1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bộ 20 đề ôn thi đại học môn ngữ văn năm 2014 hay nhất

7 3,6K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 30,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GỒM 20 ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC MÔN NGỮ VĂN NĂM 2014 CỦA CÁC TRƯỜNG THPT TRÊN TOÀN QUỐC CÓ LỜI GIẢI CHI TIẾT Tài liệu được soạn theo nhu cầu của các bạn học sinh khối trường THPT (đặc biệt là khối 12). Tổng hợp tất cả các đề thi môn Ngữ Văn của các trường mới nhất năm 2014. Tài liệu do tập thể tác giả biên soạn: 1. Th.S Nguyễn Thị Bach Mai – CLB gia sư Thái Nguyên (Chủ biên). 2. Cao Văn Tú – Khoa CNTT – Trường ĐH CNTTTT Thái Nguyên (Trưởng nhóm) 3. Thầy Hoàng Minh Trường – CLB gia sư Bắc Giang. 4. Nguyễn Thị Tuyết – Khoa Khoa học cơ bản – Trường ĐH Thái Nguyên. 5. Hà Thị Lý Anh – SVNC – Khoa Văn – Trường ĐHSP Thái Nguyên. 6. Lê Văn Lộc – Khoa CNTT – Trường ĐH CNTTTT Thái Nguyên. Tài liệu gồm có 20 đề của các trường sau: Đề Tên trường Năm Lần thi 01 Trường THPT Quỳnh Lưu 4 2014 Lần 1 02 Trường THPT Lý Tự Trọng 2014 Lần 3 03 Trung tâm gia sư Thái Nguyên 2014 Lần 2 04 Trường THPT Vĩnh Yên 2014 Lần 2 05 Trường THPT Vĩnh Phúc 2014 Lần 1 06 Trường THPT Minh Khai 2014 Lần 2 07 Trường THPT Quỳnh Lưu II 2014 Lần 2 08 Trường THPT Nguyễn Huệ 2014 Lần 3 09 Trường THPT An Lão 2014 Lần 3 10 Trường THPT Quế Võ Số 1 2014 Lần 4 11 Trường THPT Lý Tự Trọng 2014 Lần 2 12 Trường THPT Phúc Thọ 2014 Lần 3 13 Trường THPT Chu Văn An 2014 Lần 1 14 Trung tâm gia sư Thái Nguyên 2014 Lần 01 15 Trung tâm gia sư Thái Nguyên 2014 Lần 02 16 Trung tâm gia sư Thái Nguyên 2014 Lần 03 17 Trường THPT Minh Khai 2014 Lần 3

Trang 1

BỘ GỒM 20 ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC MÔN NGỮ VĂN NĂM 2014 CỦA CÁC TRƯỜNG THPT TRÊN TOÀN QUỐC CÓ LỜI GIẢI CHI TIẾT

- Tài liệu được soạn theo nhu cầu của các bạn học sinh khối trường THPT (đặc biệt là khối 12).

- Tổng hợp tất cả các đề thi môn Ngữ Văn của các trường mới nhất năm 2014.

- Tài liệu do tập thể tác giả biên soạn:

1 Th.S Nguyễn Thị Bach Mai – CLB gia sư Thái Nguyên (Chủ biên).

2 Cao Văn Tú – Khoa CNTT – Trường ĐH CNTT&TT Thái Nguyên (Trưởng nhóm)

3 Thầy Hoàng Minh Trường – CLB gia sư Bắc Giang.

4 Nguyễn Thị Tuyết – Khoa Khoa học cơ bản – Trường ĐH Thái Nguyên.

5 Hà Thị Lý Anh – SVNC – Khoa Văn – Trường ĐHSP Thái Nguyên.

6 Lê Văn Lộc – Khoa CNTT – Trường ĐH CNTT&TT Thái Nguyên.

- Tài liệu gồm có 20 đề của các trường sau:

Trang 2

18 Trường THPT Tân Lập II 2014 Lần 4

- Tài liệu được lưu hành nội bộ - Nghiêm cấm sao chép dưới mọi hình thức!

- Nếu chưa được sự đồng ý của ban Biên soạn mà tự động up tài liệu thì đều được coi là vi phạm nội quy của nhóm.

- Tài liệu được tái bản lần 2.

Tuy nhóm Biên soạn đã cố gắng hết sức nhưng cũng không thể tránh khỏi sự sai xót nhất định

Rất mong các bạn có thể phản hồi những chỗ sai xót về địa chỉ email:

ntbmai.ict2006@gmail.com !

Xin chân thành cám ơn!!!

Chúc các bạn có một kỳ thi tuyển sinh Đại học – Cao đẳng năm 2014 an toàn, nghiêm túc và hiệu quả!!!

Thái Nguyên, tháng 06 năm 2014

Duyệt tài liệu

TM.Nhóm Trưởng nhóm

Cao Văn Tú

Thái Nguyên, tháng 06 năm 2014

TM.Nhóm Biên soạn

Chủ biên

Th.S Nguyễn Thị Bạch Mai

ĐỀ 01

Trang 3

SỞ GD & ĐT NGHỆ AN

TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 4

ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN I Năm học 2013-2014 Môn: Ngữ Văn Khối C, D

(Thời gian làm bài 180 phút không kể thời gian giao đề)

A Phần chung cho tất cả thí sinh:

Câu 1 (2điểm): Trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” (trích Số đỏ- Vũ Trọng

Phụng) có câu “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”, anh chị hãy nêu ngắn gọn niềm hạnh phúc của các thành viên trong gia đình cụ cố Hồng sau cái chết của cụ tổ Từ

đó, nhận xét về ý nghĩa trào phúng của đoạn trích

Câu 2 (3 điểm):

Người nấu bếp, người quét rác cũng như thầy giáo, kĩ sư, nếu làm tròn trách nhiệm thì đều vẻ vang như nhau (Hồ Chí Minh).

Anh/ chị hãy viết bài văn ngắn ( khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ về ý kiến trên

B Phần riêng: (Thí sinh chỉ làm một trong hai câu 3a hoặc 3b)

Câu 3a (5 điểm): (Dành cho thí sinh theo chương trình ban cơ bản)

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi.

(Vội vàng - Xuân Diệu, Ngữ văn 11, tập một, NXB GD, tr.23)

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

(Sóng – Xuân Quỳnh, Ngữ văn 12, tập một, NXB GD, tr.156)

Trình bày cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ trên

Câu 3b (5 điểm): (Dành cho thí sinh theo chương trình nâng cao)

Sau khi nhận được bát cháo hành từ tay thị Nở, Chí Phèo bảo với thị:

- Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui (Chí Phèo - Nam Cao, Ngữ văn 11)

Trong truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân (Ngữ văn 12), sau khi đãi người đàn

bà bốn bát bánh đúc, Tràng cười và nói với thị:

- Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về.

ĐỀ CHÍNH THỨC

Trang 4

Cảm nhận của anh chị về ý nghĩa của những câu nói trên.

ĐÁP ÁN ĐỀ 01

SỞ GD VÀ ĐT NGHỆ AN

TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 4

HƯỚNG DẪN CHẤM

ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN I, NĂM 2013 Môn: NGỮ VĂN

u

m

1 Trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” (trích Số đỏ- Vũ Trọng

Phụng) có câu “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”, anh chị hãy nêu ngắn gọn niềm hạnh phúc của các thành viên trong gia đình cụ cố Hồng sau cái chết của cụ tổ Từ đó, nhận xét về ý nghĩa trào phúng của đoạn trích

2

1 Niềm hạnh phúc của các thành viên trong gia đình cụ cố Hồng sau cái

chết của cụ tổ:

- Niềm vui chung: được chia gia tài

- Niềm vui riêng + Cụ cố Hồng: được diễn trò già cả trước bà con hàng phố + Ông Văn Minh: lăng xê những mốt tang phục của của hàng Âu Hóa + Cô Hoàng Hôn, bà Văn Minh: được mặc những bộ tang phục tân thời + Ông Phán mọc sừng: được chia thêm hai nghìn đồng

+ Cô Tuyết: cơ hội để chứng tỏ với cả thiên hạ mình chưa mất cả chữ

“trinh” và hẹn hò với anh Xuân

+ Cậu Tú Tân: Chụp ảnh (Thí sinh nêu được niềm vui riêng của 3 nhân vật thì cho tối đa 0,5 điểm)

1

0,5 0.5

2 Ý nghĩa trào phúng của đoạn trích:

- Vạch trần bộ mặt đạo đức giả, lạnh lùng, tàn nhẫn, hám tiền hám lợi, đại bất hiếu của gia đình cụ cố Hồng

- Qua đó, phê phán mạnh mẽ bản chất giả dối và sự lố lăng, đồi bại của

xã hội “thượng lưu” ở thành thị Việt Nam những năm trước cách mạng tháng Tám

1

0,5 0,5

2. Người nấu bếp, người quét rác cũng như thầy giáo, kĩ sư, nếu làm tròn

trách nhiệm thì đều vẻ vang như nhau (Hồ Chí Minh).

I Yêu cầu về kĩ năng:

- Biết kết hợp các thao tác nghị luận để làm bài văn nghị luận xã hội

Trang 5

- Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt sáng rõ, lưu loát.

II Yêu cầu về nội dung:

- Người nấu bếp, người quét rác, thầy giáo, kĩ sư: những nghề nghiệp

khác nhau của con người trong xã hội

- nếu làm tròn trách nhiệm thì đều vẻ vang như nhau: nghề nào cũng

đáng được trân trọng, tôn vinh khi người lao động đã cống hiến hết mình cho xã hội, làm tròn trách nhiệm của mình

=> Ý cả câu: trong xã hội, không có nghề thấp hèn mà nghề nào cũng cao quý, cũng đáng trân trọng Người lao động dù là ai, làm nghề gì cũng đáng được coi trọng khi đã đóng góp sức mình cho sự phát triển của xã hội

0,5

2

Bình luận ý kiến:

- Mỗi nghề nghiệp đều nảy sinh từ nhu cầu xã hội nên có đặc điểm, vị trí riêng không thể thay thế trong cuộc sống xã hội

- Làm nghề gì, người lao động cũng cần nhiều thời gian và công sức, có thế là lao động cơ bắp, cũng có thể là lao động trí óc Nhưng dù là công việc gì, họ cũng đã đóng góp sức lao động chân chính của mình để xây dựng xã hội Do vậy, họ đáng được tôn vinh

- Phê phán quan niệm lệch lạc của một số người: coi trọng lao động trí

óc, xem thường lao động chân tay, chạy theo những nghề đem lại lợi ích trước mắt cho bản thân

1,5

0,5 0,5 0,5

- không nên có tư tưởng phân biệt nghề sang trọng, cao quý và nghề thấp hèn Cần có thái độ đúng đắn khi chọn nghề Không nên chạy theo quan điểm hời hợt (sang hèn…) mà chọn nghề phù hợp với năng lực, với ước

mơ, hoàn cảnh của bản thân, nhu cầu và sự phát triển của xã hội

- cần yêu nghề và trau dồi năng lực để cống hiến cho xã hội

1

0,5

0,5

3b Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi

(Vội vàng-Xuân Diệu, Ngữ văn 11, tập một, NXB GD, tr.23) Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Trang 6

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

(Sóng – Xuân Quỳnh, Ngữ văn 12, tập một, NXB GD, tr.156) Trình bày cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ trên

I Yêu cầu về kĩ năng:

- Nắm vững phương pháp làm bài văn nghị luận văn học

- Bố cục chặt chẽ, văn lưu loát, có cảm xúc

II Yêu cầu về nội dung:

bài thơ Vội vàng, Sóng, hai đoạn thơ được yêu cầu cảm nhận.

0,5

- Đoạn thơ thể hiện “cái tôi” ham sống, muốn tận hưởng cuộc đời mãnh liệt Như một tuyên ngôn của lòng mình, nhà thơ tự xác định một thái độ sống gấp, tận hưởng vì cảm nhận cái hữu hạn của cuộc đời (Mau đi thôi ! Mùa chưa ngả chiều hôm); ý thức chiếm lĩnh, tận hưởng cuộc sống ở mức độ cao nhất (chếnh choáng, đã đầy, no nê ) những gì tươi đẹp nhất (mùi thơm, ánh sáng, thời tươi )

- Các yếu tố nghệ thuật như điệp từ, điệp cấu trúc câu, động từ mạnh

góp phần thể hiện cái hối hả, gấp gáp, cuống quýt của tâm trạng, khiến nhịp điệu đoạn thơ sôi nổi, cuồng nhiệt

1,5 1

0,5

b Đoạn thơ trong bài Sóng của Xuân Quỳnh:

- Đoạn thơ thể hiện khát vọng lớn lao, cao cả trong tình yêu: ước mong được tan hòa cái tôi nhỏ bé-con sóng cá thể, thành cái ta chung rộng

lớn-“trăm con sóng” giữa biển cả mênh mông;

Những câu thơ có tính chất tự nhủ mình gợi cách sống, tình yêu mãnh liệt, hết mình: mong muốn được tan hòa vào tình yêu lớn lao của cuộc đời Đó là cách để tình yêu trở thành bất tử

- Thể thơ năm chữ với hình tượng “sóng”vừa ẩn dụ vừa giàu tính thẩm

mĩ khiến đoạn thơ sâu sắc, giàu nữ tính

1,5

1

0,5

c So sánh

- Điểm tương đồng: Hai đoạn thơ đều bộc lộ cảm xúc mãnh liệt, những suy ngẫm trước cuộc đời Đây là hai đoạn thơ có sự kết hợp giữa cảm xúc-triết lí

- Điểm khác biệt: không chỉ nằm ở phong cách thơ (Xuân Diệu sôi nổi, mãnh liệt đầy nam tính, xuân Quỳnh thủ thỉ, tâm tình đầy nữ tính) mà còn trong cách “ứng xử” của mỗi nhà thơ: trước sự “chảy trôi” của thời gian, Xuân Diệu chọn cách sống gấp gáp, tận hưởng, Xuân Quỳnh lại thể hiện khát vọng muốn được tan hòa cái riêng vào cái chung để tình yêu trở

1,0

0,5

0.5

Trang 7

thành bất tử …

3b Sau khi nhận được bát cháo hành từ tay thị Nở, Chí Phèo bảo với

thị:

- Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui (Chí Phèo - Nam Cao, Ngữ văn 11)

Trong truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân (Ngữ văn 12),

sau khi đãi người đàn bà bốn bát bánh đúc, Tràng cười và nói với thị:

- Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về.

Cảm nhận của anh chị về ý nghĩa của những câu nói trên

5

-Bạn có thể Giữ phím Ctrl+Click chuột trái vào đường link trên để đi tới download tài liệu.

Tài liệu gồm 128 trang.

Ngày đăng: 11/06/2014, 21:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w