1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đồ án tốt nghiệp: Sử dụng ảnh hàng không để hiện chỉnh bản đồ địa hình tỷ lệ 110.000

56 520 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đồ án tốt nghiệp: Sử dụng ảnh hàng không để hiện chỉnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1/10.000
Tác giả Nguyễn Thị Hồng
Trường học Trường đại học Mỏ - Địa chất
Chuyên ngành Kỹ thuật Địa lý, Địa chất
Thể loại Đồ án tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 116,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồ án tốt nghiệp: Sử dụng ảnh hàng không để hiện chỉnh bản đồ địa hình tỷ lệ 110.000Đồ án tốt nghiệp với đề tài Sử dụng ảnh hàng không để hiện chỉnh bản đồ địa hình tỷ lệ 110.000 có nội dung gồm 4 chương: chương 1 những vấn đề chung về bản đồ địa hình, chương 2 tổng quan về hiện chỉnh bản đồ, chương 3 hiện chỉnh bản đồ địa hình tỷ lệ 110.000 bằng tư liệu ảnh hàng không, chương 4 phần thực nghiệm.

Trang 1

Họ và tên: Nguyễn Thị Hồng

Lớp: Trắc địa D-K52

Tên đề tài: “ Sử dụng ảnh hàng không để hiện chỉnh bản đồ địa hình tỷ

lệ 1/10.000”.

Trang 2

Chương 1

Những vấn đề chung về bản đồ địa hình

1.1.Khái niệm về bản đồ địa hình

Bản đồ địa hình là hình ảnh thu nhỏ được khái quát hóa và biểu thị bằngnhững nguyên tắc toán học nhất định bề mặt trái đất lên mặt phẳng Trên bề mặtphẳng đó thể hiện sự phân bố hiện trạng và mối quan hệ giữa các đối tượng tựnhiên và xã hội khác với độ chính xác và mức độ chi tiết tương đối giống nhau, cácyếu tố này phần lớn giữ được hình dạng, kích thước theo tỷ lệ bản đồ, đồng thờigiữ được tính chính xác hình học của ký hiệu và tính tương ứng địa lý của các nộidung

Trong thực tế, bản đồ địa hình biểu thị một dạng thông tin bất kỳ nào đó cóthể xem được, đặc biệt là với những thông tin thể hiện tính chất, trạng thái của mộtđối tượng nào đó Những tính chất cơ bản của bản đồ địa hình là tính trực quan,tính thông tin, tính đo đạc

Bằng bản đồ địa hình người sử dụng có thể tìm ra quy luật của sự phân bốcác đối tượng và hiện tượng trên bề mặt trái đất, từ bản đồ người ta có thể xác địnhđược các trị số như: tọa độ, độ cao, độ dài Các yếu tố quan trọng khi sử dụng bản

đồ địa hình là: nội dung, tỷ lệ, lưới chiếu, thời gian thành lập, hiệu chỉnh

Bản đồ địa hình bao gồm nhiều tỷ lệ khác nhau, trong đó:

Trang 3

Ví dụ: ranh giới, địa giới hành chính, một số đối tượng kinh tế, văn hóa,điểm dân cư, lớp phủ thực vật, dáng đất, mạng lưới đường giao thông

+ Cơ sở toán học của bản đồ địa hình gồm: phép chiếu, tỷ lệ, hệ thống tọa

độ, sự phân mảnh đánh số, bố cục bản đồ, lưới khống chế trắc địa

+ Các yếu tố hỗ trợ và bổ sung bao gồm thước tỷ lệ, bảng chú giải

1.2 Mục đích sử dụng bản đồ địa hình

Căn cứ theo yêu cầu, mục đích sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau mà bản

đồ địa hình được sử dụng phù hợp với những yêu cầu khác nhau

- Bản đồ địa hình tỷ lệ nhỏ và trung bình thường dùng để quy hoạch, thiết kếtổng thể

- Bản đồ địa hình tỷ lệ lớn: 1/2000, 1/5000 thường dùng cho công tác thiết

kế, quy hoạch chi tiết, thiết kế kỹ thuật, chuyển thiết kế ra thực địa cho các côngtrình dân dụng, công nghiệp, xây dụng các tuyến đường giao thông, các tuyến kênhđào,

- Bản đồ địa hình tỷ lệ 1/500, 1/1000 chủ yếu để thiết kế thi công công trình

ở khu vực chưa xây dựng, dùng để đo vẽ, hoàn công công trình

- Bản đồ tỷ lệ 1/10000, 1/50000 được sử dụng trong công tác khảo sát sơ bộphạm vi rộng lớn, nghiên cứu về địa chất, thủy văn của một vùng, quy hoạch lãnhthổ, tổ chức các vùng kinh tế trọng điểm

1.3 Cơ sở toán học bản đồ địa hình

Cơ sở toán học của bản đồ địa hình gồm: phép chiếu, tỷ lệ, lưới tọa độ, sựphân mảnh đánh số, bố cục bản đồ, điểm khống chế trắc địa

1.3.1 Phép chiếu bản đồ và lưới tọa độ

Phép chiếu bản đồ là phép chiếu biểu diễn mặt cong trái đất lên mặt phẳng

bản đồ

Yêu cầu của phép chiếu là độ biến dạng phải nhỏ và phân bố đều để nângcao độ chính xác Hình dạng kinh vĩ tuyến phải đơn giản để dễ xác định tọa độ các

Trang 4

điểm trên bản đồ, phù hợp với lưới chiếu của bản đồ, thuận tiện cho việc chuyển vẽcác yếu tố nội dung Ngoài ra đối với bản đồ địa hình phải không có biến dạng vềgóc, dễ chia mảnh và đánh số mảnh, dễ dàng trong tính toán Số múi trong phépchiếu càng ít càng tốt Mỗi múi có tính chất tương tự nhau để giảm bớt công tínhtoán.

Ở nước ta trước đây các bản đồ được thành lập theo phép chiếu Gauss–Kruger nhưng hiện nay là phép chiếu UTM Có Elipxoid quy chiếu quốc gia làElipxoid WGS-84 toàn cầu được xác định (định vị) phù hợp với lãnh thổ Việt Namtrên cơ sở sử dụng các điểm GPS cạnh dài có độ cao thủy chuẩn phân bố đều trênlãnh thổ Khi thành lập bản đổ ở khu vực nhỏ và độc lập, người ta thường sử dụng

hệ tọa độ vuông góc và được quy ước gôc của hệ tọa độ này là ở gốc Tây Nam,trục X theo hướng Bắc, trục Y theo hướng Đông Hiện nay nước ta chính thức sửdụng hệ VN-2000 với các tham số chính sau:

hệ tọa độ phẳng của phép chiếu Gauss-Kruger ứng với từng múi chiếu 60 hoặc múi

30 của mặt phẳng Elipxoid theo công thức:

XUTM = K0*XG

YUTM = K0*(YG – 500000) + 500000

TUTM = TG

MUTM = K0*MG

Trong đó: K0 = 0.9996 dùng cho múi chiếu 60

K0 = 0.9999 dùng cho múi chiếu 30

Trang 5

Với XUTM, YUTM là tọa độ của lưới chiếu UTM

XG, YG là tọa độ phẳng của lưới chiếu Gauss-Kruger

MUTM, MG là tỷ lệ biến dạng chiều dài tương ứng của lưới chiếu UTM vàGauss-Kruger

Lưới tọa độ: Lưới tọa độ địa lý (còn gọi là lưới kinh vĩ tuyến) dùng để xác

định tọa độ địa lý của các điểm trên bản đồ (φ, α), hình dạng của nó phụ thuộc vàođặc điểm của lưới chiếu

Lưới tọa độ đề các (còn gọi là lưới tọa độ phẳng) dùng để xác định tọa độ (x,y) của các điểm, lưới của nó là các đường thẳng song song vuông góc với nhau.Kinh tuyến chính là trục X, xích đạo là trục Y, gốc tọa độ là điểm giao nhau củahai trục trên và gốc này có giá trị khởi đầu là (0, 500) Để tránh giá trị âm nênngười ta dời trục Y về phía Tây 500km vì thế khi tính và triển điểm phải tính Ybản đồ

= Y + 500 km

1.3.2 Tỷ lệ bản đồ

Tỷ lệ bản đồ xác định mức độ thu nhỏ của bề mặt trái đất khi biểu thị lên bản

đồ Trị số cảu tỷ lệ chung nhất thiết phải chỉ rõ trên bản đồ Có 3 phương pháp thểhiện tỷ lệ:

-Tỷ lệ số: Thể hiện bằng một phân số mà tử số là 1, còn mẫu số cho thấymức độ thu nhỏ của mặt đất Tỷ lệ này viết dưới dạng 1/10.000 hay 1/100.000

-Tỷ lệ chữ: Nêu rõ một đơn vị chiều dài trên bản đồ tương ứng với độ dài làbao nhiêu đó ở ngoài thực địa

-Thước tỷ lệ: Là hình vẽ có thể dùng nó đo trên bản đồ Thước tỷ lệ là thẳnghay xiên cho phép đo với độ chính xác cao hơn

Về hệ thống tỷ lệ bản đồ địa hình ở nước ta dùng dãy tỷ lệ như hầu hết cácnước khác trên thế giới, gồm các tỷ lệ sau: 1/100.000, 1/50.000, 1/25.000,1/10.000, 1/5000 và lớn hơn

1.3.3 Chia mảnh và đánh số

Trang 6

Đối với bản đồ địa hình sử dụng lưới chiếu UTM lấy kinh tuyến làm biênkhung và lấy mảnh bản đồ tỷ lệ 1/1000.000 làm cơ sở để chia mảnh, đánh số cácmảnh bản đồ tỷ lệ lớn hơn Kích thước bản đồ tỷ lệ 1/1000.000 được thống nhấttrên toàn thế giới.

Khung hình thang của bản đồ tỷ lệ 1/1000.000 là 40 theo vĩ độ và 60 theokinh độ Người ta lấy các vĩ tuyến cách nhau 40 kể từ xích đạo về hai cực, chia bềmặt trái đất ra làm các đai, các đai lần lượt được đánh bằng chữ cái Latinh từ Ađến V Các đường kinh tuyến cách nhau 60 chia bề mặt đất ra làm 60 múi, các múiđược đánh dấu bằng chữ số Ả Rập từ 1 đến 60, bắt đầu từ kinh tuyến 1800 theochiều ngược kim đồng hồ Như vậy, bề mặt trái đất được chia ra các hình thang cókích thước (40*60) Mỗi hình thang được thể hiện hoàn chỉnh trong một mảnh bản

đồ tỷ lệ 1/1000.000 và được đánh dấu bao gồm dấu hiệu của đai và dấu hiệu củamúi Ví dụ như F-48, G-49

Trong mỗi hình thang của mảnh bản đồ tỷ lệ 1/1000.000 bao gồm 4 hìnhthang của mảnh bản đồ tỷ lệ 1/500.000, được đánh dấu lần lượt từ trái sang phải, từtrên xuống dưới bằng các chữ cái A, B, C, D Số hiệu của mảnh bản đồ tỷ lệ1/500.000 bao gồm số hiệu của mảnh bản đồ tỷ lệ 1/1000.000 và ghi thêm chữ cáitương ứng Ví dụ F-48-D

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1/1000.000 chia ra làm 16 mảnh bản đồ tỷ lệ1/250.000, được đánh số bằng chữ số Ả Rập từ 1 đến 16 theo thứ tự từ trái sangphải và từ trên xuống dưới Số hiệu của mảnh bản đồ tỷ lệ 1/250.000 bao gồm sốhiệu của mảnh bản đồ tỷ lệ 1/500.000 và ghi thêm chữ số tương ứng

Ví dụ F-48-D-1

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1/1000.000 chia ra làm 96 mảnh bản đồ tỷ lệ1/100.000, được đánh số bằng chữ số Ả Rập từ 1 đến 96 theo thứ tự từ trái sangphải và từ trên xuống dưới Số hiệu của mảnh bản đồ tỷ lệ 1/100.000 bao gồm sốhiệu của mảnh bản đồ tỷ lệ 1/1000.000 và ghi thêm chữ số tương ứng của nó

Ví dụ F-48-24

Mảnh bản đồ tỷ lệ 1/100.000 là cơ sở để phân chia và đánh số các bản đồ có

tỷ lệ lớn hơn

Trang 7

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1/100.000 được chia ra làm 4 mảnh bản đồ tỷ lệ1/50.000, được đánh dấu bằng các chữ cái in hoa A, B, C, D Số hiệu của mảnhbản đồ tỷ lệ 1/50.000 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1/100.000 và ghi thêmchữ cái tương ứng Ví dụ F-48-24-A.

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1/50.000 được chia ra làm 4 mảnh bản đồ tỷ lệ1/25.000, được đánh dấu bằng các chữ cái thường a, b, c, d Số hiệu của mảnh bản

đồ tỷ lệ 1/25.000 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1/50.000 và ghi thêm chữ cáitương ứng Ví dụ F-48-24-A-b

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1/25.000 được chia ra làm 4 mảnh bản đồ tỷ lệ1/10.000, được đánh dấu bằng các chữ số 1, 2, 3, 4 Số hiệu của mảnh bản đồ tỷ lệ1/10.000 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1/25.000 và ghi thêm chữ số tươngứng Ví dụ F-48-24-A-b-2

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1/100.000 được chia ra làm 256 mảnh bản đồ tỷ lệ1/5000, được đánh dấu bằng các chữ số từ 1 đến 256 theo thứ tự từ trên xuốngdưới và từ trái sang phải Số hiệu của mảnh bản đồ tỷ lệ 1/5000 bao gồm số hiệumảnh bản đồ tỷ lệ 1/100.000 và ghi thêm chữ số tương ứng được ghi trong dấungoặc () Ví dụ F-48-24-(96)

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1/5000 được chia ra làm 9 mảnh bản đồ tỷ lệ 1/2000,được đánh dấu bằng các chữ cái thường a, b, c, d, e, f, g, h,i Số hiệu của mảnh bản

đồ tỷ lệ 1/2000 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1/5000 và ghi thêm chữ cáitương ứng được đặt trong dấu ngoặc () cùng với số thứ tự của mảnh bản đồ tỷ lệ1/5000 Ví dụ F-48-24-(96-e)

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1/2000 được chia ra làm 4 mảnh bản đồ tỷ lệ 1/1000,được đánh dấu bằng các chữ số La Mã I, II, III, IV Số hiệu của mảnh bản đồ tỷ lệ1/1000 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1/2000 và ghi thêm chữ số La Mã tươngứng Ví dụ F-48-24-(96-e-II)

1.3.4 Điểm khống chế trắc địa

Điểm khống chế độ cao: dùng để xác định độ cao của các điểm trên bản đồ

so với mặt thủy chuẩn gốc

Trang 8

Điểm khống chế mặt bằng: dùng để xác định vị trí mặt bàng của các điểmtrên mặt đất so với điểm gốc tọa độ.

là độ chính xác biểu diễn địa hình bằng đường đồng mức

Trên các bản đồ tỷ lớn và trung bình thì sai số trung bình của vị trí điểm địavật biểu thị trên bản đồ gốc so với vị trí điểm khống chế đo vẽ gần nhất (điểmkhống chế mặt bằng) không được vượt quá quy định (tính theo tỷ lệ bản đồ cầnthành lập) là 0.5 mm khi thành lập bản đồ ở vùng đồng bằng hoặc vùng đồi và 0.7

mm khi thành lập bản đồ ở vùng núi cao Khi thành lập bản đồ ở vùng đã xây dựng

cở bản, xây dựng theo quy hoạch và xây dựng nhà nhiều tầng thì sai số trung bìnhcủa vị trí tương quan giữa các điểm địa vật quan trọng (như các công trình chính,các toà nhà ) không được vượt quá 0.4 mm

- Sai số trung bình về độ cao của đường bình độ, độ cao của các điểm đặctrưng địa hình và điểm ghi chú độ cao biểu thị trên bản đồ gốc so với độ cao của

Trang 9

điểm khống chế đo vẽ gần nhất (điểm khống chế độ cao) không được vượt quá quyđịnh nêu ở bảng dưới đây (lấy khoảng cao đều của đường bình độ làm đơn vị)

-Sai số giới hạn của vị trí điểm địa vật, của độ cao đường bình độ, độ caocủa điểm ghi chú độ cao, độ cao điểm đặc trưng địa hình quy định là 2lần sai sốnêu trên Khi kiểm tra, sai số lớn nhất không được vượt quá sai số giới hạn Sốlượng sai số có giá trị bằng sai số giới hạn không được vượt quá 10% tổng số cáctrường hợp kiểm tra Các sai số trong mọi trường hợp không được mang tính chất

hệ thống

Trang 10

-Sai số vị trí của điểm tăng dày so với vị trí của điểm khống chế đo vẽ ngoạinghiệp gần nhất không được vượt quá quy định sau: về mặt phẳng (tính theo tỷ lệbản đồ cần thành lập) thì ± 0.1mm đối với vùng đồng bằng và vùng đồi núi,

±0.15mm đối với vùng núi và núi cao Về độ cao, các giá trị nêu ở bảng dưới đây(lấy khoảng cao đều của đường bình độ làm đơn vị)

Trang 11

Trong các trường hợp đặc biệt như khi đo vẽ ở vùng dân cư dày đặc, vùng cóđịa hình biến đổi đều và có quy luật thì số lượng điểm nêu trên cũng được giảmbớt nhưng cũng không ít hơn 8 điểm khi đo vẽ ở vùng núi, núi cao và 10 điểm khi

đo vẽ ở vùng đồng bằng, vùng đồi Quy định này phải được nêu rõ trong thiết kế

kỷ thuật của khu đo

Độ chính xác xây dựng lưới khống chế ngoại nghiệp thường được đặc trưngbằng sai số trung phương vị trí điểm khống chế so với điểm cấp cao hơn, sai số nàythường lấy bằng ± 0.02mm trên bản đồ

1.5 Nội dung bản đồ địa hình

Trên mặt đất có rất nhiều yếu tố địa hình, địa vật lớn không thể biểu thịnguyên vẹn trên bản đồ, đồng thời cũng có những yếu tố tuy nhỏ nhưng quan trọng

mà không thể biểu thị được trong tỷ lệ của bản đồ cần thành lập Ngoài ra còn cónhiều yếu tố hình dạng giống nhau nhưng bản chất khác nhau, ngược lại có nhiềuyếu tố với bản chất thì giống nhau nhưng hình dạng lại khác nhau Vì vậy, để thể

Trang 12

hiện tất cả các yếu tố địa vật trên bề mặt Trái đất lên bản đồ cần phải dùng hệthống ký hiệu bản đồ để biểu thị.

Các yếu tố nội dung của bản đồ địa hình biểu thị theo quy định của ký hiệubản đồ địa hình tỷ lệ tương ứng Dưới dây là các yếu tố nội dung chính của bản đồđịa hình:

1.5.1 Các yếu tố cơ sở toán học

Các yếu tố cơ sở toán học phải thể hiện trên bản đồ gốc dạng số bao gồm:khung mảnh bản đồ và các yếu tố trình bày ngoài khung (trừ phần giải thích kýhiệu); lưới kilômet (bao gồm cả lưới kilômet của múi kề cận nếu mảnh bản đồ nằmtrong độ phủ giữa hai múi); lưới kinh, vĩ độ; các điểm toạ độ và độ cao quốc giacòn tồn tại trên thực địa; các điểm toạ độ và độ cao chuyên dụng được sử dụng khithành lập bản đồ

Trên bản đồ gốc dạng số, vị trí điểm góc khung, độ dài cạnh khung, đườngchéo khung bản đồ không có sai số so với giá trị lý thuyết Vị trí điểm toạ độ quốcgia không có sai số so với giá trị toạ độ gốc

Khi biểu thị độ cao của các điểm khống chế trắc địa trừ trường hợp điểmnằm trên vật kiến trúc, đối với tỷ lệ 1/10.000, 1/25.000 nếu chênh cao thực tế giữamặt đất và mặt mốc vượt quá 0.3m phải biểu thị cả độ cao của mặt mốc so với mặtđất (tỷ cao) và ghi chú chính xác đến 0.1m

1.5.2 Thủy hệ và các đối tượng liên quan

Các yếu tố liên quan đến thuỷ hệ phải thể hiện trên bản đồ địa hình bao gồm:biển, đảo, hồ, ao, các loại bãi ven bờ, sông ngòi, suối, mương máng, kênh rạch,mạch nước khoáng thiên nhiên, giếng nước và các đối tượng có liên quan khác

Trang 13

Các con sông.suối có chiều dài trên bản đồ lớn hơn 1cm; kênh, mương có độrộng thực tế từ 1m trở lên và chiều dài trên bản đồ lớn hơn 1cm đều phải thể hiện.Khi sông, suối, kênh mương trên bản đồ có độ rộng từ 0.5mm trở lên phải biểu thịbằng hai nét, dưới 0.5mm biểu thị bằng một nét theo hướng dẫn của ký hiệu tươngứng Những sông, suối, kênh mương có chiều dài ngắn hơn quy định trên nhưng có

ý nghĩa đặc biệt quan trọng vẫn phải thể hiện

Các ao, hồ có diện tích trên bản đồ từ 1mm2 trở lên đối với tỷ lệ 1/10.000 và1/25.000 và 2mm2 trở lên đối với tỷ lệ 1/50.000 đều phải biểu thị Ở những vùnghiếm nước, dân cư thưa thớt thì các ao, hồ, giếng nước phải thể hiện đầy đủ Đốivới những vùng có mật độ ao, hồ dày đặc được lựa chọn để biểu thị theo nguyêntắc ưu tiên các đối tượng có ý nghĩa quan trọng về kinh tế, văn hóa, xã hội đối vớivùng dân cư hoặc có ý nghĩa định hướng

Đối với sông, hồ và bờ biển khi đường mép nước cách đường bờ trên bản đồ

từ 0.3mm trở lên phải biểu thị cả đường bờ và đường mép nước

Các loại sông suối có nước theo mùa hoặc khô cạn; đoạn sông suối khó xácđịnh chính xác, đoạn sông suối mất tích, chảy ngầm cần phân biệt để biểu thị theoquy định của ký hiệu Hướng dòng chảy của các đoạn sông, suối, kênh rạch có ảnhhưởng của thuỷ triều và các sông, suối, kênh rạch khó nhận biết hướng dòng chảytrong phạm vi mảnh bản đồ đều phải thể hiện

Các loại bờ, bói, đê, đập và các đối tượng liên quan khác của thuỷ hệ biểuthị theo hướng dẫn của ký hiệu

1.5.3 Địa hình, biên giới quốc gia, địa giới hành chính

Trang 14

- Địa hình được thể hiện trên bản đồ bằng đường bình độ, hướng chỉ dốc,điểm ghi chú độ cao và các ký hiệu khác; khoảng cao đều của đường bình độ cơbản phụ thuộc vào độ dốc địa hình và tỷ lệ của bản đồ địa hình.

Trên một mảnh bản đồ chỉ thể hiện địa hình bằng một khoảng cao đều cơbản, khoảng cao đều cơ bản không mô tả được hết dáng địa hình thì sử dụng thêmđường bình độ nửa khoảng cao đều Trường hợp phải biểu thị chi tiết cá biệt củadỏng đất phải dựng đường bình độ phụ có độ cao thớch hợp

Các điểm ghi chú độ cao phải chọn vào các vị trí đặc trưng của địa hình nhưđỉnh đồi, yên ngựa, các điểm thấp nhất của thung lũng, đáy hồ hoặc ở nơi giaonhau của các đường giao thụng, nơi hội tụ của sông suối

Các dạng đặc biệt của dáng đất gồm: khe rãnh xói mòn, sườn dốc đứng,sườn đất sụt, đứt gãy, sườn sụt lở, sườn đất trượt, vách đá, vùng núi đá, lũy đá, đáđộc lập, dòng đá sỏi, bói đá, miệng núi lửa, cửa hang động, điạ hình castơ, gòđống, các loại hố, địa hình bậc thang, bãi cát, đầm lầy được biểu thị theo quy địnhcủa ký hiệu

-Ranh giới hành chính các cấp được thể hiện theo nguyên tắc chung là phải

vẽ theo tài liệu chính thức của Nhà nước đó được công bố Biên giới quốc gia lấytheo tài liệu của Ban biên gới (bộ ngoại giao)

Ngoài đường biên giới quốc gia thì trên các bản đồ địa hình còn phải biểu thịcác địa giới của các cấp hành chính theo đúng và thống nhất với các tài liệu pháp

lý của nhà nước về biên giới và địa giới hành chính Trường hợp các cấp địa giớihành chính trùng nhau thể thể hiện địa giới hành chính của cấp cao nhất

Ranh giới các khu cấm, ranh giới sử dụng đất, ranh giới thực vật khi biểu thịphải khép kín

Trang 15

Những tường rào kiên cố ổn định ngoài vùng dân cư, bao quanh vùng dân

cư, bao quanh các khu vực lớn (nhà máy, xí nghiệp, các khu chế xuất, bến cảng,sân bay ) phải phân biệt để thể hiện, khi thể hiện có lựa chọn lấy bỏ

1.5.4 Đường giao thông và các đối tượng liên quan

Chúng ta phải thể hiện các yếu tố như: các loại đường sắt, đường ô tô,đường đất lơn, đường đất nhỏ, đường hàng không, đường giao thông thủy, và cácđối tượng liên quan đến yếu tố giao thông như ga tàu, sân bay, bến cảng, cầu, cống,phà, đèo, hầm

Hệ thống giao thông trong vùng dân cư tùy từng trường hợp cụ thể có thểlựa chọn lấy bỏ nhưng phải đảm bảo thể hiện được đặc trưng chung của vùng vàtính hệ thống của mạng lưới giao thông

Trên bản đồ địa hình thì mạng lưới đường xá được thể hiện tỷ mỉ về khảnăng giao thông và trạng thái của đường Mạng lưới đường sá thể hiện chi tiết hoặckhái quát tùy thuộc vào tỷ lệ bản đồ

1.5.5 Dân cư

Các điểm dân cư là một trong các yếu tố quan trọng của bản đồ địa hình,trên bản đồ có các loại dân cư sau đây: các điểm dân cư đô thị (thành phố, thị xã,thị trấn), các điểm dân cư nông thôn (làng, xóm, bản) và các điểm dân cư nôngthôn nhưng có kiến trúc kiểu đô thị (thị tứ, khu tập thể, cơ quan, khu côngnghiệp ) Các điểm dân cư này biểu thị bằng các ký hiệu nhà độc lập, làng, khốinhà

Đối với vùng dân cư nông thôn phải thể hiện thực phủ nếu độ che phủ củatán cây lớn hơn 20% Các mảng thực vật, ô đất trống, ô đất canh tác trong khu dân

cư có diện tích trên bản đồ từ 4mm2 trở lên đều phải thể hiện

Trang 16

Tên gọi của vùng dân cư là tên chính thức được quy định trong các văn bảnquy phạm của pháp luật Trường hợp văn bản quy phạm của pháp luật chưa quyđịnh thì thực hiện theo các văn bản quản lý hành chính của UBND có thẩm quyền.Trên bản đồ phải xác định và biểu thị số hộ của đơn vị hành chính cấp xã.

1.5.6 Các đối tượng kinh tế, văn hóa và xã hội

Các đối tượng kinh tế, văn hoá, xã hội được thể hiện theo quy định sau :

- Các đối tượng kinh tế, văn hoá, xã hội có đồ hình vẽ được theo tỷ lệ bản đồphải thể hiện đầy đủ

- Các đối tượng không vẽ được theo tỷ lệ bản đồ thì chọn lọc để biểu thị, ưutiên những đối tượng có ý nghĩa quan trọng về kinh tế, văn hoá, lịch sử đối vớivùng dân cư hoặc có ý nghĩa định hướng

- Ghi chú tên gọi đối với các đối tượng có tên khi độ dung nạp của bản đồcho phép Đối với các đường dây, chỉ thể hiện những đường dây truyền tải điện lớn

có ý nghĩa liên vùng, quốc gia Các loại đường dây khác thể hiện khi có yêu cầu.các loại đường ống dẫn trên bản đồ địa hình thể hiện theo quy định của ký hiệu.Thành luỹ và tường rào cũng được biểu thị theo quy định của ký hiệu

Trang 17

Trường hợp trên diện tích đo vẽ có nhiều loại thực vật cần phải phối hợp đểbiểu thị thì cho phép phối hợp không quá 3 loại thực vật đặc trưng nhất Đối vớirừng hỗn hợp chỉ biểu thị hai loại cây chính mà mỗi loại chiếm tỷ lệ từ 40% trởlên.Các cây và cụm cây độc lập chỉ biểu thị khi có ý nghĩa định hướng.

Ranh giới thực vật đối với bản đồ tỷ lệ 1/25000 không cần phân biệt

1.5.8 Địa danh và các ghi chú khác

Ghi chú địa danh trên bản đồ thực hiện theo quy định của pháp luật, trườnghợp quy phạm pháp luật chưa quy định thì thực hiện theo các văn bản quản lý hànhchính của UBND cấp có thẩm quyền

Ghi chú tên, ghi chú giải thích, ghi chú số liệu và các ghi chú khác trên bản

đồ thực hiện theo quy định của ký hiệu và quy định kỹ thuật số hoá bản đồ địa hình

1.6 Các phương pháp thành lập bản đồ địa hình

1.6.1 Phương pháp đo trực tiếp ngoài thực địa

* Phương pháp bàn đạc: dùng máy bàn đạc có gắn bản vẽ, tiến hành đohướng, đo cạnh và triển khai điểm ngay trên thực địa, phương pháp này có ưu điểm

là mô tả được hết các yếu tố địa hình, địa vật Tuy nhiên nó cho độ chính xác thấp,máy móc không gọn nhẹ, chịu ảnh hưởng của môi trường đo và thời tiết, dẫn tới

Trang 18

năng suất lao động thấp, chính vì những nhược điểm này nên phương pháp bàn đạchiện nay không được sử dụng nữa và thay thế cho nó là phương pháp toàn đạc.

* Phương pháp toàn đạc: hiện nay với sự xuất hiện của máy toàn đạc điện tử

đã giúp cho phương pháp toàn đạc trở nên thông dụng Các khâu như: lập lưới cơ

sở, lưới đo vẽ cho đến quá trình đo vẽ cho độ chính xác cao và nhanh chóng Công

cụ máy tính chuyển điểm rất chính xác từ đó nhận thấy một số đặc điểm củaphương pháp toàn đạc điện tử như sau:

- Ưu điểm: đạt độ chính xác cao tại các điểm đo trực tiếp Công tác vẽ bản đồđược tiến hành trong phòng với điều kiện thuận lợi cho thành quả bản đồ nhanh vàchính xác Phương pháp này áp dụng cho khu vực không lớn, tỷ lệ bản đồ lớn

- Nhược điểm: công tác đo ngoại nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng của môi trườngthời tiết do đó năng suất lao động không cao, có thể bỏ sót đối tượng đo, gây khókhăn cho công tác nội nghiệp, nếu không có sơ hoạ đường đồng mức được xácđịnh bằng nội suy trên cơ sở đo trực tiếp

1.6.2 Phương pháp biên tập từ bản đồ tỷ lệ lớn hơn

Thành lập các loại bản đồ trên cơ sở các bản đồ cùng khu vực, có tỷ lệ lớn hơnmới được thành lập Khi tiến hành biên tập cần tuân theo những quy định lấy bỏ,tổng quát hoá nội dung bản đồ

- Ưu điểm: thành lập bản đồ bằng phương pháp trong phòng với thời gianngắn và rẻ tiền, ứng dụng để thành lập các loại bản đồ tỷ lệ nhỏ và trung bình đạt

độ chính xác cao và nhanh chóng Thực hiện bằng các phương tiện, dụng cụ truyềnthống

- Nhược điểm: phương pháp này chỉ thực hiện ở khu vực cần thành lập đã cóbản đồ địa hình lớn hơn mới được thành lập Độ chính xác của bản đồ cần thànhlập phụ thuộc vào độ chính xác của bản đồ tài liệu và phương pháp chuyển vẽ

Trang 19

Nội dung trên bản đồ tài liệu được coi là mới và chuẩn, người ta tiến hành xácđịnh sự khác nhau giữa bản đồ cần thành lập với bản đồ tài liệu Yếu tố nào có trênbản đồ cần thành lập mà không có trên bản đồ tài liệu thì gạch bỏ trên bản đồ cũ.Yếu tố nào thay đổi và mới có trên bản đồ tài liệu mà có trên bản đồ thành lập (bản

đồ gốc) thì ta tiến hành chuyển vẽ lên bản đồ gốc thông qua sự tổng quát hoá bản

đồ và theo quy định trong quy phạm thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ tương ứng

1.6.3 Phương pháp đo ảnh

a, Phương pháp đo ảnh đơn

Đây là phương pháp được dùng ở vùng bằng phẳng là chủ yếu, nó được ápdụng để đo vẽ địa hình khi mà độ chính xác đo độ cao của phương pháp đo ảnh lậpthể khó thoả mãn Đo ảnh đơn, áp dụng cho thành lập bản đồ địa chính rất có hiệuquả ở vùng thổ canh có địa hình khá bằng phẳng

- Ưu điểm: thành lập bản đồ với độ chính xác rất cao

- Nhược điểm: khối lượng công tác ngoại nghiệp khá nhiều, do đó làm giảm

tính ưu việt của phương pháp đo ảnh Nó được ứng dụng trong thành lập bản đồvùng rộng lớn, bằng phẳng Bản đồ có yêu cầu khoảng cao đều và độ chính xác, độcao ngoại lệ

b, Phương pháp đo ảnh lập thể

Đo ảnh lập thể có khả năng khái quát địa hình tốt nhất so với tất cả cácphương pháp khác Ngày nay nhờ có các thiết bị hiện đại như: máy đo ảnh lập thểquang cơ, quang học, cơ học, giải tích và xử lý ảnh số mà phương pháp lập thểthoả mãn tất cả các loại bản đồ có tỷ lệ từ 1/1.000 trở xuống

Với điều kiện thuận lợi cho phép thì đo ảnh lập thể có thể đo được tỷ lệ1/500 và lớn hơn Do đó vẽ trên mô hình nên phương pháp lập thể hầu như hạn chếđến mức tối đa những ảnh hưởng của thời tiết và địa hình Đặc biệt đối với bản đồ

Trang 20

tỷ lệ trung bình và nhỏ thì không có phương pháp nào cho độ chính xác cao hơnphương pháp đo ảnh lập thể Có thể nói phương pháp này luôn được áp dụng cácthành tựu khoa học mới vào sản xuất để giải phóng con người khỏi lao động vất vả,tăng năng suất lao động, dẫn tới giảm giá thành sản phẩm.

Ngày nay trên thế giới và nước ta công nghệ đo ảnh số đang được áp dụngrộng rãi, các bài toàn xử lý ảnh đều dựa trên nền tảng của phương pháp đo giảitích Trong công nghệ xử lý ảnh có rất nhiều công đoạn như chuyển toạ độ cácpixel trên ảnh quét về toạ độ tấm ảnh, xử lý sai số điểm ảnh, xây dựng mô hình lậpthể, tăng dày đo vẽ

- Ưu điểm: đo đạc hầu hết ở trong phòng rất thuận lợi, có năng suất lao động

cao, có điều kiện ứng dụng các thành thựu khoa học mới, giải phòng lao động khỏivất vả nguy hiểm, cho độ chính xác cao về độ cao đạt yêu cầu

- Nhược điểm: trang thiết bị đắt tiền Phải trải qua nhiều công đoạn như bay

chụp ảnh, hiện ảnh, tăng dày, điều vẽ, đo đạc, biên tập Nên đòi hỏi trình độ tổchức sản xuất tốt Phương pháp này cũng còn một số hạn chế về độ chính xác đocao, đặc biệt những chỗ địa vật bị che khuất

Phương pháp do ảnh lập thể được ứng dụng rộng rãi trong thành lập bản đồcho khu vực rộng lớn, nhất là vùng hiểm trở, chênh cao địa hình lớn mà cácphương pháp khác gặp nhiều khó khăn

Trang 21

Chương 2

Tổng quan về hiện chỉnh bản đồ

2.1 Sự cũ đi của bản đồ và các công tác cần thiết phải hiện chỉnh

Trong quá trình phát triển và đô thị hóa đất nước, bản đồ địa hình là mộtcông cụ rất cần thiết trong các hoạt động điều tra, quy hoạch tài nguyên thiên nhiêncũng như phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, theo thời gian thì nội dung của cácbản đồ địa hình ngày càng thay đổi, không còn phù hợp với thực tế khách quan,không phản ánh đúng thực trạng trên bề mặt đất, các thông tin trên bản đồ bị lạchậu Qua đó ta có thể thấy những nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi như việc quyhoạch đô thị, đô thị hóa nông thôn và các tuyến đường mới mở các công trình lớnnhư nhà máy thủy điện, các khu công nghiệp, việc di dân đi xây dựng vùng kinh tếmới v.v.v

Đối với những vùng kinh tế trọng điểm sự thay đổi cũng diễn ra nhanhchóng có sự thay đổi lớn về các điểm dân cư, nhà máy, các tuyến đường, lòng sông

hồ, hệ thống kênh mương hệ thống đường dây tải điện và các công trình thủy lợi,chính vì sự thay đổi đó đã làm cho bản đồ bị cũ đi không phản ánh đúng hiện trạngnữa nên yêu cầu cần phải hiện chỉnh ( cập nhật) hoặc thành lập bản đồ mới Tuynhiên, do quá trình thành lập bản đồ mới thường rất tốn kém và mất nhiều thời giannên ta tiến hành hiện chỉnh bản đồ, đây là quá trình giúp ta cập nhật thông tin mộtcách nhanh chóng và giảm được nhiều chi phí liên quan

Tùy thuộc vào tỷ lệ bản đồ và từng khu vực để xác định khu vực cần hiệnchỉnh, khoảng thời gian cần hiện chỉnh lại sao cho phù hợp nhu cầu thực tế:

- Đối với những vùng ít thay đổi như đồi núi có thể sau 5-10 năm tiến hànhhiện chỉnh một lần

- Đối với những vùng có nhiều biến động như đô thị, khu vực công nghiệp,vùng ven biển có thể sau 3-5 năm tiến hành hiện chỉnh một lần

Trang 22

- Đối với các bản đồ tỷ lệ nhỏ thường có chu kỳ hiện chỉnh dài hơn so vớicác bản đồ tỷ lệ lớn Và khu vực cần hiện chỉnh thường tập trung ở những vùngtrọng điểm có nhiều hoạt động kinh tế xã hội nhưng diện tích hiện chỉnh thườngnhỏ hơn

- Nếu khu vực có các đối tượng trên thực tế thay đổi >40% thì nên thành lậpbản đồ mới thay vì hiện chỉnh

Trong quá trình hiện chỉnh, ta cần phải chú trọng làm mới những đối tượngquan trọng sau:

- Hệ thống mạng lưới giao thông: đường quốc lộ, đường sắt, đường liên tỉnh,liên huyện

- Điểm dân cư cùng các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, các công trìnhthể thao văn hóa

- Mạng lưới thủy văn, chủ yếu là đập thủy điện, công trình tưới tiêu thủy lợinằm ngoài khu vực dân cư

- Thực phủ, chủ yếu là các đường biên miền thực vật: rừng, cây côngnghiệp, đất canh tác

2.2 Mục đích và yêu cầu của công tác hiện chỉnh bản đồ

2.2.1 Mục đích

Hiện chỉnh bản đồ nhằm mục đích chỉnh sửa bản đồ và bổ sung những thayđổi của thực địa lên bản đồ như địa danh, địa vật ngoài thực tế sao cho phù hợp vớihiện trạng và chuyển bản đồ về dạng quy định theo đúng các yêu cầu kỹ thuậttrong hệ tọa độ quy định cùng với hệ thống ký hiệu bản đồ hiện hành

2.2.2 Yêu cầu

- Bản đồ đã hiện chỉnh phải đáp ứng các yêu cầu về độ chính xác nội dung

và hình thức trình bày của các quy phạm thành lập bản đồ tỷ lệ tương ứng và các

ký hiệu hiện hành khi chỉnh sử nội dung mô tả, phải giữ nguyên khoảng cao đềucủa đường bình độ mà bản đồ cũ đã thể hiện

Trang 23

- Thiết kế phương án kỹ thuật khu hiện chỉnh công tác nội nghiệp, công tácngoại nghiệp và chỉ dẫn cho từng loại công tác xét duyệt những biên bản này tiếnhành theo quy phạm hiện hành

- Khi hiện chỉnh người thực hiện phải lập và ghi chép đầy đủ lý lịch bản đồ

hồ sơ kỹ thuật bản gốc hiện chỉnh, nội dung kỹ thuật bản gốc hiện chỉnh gồm có:

+ Danh pháp mảnh năm đo vẽ hoặc thành lập

+ Thời gian hiện chỉnh và người thực hiện

+ Đặc điểm địa lý tự nhiên của khu vực

+ Cơ sở khống chế mặt bằng và độ cao

+ Tài liệu cần dùng để hiện chỉnh

+ Kết quả đánh giá bản đồ cần hiện chỉnh

+ Công nghệ hiện chỉnh

+ Bản gốc chỉnh sửa “ loại, chất lượng, độ chính xác”

+ Công tác nội nghiệp, phương pháp thực hiện và kết quả kiểm tra

+ Chất lượng tiếp biên

+ Kết quả nghiệm thu, đánh giá sản phẩm

Bản đồ đã được hiện chỉnh phải xuất bản không chậm quá 2 năm kể từ khihoàn thành công việc chỉnh sửa

2.3 Các hệ thống hiện chỉnh bản đồ

Trong quá trình sản xuất bản đồ địa hình hiện nay thì có hai hệ thông hiệnchỉnh chủ yếu đó là hiện chỉnh bản đồ theo chu kỳ và hiện chỉnh thường xuyên

Hiện chỉnh bản đồ theo chu kỳ: Các bản đồ được hiện chỉnh theo một

khoảng thời gian nhất định, độ dài của chu kỳ được phụ thuộc vào các nhân tố như:cường độ thay đổi, tỷ lệ bản đồ, ý nghĩa của khu vực đối với nền kinh tế quốcdân Chu kỳ hiện chỉnh thường dao động trong phạm vi từ 6 đến 15 năm Ở nhữngvùng quan trọng nhất thì sự hiện chỉnh được tiến hành sau 6 đến 8 năm, còn đối

Trang 24

với những vùng khác thì thường từ 10 đến 15 năm Hiện nay đối với các nước tiêntiến trên thế giới với sự phát triển của khoa học công nghệ thì họ đã thực hiện hiệnchỉnh bản đồ địa hình theo chu kỳ 5 năm hiện chỉnh một lần, đối với những vùngđặc biệt có sự thay đổi do tác động của các nhân tố tự nhiên và tác động của conngười thì người ta tiến hành hiện chỉnh ngay,

Hiện chỉnh thường xuyên: Hệ thống hiện chỉnh thường xuyên chủ yếu ứng

dụng đối với bản đồ hàng hải và đối với những vùng đặc biệt quan trọng Để tiếnhành hiện chỉnh thường xuyên người ta phải tổ chức hệ thống thu nhận nhữngthông tin về sự biến đổi của khu vực

2.4 Các phương pháp hiện chỉnh

Những thông tin về biến đổi của miền thực địa diễn ra từ sau khi bản đồ đãthành lập xong có thể lấy từ ảnh hàng không hoặc lấy từ ảnh vũ trụ mới chụp, cóthể lấy từ các bản đồ có tỷ lệ lớn hơn vừa mới thành lập và khảo sát ngoài thực địa

Từ những đặc điểm của thông tin cần cho việc hiện chỉnh bản đồ ta có thể sửdụng một trong các phương pháp sau:

+ Hiện chỉnh bản đồ theo ảnh hàng không, ảnh vệ tinh

+ Hiện chỉnh từ bản đồ có tỷ lệ lớn hơn mới được thành lập

+ Hiện chỉnh trực tiếp ngoài thực địa

Mỗi phương pháp đều có ý nghĩa về kinh tế kỹ thuật độc lập, xong để đạtđược hiệu quả cao trong phạm vi một khu hiện chỉnh hoặc trên cùng một mảnh bản

đồ có thể kết hợp các phương pháp trên

Trường hợp cùng một lúc ta tiến hành hiện chỉnh cả dãy tỷ lệ thì bản đồ có

tỷ lệ lớn hơn sẽ trực tiếp hiện chỉnh, những bản đồ có tỷ lệ nhỏ tiếp theo sẽ đượchiện chỉnh bằng phương pháp biên vẽ hoặc chỉnh sửa theo bản đồ mới hiện chỉnh

2.4.1 Phương pháp hiện chỉnh bản đồ bằng ảnh hàng không

Phương pháp này được thực hiện bằng cách chỉnh sửa bản gốc hiện chỉnh ởnội nghiệp theo ảnh sau đó khảo sát kiểm tra ngoại nghiệp phụ thuộc vào đặc điểmcủa khu vực hiện chỉnh từ góc độ đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật và hiệu quả kinh tế

Trang 25

khi cần thiết, cho phép khảo sát thực địa trước khi điều chỉnh về nội nghiệp Trongtrường hợp đặc biệt có thể bỏ qua khâu khảo sát ngoại nghiệp.

Quá trình hiện chỉnh bản đồ bằng ảnh hàng không bao gồm các công đoạnsau:

a, Chụp ảnh hàng không

Thông thường các biến đổi trên bản đồ chủ yếu thuộc về các yếu tố địa vật,nên ảnh chụp cho điều vẽ thường có góc rộng Tỷ lệ ảnh có thể chọn sao cho có lợicho công tác đoán đọc điều vẽ nội nghiệp, ngoại nghiệp Nếu khu vực cần hiệnchỉnh đã có tư liệu ảnh, thì có thể sử dụng trực tiếp nguồn tư liệu quý giá đã có sẵnnày Tư liệu ảnh có sẵn phải là tư liệu ảnh mới chụp, có tỷ lệ phù hợp với tỷ lệ bản

đồ cần hiện chỉnh

b, Công tác chuẩn bị

Thu thập và hệ thống hóa các tài liệu cần thiết về khu vực cần hiện chỉnhbản đồ xác định mức độ cần hiện chỉnh, xác định số liệu và đặc tính cần thay đổicủa địa vật Xác định danh mục số liệu trắc địa trong khu vực trên cơ sở viếtphương án kinh tế kỹ thuật cho việc hiện chỉnh Trong phương án cần chỉ rõphương pháp làm mới bản đồ, chỉ rõ những nội dung cụ thể cho phương pháp đượclựa chọn

Cụ thể cần xác định rõ nền của bản đồ cần thể hiện là bản lam hay phimtrong hay hình đồ ảnh Trong bản thiết kế kỹ thuật cần làm sáng tỏ, rõ ràng và côngtác tổ chức thực hiện quy trình công nghệ và danh mục các tư liệu sẽ giao nộp

Trong thiết kế kỹ thuật cũng cần nhìn trước sự đồng nhất về mặt biểu thị địavật cùng loại, khả năng tiếp biên

c, Công tác nội nghiệp và sửa chữa bản đồ

Để đảm bảo độ tin cậy cao của kết quả điều vẽ cần có ảnh mới chụp với tỷ lệtương đối so với tỷ lệ bản đồ cần hiện chỉnh, ngoài ra còn cần sử dụng dụng cụ lậpthể để quan sát khi điều vẽ

d, Kiểm tra ngoại nghiệp

Trang 26

Công tác kiểm tra cần tập trung vào những nội dung sau:

+ Các yếu tố xuất hiện sau khi chụp ảnh và các yếu tố không xuất hiện trênảnh

+ Kiểm tra địa danh, các đặc trưng định tính, định lượng đặc biệt là các tínhchất đặc trưng của đối tượng của nội dung mô tả và chất lượng công trình

+ Kiểm tra độ chính xác của các điểm trắc địa, các khu dân cư, các côngtrình xây dựng

Việc kiểm tra thực địa thường được tiến hành theo tuyến Ví dụ: theo cáctuyến đường phát hiện những khu vực bổ xung nhiều do hình ảnh của chúngkhông có trên ảnh thì phải tiến hành đo bổ xung bằng phương pháp đo toàn đạc haybàn đạc

Đây là phương pháp được áp dụng rộng rãi, đạt hiệu quả kinh tế cao, rútngắn rất nhiều thời gian thi công, ít chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh,nhanh chóng xác định được mức độ thay đổi của nội dung bản đồ bằng cách sosánh ảnh hàng không mới chụp và bản đồ cần hiện chỉnh Tuy nhiên, phương phápnày không đáp ứng được cho công tác hiện chỉnh bản đồ địa hình ở tỷ lệ lớn, màchỉ đảm bảo yêu cầu độ chính xác cho hiện chỉnh bản đồ địa hình ở tỷ lệ 1/5000,1/10.000 và nhỏ hơn, đặc biệt là hiện chỉnh địa vật

2.4.2 Hiện chỉnh theo bản đồ có tỷ lệ lớn hơn mới được thành lập

Công tác hiện chỉnh tiến hành theo quy tắc biên vẽ bản đồ địa hình tươngứng có tỷ lệ lớn hơn, điểm khác biệt ở đây là đánh giá mức độ biến đổi của cácphần tử nội dung ở biên bản đồ cần hiện chỉnh

Phương pháp này có ưu điểm là thực hiện nhanh chóng, đạt độ chính xáccao, công tác hiện chỉnh được tiến hành hoàn toàn trong phòng nên tiến hành triểnkhai công việc được thuận tiện, chi phí thập

Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp là chỉ thực hiện được ở khu vựccần hiện chỉnh đã có bản đồ địa hình tỷ lệ lớn hơn mới được thành lập hoặc mớiđược hiện chỉnh Độ chính xác của bản đồ đã hiện chỉnh phụ thuộc vào độ chínhxác của tài liệu và phương pháp chuyển vẽ

Trang 27

2.4.3 Hiện chỉnh bằng phương pháp đo vẽ ngoài thực địa

Phương pháp hiện chỉnh bản đồ bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp ngoàithực địa được tiến hành bằng các phương pháp đo đạc truyền thống tại khu vực cầnhiện chỉnh, khi thực hiện khảo sát ngoại nghiệp toàn bộ khu hiện chỉnh ta chỉnhsửa tại thực địa những biến đổi về địa hình và địa vật Phương pháp này chỉ ápdụng cho khu vực không có ảnh hàng không hoặc tư liệu bản đồ cần hiện chỉnhdùng bản sao nét trên giấy vẽ bôi lên đế cứng làm bản gốc chỉnh sửa

Phương pháp này có ưu điểm là đạt được độ chính xác cao, có thể chỉnh sửachính xác cả sự thay đổi về mặt địa hình thuận lợi cho khu vực hiện chỉnh nhỏ có

sự biến đổi ít, vùng cần chỉnh sửa có địa vật phức tạp che khuất nhiều, tận dụng sửdụng các loại máy móc hiện có

Nhược điểm của phương pháp là tốn nhiều công sức, thời gian thi công kéodài, chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh, kém hiệu quả kinh tế, đôi khukhông thể thực hiện được khi vùng cần hiện chỉnh có địa hình phức tạp, khó khăncho việc tiến hành đo đạc ngoài thực địa

Phương pháp này thường áp dụng cho các bản đồ tỷ lệ lớn và vùng hiệnchỉnh có diện tích nhỏ

2.5 Những vấn đề cơ bản trong giải đoán ảnh hàng không

2.5.1 Các chuẩn đoán đọc điều vẽ

Đoán đọc điều vẽ ảnh là một khâu rất quan trọng trong quá trình hiện chỉnhbản đồ địa hình trên cơ sở ảnh hàng không Đoán đọc điều vẽ ảnh hàng khôngđược tiến hành theo các chuẩn đoán đọc trực tiếp, gián tiếp, tổng hợp

a, Chuẩn đoán đọc trực tiếp

Các đặc tính của địa vật được truyền trực tiếp lên trên ảnh và được mắtngười cảm thụ trực tiếp gọi là chuẩn đoán đọc trực tiếp Chúng bao gồm hình dạng,kích thước, nền màu, màu sắc và ảnh bóng của địa vật:

Trang 28

- Chuẩn hình dạng: hình dạng có ý nghĩa quan trọng trong đoán đọc ảnh.Hình dạng đặc trưng cho mỗi đối tượng khi nhìn từ trên cao xuống và được coi làchuẩn đoán đọc điều vẽ quan trọng Theo chuẩn này ta xác định được sự có mặtcủa địa vật và tính chất của địa vật.

Có hai loại hình dạng xác định và hình dạng không xác định Hình dạng xácđịnh là chuẩn đoán đọc điều vẽ tin cậy các mục tiêu nhân tạo vì chúng thường cóảnh với hình dạng hình học xác định Còn các địa vật tự nhiên (cánh đồng cỏ, khurừng) thường có ảnh với hình dạng không xác định thường là chuẩn đoán đọc điều

vẽ ảnh không tin cậy

- Chuẩn kích thước: cần phải chọn một tỷ lệ ảnh phù hợp để đoán đọc Kíchthước của đối tượng có thể xác định nếu lấy kích thước đo được trên ảnh nhân vớimẫu số tỷ lệ ảnh

L=L’*

l l'Trong đó:

L- Chiều dài của địa vật cần được xác định ngoài thực địa (m)

l- Chiều dài ảnh địa vật cần xác định ở trên ảnh (mm)

L'- Chiều dài của ảnh địa vật đó biết ngoài thực địa (m)

l'- Chiều dài của ảnh địa vật đó biết trên ảnh (mm)

Theo chuẩn kích thước, người ta biết được một số tính chất đặc trưng củađịa vật bằng cách gián tiếp, ví dụ theo kích thước của cầu người ta có thể biết đượctrọng tải của cầu Chuẩn kích thước dùng để đoán đọc các địa vật có cùng hìnhdạng

-Nền ảnh: nền ảnh là độ hóa đen của phim chụp ở chỗ tương ứng của ảnh địavật và sau này là độ đen trên ảnh

Ngày đăng: 12/06/2014, 08:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng sau đây đưa ra một số tỷ lệ ảnh phù hợp với tỷ lệ bản đồ cần hiện  chỉnh: - Đồ án tốt nghiệp: Sử dụng ảnh hàng không để hiện chỉnh bản đồ địa hình tỷ lệ 110.000
Bảng sau đây đưa ra một số tỷ lệ ảnh phù hợp với tỷ lệ bản đồ cần hiện chỉnh: (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w