Quá trình sản xuất giá trị thặng dư trong CNTB */ Tính chất hai mặt của quá trình sản xuất TBCN: - Đó là quá trình lao động tạo ra GTSD của hàng hoá: quá trình này là sự kết hợp giữa SLĐ
Trang 1Câu 1 Quá trình SX giá trị thặng dư ? So sánh hai phương pháp
SX giá trị thặng dư Ý nghĩa của việc nghiên cứu ?
1 Quá trình sản xuất giá trị thặng dư trong CNTB
*/ Tính chất hai mặt của quá trình sản xuất TBCN:
- Đó là quá trình lao động tạo ra GTSD của hàng hoá: quá trình này là
sự kết hợp giữa SLĐ với TLSX để tạo ra những GTSD đáp ứng yêu cầu của
xã hội Trong bất kỳ xã hội nào sản xuất cũng là quá trình kết hợp giữa 2 yếu
tố nói trên nhưng giữa các xã hội khác nhau nó khác nhau ở trình độ phát triển, biểu hiện ở trình độ của LLSX
Trong quá trình sản xuất TBCN, đây là quá trình nhà tư bản sử dụng SLĐ đã mua được để sản xuất hàng hoá nên nó những đặc điểm riêng:
+ Công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản
+ Sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản
- Mặt khác, đấy là quá trình tạo ra và làm tăng giá trị của hàng hoá Do vậy, nhà tư bản phải tuân theo quy luật giá trị tức là phải theo thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá
Quá trình sản xuất trong CNTB là quá trình sản xuất hàng hoá, nhà tư bản mua SLĐ của người công nhân kết hợp với TLSX để sản xuất ra một hàng hoá có GTSD nhất định Vì GTSD là nội dung vật chất của hàng hoá và cũng là vật mang GT và GT trao đổi Tất cả những hoạt động trên của nhà tư bản cũng chỉ nhằm mục đích có được GTTD Do đó, sản xuất hàng hoá trong CNTB cũng chính là quá trình sản xuất ra GTTD
a Quá trình tạo ra giá trị:
*/ Để làm rõ hơn quá trình sản xuất GTTD, chúng ta lấy ví dụ về nhà
tư bản sản xuất sợi.
- Giả định:
+ Mua bán theo quy luật giá trị (trao đổi ngang giá)
+ Hao phí lao động sản xuất sợi đúng bằng hao phí lao động xã hội cần thiết
Trang 2+ Một ngày lao động của người công nhân là 10h: 5h sáng, 5h chiều.
+ Các TLSX được tính khấu hao hết trong 1ngày
+ TLSX chỉ bao gồm: máy quay sợi và nguyên liệu bông
+ Mỗi giờ lao động người công nhân sáng tạo ra lượng giá trị mới là:
40 đồng
Để tiến hành sản xuất trong 1ngày, nhà TB phải bỏ ra một lượng tư bản
ứng trước là:
T - H- Bông (20 kg): 600
Hao mòn máy móc:
200
Mua SLĐ (10h): 200 5h sáng
5h chiều
- Giả sử: với năng suất lao động trung bình, cường độ lao động trung
bình, và các điều kiện khác bình thường, trong 5h lao động sáng, người công
nhân đã chuyển hoá 10 kg bông thành 10kg sợi Ta có sơ đồ sau:
5h lao động sáng (quá trình tạo ra giá trị):
T H
-(600)
Bông (10kg): 300 Sản xuất Sợi
(H’)
(600)
Bông: 300
Hao mòn
m2: 100
Hao mòn m2: 100
Mua SLĐ:
200
GT mới do lao động của công nhân tạo ra: 5h x
40 = 200 Trong 5h lao động sáng, người công nhân đã tạo ra 1 lượng giá trị mới
ngang bằng với giá trị SLĐ Quá trình này được gọi là quá trình tạo ra GT
Giá trị ứng ra không tăng, do vậy không có GTTD và tiền chưa biến thành tư
bản
Trang 3b Quá trình làm tăng thêm giá trị
Nhưng vì nhà tư bản mua SLĐ của công nhân trong 10h nên công nhân
sẽ phải tiếp tục làm việc cho nhà tư bản trong 5h chiều để sản xuất ra 1 lượng
sợi bằng với lượng sợi của 5h lao động sáng nhưng sẽ không được trả thêm
công
5h lao động chiều:
T H
-(400)
Bông (10kg): 300 Sản xuất Sợi
(H’)
(600)
Bông: 300
Hao mòn
m2: 100
Hao mòn m2: 100
GT mới do lao động của công nhân tạo ra: 5h x
40 = 200 Kết thúc một ngày làm việc, nhà tư bản chi ra 1000, nhưng lượng sợi
mà nhà tư bản thu về là 600x2 = 1200đ Trong 5h lao động chiều, người công
nhân sáng tạo ra 1 lượng GT là 200 nhưng bị nhà tư bản chiếm đoạt Quy luật
của trao đổi hàng hoá vẫn được tuân thủ, hàng hoá sợi được bán trên thị
trường theo đúng giá trị của nó nhưng mang về 1 lượng là 1200 cho nhà tư
bản Đó chính là nguồn gốc sinh lợi của nhà tư bản, là bí mật của sự lớn lên
không ngừng của tư bản
Phần chênh lệch là: T(1000) – H – T’ (1200 = 1000T + 200t )
GTTD (m)
Như vậy, giá trị SLĐ và giá trị do SLĐ tạo ra trong quá trình sản xuất
hàng hoá là 2 đại lượng khác nhau Nhà tư bản nhằm vào sự chênh lệch về
giá trị đó khi mua SLĐ của người công nhân
Toàn bộ quá trình "chuyển hoá tiền thành tư bản, diễn ra trong lưu
thông và cũng không diễn ra trong lưu thông Nhờ lưu thông, nhà tư bản đã
mua được SLĐ trên thị trường hàng hoá – SLĐ, để rồi trong quá trình sản
xuất, SLĐ tạo ra GTTD cho nhà tư bản Lưu thông đã chuẩn bị những yếu tố
Trang 4cần thiết cho quá trình làm tăng giá trị, và quá trình làm tăng giá trị không diễn ra trong lưu thông mà diễn ra trong quá trình sản xuất
*/ Kết luận:
- GTTD trong CNTB là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động, do người công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt (Ký hiệu là: m)
Nguồn gốc của GTTD: do lao động của người công nhân tạo ra
Bản chất của GTTD: biểu hiện mối quan hệ giữa 2 giai cấp tư sản và vô sản Mối quan hệ này mang tính chất đối kháng
2 So sánh hai phương pháp sản xuất GTTD
a Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
*/ Phương pháp sản xuất GTTD tuyệt đối
Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất TBCN, khi trình độ
KH – CN còn thấp, năng suất lao động chưa cao thì phương pháp chủ yếu để tăng GTTD là kéo dài ngày lao động của công nhân
GTTD tuyệt đối là GTTD được sản xuất ra bằng cách kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong khi GT SLĐ và thời gian lao động tất yếu không thay đổi
- VD: Giả sử ngày lao động bình thường là 8h, trong đó 4h là thời gian
LĐ tất yếu và 4h là thời gian LĐ thặng dư Tiền lương trả cho công nhân trong 1 ngày là 200, m’ = 100%, khối lượng GTTD thu được là M = m’ x V
= 100% x 200 = 200 Nhà tư bản kéo dài ngày lao động từ 8h → 10h, trong
đó thời gian lao động tất yếu vẫn giữ nguyên là 4h, như vậy thời gian lao động thặng dư sẽ tăng lên là 6h Nhà tư bản có được m’ = 150% và M = 150% x 200 = 300
Ngoài biện pháp kéo dài ngày lao động thì nhà tư bản còn sử dụng biện pháp tăng cường độ lao động Kéo dài ngày lao động hay tăng cường độ lao động sẽ làm tăng thời gian lao động thặng dư cho nhà tư bản, từ đó tăng khối lượng GTTD nhà tư bản thu được
*/ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Trang 5GTTD tương đối là GTTD thu được do tăng năng suất lao động rút ngắn thời gian lao động tất yếu, nhờ đó kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi độ dài ngày lao động không thay đổi
- VD: Giả sử ngày lao động bình thường là 8h, trong đó 4h là thời gian
LĐ tất yếu và 4h là thời gian LĐ thặng dư Tiền lương trả cho công nhân trong 1 ngày là 200, m’ = 100%, khối lượng GTTD thu được là M = m’ x V
= 100% x 200 = 200
Giả định rằng ngày lao động không thay đổi nhưng do đổi mới công nghệ, áp dụng máy móc thiết bị hiện đại nên năng suất lao động tăng gấp 2 lần, công nhân chỉ cần 2h lao động đã tạo ra được một lượng giá trị bằng với giá trị SLĐ của mình Do đó, với độ dài ngày lao động như cũ (8h), tỷ lệ phân chia ngày lao động sẽ thay đổi: 2h là thời gian lao động tất yếu và 6h là thời gian lao động thặng dư Nhà tư bản thu được m’ = 6h/ 2h = 300% và M
= 300% x 200 = 600
Nếu trong giai đoạn đầu của CNTB, sản xuất GTTD tuyệt đối là phương pháp chủ yếu thì đến giai đoạn sau, khi kỹ thuật phát triển, sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp chủ yếu Lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất và của năng suất lao động xã hội dưới CNTB đã trải qua 3 giai đoạn: hợp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí,
đó cũng là quá trình nâng cao trình độ bóc lột GTTD tương đối
Bởi vậy, nhà tư bản không ngừng cải tiến kỹ thuật, áp dụng KH - CN vào sản xuất để tăng năng suất lao động Mặt khác, nhà tư bản cũng khuyến khích người công nhân phát huy năng lực sáng tạo, liên tục đưa ra những phát minh sáng kiến để nâng cao sức sản xuất, thu được nhiều GTTD hơn nữa cho nhà tư bản Nhà tư bản trích lại một phần GTTD mà họ chiếm đoạt được để thưởng cho người công nhân Điều đó làm cho người công nhân lầm tưởng rằng càng phát huy năng lực sáng tạo thì càng có lợi
*/ Giá trị thặng dư siêu ngạch: là GTTD thu được do áp dụng công
nghệ mới làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội
GTTD siêu ngạch = Giá trị xã hội - Giá trị cá biệt
Trang 6Giả định rằng với phương pháp sản xuất GTTD tương đối, tỷ lệ phân chia ngày lao động: 2h là thời gian lao động tất yếu và 6h là thời gian lao động thặng dư Tất cả các nhà tư bản thu được lượng GTTD tương đối là 600
Có 1 nhà tư bản cá biệt đã áp dụng công nghệ mới nhất và sớm nhất khiến cho năng suất lao động cá biệt của họ tăng thêm 25%, cụ thể là thời gian lao động tất yếu của công nhân chỉ còn 1,5h, thời gian lao động thặng dư tăng lên là 6,5h Khi đó, nhà tư bản này sẽ thu được m’ = 433% và lượng GTTD là: M = 433% x 200 = 867 Lượng GTTD siêu ngạch mà nhà tư bản này thu được so với các nhà tư bản khác là: = GTTD cá biệt – GTTD tương đối = 867 – 600 = 267
Giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thái biến tướng của GTTD tương đối Vì cơ sở chung của GTTD siêu ngạch và GTTD tương đối đều là tăng năng suất lao động song khác nhau ở chỗ: GTTD tương đối thu được do tăng năng suất lao động xã hội, GTTD siêu ngạch thu được do tăng năng suất lao động cá biệt Do đó, GTTD siêu ngạch chỉ có một số ít nhà tư bản thu được, GTTD tương đối thì toàn xã hội tư bản thu được GTTD siêu ngạch không chỉ biểu hiện mối quan hệ bóc lột của nhà tư bản đối với người công nhân làm thuê mà còn trực tiếp biểu thị mối quan hệ cạnh tranh giữa các nhà tư bản với nhau Các nhà tư bản luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động nhằm hạ thấp GT cá biệt của hàng hoá
b So sánh các phương pháp sản xuất GTTD
Những điểm khác nhau chủ yếu:
Phương pháp SX GTTD tuyệt đối
Phương pháp SX GTTD tương đối
P
hương
thức
thực
hiện
Kéo dài tuyệt đối ngày lao động
Tăng cường độ lao động trong khi các yếu tố khác không đổi
Tăng NSLĐ từ đó rút ngắn thời gian lao động cần thiết, tăng thời gian lao động thặng dư
T
hời
Thời kỳ đầu của CNTB, khi NSLĐ thấp thì phương pháp
Khi KHCN phát triển, ứng dụng thành tựu của KHCN vào
Trang 7gian áp
dụng
này chiếm ưu thế sản xuất ngày càng phổ biến,
NSLĐ tăng cao thì phương pháp này chiếm ưu thế
c Những điểm giống nhau chủ yếu
- Đều có các phạm trù: t1, t2, GT và GTSD của hàng hoá SLĐ, m’, M,
C, V
- Đều đòi hỏi một trình độ nhất định về NSLĐ, cường độ lao động, độ dài ngày lao động
- GTTD tuyệt đối và GTTD tương đối đều là một bộ phận GT mới do SLĐ của công nhân tạo ra, dôi ra ngoài GT SLĐ
- Trong điều kiện hiện nay, nhà tư bản vẫn áp dụng đồng thời cả 2 phương thức sản xuất GTTD: Do nhà tư bản áp dụng máy móc không đồng
bộ nên công nhân phải chạy theo tốc độ vận hành của máy móc khiến cho người công nhân phải lao động với cường độ cao, sự hao phí SLĐ cũng tăng lên Ngay trong nền sản xuất hiện đại áp dụng tự động hoá cao, cường độ lao động của người lao động vẫn tăng nên dưới những hình thức mới, cường độ lao động thần kinh thay thế cho cường độ lao động của cơ bắp Vì tăng cường
độ lao động về thực chất cũng tương tự như kéo dài ngày lao động, nên sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện hiện đại vẫn là một sự kết hợp một cách tinh vi cả hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
d Ý nghĩa phương pháp luận
*/ Việc chạy theo GTTD siêu ngạch là động lực trực tiếp thúc đẩy các
nhà tư bản tìm tòi, ứng dụng công nghệ mới, cải tiến kỹ thuật Do sự phát triển của KH – CN khiến cho việc ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất nhanh hơn, việc đào thải các dây chuyền công nghệ cũ, lạc hậu cho các nước
có trình độ kém phát triển hơn là tất yếu Đó chính là quá trình chuyển giao công nghệ Các nhà tư bản tìm cách chuyển giao những dây chuyền sản xuất
cũ hơn sang các nước đang và kém phát triển, vừa tận dụng được công suất tối đa của máy móc, vừa tìm được nơi đầu tư có lợi nhuận Vì vậy, đối với các nước nhận chuyển giao công nghệ cần phải hết sức chú ý nắm bắt những thành tựu công nghệ mới để có thể nhận được những dây chuyền sản xuất
Trang 8hiện đại vừa không bị biến thành kho chứa những rác thải công nghệ từ các nước phát triển
*/ Việc nghiên cứu các phương pháp sản xuất GTTD trong CNTB có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam, thể hiện ở những nội dung sau:
- Khẳng định rõ hơn bản chất bóc lột của tư bản đối với người lao động làm thuê và chứng minh tính khách quan của con đường đi lên CNXH mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta lựa chọn
- Có tác dụng kích thích sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động, áp dụng những thành tựu của KH – CN vào sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý sản xuất Xu hướng phát triển tất yếu và tính xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất mâu thuẫn ngày càng gay gắt với tính chất tư nhân của QHSX TBCN
- Là cơ sở lý luận để Đảng và Nhà nước ta đề ra đường lối, chính sách cho quá trình CNH, HĐH hiện nay ở Việt Nam
Để giảm thời gian lao động tất yếu, tăng thời gian LĐ thặng dư thì chúng ta phải giảm GT của các TLTD, có nghĩa là tăng năng suất lao động trước tiên trong những ngành sản xuất ra TLTD: ngành nông nghiệp, dịch vụ, công nghiệp nhẹ Từ đó thu được GTTD tương đối GTTD tương đối này sẽ được phân phối lại để nhằm mục đích nâng cao đời sống cho người lao động, tạo lập nguồn vốn cho nền kinh tế, tái đầu tư mở rộng sản xuất, áp dụng KH – CN vào sản xuất Đó là quá trình CNH, HĐH và cũng là cơ sở để chúng ta thực hiện chiến lược đi tắt đón đầu trong phát triển đất nước
Trang 9Câu 2 Chu chuyển tư bản ? Sự hình thành lợi nhuận Bình quân ?
Ý nghĩa của các vấn đề nghiên cứu ?
1 Chu chuyển tư bản:
a Các khái niệm
- Chu chuyển tư bản: “Tuần hoàn của tư bản, khi được coi là một quá trình định kỳ, chứ không phải một hành vi cá biệt, thì gọi là vòng chu chuyển của tư bản” (C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, T24, Nxb Chính trị quốc gia, H1994, tr234-235)
Khi chúng ta nghiên cứu sự tuần hoàn của tư bản, tức là chúng ta đang nghiên cứu về ba hình thái biểu hiện của tư bản qua ba giai đoạn khác nhau thì khi nghiên cứu về chu chuyển của tư bản chúng ta nghiên cứu về tốc độ vận động của tư bản nhanh hay chậm và nghiên cứu ảnh hưởng của tốc độ đối với việc sản xuất và thực hiện giá trị thặng dư
- Thời gian chu chuyển của tư bản: “tổng thời gian chu chuyển của một
tư bản nhất định bằng thời gian lưu thông và thời gian sản xuất của nó cộng lại Đó là khoảng thời gian kể từ khi giá trị tư bản được ứng ra dưới một hình thái nhất định, cho đến khi giá trị tư bản đang vận động quay trở về cũng dưới hình thái ấy” (Sđd, tr231)
- Số lần chu chuyển của tư bản: “Nếu chúng ta lấy CH để chỉ năm là đơn vị đo lường của thời gian chu chuyển, lấy ch để chỉ thời gian chu chuyển của một tư bản nhất định, lấy n để chỉ số lần chu chuyển của tư bản, thì chúng
ta sẽ có n = ” (Sđd, tr235)
Ví dụ: nếu thời gian chu chuyển ch là 3 tháng, chẳng hạn, thì chúng ta
có n = 12/3 = 4; như vậy là tư bản thực hiện 4 vòng chu chuyển, đã quay bốn vòng trong một năm Nếu ch = 18 tháng, thì n = 12/18 = 2/3 hay trong một
năm, tư bản chỉ quay được có 2/3 thời gian chu chuyển của nó Nếu thời gian chu chuyển của tư bản là vài năm, thì tất nhiên nó sẽ được tính bằng cách nhân với số năm đó
“Đối với nhà tư bản, thời gian chu chuyển của tư bản của hắn là thời gian trong đó hắn phải ứng trước tư bản của hắn ra để nó tăng thêm giá trị và
ch CH
Trang 10quay trở về dưới hình thái ban đầu của nó” (Sđd, tr236) Thời gian chu chuyển của tư bản là thước đo thời hạn đổi mới, thời hạn lắp lại quá trình tăng thêm giá trị của tư bản
b Các nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ chu chuyển của tư bản
Tuần hoàn của tư bản bao gồm quá trình sản xuất và quá trình lưu thông, nên thời gian chu chuyển của tư bản cũng do thời gian sản xuất và thời gian lưu thông cộng lại
* Thời gian sản xuất: Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm
trong lĩnh vực sản xuất Do đó, việc kéo dài thời gian sản xuất cũng sẽ làm giảm tốc độ chu chuyển của TB, như là kéo dài thời gian lưu thông vậy
Thời gian sản xuất = thời gian lao động + thời gian gián đoạn lao động + thời gian dự trữ sản xuất
- Thời gian lao động là thời gian người lao động tác động vào đối
tượng lao động để tạo ra sản phẩm Đây là thời gian hữu ích nhất, vì nó tạo ra giá trị cho sản phẩm
- Thời gian gián đoạn lao động là thời gian đối tượng lao động, dưới
dạng bán thành phẩm nẳm trong lĩnh vực sản xuất, nhưng không có sự tác động của lao động mà chịu sự tác động của thời gian
Ví dụ, rượu nho mới thì lúc đầu phải được để lên men một thời gian, rồi sau đó lại phải được cất đi một thời gian nữa, để có thể đạt đến một trình
độ hoàn thiện nhất định Trong nhiều ngành công nghiệp thì sản phẩm phải được sấy khô, ví dụ như trong ngành đồ gốm, hay phải được đặt dưới những ảnh hưởng nào đó làm thay đổi tính chất hóa học của nó như trong ngành phiếu vải chẳng hạn
Thời gian gián đoạn lao động có thể xen kẽ với thời gian lao động hoặc tách ra thành một thời kỳ riêng biệt, nó có thể dài ngắn khác nhau tuỳ thuộc vào các ngành sản xuất, các sản phẩm chế tạo và phụ thuộc vào công nghệ sản xuất
- Thời gian dự trữ sản xuất
“Một loại dự trữ khác nữa cũng có ảnh hưởng tương tự đến sự chu chuyển của tư bản, loại dự trữ này chỉ là tư bản sản xuất tiềm thế, nhưng do