảng 20.200km Loại vệ tinh thế

hệ II (Block IIR) được đưa lên quỹ đạo vào năm 1995 [10], cho đến nay có 32

vệ tinh GPS đang hoạt động

Trước năm 1980 hệ thống GPS chỉ được sử dụng cho mục đích quân

sự, sau năm 1980 chính phủ Mỹ đã cho phép đưa vào sử dụng trong các lĩnhvực về phi quân sự

I.1 Cấu trúc và nguyên lý hoạt động của hệ thống GPS

Hệ thống định vị toàn cầu GPS gồm 3 bộ phận chính là:

Trang 6

Đoạn không gian (Space Segment)

Đoạn điều khiển (Control Segment)

Đoạn sử dụng (User Segment)

I.1.1 Đoạn không gian

Đoạn không gian bao gồm 24 vệ tinh chuyển động trên 6 mặt phẳngquỹ đạo ở độ cao khoảng 20200km Mặt phẳng quỹ đạo nghiêng với mặtphẳng xích đạo trái đất một góc 550 Vệ tinh GPS chuyển đông trên quỹ đạogần như tròn đều với chu kỳ 718 phút (12 giờ) Với sự phân bố vệ tinh trênquỹ đạo, như vậy trong suốt thời gian nào và bất kỳ vị trí quan sát nào trêntrái đất cũng có thể quan sát được tối thiểu 4 vệ tinh

Hình 1:Các vệ tinh GPS trên bầu trời

Các vệ tinh GPS đều có thiết bị tạo dao động với tần số cơ sở chuẩn

f0 = 10.24 MHz Từ tần số cơ sở thiết bị sẽ tạo ra 2 tần số sóng tải L1,L2

Trang 7

L1 = 154 f0 = 1575.42 MHz có bước sóng λ1 = 19.032 m

L2 = 120 f0 = 1227.60 MHz có bước sóng λ2 = 24.142 m

1.1.2 Đoạn điều khiển

Đoạn điều khiển gồm 5 trạm mặt đất phân bố đều quanh trái đất trong

đó có trạm chủ (Master Station) đặt tại căn cứ không quân Falcon ở ColoradoSpring, bang Colorado, USA

Các trạm theo dõi tại Hawai (Thái Bình Dương), Ascension Island (ĐạiTây Dương), Diego Garcia (Ấn Độ Dương) và Kwajalein (Tây Thái BìnhDương) có nhiệm vụ theo dõi liên tục tất cả các vệ tinh có thể quan sát được

Trạm chủ là nơi nhận và xử lý các tín hiệu thu từ các vệ tinh tại 4 trạmtheo dõi Sau khi số liệu GPS được thu thập, xử lý, toạ độ và độ lệch đồng hồcủa từng vệ tinh được tính toán và hiệu chỉnh tại trạm chủ và sau đó truyền tớicác vệ tinh hàng ngày qua các trạm theo dõi

1.1.3 Đoạn sử dụng

Gồm tất cả các máy móc thiết bị nhận thông tin từ vệ tinh để khai thác,

sử dụng cho mục đích và yêu cầu khác nhau như dẫn đường trên biển, trênkhông và đất liền, phục vụ cho các công tác đo đạc ở nhiều nơi trên thế giới

Máy thu GPS là phần cứng quan trọng trong đoạn sử dụng Nhờ cáctiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực điện tử viễn thông và kỹ thuật thông tin tínhiệu số, các máy thu GPS ngày một hoàn thiện Một số hãng chế tạo cũng cho

ra đời các máy thu có thể thu đồng thời tín hiệu vệ tinh GPS và GLONASS

Cùng với máy thu còn có các phần mềm phục vụ xử lý thông tin nhưTrimvec, Trimnet Plus, GPSurvey,… Các phần mềm này ngày càng hoànthiện, nâng cao độ chính xác và hiệu quả tính toán, xử lý

Trang 8

1.2 Các nguyên lý định vị

1.2.1 Các đại lượng đo

Việc định vị bằng GPS thực hiện trên cơ sở sử dụng hai dạng đại lượng

đo cơ bản, đó là đo khoảng cách giả theo các code tựa ngẫu nhiên (C/A-code

và P-code) và đo pha của sóng tải (L1, L2)

Đo khoảng cách giả theo C/A code và P-code

Code tựa ngẫu nhiên được phát đi từ vệ tinh cùng với sóng tải Máy thuGPS cũng tạo ra code tựa ngẫu nhiên đúng như vậy Bằng cách so sánh codethu từ vệ tinh và code của chính máy thu tạo ra có thể xác định được khoảngcách thời gian lan truyền của tín hiệu code, từ đó dễ dàng xác định đượckhoảng cách từ vệ tinh đến máy thu (đến tâm anten của máy thu) Do có sựkhông đồng bộ giữa đồng hồ của vệ tinh và máy thu, do có ảnh hưởng củamôi trường lan truyền tín hiệu nên khoảng cách tính theo khoảng thời gian đođược không phải là khoảng cách thực giữa vệ tinh và máy thu, đó là khoảngcách giả

Nếu ký hiệu toạ độ của vệ tinh là xs, ys, zs; toạ độ của điểm xét (máythu) là x, y, z; thời gian lan truyền tín hiệu từ vệ tinh đến điểm xét là t, sai sốkhông đồng bộ giữa đồng hồ trên vệ tinh và trong máy thu là ∆t, khoảng cáchgiả đo được là R, ta có phương trình:

Trong đó c là tốc độ lan truyền tín hiệu

Trang 9

Hình 3: Nguyên lý xác định vị trí bằng GPS

Trong trường hợp sử dụng C/A code, theo dự tính của các nhà thiết kế

hệ thống GPS, kỹ thuật đo khoảng cách thời gian lan truyền tín hiệu chỉ có thểđảm bảo độ chính xác đo khoảng cách tương ứng cỡ 30m Nếu tính đến ảnhhưởng của điều kiện lan truyền tín hiệu, sai số đo khoảng cách theo C/A code

sẽ ở mức 100m là mức có thể chấp nhận được để cho khách hàng dân sự đượckhai thác Song kỹ thuật xử lý tín hiệu code này được phát trển đến mức cóthể đảm bảo độ chính xác đo khoảng cách cỡ 3m, tức là hầu như không thuakém so với trường hợp sử dụng P-code vốn không dành cho khách hàng đạitrà Chính vì lý đo này mà Mỹ đã đưa ra giải pháp SA để hạn chế khả năngthực tế của C/A code Nhưng ngày nay do kỹ thuật đo GPS có thể khắc phụcđược nhiều SA, Chính phủ Mỹ tuyên bố bỏ nhiễu SA trong trị đo GPS từtháng 5 năm 2000

b Đo pha sóng tải

Các sóng tải L1, L2 được sử dụng cho việc định vị với độ chính xác cao.Với mục đích này người ta tiến hành đo hiệu số giữa pha của sóng tải do máy

Trang 10

thu nhận được từ vệ tinh và pha của tín hiệu do chính máy thu tạo ra Hiệu sốpha do máy thu đo được ký hiệu là Ф (0< Ф<2Π) ) Khi đó ta có thể viết:

Ф = (R-Nλ + c∆t) (1.2)

Trong đó: R là khoảng cách giữa vệ tinh và máy thu;

λ là bước sóng của sóng tải;

N là số nguyên lần bước sóng λ chứa trong R;

∆t là sai số đồng bộ giữa đồng hồ của vệ tinh và máy thu;

N còn được gọi là số nguyên đa trị, thường không biết trước được màcần phải xác định trong thời gian đo

Trong trường hợp đo pha theo sóng tải L1 có thể xác định khoảng cáchgiữa vệ tinh và máy thu với độ chính xác cỡ cm thậm chí còn nhỏ hơn Sóngtải L2 cho độ chính xác thấp hơn nhiều, nhưng tác dụng của nó là cùng với L1

tạo ra khả năng làm giảm đáng kể tầng điện ly và việc xác định số nguyên đatrị được đơn giản hơn

1.2.2 Định vị tuyệt đối (Point Positioning)

Đây là trường hợp sử dụng máy thu GPS để xác định ngay toạ độ củađiểm quan sát trong hệ toạ độ WGS84 Đó có thể là các thành phần toạ độvuông góc không gian (X, Y, Z) hoặc các thành phần toạ độ mặt cầu ( B, L,H) Hệ thống toạ độ WGS84 là hệ thống toạ độ cơ sở của GPS, toạ độ của vệtinh và điểm quan sát điều lấy theo hệ thống toạ độ này Nó được thiết lập gắnvới elipxoid có kích thước như sau:

a = 6378137 1/α = 298,2572…

Việc đo GPS tuyệt đối được thực hiện trên cơ sở sử dụng đại lượng đo

là khoảng cách giả từ vệ tinh đến máy thu theo nguyên tắc giao hội cạnhkhông gian từ các điểm đã biết là toạ độ các vệ tinh

Trang 11

Nếu biết chính xác khoảng cách thời gian lan truyền tín hiệu code tựangẫu nhiên từ vệ tinh đến máy thu, ra sẽ tính được khoảng cách chính xácgiữa vệ tinh và máy thu Khi đó 3 khoảng cách được xác định đồng thời từ 3

vệ tinh đến máy thu sẽ cho ta vị trí không gian đơn trị của máy thu Song trênthực tế cả đồng hồ trên vệ tinh và đồng hồ trong máy thu đều có sai số, nênkhoảng cách đo được không phải là khoảng cách chính xác Kết quả là chúngkhông thể cắt nhau tại một điểm, nghĩa là không thể xác định được vị trí củamáy thu Để khắc phục tình trạng này cần sử dụng thêm một đại lượng đonữa, đó là khoảng cách từ vệ tinh thứ 4, ta có các phương trình (1.3) sau:

Với 4 phương trình 4 ẩn số (X, Y, Z, ∆t) ta sẽ tìm được nghiệm là toạ

độ tuyệt đối của máy thu, ngoài ra còn xác định được thêm số hiệu chỉnh củađồng hồ (thạch anh) của máy thu

Trên thực tế với hệ thống vệ tinh hoạt động đầy đủ như hiện nay, sốlượng vệ tinh mà các máy thu quan sát được thường từ 6-8 vệ tinh, khi đónghiệm của phương trình sẽ tìm theo nguyên lý số bình phương nhỏ nhất

1.2.3 Định vị tương đối (Relative Positioning)

Đo GPS tương đối là trường hợp sử dụng hai máy thu GPS đặt ở haiđiểm quan sát khác nhau để xác định ra hiệu toạ độ vuông góc không gian(∆X, ∆Y, ∆Z) hay hiệu toạ độ mặt cầu (∆B, ∆L, ∆H) giữa chúng trong hệ toạ

độ WGS84

Nguyên tắc đo GPS tương đối được thực hiện trên cơ sở sử dụng đạilượng đo là pha của sóng tải Để đạt được độ chính xác cao và rất cao cho kếtquả xác định hiệu toạ độ giữa hai điểm xét, người ta đã tạo ra và sử dụng cácsai phân khác nhau cho pha sóng tải nhằm làm giảm ảnh hưởng đến các

Trang 12

nguồn sai số khác nhau như: Sai số của đồng hồ vệ tinh cũng như của máythu, sai số toạ độ vệ tinh, sai số số nguyên đa trị,…

Ta ký hiệu là hiệu pha của sống tải từ vệ tinh j đo được tại trạm r

và thời điểm ti, khi đó nếu hai trạm đo 1 và 2 ta quan sát đồng thời vệ tinh jvào thời điểm t, ta sẽ có sai phân bậc 1 được biểu diễn như sau:

Sai phân này cho phép loại trừ sai số số nguyên đa trị

Hiện nay hệ thống GPS có khoảng 27 - 28 vệ tinh hoạt động Do vậy,tại mỗi thời điểm ta có thể quan sát được số vệ tinh nhiều hơn 4 Bằng cáchtổng hợp theo từng cặp vệ tinh sẽ có rất nhiều trị đo, mặt khác thời gian thutín hiệu trong đo tương đối thường khá dài, vì vậy số lượng trị đo để xác định

ra hiệu toạ độ giữa hai điểm là rất lớn, khi đó bài toán sẽ giải theo phươngpháp số bình phương nhỏ nhất

Trang 13

I.3 Các phương pháp đo và các nguồn sai số

Trong công tác khai thác và sử dụng hệ thống GPS hiện nay, tuỳ từngtính chất công việc, độ chính xác các đại lượng cần tìm mà người ta sử dụngphương pháp đo cho phù hợp Hiện nay trong thực tế có một số kỹ thuật đonhư sau:

I.3.1 Đo cải chính phân sai GPS (Code – based Differential GPS)

Hiện nay do nhu cầu định vị với độ chính xác cỡ dm đến vài m trongkhi đó mặc dù chính phủ Mỹ đã khuyến cáo bỏ chế độ can thiệp SA nhưng độchính xác của định vị tuyệt đối vẫn không dưới 10m Vì vậy, các nhà sản xuất

đã đưa ra phương pháp đo sai phân

Trong phương pháp này cần một máy thu GPS được kết nối với một bộđiều biến để phát tín hiệu tại điểm gốc, một số máy khác (máy di động) đặt tại

vị trí các điểm cần xác định toạ độ Cả máy cố định và máy thu cùng thu tínhiệu vệ tinh như nhau Nếu thông tin từ vệ tinh bị nhiễu thì kết quả xác địnhtoạ độ của máy cố định và máy thu cùng bị sai lệch như nhau Độ sai lệch nàyđược xác định trên cơ sở so sánh toạ độ tính theo tín hiệu và toạ độ của máy

cố định đã biết trước Sai lệch đó ở máy cố định phát qua sóng vô tuyến đểmáy di động nhận được và hiệu chỉnh kết quả cho các điểm đo

Ngoài cách hiệu chỉnh toạ độ thì người ta còn tiến hành hiệu chỉnhkhoảng cách từ vệ tinh tới máy thu Cách hiệu chỉnh này đòi hỏi máy thu cốđịnh có cấu tạo phức tạp và tốn kém hơn Nhưng cho phép người sử dụng xử

lý chủ động và linh hoạt hơn

Phương pháp này có hai cách xử lý số hiệu chỉnh tại điểm di động: Phương pháp xử lý tức thời (Real time)

Phương pháp xử lý sau (Post processing)

Để đảm bảo độ chính xác cần thiết, các số hiệu chỉnh cần được xác định

và phát chuyển nhanh với tần suất cao, chẳng hạn để cho khoảng cách từ vệtinh đến máy thu được hiệu chỉnh toạ độ chính xác cỡ 5m thì số hiệu chỉnh

Trang 14

phải được phát chuyển đi với tần suất 15s/lần Cũng với lý do này mà phạm vihoạt động có hiệu quả của một máy thu cố định không phải là tuỳ ý màthường hạn chế ở bán kính vài trăm km Người ta đã xây dựng hệ thống GPS

vi phân diện rộng cũng như mạng lưới GPS vi phân gồm một số trạm cố định

để phục vụ nhu cầu định vị cho cả một lục địa hay đại dương với độ chính xác

cỡ 10m Phương pháp định vị GPS vi phân có thể đảm bảo độ chính xác phổbiến cỡ vài ba m đến dm

I.3.2 Đo tĩnh (Static)

Đo tĩnh (Static) hay đo tĩnh nhanh (Fast - Static) là phương pháp đotương đối, sử dụng hai hoặc nhiều máy thu đồng thời tín hiệu trong một thờigian dài để xác định ra hiệu toạ độ giữa các máy thu Các trạm đo đồng thời

sẽ tạo thành các đoạn đo

Đo tĩnh là phương pháp đo có độ chính xác cao nhất, với các máy thuGPS 1 tần số và 2 tần số hiện nay cho độ chính xác rất cao phục vụ cho côngtác xây dựng các mạng lưới trắc địa nhà nước, nghiên cứu địa động,…

Ở khoảng cách dài từ vài chục đến vài trăm km, người ta thường sửdụng máy đo hai tần số L1, L2 để khắc phục sai số đo tầng điện ly

I.3.3 Kỹ thuật đo động (Kinematic)

Ra đời từ những năm 1985 song đến những năm 1990 mới được ápdụng rộng rãi nhờ có tiến bộ trong lời giải OTS Ở nước Mỹ kỹ thuật đo độngđược triển khai thử nghiệm từ năm 1997 Phương pháp đo dựa trên nguyên lýđịnh vị tương đối

Cơ sở của định vị động là dựa trên sự khác nhau của trị đo giữa hai chu

kỳ đo (epoch), được nhận bởi một máy thu tín hiệu của chính vệ tinh nào đóchuyển đến Sự thay đổi đó tương đương với sự thay đổi khoảng cách địa diệnđến vệ tinh

Kết quả của định vị động là xác định được các điểm trên đường đi củamáy thu di động so với máy thu cố định Trạm máy cố định được gọi là trạm

Trang 15

tham khảo (reference) hay còn gọi là trạm BASE Máy thu đặt tại trạm phảiđảm bảo cố định trong suốt thời gian đo động Máy thu di động gọi là Rover,được di động trên các điểm đo cần xác định toạ độ (trên đất liền, trên khôngtrung, trên biển) Trong thời gian đo, cả hai máy phải đảm bảo thu được liêntục ít nhất 4 vệ tinh Định vị động có thể sử dụng đối với trị đo khoảng cáchgiả hoặc trị đo pha sóng tải hoặc phối hợp cả hai loại trên Trong các trườnghợp việc sử dụng pha sóng tải có độ chính xác cao hơn

Định vị động cần thực hiện thủ tục khởi đo trên mặt đất nhờ cặp điểmbiết toạ độ Cặp điểm này thường được xác định trước nhờ đo tĩnh hoặc tĩnhnhanh Ngoài ra có thể khởi đo nhờ kỹ thuật OTF Trong quá trình đo, vì lý

do nào đó số vệ tinh thu được ít hơn 4, sẽ bị mất khởi đo, trong trường hợpnày phải thực hiện lại thủ tục khởi đo

Khoảng cách từ trạm BASE đến trạm ROVER không được quá xa, đốivới máy thu một tần TRIMBLE 4600LS chỉ cho phép khoảng cách tối đa là10km Thời gian dừng máy tại điểm đo thường chỉ cần kéo dài vài giây đếnvài phút sao cho đủ ghi ít nhất hai số liệu đo, thời gian này phụ thuộc vào chế

độ mà người đo cài đặt Một thiết bị khác đi cùng với chế độ đo động là bộđiều khiển đo (Survey Controller)

Phương pháp đo động cũng được thực hiện theo hai chế độ là đo động

xử lý sau (Post Processing Kinematic- PPK) và đo động thời gian thực (RealTime Kinematic - RTK) Trong phương pháp PPK, toạ độ sẽ được tính toán

xử lý trong phòng do vậy không cần thiết đến Radio Link, nhưng với RTK thìthiết bị đó không thể thiếu được, nó đóng vai trò truyền đi tín hiệu chứa các

số hiệu chỉnh về toạ độ từ trạm máy BASE

I.3.4 Kỹ thuật đo giả động (Pseudo - Kinematic)

Phương pháp đo giả động cho phép xác định vị trí tương đối của hàngloạt điểm so với điểm đã biết trong khoảng thời gian đo khá nhanh, nhưng độchính xác định vị không cao bằng phương pháp đo động Trong phương pháp

Trang 16

này, không cần làm thủ tục khởi đo, tức là không cần sử dụng cạnh đáy đãbiết Máy cố định cũng phải tiến hành thu tín hiệu trong suốt chu kỳ đo, máy

di động được chuyển tới các điểm cần xác định và mỗi điểm thu tín hiệu 5-10phút

Sau khi đo hết lượt máy di động quay trở về điểm xuất phát và đo lặplại tất cả các điểm theo đúng trình tự như trước, nhưng chú ý phải đảm bảokhoảng thời gian giãn cách giữa hai lần đo tại mỗi thời điểm không ít hơn 1tiếng đồng hồ Yêu cầu nhất thiết của phương pháp này là phải có ít nhất 3 vệtinh chung cho cả hai lần đo tại mỗi điểm quan sát

I.3.5 Các nguồn sai số trong định vị GPS

I.3.5.1 Sai số do độ sai lệch đồng hồ

Sai số do sự không đồng bộ giữa đồng hồ vệ tinh và máy thu gây ra sai

số rất lớn trong kết quả đo GPS, đặc biệt là trong định vị tuyệt đối

Các vệ tinh được trang bị đồng hồ nguyên tử có độ chính xác cao, tínhđồng bộ về thời gian giữa các đồng hồ vệ tinh được giữ khoảng 20nano giây.Còn các máy thu GPS được trang bị đồng hồ thạch anh chất lượng cao (1/104)đặt bên trong

Chúng ta biết rằng vận tốc truyền tín hiệu khoảng 3 108m/s, nếu sai sốđồng hồ thạch anh là 10-4s thì sai số khoảng cách tương ứng là 30km, nếuđồng hồ nguyên tử sai 10-7s thì khoảng cách sai là 30km

Với ảnh hưởng như trên, người ta đã sử dụng nguyên tắc định vị tươngđối để loại trừ ảnh hưởng của sai số đồng hồ

I.3.5.2 Sai số quỹ đạo vệ tinh

Chúng ta đã biết vệ tinh chuyển động trên quỹ đạo xung quanh trái đấtchịu nhiều sự tác động như ảnh hưởng của sự thay đổi trọng trường trái đất,ảnh hưởng của sức hút mặt trăng, mặt trời Các ảnh hưởng trên sẽ tác động tớiquỹ đạo của vệ tinh, khi đó vệ tinh sẽ không chuyển động hoàn toàn tuân theođúng ba định luật Kepler Sai số quỹ đạo vệ tinh ảnh hưởng gần như trọn vẹn

Trang 17

tới kết quả định vị tuyệt đối, song được khắc phục về cơ bản trong định vịtương đối hoặc vi phân

Để biết được vị trí của vệ tinh trên quỹ đạo thì người sử dụng có thểcăn cứ vào lịch vệ tinh.Tuỳ thuộc vào mức độ chính xác của thông tin, lịch vệtinh được chia thành 3 loại:

Lịch vệ tinh dự báo (Almanac): phục vụ cho lập lịch và xác định quangcảnh nhìn thấy của vệ tinh tại thời điểm quan sát, lịch vệ tinh này có sai số cỡvài km

Lịch vệ tinh quảng bá (Broadcast ephemeris): được tạo lập dựa trên 5trạm quan sát thuộc đoạn điều khiển của hệ thống GPS, hiện nay khi chế độnhiễu SA đã được bỏ thì lịch vệ tinh quảng bá có sai số cỡ từ 2-5m

Lịch vệ tinh chính xác: được lập dựa trên cơ sở các số liệu quan trắctrong mạng lưới giám sát và được tính toán nhờ một số tổ chức khoa học, loạilịch này cho sai số nhỏ hơn 0.5m

I.5.3.3 Ảnh hưởng điều kiện khí tượng

Tín hiệu vệ tinh đến máy thu đi qua một quãng đường lớn hơn20.000km, trong đó có tầng điện ly cao từ 50km-500km và tầng đối lưu từ độcao 50km đến mặt đất Khi tín hiệu đi qua các tầng này có thể bị thay đổi (tánxạ) phụ thuộc vào mật độ điện tử tự do trong tầng điện ly và tình trạng hơinước, nhiệt độ và các bụi khí quyển trong tầng đối lưu

Người ta ước tính rằng, do ảnh hưởng của tầng điện ly, khi định vị tuyệtđối có thể bị sai số 12m, còn ảnh hưởng của tầng đối lưu có thể sai số cỡ 3m

Các vệ tinh GPS phát tín hiệu ở tần số cao (sóng cực ngắn) do đó ảnhhưởng của tầng điện ly đã được giảm nhiều, tuy vậy cần lưu ý tới đặc tính củasóng cực ngắn là truyền thẳng và dễ bị che chắn

Ảnh hưởng của tầng điện lý tỷ lệ với bình phương tần số, vì vậy khi sửdụng máy thu hai tần sẽ khắc phục được ảnh hưởng này

Tuy vậy, ở khoảng cách ngắn (<10km) tín hiệu tới hai máy coi như đitrong cùng môi trường, sai số sẽ được loại trừ trong các công thức tính hiệu

Trang 18

toạ độ, do vậy ta nên sử dụng máy một tần trong khi đó nếu sử dụng máy haitần có thể bị nhiễu làm kết quả kém chính xác

Để khắc phục ảnh hưởng của tầng đối lưu, người ta quy định chỉ sửdụng tín hiệu vệ tinh có góc cao trên 15độ hoặc trên 10 độ

Hiện nay người ta đã sử dụng một số mô hình khí quyển, trong đó có

mô hình của Hopfield được dùng rộng rãi

I.3.5.4 Sai số đo nhiễu tín hiệu

Tín hiệu vệ tinh tới máy thu có thể bị nhiễu do một số nguyên nhân sau:Tín hiệu bị phản xạ từ các vật (kim loại, bê tong) gần máy thu

Tín hiệu bị nhiễu do ảnh hưởng của các tín hiệu sóng điện từ khácMáy thu GPS đặt gần các đường dây tải điện cao áp

Tín hiệu bị gián đoạn do các vật che chắn tín hiệu

Để khắc phục sai số nhiễu tín hiệu, khi thiết kế điểm đo cần bố trí xacác trạm phát sóng, các đường dây cao thế,…không bố trí máy thu dưới cácrặng cây

I.3.5.5 Sai số do người đo

Người đo có thể phạm các sai lầm như trong đo chiều cao anten, dọiđiểm định tâm không tốt, đôi khi ghi nhầm chế độ đo cao anten Để tránh cácsai số này thì người đo GPS cần thận trọng trong định tâm và đo chiều caoAnten

Cần chú ý là sai số do đo chiều cao anten không những ảnh hưởng tới

độ cao của điểm đo mà còn ảnh hưởng tới vị trí mặt bằng

Trong khi thu tín hiệu không nên đứng vây quanh máy thu, không che ôcho máy

Điều đáng chú ý nhất trong phương pháp này là máy di động không cầnthu tín hiệu vệ tinh liên tục trong suốt chu kỳ đo như phương pháp đo động,tại mỗi điểm đo máy chỉ đo 5-10 phút sau đó có thể tắt máy trong lúc dichuyển tới điểm khác Điều này cho phép áp dụng cả ở những khu vực cónhiều vật che khuất

Trang 19

I.4 Các phương pháp cơ bản thành lập lưới

Trong trắc địa truyền thống, thiết kế đồ hình lưới khống chế là việc cực

kỳ quan trọng Còn trong lưới GPS, nói chung không yêu cầu giữa các điểmphải nhìn thông nhau nên thiết kế đồ hình lưới GPS sẽ linh hoạt hơn Thiết kế

đồ hình lưới GPS chủ yếu tuỳ thuộc vào yêu cầu sử dụng, kinh phí, thời gian,nhân lực, loại hình và số lượng máy thu

Căn cứ vào mục đích sử dụng, thường có 4 phương thức liên kết cơ bản

để thành lập lưới: liên kết điểm, liên kết cạnh, liên kết lưới, liên kết hỗn hợpcạnh – điểm Ngoài ra còn có thể liên kết hình sao, liên kết đường chuyền,liên kết chuối tam giác

Liên kết điểm

Liên kết dạng điểm là dạng liên kết các ca đo đồng hồ kể nhau bởi mộtđiểm chung Cường độ đồ hình của dạng liên kết điểm là rất yếu, không cóhoặc có rất ít điều kiện khép hình không đồng bộ Dạng liên kết điểm thườngkhông được sử dụng đơn độc Ví dụ với 3 máy thu:

Hình 4: Liên kết điểm

Liên kết cạnh

Liên kết cạnh là dạng liên kết giữa các vòng đo đồng bộ kề nhau bởimột cạnh chung Lưới được thành lập theo dạng này có cường độ đồ hìnhtương đối cao, có nhiều cạnh đo lặp và có nhiều điều kiện khép hình không

1

2

Trang 20

đồng bộ Với số lượng máy thu như nhau, số thời đoạn đo sẽ tăng hơn nhiều

so với phương thức liên kết điểm

Ví dụ với 3 máy thu:

Liên kết lưới đường chuyền

Lưới GPS được tạo thành bởi sự liên kết các hình đồng bộ dạng kéo dàinhư đường chuyền, các cạnh độc lập tạo thành dạng khép kín, để kiểm tra độtin cậy của điểm GPS

Hình 7: Lưới đường chuyền

1

2

3 1

2

5 4

Trang 21

Lưới GPS dạng này được ứng dụng thích hợp khi yêu cầu độ chính xácthấp Phương thức này có thể kết hợp với phương thức liên kết điểm

Liên kết hình sao

Dạng hình sao rất đơn giản, các cạnh đo trực tiếp không tạo thành hìnhkhép kín Do đó khả năng kiểm tra và phát hiện sai số thô còn kém hơnphương thức liên kết điểm Nhưng chỉ cần 2 máy thu là được Nếu có 3 máythu thì 1 máy đặt cố định, 2 máy khác có thể di chuyển mà không hạn chế bởiđiều kiện đo đồng bộ

Hình 8: Liên kết hình sao

Vì tốc độ nhanh, giản tiện, liên kết hình sao được ứng dụng trong trắcđịa có yêu cầu độ chính xác thấp, trong địa chất, vật lý địa cầu, đo biên giới,

đo địa chính, đo điểm chi tiết thành lập bản đồ

Mặc dù không yêu cầu nhìn thông giữa các điểm GPS, nhưng xét đếnyêu cầu tăng dày bằng phương pháp truyền thống nên mỗi điểm GPS nên nhìnthông đến ít nhất một điểm

Để sử dụng tư liệu trắc địa và bản đồ hiện có, cần sử dụng tọa độ vốn

đã được sử dụng để tạo lập nên tư liệu ấy Các điểm cũ phù hợp yêu cầu củađiểm GPS, cần phải lợi dụng mốc của nó

Lưới GPS cần phải được tạo thành một số vòng khép không đồng bộhoặc một số tuyến phù hợp từ các cạnh đo độc lập Số cạnh trong mỗi vòng

Trang 22

khép hoặc trong mỗi tuyến phù hợp của các cấp lưới GPS được quy định ở

I.5 Các ứng dụng của GPS trong trắc địa

I.5.1 Xây dựng lưới khống chế mặt bằng

Có thể nói, những ứng dụng đầu tiên của công nghệ GPS trong trắc địa

là đo đạc các mạng lưới trắc địa mặt bằng Chúng ta biết rằng đo tương đốitĩnh cho độ chính xác cao nhất, vì thế phương pháp này được sử dụng để đocác mạng lưới trắc địa

Ưu điểm chủ yếu và quan trọng nhất của công nghệ GPS là có thể xácđịnh được các vector cạnh giữa các điểm trắc địa với độ cao chính xác cao màkhông đòi hỏi tầm thông hướng giữa các điểm đó Ngay từ những năm 1990,khi hiểu biết hết lợi thế của GPS, người ta đã nói rằng, GPS đã đưa cácphương pháp xây dựng lưới trắc địa truyền thống thành “những con khủnglong thời tiền sử” Cho đến nay nhiều nước đã coi đo GPS là phương phápchủ yếu trong xây dựng các mạng lưới trắc địa

Bằng kỹ thuật đo tương đối tĩnh, người ta có thể xây dựng các mạnglưới có cạnh dài đến hàng trăm km Khung tọa độ trái đất quốc tế ITRE(International Celestial Rerence Frane) thực chất là mạng lưới có cạnh dàinhư vậy

Trong quy định đo GPS đã đưa ra một số tiêu chuẩn kỹ thuật lưới GPS nhưsau:

Trang 23

Bảng 1.2: Sai số trung phương tương đối cạnh yếu nhất

Hạng III

Hạng IV

≥ 4-

hiệu (S)

Tĩnh Tĩnh nhanh

10÷60 10÷60 10÷60 10÷60 10÷60

Từ khi có công nghệ GPS, người ta đã đưa ra các khái niệm mới đối vớilưới trắc địa, đó là mạng lưới tĩnh (Passive Control Networks), các mạng lướiđộng (Active Control Networks)

Các mạng lưới tĩnh là các mạng lưới có các mốc cố định trên mặt đấtđược đo với độ chính xác cao và là cơ sở trắc địa trải rộng liên tục trên mộtdiện tích nhất định Các số liệu của các điểm trong mạng lưới được coi làkhông đổi và không có sai số

Ngày đăng: 12/06/2014, 08:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3: Nguyên lý xác định vị trí bằng GPS - Đồ án tốt nghiệp: Phương án kinh tế kỹ thuật xây dựng lưới khống chế cơ sở bằng công nghệ GPS cho khu đô thị tại xã Vân Canh  Hoài Đức  Hà Nội
Hình 3 Nguyên lý xác định vị trí bằng GPS (Trang 9)
Hình 4: Liên kết điểm  Liên kết cạnh - Đồ án tốt nghiệp: Phương án kinh tế kỹ thuật xây dựng lưới khống chế cơ sở bằng công nghệ GPS cho khu đô thị tại xã Vân Canh  Hoài Đức  Hà Nội
Hình 4 Liên kết điểm Liên kết cạnh (Trang 19)
Hình 7: Lưới đường chuyền - Đồ án tốt nghiệp: Phương án kinh tế kỹ thuật xây dựng lưới khống chế cơ sở bằng công nghệ GPS cho khu đô thị tại xã Vân Canh  Hoài Đức  Hà Nội
Hình 7 Lưới đường chuyền (Trang 20)
Hình 5: Liên kết cạnh - Đồ án tốt nghiệp: Phương án kinh tế kỹ thuật xây dựng lưới khống chế cơ sở bằng công nghệ GPS cho khu đô thị tại xã Vân Canh  Hoài Đức  Hà Nội
Hình 5 Liên kết cạnh (Trang 20)
Hình 8: Liên kết hình sao - Đồ án tốt nghiệp: Phương án kinh tế kỹ thuật xây dựng lưới khống chế cơ sở bằng công nghệ GPS cho khu đô thị tại xã Vân Canh  Hoài Đức  Hà Nội
Hình 8 Liên kết hình sao (Trang 21)
Bảng 1.3: Quy định đo GPS - Đồ án tốt nghiệp: Phương án kinh tế kỹ thuật xây dựng lưới khống chế cơ sở bằng công nghệ GPS cho khu đô thị tại xã Vân Canh  Hoài Đức  Hà Nội
Bảng 1.3 Quy định đo GPS (Trang 23)
Bảng 1.2: Sai số trung phương tương đối cạnh yếu nhất - Đồ án tốt nghiệp: Phương án kinh tế kỹ thuật xây dựng lưới khống chế cơ sở bằng công nghệ GPS cho khu đô thị tại xã Vân Canh  Hoài Đức  Hà Nội
Bảng 1.2 Sai số trung phương tương đối cạnh yếu nhất (Trang 30)
Bảng III.3: Bảng tính lương ngày, tháng của kỹ sư và nhân viên ngoại nghiệp - Đồ án tốt nghiệp: Phương án kinh tế kỹ thuật xây dựng lưới khống chế cơ sở bằng công nghệ GPS cho khu đô thị tại xã Vân Canh  Hoài Đức  Hà Nội
ng III.3: Bảng tính lương ngày, tháng của kỹ sư và nhân viên ngoại nghiệp (Trang 37)
BẢNG TỔNG HỢP DỰ TOÁN  CÔNG TRÌNH THÀNH LẬP LƯỚI CƠ SỞ KHOAN SÂU KHU ĐÔ THỊ VÂN CANH - Đồ án tốt nghiệp: Phương án kinh tế kỹ thuật xây dựng lưới khống chế cơ sở bằng công nghệ GPS cho khu đô thị tại xã Vân Canh  Hoài Đức  Hà Nội
BẢNG TỔNG HỢP DỰ TOÁN CÔNG TRÌNH THÀNH LẬP LƯỚI CƠ SỞ KHOAN SÂU KHU ĐÔ THỊ VÂN CANH (Trang 42)
BẢNG TỔNG HỢP DỰ TOÁN  CÔNG TRÌNH THÀNH LẬP LƯỚI CƠ SỞ KHOAN SÂU KHU ĐÔ THỊ VÂN - Đồ án tốt nghiệp: Phương án kinh tế kỹ thuật xây dựng lưới khống chế cơ sở bằng công nghệ GPS cho khu đô thị tại xã Vân Canh  Hoài Đức  Hà Nội
BẢNG TỔNG HỢP DỰ TOÁN CÔNG TRÌNH THÀNH LẬP LƯỚI CƠ SỞ KHOAN SÂU KHU ĐÔ THỊ VÂN (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w