TÊN ĐỀ TÀI: TÌNH HUỐNG GIAO TIẾP TRONG HỘI THOẠI VÀ VIỆC HƯỚNG DẪN HỌC SINH THỰC HIỆN CÁC KIỂU BÀI TẬP HỘI THOẠI Tình huống giao tiếp trong hội thoại và việc hướng dẫn học sinh thực hiện các kiểu bài tập hội thoại. Trong đề tài này nó có một vai trò và ý nghĩa rất quan trọng. Là yếu tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, là tập hợp những mối quan hệ giữa con người với con người tác động qua lại với nhau. Xã hội sẽ không tồn tại khi con người không có mối quan hệ gắn bó với nhau. Đây là hoạt động giao tiếp bằng lời nói từ hai người trở lên, dùng ngôn ngữ lời nói để truyền đạt suy nghĩ, quan điểm của bản thân hay một vấn đề nào đó. Nó có một giá trị hết sức quan trọng trong đời sống hàng ngày mỗi con người chúng ta đều có sự giao tiếp với nhau. Đặc biệt trong việc hướng dẫn học sinh thực hiên các kiểu bài tập về hội thoại nhằm giúp cho các em hiểu biết về cách ứng xử, biết thể hiện được các hành vi đạo đức chuẩn mực. Hoạt động trước tiên là dạy kĩ năng nghe và nói, trong đó chú trọng rèn cho học sinh năng lực nghe hiểu, năng lực nói liền mạch theo đề tài, chủ đề nhất định và đạt được đích giao tiếp. Việc dạy học sinh chú trọng đến dạng phát triển lời nói thông qua dạy hội thoại. Quá trình rèn luyện năng lực nghe hiểu và nói liền mạch là quá trình tiếp nhận và sản sinh lời nói. Hoạt động nói năng là một loại hoạt động giao tiếp. Dạy hoạt động nói năng là rèn luyện các kĩ năng giao tiếp, rèn luyện các kĩ năng nói trong các tình huống giao tiếp cụ thể, phù hợp với các nhân tố giao tiếp, với các đề tài và chủ đề hội thoại và đạt được đích giao tiếp hội thoại. Dạy hội thoại góp phần phát triển tri thức, nâng cao văn hoá ứng xử trong xã hội Dạy hội thoại là dạy huy động vốn kiến thức đã có và xử lí các thông tin mới tiếp nhận trong hội thoại để tham gia hội thoại làm cho hiểu biết của con người trở nên phong phú, sắc sảo, mở rộng và nâng cao.Dạy hội thoại là dạy văn hoá ứng xử trong giao tiếp. Giúp cho các em phát triển được kỹ năng hội thoại trong Tiếng Việt. Việc đưa hội thoại vào trong nhà trường đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong nội dung cũng như trong phương pháp. Việc chú ý đến dạy hội thoại trong nhà trường giúp học sinh giao tiếp ngày càng linh hoạt sinh động. Vì thế đưa vào trong chương trình môn Tiếng Việt đưa hội thoại thành một nội dung học tập.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON
BÀI TẬP LỚN
Học phần MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGÔN BẢN
VÀ DẠY HỌC HỘI THOẠI Ở TIỂU HỌC
TÊN ĐỀ TÀI:
TÌNH HUỐNG GIAO TIẾP TRONG HỘI THOẠI VÀ VIỆC HƯỚNG DẪN HỌC SINH THỰC HIỆN CÁC KIỂU BÀI TẬP HỘI THOẠI
MÃ HV: 5719440111 LỚP: ĐHGDTH19A-L2-VL/SP GVHD: TS,GVC TRẦN ĐỨC HÙNG
ĐỒNG THÁP, THÁNG 8 NĂM 2021
Trang 2………
………
………
………
………
Đồng Tháp, ngày ……tháng … năm 2021
Giảng viên chấm 2
(ký và ghi rõ họ tên)
Giảng viên chấm 1
(ký và ghi rõ họ tên)
ĐIỂM BÀI THI:
Trang 3MỤC LỤC
1 Tình huống giao tiếp trong hội thoại
2 Hướng dẫn học sinh thực hiện các kiểu bài tập hội thoại ở Tiểu học
3 Thiết kế một bài dạy hội thoại cho học sinh Tiểu học
Tài liệu tham khảo 10
MỞ ĐẦU
Trang 4Đề tài: Tình huống giao tiếp trong hội thoại và việc hướng dẫn học sinh thực hiện các
kiểu bài tập hội thoại
Trong đề tài này nó có một vai trò và ý nghĩa rất quan trọng Là yếu tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, là tập hợp những mối quan hệ giữa con người với con người tác động qua lại với nhau Xã hội sẽ không tồn tại khi con người không có mối quan hệ gắn bó với nhau Đây là hoạt động giao tiếp bằng lời nói từ hai người trở lên, dùng ngôn ngữ lời nói để truyền đạt suy nghĩ, quan điểm của bản thân hay một vấn đề nào đó Nó có một giá trị hết sức quan trọng trong đời sống hàng ngày mỗi con người chúng ta đều có sự giao tiếp với nhau Đặc biệt trong việc hướng dẫn học sinh thực hiên các kiểu bài tập về hội thoại nhằm giúp cho các em hiểu biết về cách ứng xử, biết thể hiện được các hành vi đạo đức chuẩn mực
Hoạt động trước tiên là dạy kĩ năng nghe và nói, trong đó chú trọng rèn cho học sinh năng lực nghe hiểu, năng lực nói liền mạch theo đề tài, chủ đề nhất định và đạt được đích giao tiếp Việc dạy học sinh chú trọng đến dạng phát triển lời nói thông qua dạy hội thoại Quá trình rèn luyện năng lực nghe hiểu và nói liền mạch là quá trình tiếp nhận và sản sinh lời nói Hoạt động nói năng là một loại hoạt động giao tiếp Dạy hoạt động nói năng là rèn luyện các kĩ năng giao tiếp, rèn luyện các kĩ năng nói trong các tình huống giao tiếp cụ thể, phù hợp với các nhân tố giao tiếp, với các đề tài và chủ đề hội thoại và đạt được đích giao tiếp hội thoại Dạy hội thoại góp phần phát triển tri thức, nâng cao văn hoá ứng xử trong xã hội Dạy hội thoại là dạy huy động vốn kiến thức đã có và xử lí các thông tin mới tiếp nhận trong hội thoại để tham gia hội thoại làm cho hiểu biết của con người trở nên phong phú, sắc sảo, mở rộng và nâng cao.Dạy hội thoại là dạy văn hoá ứng xử trong giao tiếp
Giúp cho các em phát triển được kỹ năng hội thoại trong Tiếng Việt Việc đưa hội thoại vào trong nhà trường đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong nội dung cũng như trong phương pháp Việc chú ý đến dạy hội thoại trong nhà trường giúp học sinh giao tiếp ngày càng linh hoạt sinh động Vì thế đưa vào trong chương trình môn Tiếng Việt đưa hội thoại thành một nội dung học tập
NỘI DUNG
Trang 5Nội dung 1: Tình huống giao tiếp trong hội thoại
1.1 Khái niệm về tình huống
Tình huống là toàn thể những sự việc xảy ra tại một nơi, trong một thời gian, buộc người ta phải suy nghĩ, hành động, đối phó, chịu đựng, Như vậy, có thể thấy rằng, thuật ngữ “tình huống” dù được quan niệm theo cách nào thì trong nội hàm của nó cũng đều chứa đựng một “Tình trạng/ trạng thái” cần đưa ra quyết định để giải quyết các vấn đề Và nó có thể bao gồm cả việc đánh giá, xem xét đến các chính sách, công việc thực tiễn, hoặc các khuyến nghị
1.2 Tình huống giao tiếp bằng ngôn ngữ
Tình huống giao tiếp là tác động tổng thể của những yếu tố của ngữ cảnh ở thời điểm nào đó của cuộc trao đổi, tiếp xúc đang diễn ra được các nhân vật giao tiếp ý thức, trong đó xuât hiện các vấn đề cần giải quyết
Ví dụ: Đoạn truyện sau trong câu chuyện “Chuỗi ngọc Lam” ( tiếng Việt 5, tập 1 ) là một cuộc hội thoại: Chiều hôm ấy có một em gái nhỏ đứng áp trán vào tủ kính cửa hàng của Pie, nhìn từng đồ vật như muốn kiếm thứ gì Bỗng em ngửng đầu lên: -Cháu có thể xem chuối ngọc lam này không ạ? Pi-e lấy chuỗi ngọc, đưa cho cô bé Cô
bé thốt lên: - Đẹp quá! Xin chú gói lại cho cháu! Pi-e ngạc nhiên: - Ai sai cháu đi mua? - Cháu mua tặng chị cháu nhân lễ Nô - en Chị đã nuôi cháu từ khi mẹ cháu mất
- Cháu có bao nhiêu tiền? Cô bé mở khăn tay, đổ lên bàn một nắm xu: - Cháu đã đập con lợn đất đấy! Pi-e trầm ngâm nhìn cô bé Rồi vừa lúi húi gỡ mảnh giấy ghi giá tiền, anh vừa hỏi: - Cháu tên gì? - Cháu là Gioan Anh đưa Gioan chuỗi ngọc gói trong bao lụa đỏ: - Đừng đánh rơi nhé! Cô bé mỉm cười rạng rỡ, chạy vụt đi Cô đau biết chuỗi ngọc này Pi-e dành để tặng vợ chưa cưới của mình, nhưng rồi một tai nạn giao thông đã cướp mất người anh yêu quý Cuộc hội thoại này có những đặc điểm chính:
* Nhân vật tham gia hội thoại: Gioan (cô bé mồ côi, người mua hàng) và Pi-e (chủ cửa hàng, người bán hàng)
* Nội dung chính của cuộc thoại: là cuộc trao đổi, thoả thuận xung quanh việc mua, bán chuỗi ngọc lam
* Đích của cuộc hội thoại: Gioan muốn tìm mua một kỉ vật để tặng người chị nhân ngày lễ Nô-en Pi-e muốn bán được hàng Kết thúc cuộc thoại cả hai nhân vật đề đạt được đích đặt ra
* Diễn biến cuộc thoại: Pi-e từ ngạc nhiên đã chuyển sang ưng thuận bán cho bé Gioan chuỗi ngọc lam với giá là tất cả số xu em có được do đập con lợn đất còn Gioan ra về trong niềm sung sướng vì nhận được món quà lưu niệm để tặng chị
Đó là một tình huống giao tiếp bằng ngôn ngữ Tóm lại, tình huống giao tiếp là thời điểm cuộc giao tiếp này nảy sinh vấn đề cần giải quyết Điều này diễn ra thường xuyên trong đời sống Nhưng các nhà giáo cần nắm lấy nó, chuyển hóa nó vào lớp học, biến thành một công cụ để dạy giao tiếp bằng ngôn ngữ, để dạy hội thoại
1.3 Tình huống giao tiếp giả định
Trang 6Tình huống giao tiếp giả định là tình huống giao tiếp do các nhà sư phạm đặt ra, là công cụ để dạy hội thoại Dù là giả định nhưng các tình huống giao tiếp dùng để học hội thoại cũng bao hàm đầy đủ các yếu tố của ngữ cảnh, cũng thể hiện rõ đíchcủa giao tiếp, nhân vật giao tiếp, Trong đó vấn đề cần giải quyết đã xuất hiên Mỗi tình huống giao tiếp giả định là một bài toán về giao tiếp HS cần tìm ra lời giải Mỗi đề bài tập về hội thoại bao giờ cũng chứa một tình huống giao tiếp giả định
Ví dụ: Đưa ra tình huống giả định sau và yêu cầu HS nói lời đáp
Chị em ra vào bàn học của em, làm rơi cây bút mực Em nhanh tay chợp được Chị em khâm phục: “Em giỏi thật đấy!”
Trong tình huống giao tiếp giả định trên, đích của cuộc giao tiếp đã được đặt ra (Em phải nói được lời đáp đối với lời khen của chị), nhân vật giao tiếp đã được đã được xác định (em và chị em), hoàn cảnh giao tiếp cũng đã rõ (chị va vào bàn học, cái bút rơi,
em chợp được) Tuy nhiên hạn chế của tình huống giao tiếp giả định này là chỉ đòi hỏi người thực hiện bài tập làm một nhiệm vụ (nói lời đáp) và sau đó tình huống giao tiếp chấm dứt Sản phẩm của tình huống giao tiếp này là một cặp thoại
Nội dung 2: Hướng dẫn học sinh thực hiện các kiểu bài tập hội thoại ở Tiểu học
2.1 Kiểu bài tập dạy nghi thức lời nói trong hội thoại
a/ Cấu trúc bài tập dạy nghi thức lời nói
- Bài tập sử dụng nghi thức lời nói: Đầu bài kiểu bài tập này gồm một lời trao hay một lời đáp Cũng có khi sách giáo khoa dùng tranh ảnh mô tả tình huống giao tiếp, trong đó một nhân vật nói lời hay trao lời đáp Học sinh sẽ căn cứ vào các dữ kiện đã cho, đóng vai nhân vật còn lại để nói tiếp lời đáp hay lời trao là một nghi thức lời nói Đây là bài tập gồm lời trao, người làm bài cần điền lời đáp là một nghi thức lời nói Ví dụ: Viết lời đáp của Minh trong tình huống sau: Một Bác đã lớn tuổi chào Minh:
- Chào cháu
-
Ngoài ra tình huông giao tiếp có thể dùng tranh và nêu ra nhiệm vụ của người làm bài Qua tình huống trong tranh, các bạn học sinh sẽ đưa ra lời đáp thế nào?
Ví dụ: Một bạn trong tranh nói: Mình chào các bạn Theo các em: Các bạn trong tranh sẽ đáp lại như thế nào? - Bài tập lựa chọn nghi thức lời nói phù hợp tình huống giao tiếp Đề bài tập gồm vài ba câu miêu tả tình huống giao tiếp Sau đó đề bài đưa ra yêu cầu học sinh đưa ra một nghi thức lời nói phù hợp Đề bài có thể có tranh minh họa hay không có tranh minh họa cho tình huống giao tiếp
+ Đề bài đòi hỏi người làm bài đưa ra lời chào:
Ví dụ: Nói lời chào của em khi đi chơi mới về Đề bài đòi hỏi học sinh đưa ra lời cảm ơn: Ví dụ:
+ Em lở tay làm vở của bạn rơi xuống nền gạch, bạn em thấy vậy nói với em “Sao bạn làm rơi vở mình xuống vậy?” Em sẽ đáp lại như thế nào?
b/ Mục đích của bài tập
Trang 7Bài tập nhằm rèn luyện việc vận dụng các nghi thức lời nói phù hợp với các tình huống giao tiếp đề bài đã ra
c/ Tình huống giao tiếp
Tình huống giao tiếp chung của kiểu bài tập này có thể mô tả như sau: Giữa các nhân vật xuất hiện những hoạt động (mua bán, tranh luận, trao đổi, ) đòi hỏi dùng nghi thức lời nói để giao tiếp Trong hoàn cảnh ấy lời đáp nên như thế nào nếu người mở đầu dùng nghi thức lời nói đúng chỗ? Hoặc lời trao nên như thế nào nếu người đáp dùng nghi thức lời nói đúng chỗ?
d/ Phương pháp đáp lời hay trao lời bằng một nghi thức lời nói
Các bước triển khai: Để xác định đúng nghi thức lời nói đáp lời hay trao lời, người làm bài cần tiến hành hai bước:
+ Xác định hoàn cảnh giao tiếp được mô tả trong đề bài là hoàn cảnh nào? (làm quen, cảm ơn, xin lỗi, đề nghị, yêu cầu, )
+ Lựa chọn nghi thức lời nói phù hợp
Công thức của lời trao hay lời đáp gồm: nghi thức dùng trong các hoàn cảnh giao tiếp đặt ra lời tỏ rõ phép lịch sự phù hợp quan hệ cá nhân cac nhân vật giao tiếp Ví dụ cùng lời cảm ơn, nhưng với người lớn tuổi, để thể hiện sự kính trọng, lễ phép phải dùng thêm từ “cháu” ở trước hoặc từ “ạ” ở sau hoặc cả hai từ (Cháu cảm ơn hoặc Cháu cảm ơn ạ) Với các bạn cùng tuổi thì chỉ cần dùng thêm từ bạn ở sau từ cảm ơn Với các em nhỏ hơn Dùng thêm từ em sau từ cảm ơn
2.2 Kiểu bài tập đáp lời hoặc trao lời trong các tình huống giao tiếp
Một cuộc hội thoại bao giờ cũng có lời trao, lời đáp Trong một tình huống giao tiếp, nếu đề bài đã cho lời trao thì học sinh phải đưa ra lời đáp hoặc ngược lại Hiểu theo nghĩa trên, kiểu bài tập sử dụng nghi thức lời nói là một dạng đặc biệt của kiểu bài tập đáp lời hoặc trao lời trong các tình huống giao tiếp
a/ Cấu trúc bài tập đáp lời hoặc trao lời Có hai dạng bài tập
* Dạng bài 1: Cho sẵn các lời trao trong một chuỗi các cặp thoại liên tiếp nhưng lời đáp thì bỏ trống Nhiệm vụ người làm bài là nói tiếp các lời đáp phù hợp
Ví dụ 1: Viết lời đáp của Minh vào vở:
- Chào cháu
-
- Cháu cho Dì hỏi thăm đây có phải nhà của Minh không?
-
-Tốt quá Dì là mẹ của Thanh đây
-
- Thanh bị bệnh, Dì nhờ cháu chuyển giúp Dì xin phép cho Thanh nghỉ học một ngày
Ví dụ 2: Nói hay viết lời đáp trong các trường hợp sau:
- Bà ơi, đây có phải là thức ăn của con không ạ?
- Phải đấy con ạ
Trang 8* Dạng bài 2: Cho một tình huống giao tiếp, yêu cầu người làm bài đưa ra một lời đáp
để hoàn chỉnh đoạn thoại phù hợp tình huống đó
Ví dụ 1: Em muốn mượn bạn một cây bút, bạn bảo “Bút này mình cũng đi mượn” Em đáp lời thế nào?
Ví dụ 2: Em xin đi tắm biển với cha Cha bảo “Con bị cảm ở nhà đi” Em đáp lời thế nào?
b/ Phương pháp chuẩn bị lời đáp hoặc lời trao
- Ở kiểu bài tập này, người làm phải qua bốn bước:
+ Bước 1: Rút ra tình huống giao tiếp (với đề dạng 1) hay suy ngẫm về tình huống giao tiếp (với dạng đề 2)
+ Bước 2: Đưa ra lời đáp hoặc lời trao dự kiến
+ Bước 3: Xem xét tính phù hợp của lời đáp hoặc lời trao với tình huống giao tiếp + Bước 4: Sửa chữa, hoàn chỉnh lời đáp hoặc lời trao
Ví dụ: Dự kiến lời đáp của người con hoặc lời trao
- Bà ơi, đây có phải là thức ăn của con không ạ?
- Phải đấy con ạ
-
2.3 Kiểu bài tập xử lí trọn vẹn một tình huống giao tiếp
* Cấu trúc đề bài: Đề bài trình bày toàn bộ tình huống giao tiếp để học sinh tập xử lí Vậy tình huống giao tiếp ở đề bài loại này có gì khác với tình huống giao tiếp ở đề bài đáp lời hoặc trao lời, để bài tập sử dụng nghi thức lời nói? Chúng ta hãy khảo
sát các ví dụ sau: Hãy phân tích sự khác nhau của ba tình huống giao tiếp sau:
+ Ông đến nhà chơi, em bắt ti vi hát cải lương cho ông xem Ông khen: “Cháu của ông giỏi quá!” Em đáp lời thế nào?
+ Cô nhà bên qua chúc tết mẹ Mẹ đi vắng, chỉ có em ở nhà
+ Em là cán sự lớp Vừa qua, lớp các em đoạt giải về phong trào thi đua cô giáo chúc mừng lớp em Thay mặt lớp, em đáp lời thế nào?
Về mặt lí thuyết, nếu đề bài chỉ đòi hỏi người làm bài đưa ra một lượt lời trao hay đáp thì các yếu tố của tình huống giao tiếp phải có sẵn lượt lời đáp hoặc lời trao và bỏ trống lượt lời còn lại Hai đề bài còn lại là loại đề bài như vậy Ở hai đề bài này, căn cứ vào nội dung trình bày trong đề thì ông đã khen và cô giáo đã chúc mừng Người làm bài chỉ cần nói lời đáp lại lời của ông, lời cô giáo là hoàn thành cuộc hội thoại đó Không cần thêm bất cứ lượt lời nào khác dù là lời trao hay lời đáp Đó là tình huống giao tiếp đóng Ngược lại đề thứ hai có đặc điểm khác với đề thú nhất và thứ 3 Đây là một tình huống co thể xử lí theo hai hướng:
- Theo hướng một tình huống giao tiếp đóng: Em bé khi mở cửa thấy cô hàng xóm đứng trước cửa Cô nói: cô qua nhà chúc tết mẹ cháu Lúc này em chỉ cần nói lời cảm
ơn cô kèm theo thông báo mẹ em không có ở nhà Trọn vẹn hơn, em có thể mời cô lúc khác đến chúc tết mẹ Đến đây cặp hội thoại hoàn thành tình huống giao tiếp kết thúc Cách xử lí này giống như cách xử lí đề 1 và đề 3 nêu trên
Trang 9- Theo hướng một tình huống có giao tiếp mở: Thực hiện đề bài này theo hướng giao tiếp mở có nghĩa là em bé phải thực hiện trọn vẹn cuộc giao tiếp này, gồm các công việc: mời cô hàng xóm vào nhà, em đại diện cho mẹ chúc tết cô, trò chuyện với cô cho đến khi cô về Dĩ nhiên cuộc tiếp cô hàng xóm chỉ có thể xảy ra với điều kiện em học sinh lớn tuổi, đủ tư cách và kinh nghiệm thực hiện cuộc tiếp khách đến chúc tết
Tóm lại đề bài yêu cầu xử lí trọn vẹn một cuộc giao tiếp là một đề bài đưa ra tình huống giao tiếp mở, Đặc điểm tình huống giao tiếp mở là tình huống giao tiếp qua nhiều đoạn thoại, có đoạn thoại mở đầu, có đoạn thoại phát triển chủ đề và có đoạn thoại kết thuc cuộc giao tiếp Ngược lại tình huống giao tiếp đóng là tình huống giao tiếp chỉ đòi hỏi thực hiện một lượt lời( trao hoặc đáp) để kết thúc cặp thoại đã cho
Nội dung 3: Thiết kế một bài dạy (giáo án tiết dạy) hội thoại cho học sinh tiểu học
Môn: Tập làm văn Tuần: 19; Tiết: 19
Bài: ĐÁP LỜI CHÀO, LỜI TỰ GIỚI THIỆU
I Mục tiêu
- Biết nghe và đáp lại lời chào, lời tự giới thiệu phù hợp với tình huống giao tiếp đơn giản (Bài tập 1, bài tập 2)
- Điền đúng lời đáp vào ô trống trong đoạn đối thoại (Bài tập 3)
+ KNS: Giao tiếp ứng xử văn hóa
- Lắng nghe tích cực
II Đồ dùng dạy- học
- GV: Tranh minh họa 2 tình huống trong SGK
- HS: Vở bài tập
III Các hoạt động dạy- học
HOẠT ĐỘNG CỦA GV HOẠT ĐỘNG CỦA HS
Hoạt động 1: Biết đáp lời chào và nói lời
tự giới thiệu
- Đính tranh gợi ý hs nêu
- Bài 1: Theo em, các bạn học sinh trong hai
bức tranh dưới đây sẽ đáp lại như thế nào?
- Yêu cầu từng nhóm học sinh thực hành đối
đáp trước lớp theo 2 tranh
- GV nhận xét – Kết luận Khen HS trả lời
tốt
Hoạt động 2: Ghi đúng lời đáp trong đoạn
hội thoại
Bài tập 2 Có một người lạ đến nhà thế
nào?
* Nhóm đôi
- KT: Hoàn tất 1 nhiệm vụ
-1 HS đọc yêu cầu- Quan sát từng tranh, đọc lời của chị phụ trách trong 2 tranh đọc lời chào của chị phụ trách (trong tranh 1); lời tự giới thiệu của chị (trong tranh 2)
- Đôi bạn thảo luận đối đáp với nhau- HS trình bày trước lớp Nhận xét bổ sung ý kiến
Hoạt động Nhóm
- 1 HS đọc yêu cầu bài tập
- Cac nhóm tiến hành thảo luận- Trình bày
Trang 10-Chia lớp thành 6 nhóm, mỗi nhóm 6 học
sinh
- Nhận xét, tổng hợp ý kiến HS, điều chỉnh
câu trả lời của HS
- Khen HS trả lời đúng,
Hoạt động 3: Viết được lời đáp thành
đoạn hội thoại
- Bài tập 3 Viết lời đáp của Nam vào vở
-Theo dõi giúp đỡ HS
- Nhận xét, tuyên dương
* HS yếu nói được lời đáp khi bạn hỏi
* Hoạt động kết thúc
- Qua bài tập em biết được điều gì?
- Giáo dục HS – Giao việc về nhà
ý kiến trước lớp
a) Nếu có bố em ở nhà:
- Dự kiến HS sẽ có nhiều cách trả lời khác nhau HS nhận xét ý kiến bạn
b) Nếu bố mẹ em đi vắng
Dự kiến HS sẽ có nhiều cách trả lời khác nhau - HS nhận xét ý kiến bạn
Làmviệc cá nhân
- Đọc yêu cầu Cả lớp điền lời đáp của Nam vào vở bài tập.( Nhiều HS đọc bài viết)
* Dự kiến lời đáp HS
- Chào cháu
- Cháu chào cô ạ! Thưa cô, cô hỏi ai ạ?
- Cháu cho cô hỏi đây có phải là nhà của bạn Nam không?
- Dạ, đúng ạ! Cháu là Nam đây ạ/ Vâng, cháu là Nam đây ạ
- Tốt quá Cô là mẹ của bạn Sơn đây
- Thế ạ? Cháu mời cô vào nhà ạ./ A, cô là
mẹ bạn Sơn ạ? Thưa cô, cô có việc gì bảo cháu ạ
- Nhận xét, bình chọn lời đáp hay
- Biết đáp lời chào lời tự giới thiệu
- Nhận viêc về nhà