1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chuyên đề tư bản cho vay và địa tô tư bản, ý nghĩa của việc nghiên cứu địa tô tư bản đối với thực tiễn việt nam

15 4,3K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 31,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghiệp vụ nhận gửi, ngân hàng thu hút vốn từ người nhận gửi bằng nhiều hình thức và trả lợi tức cho người nhận gửi; trong nghiệp vụ cho vay, ngân hàng cấp vốn cho

Trang 1

Câu 1 TB cho vay và lợi tức cho vay ? So sánh lợi tức cho vay trong CNTB với lợi tức cho vay trước CNTB ?

1 Tư bản cho vay và lợi tức cho vay

a Tư bản cho vay là một hình thái tư bản xuất hiện rất sớm trong lịch sử, từ khi sản phẩm trở thành hàng hóa và chức năng của tiền tệ đã phát triển

Tư bản cho vay trước CNTB là tư bản cho vay nặng lãi

Trong xã hội tư bản, tư bản cho vay là bộ phận tư bản công nghiệp được tách ra trong quá trình vận động tuần hoàn của nó Tư bản cho vay là tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi mà người chủ của nó cho nhà tư bản khác sử dụng trong thời gian nhất định để nhận được số tiền lời nào đó (gọi là lợi tức,

ký hiệu z)

- Đặc điểm của tư bản cho vay trong CNTB:

+ Tư bản cho vay là loại tư bản mà quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng tư bản Đối với người cho vay họ nắm quyền sở hữu, đối với người đi vay họ nắm quyền sử dụng

+ Tư bản cho vay là một hàng hóa đặc biệt Là hàng hóa vì nó có GT và GTSD Tính đặc biệt của hàng hóa này là khi cho vay người bán không mất quyền sở hữu, còn người mua chỉ được mua quyền sử dụng trong thời gian nhất định, và khi sử dụng thì giá trị của nó không bị mất đi mà còn tăng lên, giá cả của nó không do giá trị mà do giá trị sử dụng của tư bản cho vay,

do khả năng tạo ra lợi tức của nó quyết định Lợi tức chính là giá cả của hàng hóa tư bản cho vay

+ Tư bản cho vay là tư bản được sùng bái nhất, do vận động theo công thức T – T’ nên nó gây ấn tượng hình thức tiền đẻ ra tiền, biểu hiện mối quan hệ giữa nhà tư bản đi vay và nhà tư bản cho vay Quan hệ bóc lột TBCN được che giấu một cách kín đáo nhất được vật hóa trong tiền Thực ra, giữa quan hệ này là quá trình sản xuất TBCN gắn với bóc lột lao động làm thuê

Tư bản cho vay cũng hình thành một nhóm người trong xã hội tư bản: tư bản thực lợi Lênin đã khẳng định, tư bản thực lợi là ăn bám, là thối nát

Trang 2

- Nguồn của tư bản cho vay là tư bản tiền tệ nhàn rỗi như: tiền trong quỹ khấu hao tư bản cố định; tiền mua nguyên nhiên vật liệu nhưng chưa đến

kỳ mua; tiền để trả lương công nhân nhưng chưa đến hạn trả; bộ phận giá trị thặng dư tích lũy (dưới dạng tiền) để mở rộng sản xuất kinh doanh nhưng chưa sử dụng… Số tiền tạm thời nhàn rỗi này không mang lại cho chủ sở hữu nó một khoản lợi nào (tư bản nhàn rỗi không sinh lợi), nhưng đối với nhà tư bản thì mục tiêu là “tiền phải sinh ra tiền”, họ cho người khác vay để kiếm lợi vì thực tế cũng trong khoảng thời gian tiền của họ đang nhàn rỗi thì cũng có rất nhiều nhà tư bản khác đang cần tiền và những người cần tiền này tất yếu

sẽ đi vay

Hai mặt trên đã sinh ra sự vay mượn lẫn nhau giữa các nhà tư bản, sinh

ra quan hệ tín dụng TBCN, nhờ có quan hệ này mà tư bản nhàn rỗi đã trở thành tư bản cho vay Tư bản cho vay ra đời góp phần vào việc tích tụ, tập trung tư bản mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển của tư bản Nó góp phần làm tăng thêm tổng giá trị thặng dư trong xã hội

- Vai trò của tư bản cho vay: Tư bản cho vay ra đời, nó góp phần vào việc tích tụ, tập trung tư bản, mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển của tư bản, phân phối lại TLSX và SLĐ giữa các ngành, biến tư bản nhàn rỗi thành tư bản hoạt động Do đó, nó góp phần làm tăng thêm tổng giá trị thặng dư trong xã hội và bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận

b Lợi tức và tỷ suất lợi tức

*/ Lợi tức:

- Khái niệm: lợi tức là một phần của GTTD mà nhà tư bản đi vay trả

cho nhà tư bản cho vay về quyền sở hữu tư bản để được quyền sử dụng tư bản trong một thời gian nhất định, ký hiệu là z

Khoản lợi tức đó căn cứ vào số tư bản mà nhà tư bản cho vay đưa cho nhà tư bản đi vay sử dụng Nguồn gốc của lợi tức chính là một phần giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất, nhưng việc nhà tư bản cho vay thu được lợi tức đã che giấu thực chất bóc lột TBCN

- Bản chất của lợi tức: Tiền là tư bản ngay từ khi nó được đem cho vay để thu lợi tức Vì vậy, tư bản đi vay phải trở thành tư bản hoạt động thì giá trị của nó mới được tăng thêm, người đi vay mới thu được lợi nhuận và phải

Trang 3

Z’ =

Z

Kcv

100%

dành một phần lợi nhuận để trả cho người cho vay Như vậy, lợi tức là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay trả cho nhà tư bản cho vay

+ Nguồn gốc của lợi tức là một bộ phận GTTD do SLĐ của công nhân làm thuê tạo ra mà nhà tư bản đi vay trả cho nhà tư bản cho vay

+ Bản chất của lợi tức: biểu hiện quan hệ giữa nhà tư bản cho vay và nhà tư bản đi vay, đồng thời biểu hiện quan hệ bóc lột của các loại tư bản đối với lao động

*/ Tỷ suất lợi tức

- Tỷ suất lợi tức là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức và số tư bản tiền tệ cho vay trong một thời gian nhất định (thường là tháng, quý, năm), ký hiệu là Z’

Trong đó:

z’: Tỷ suất lợi tức z: Lợi tức

k: Tư bản cho vay

- Tỷ suất lợi tức phụ thuộc vào các nhân tố sau:

+ Tỷ suất lợi nhuận bình quân

+ Tỷ lệ phân chia lợi nhuận thành lợi tức và lợi nhuận của xí nghiệp (nhà tư bản hoạt động)

+ Quan hệ cung cầu về tư bản cho vay

- Giới hạn tối đa của tỷ suất lợi tức: 0 < z’ < tỷ suất lợi nhuận bình quân Trong giới hạn đó, tỷ suất lợi tức lên xuống phụ thuộc vào quan hệ cung cầu tư bản cho vay và biến động theo chu kỳ vận động của tư bản công nghiệp Trong điều kiện của CNTB, tỷ suất lợi tức luôn có xu hướng giảm sút

c Các hình thức vận động của tư bản cho vay

CNTB không thể phát triển mạnh mẽ nếu như không có chế độ tín dụng ngày càng mở rộng Tín dụng là hình thức vận động của tư bản cho vay, là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa chủ sở hữu tư bản cho vay với

Trang 4

người sử dụng tư bản cho vay trên nguyên tắc hoàn trả đúng kỳ hạn có kèm theo lợi tức

Dưới CNTB có hai hình thức tín dụng cơ bản là: tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng

*/ Tín dụng thương mại: là hình thức tín dụng giữa các nhà tư bản

trực tiếp kinh doanh, họ mua bán chịu hàng hóa với nhau Đối tượng của tín

dụng thương mại là hàng hoá Việc mua, bán chịu hàng hóa giữa các nhà tư bản có nghĩa nhà tư bản này đã cho nhà tư bản kia vay một giá trị tư bản chứa đựng trong hàng hóa đó, giống như cho vay tư bản tiền tệ Khi đó, người cho

vay cũng đòi hỏi phải được trả lợi tức Giá bán hàng hóa chịu phải cao hơn

giá bán hàng hóa lấy tiền ngay vì trong đó đã bao hàm một khoản lợi tức

nhất định Tuy nhiên, mục đích của tín dụng thương mại không phải để thu lợi tức mà chủ yếu là để thực hiện giá trị hàng hóa

*/ Tín dụng ngân hàng: là quan hệ vay mượn thông qua ngân hàng

làm môi giới Đây là hình thức tín dụng giữa ngân hàng với các nhà tư bản trực tiếp kinh doanh và các tầng lớp dân cư khác trong xã hội Ngân hàng đóng vai trò trung gian giữa những người đi vay và những người cho vay Nhờ có tín dụng ngân hàng, các kỳ phiếu được chiết khấu dễ dàng, được chuyển thành tiền mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh, cho việc nhận

kỳ phiếu làm phương tiện lưu thông và thanh toán

Cùng với sự ra đời của tín dụng ngân hàng thì có sự xuất hiện của ngân hàng Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tư bản tiền tệ, làm môi giới kinh doanh giữa người đi vay và cho vay

+ Ngân hàng có hai nghiệp vụ: nhận gửi và cho vay Trong nghiệp vụ nhận gửi, ngân hàng thu hút vốn từ người nhận gửi bằng nhiều hình thức và trả lợi tức cho người nhận gửi; trong nghiệp vụ cho vay, ngân hàng cấp vốn cho người vay bằng nhiều hình thức (bao gồm cả chiết khấu kỳ phiếu thương mại) và thu lợi tức cho vay Lợi tức nhận gửi luôn nhỏ hơn lợi tức cho vay

+ Nguồn tiền cho vay của ngân hàng: là vốn tự có của ngân hàng, tư bản tạm thời nhàn rỗi của các nhà tư bản công thương nghiệp, tiền tiết kiệm của nhân dân mà ngân hàng huy động

Trang 5

+ Lợi nhuận ngân hàng là phần chênh lệch giữa lợi tức cho vay so với lợi tức nhận gửi cùng chi phí nghiệp vụ ngân hàng Về bản chất, lợi nhuận ngân hàng cũng là giá trị thặng dư được tạo ra trong sản xuất Trong cạnh tranh, lợi nhuận ngân hàng cũng ngang bằng với lợi nhuận bình quân, nếu không sẽ lại có sự tự do di chuyển tư bản vào các ngành khác nhau

Nhờ có ngân hàng mà các nhà tư bản có điều kiện mở rộng sản xuất nhanh chóng hơn, có điều kiện tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác dễ dàng hơn, giảm được chi phí lưu thông, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, tăng nhanh tốc độ chu chuyển của tiền tệ

Tín dụng có vai trò to lớn trong phát triển lực lượng sản xuất và xã hội hoá sản xuất trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, đồng thời cũng làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn vốn có của CNTB

Trang 6

Câu 2 Bản chất và các hình thức địa tô TBCN ? Ý nghĩa của việc nghiên cứu địa tô TBCN đối với việc quản lý đất đai của nước ta ?

1 Bản chất và các hình thức địa tô tư bản chủ nghĩa

a Bản chất của địa tô TBCN

Trong sản xuất nông nghiệp TBCN, người công nhân nông nghiệp tạo

ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản dưới hình thức lợi nhuận nông nghiệp Nhà

tư bản kinh doanh nông nghiệp giữ lại cho mình một phần giá trị thặng dư bằng lợi nhuận bình quân, phần giá trị thặng dư còn lại họ trả cho địa chủ dưới dạng địa tô Như vậy, muốn thu được lợi nhuận bằng lợi nhuận bình quân và trả được địa tô cho địa chủ thì lợi nhuận nông nghiệp phải lớn hơn lợi nhuận bình quân, tức là: lợi nhuận nông nghiệp bao gồm lợi nhuận bình quân cộng lợi nhuận siêu ngạch Phần lợi nhuận siêu ngạch này tương đối ổn định, lâu dài và nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải trả cho chủ sở hữu ruộng đất dưới hình thái địa tô TBCN

- Địa tô tư bản chủ nghĩa là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ

Nói cách khác, địa tô tư bản chủ nghĩa là bộ phận lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân của nhà tư bản đầu tư trong nông nghiệp do công nhân nông nghiệp tạo ra mà nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ với tư cách là chủ sở hữu ruộng đất

=> Nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp đã biến một phần lợi nhuận của mình thu được thành địa tô

Sở dĩ như vậy là vì, trong nông nghiệp, đất đai là yếu tố giới hạn, có độ màu mỡ khác nhau và có chế độ độc quyền sở hữu ruộng đất nên trong sản xuất nông nghiệp không hình thành lợi nhuận bình quân, tỷ suất lợi nhuận bình quân như công nghiệp Giá cả của nông sản do không do giá cả sản xuất trên ruộng đất trung bình quy định mà do giá cả sản xuất trên ruộng đất xấu nhất quy định Bởi vậy, những ruộng đất trung bình, ruộng đất tốt sẽ có lợi

Trang 7

nhuận siêu ngạch Phần lợi nhuận siêu ngạch đó được nhà tư bản kinh doanh

trong nông nghiệp trả cho địa chủ

- Nguồn gốc của địa tô TBCN: là một phần GTTD do công nhân nông

nghiệp tạo ra, do nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp trả cho địa chủ

- So sánh địa tô TBCN và địa tô phong kiến:

M

ặt

lượng

:

phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân của nhà tư bản kinh doanh ruộng đất

Gồm toàn bộ sản phẩm thặng dư do nông dân tạo ra, có khi còn lạm vào cả phần sản phẩm cần thiết

M

ặt

chất:

Phản ánh mối quan hệ giữa ba giai cấp: địa chủ, các nhà tư bản kinh doanh ruộng đất và công nhân nông nghiệp làm thuê (trong đó địa chủ gián tiếp bóc lột công nhân nông nghiệp làm thuê thông qua tư bản hoạt động)

Phản ánh mối quan hệ giữa hai giai cấp: địa chủ và nông dân (trong đó giai cấp địa chủ trực tiếp bóc lột nông dân)

C

ơ sở

hình

thành

Quan hệ kinh tế giữa địa chủ với

tư bản và giữa tư bản với lao động làm thuê

Dựa trên sự cưỡng bức siêu kinh tế của địa chủ đối với nông dân

b Các hình thức địa tô TBCN

*/ Địa tô chênh lệch

- Nông nghiệp có một số đặc điểm khác với công nghiệp như: số lượng

ruộng đất bị giới hạn; độ màu mỡ tự nhiên và vị trí địa lý của ruộng đất

không giống nhau; các điều kiện thời tiết, khí hậu của địa phương ít biến

động; nhu cầu hàng hóa, nông phẩm ngày càng tăng Do đó xã hội phải canh

tác trên cả những ruộng đất xấu nhất (xét về độ màu mỡ và vị trí địa lý) Vì

vậy, giá cả trong nông nghiệp cũng có sự khác biệt với công nghiệp Trong

công nghiệp, giá cả sản xuất do điều kiện sản xuất trung bình quyết định; còn

trong nông nghiệp, nếu như vậy thì nhà tư bản kinh doanh trên những ruộng

Trang 8

đất xấu sẽ không thu được lợi nhuận bình quân và họ sẽ chuyển sang kinh doanh nghề khác Song, nếu chủ kinh doanh trên ruộng đất tốt và trung bình thì sẽ không đủ nông sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của xã hội Chính vì những lẽ đó mà giá cả của hàng hóa nông sản được hình thành trên cơ sở điều kiện sản xuất xấu nhất Những nhà tư bản kinh doanh trên đất tốt và trung bình sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch (ngoài lợi nhuận bình quân) Phần lợi nhuận siêu ngạch này tồn tại thường xuyên, tương đối ổn định và chuyển hóa thành địa tô chênh lệch

- Khái niệm: Địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi

nhuận bình quân thu được trên ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất tốt và trung bình (ký hiệu Rc1).

- Có hai loại địa tô chênh lệch: địa tô chênh lệch I và địa tô chênh lệch II

+ Địa tô chênh lệch I: là loại địa tô thu được trên những ruộng đất có

điều kiện tự nhiên thuận lợi, ví dụ có độ màu mỡ tự nhiên thuận lợi (trung bình và tốt), gần nơi tiêu thụ, gần đường giao thông…

+ Địa tô chênh lệch II: là địa tô thu được nhờ thâm canh mà có Thâm

canh ruộng đất là đầu tư thêm tư bản vào một đơn vị diện tích để nâng cao chất lượng canh tác nhằm tăng độ màu mỡ trên mảnh ruộng đó, nâng cao sản lượng trên một đơn vị diện tích

Địa tô chênh lệch II cho thấy mâu thuẫn giữa nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp với GC địa chủ Chủ đất chỉ muốn cho thuê ngắn hạn, nhà tư bản muốn thuê dài hạn Cũng vì thế các nhà tư bản không muốn bỏ ra số vốn lớn để thâm canh dài hạn mà bằng mọi cách tận dụng độ màu mỡ của đất đai trong thời gian thuê đất => quy luật đất đai bạc màu Đó là xu hướng chịu sự tác động của quan hệ kinh tế trong nông nghiệp

- Ý nghĩa phương pháp luận: Nhà nước muốn khuyến khích sản xuất trong nông nghiệp cần phải:

+ Miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp trong một số lĩnh vực sản xuất nông nghiệp => khuyến khích sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả;

Trang 9

hạn chế việc bỏ hoang đất, đồng thời các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải tính toán hiệu quả sử dụng đất nhằm đảm bảo có thu nhập khá hơn Qua đó thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn

+ Nhà nước không cấp quyền sử dụng đất đối với một số loại đất nông nghiệp để cho người sản xuất để ngăn tình trạng bạc màu đất đai

*/ Địa tô tuyệt đối

Địa tô tuyệt đối là loại địa tô mà tất cả các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp đều phải nộp cho địa chủ dù ruộng đất đó tốt hay xấu, đây là loại địa

tô thu trên tất cả mọi loại ruộng đất

- Địa tô tuyệt đối là số lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, hình thành do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp, nó là chênh lệch giữa giá trị nông sản với giá cả sản xuất chung của nông phẩm

Nông nghiệp thường lạc hậu hơn so với công nghiệp cả về kinh tế lẫn

kỹ thuật, vì thế c/v của tư bản trong nông nghiệp thường thấp hơn so với tư bản trong công nghiệp Như vậy, nếu trình độ bóc lột ngang nhau thì một tư bản ngang nhau sẽ sinh ra trong nông nghiệp nhiều giá trị thặng dư hơn trong công nghiệp

Ví dụ: Có hai nhà tư bản nông nghiệp và công nghiệp đều có số tư bản là 100, cấu tạo hữu cơ C/V trong công nghiệp là 4/1, trong nông nghiệp là 3/2, giả sử m’ là 100% thì sản phẩm và giá trị thặng dư sản xuất ra trong từng lĩnh vực sẽ là:

Trong công nghiệp: 80C + 20V + 20m = 120

Trong nông nghiệp: 60C + 40V + 40m = 140

Giá trị thặng dư dôi ra trong nông nghiệp so với công nghiệp là 20 Số chênh lệch này là lợi nhuận siêu ngạch, lợi nhuận siêu ngạch này không bị bình quân hóa mà chuyển hóa thành địa tô tuyệt đối

- Cơ sở của địa tô tuyệt đối là do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp Nguyên nhân tồn tại địa tô tuyệt đối là do chế độ độc quyền tư hữu ruộng đất đã cản trở quá trình tự do di chuyển tư bản vào nông nghiệp, do đó đã ngăn cản việc hình thành lợi nhuận bình quân

Trang 10

chung giữa công nghiệp và nông nghiệp Nông sản được bán theo giá thị trường và phần giá trị thặng dư dôi ra ngoài mức lợi nhuận bình quân được giữ lại để nộp địa tô tuyệt đối cho địa chủ

*/ Địa tô độc quyền

Địa tô độc quyền là hình thức đặc biệt của địa tô tư bản chủ nghĩa Địa

tô độc quyền có thể tồn tại trong nông nghiệp, công nghiệp khai thác và ở các khu đất trong thành thị

+ Trong nông nghiệp địa tô độc quyền có ở các khu đất có tính chất đặc biệt, cho phép trồng các loại cây đặc sản hay sản xuất các sản phẩm đặc biệt

+ Trong công nghiệp khai thác: địa tô độc quyền có ở các vùng có kim loại, khoáng chất quý hiếm hoặc những khoáng sản có nhu cầu vượt xa khả năng khai thác chúng

+ Trong thành thị, địa tô độc quyền có ở các khu đất có vị trí thuận lợi cho phép xây dựng các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, nhà cho thuê có khả năng thu lợi nhuận cao

Nguồn gốc của địa tô độc quyền cũng là lợi nhuận siêu ngạch do giá cá độc quyền của sản phẩm thu được trên đất đai ấy mà nhà tư bản phải nộp cho địa chủ

c Giá cả đất nông nghiệp

Xét một cách thuần tuý tự nhiên thì ruộng đất không phải là sản phẩm của lao động nên không có giá trị và lẽ đương nhiên không có giá cả Tuy nhiên, ruộng đất trong xã hội tư bản không chỉ cho thuê mà còn được bán như mọi loại hàng hoá Giá cả ruộng đất là hình thức địa tô tư bản hoá Bởi ruộng đất đem lại địa tô tức là đem lại một thu nhập ổn định bằng tiền nên nó được xem như một loại tư bản đặc biệt Còn địa tô chính là lợi tức của tư bản đó

Do vậy, giá cả ruộng đất chỉ là giá mua địa tô do ruộng đất mang lại theo tỷ suất lợi tức hiện hành, nó phụ thuộc vào địa tô và tỷ suất lợi tức của ngân hàng

Vậy giá cả ruộng đất tỷ lệ thuận với địa tô và tỷ lệ nghịch với tỷ suất lợi tức tư bản gửi vào ngân hàng

Ngày đăng: 11/06/2014, 20:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w