Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Trường Đại học Thủy lợi BáO CáO KếT QUả TổNG KếT THIếT Kế - THI CÔNG ĐậP BÊ TÔNG ĐầM LĂN ĐịNH BìNH Chuyên đề số 11 Các biện pháp bảo ôn, xử lý
Trang 1Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trường Đại học Thủy lợi
BáO CáO KếT QUả
TổNG KếT THIếT Kế - THI CÔNG ĐậP BÊ TÔNG ĐầM LĂN ĐịNH BìNH
Chuyên đề số 11
Các biện pháp bảo ôn, xử lý nứt và khe lạnh tiếp giáp
Trong thi công đập bê tông đầm lăn
Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Phạm Văn Quốc
Chủ trì chuyên đề: GS TS Nguyễn Văn Mạo PGS TS Phạm Văn Quốc
Trang 2NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIấN QUAN ĐẾN NỨT ĐẬP Bấ TễNG ĐẦM LĂN
I VÀI NẫT VỀ ĐẬP Bấ TễNG ĐẦM LĂN ĐỊNH BèNH
II HIỆN TƯỢNG NỨT Ở ĐẬP Bấ TễNG ĐẦM LĂN
Chương II
CÁC GIẢI PHÁP LIấN QUAN ĐẾN PHềNG NGỪA HIỆN TƯỢNG NỨT ĐẬP
Bấ TễNG ĐẦM LĂN ĐỊNH BèNH
I THIẾT KẾ KHE VĨNH CỬU
II CÁC BIỆN PHÁP VỀ VẬT LIỆU XÂY DỰNG ĐẬP
III KHỐNG CHẾ NHIỆT TRONG THI CễNG
1 Khống chế nhiệt độ cho hỗn hợp bờ tụng
2 Cỏc biện phỏp để giảm nhiệt độ ban đầu của cốt liệu và hỗn hợp bờ tụng
3 Cụng tỏc bảo dưỡng bờ tụng
Chương III
MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIấN CỨU HIỆN TƯỢNG NỨT, KHE NGANG, KHE THI
CÔNG Và CHấT LƯợNG ĐậP BÊ TÔNG ĐầM LĂN
I Khe nối ngang
II Khe tiếp giáp giữa các lớp bê tông đầm lăn
III Khe thi công, khe tiếp giáp giữa BTĐL với bê tông thường
IV MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP NỨT ĐẬP Bấ TễNG ĐẦM LĂN
V HIỆN TƯỢNG NỨT Ở ĐẬP BTĐL ĐỊNH BèNH
Chương IV
MỘT SỐ QUI ĐỊNH VỀ TẠO KHE, XỬ Lí BỀ MẶT, DƯỠNG HỘ
GIẢM CHấNH LỆCH NHIỆT ĐỘ PHềNG CHỐNG NỨT VÀ THẤM
TRONG THI CễNG ĐẬP BTĐL ĐỊNH BèNH
I Tạo khe
II Xử lý mặt tầng
III Dưỡng hộ bê tông
IV Thi công vật ngăn nước, thoát nước, khe co d∙n
V THi công khi thời tiết bất lợi
VI Phân chia khối đổ BTĐL để giảm chênh lệch nhiệt độ
VII Thi công bề mặt chống thấm thượng lưu
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ TàI LIệU THAM KHảo
Trang 3MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NỨT ĐẬP BÊ TÔNG ĐẦM LĂN
Chiều dài toàn bộ 571m, trong đó đập không tràn dài 291 m, chiều dài tràn xả mặt 111m, chiều dài đoạn bố trí tràn xả đáy 72m, đoạn tường ô nối tiếp hai đầu đập 97m Chiều rộng đỉnh đập không tràn là 9m Chiều cao lớn nhất của đập là 55,3m
Khối lượng bê tông xây dựng công trình đầu mối 423.500, m3 trong đó khối lượng bê tông đầm lăn 183.000, m3 có thành phần cấp phối như ở bảng 1 B¶ng 1 Thµnh phÇn cÊp phèi cña BT§L sö dông cho ®Ëp §Þnh B×nh
§¸ d¨m (kg) Lo¹i bª
t«ng
Lo¹i
xi m¨ng
X (kg)
Tro bay (kg)
CKD(kg)
C (kg)
N (kg) 5-20 20-
Hình 1 Đầm bê tông đầm lăn ở đập Định Bình
Trang 4II HIỆN TƯỢNG NỨT Ở ĐẬP BÊ TÔNG ĐẦM LĂN
- Trong quá trình xây dựng cũng như vận hành đập bê tông trọng lực nói chung, bê tông đầm lăn nói riêng thường thấy hiện tượng đập bị nứt Các vết nứt có thể xuất hiện ngay trên bề mặt trong kĩ thuật thường gọi là nứt bề mặt Các vết nứt
có thể phát triển vào sâu gọi là nứt sâu Có những vết nứt hình thành trong thân đập phát triển từ phía nền không thể quan sát thấy … Như vậy về hình thái nứt ở đập bê tông trọng lực tương đối đa dạng Nguyên nhân gây ra từng loại nứt cũng khác nhau Các nguyên nhân gây nứt quy về hai nhóm nguyên nhân cơ bản :
Nhóm thứ nhất: Do những chuyển vị lớn như lún không đều hoặc do các hiện tượng vượt tải chưa được xét đầy đủ như động đất, tải trọng thi công … gây nên Nhóm thứ hai: Do trong quá trình thi công có lượng nhiệt khó thoát ra trong khối
bê tông lớn, hiện tượng chênh lệch nhiệt giữa các khối đổ, hiện tượng chênh lệch nhiệt với môi trường tự nhiên… Thời kì vận hành khai thác khi trường nhiệt độ trong vật liệu làm đập đã ổn định thì hiện tượng nhiệt ảnh hưởng đến đập chủ yếu là
từ môi trường nền và chịu ảnh hưởng của bức xạ nhiệt từ môi trường không khí
Hình 2 Đo độ chặt của bê tông đầm lăn ở đập Định Bình
Trang 5- Để hạn chế hiện tượng nứt trong đập bê tông trọng lực người xây dựng đã chú đến các giải pháp trong thiết kế, trong thi công và trong vận hành khai thác Các nhóm giải pháp trong thiết kế: Khuyến cáo về cấp phối vật liệu theo hướng giảm nhiệt trong khối đổ Căn cứ vào phân tích trường nhiệt độ, trường ứng suất kể
cả ứng suất nhiệt, dọc theo đập người thiết kế chia đập thành từng đơn nguyên độc lập Các khớp này khắc phục ảnh hưởng xấu của hiện tượng lún không đều đồng thời tạo ra khe vĩnh cửu ứng xử với nhiệt Trong bản thiết kế cũng định ra khe nhiệt
để giảm thiểu ảnh hưởng xấu của nhiệt trong quá trình thi công
Các nhóm giải pháp trong thi công: Thường xuyên quan trắc nhiệt để điều chỉnh nhiệt độ của vật liệu bê tông, điều chỉnh cấp phối giảm thiểu tác hại xấu của nhiệt tới chất lượng khối đổ Nghiên cứu ảnh hưởng nhiệt của nền, của các khối đồ bên cạnh để phân khoảnh đổ có lợi về mặt nhiệt Bảo ôn môi trường và dưỡng hộ khối
đổ cũng là những biện pháp tích cực để hạn chế các vết nứt do nhiệt Trong đập bê tông đầm lăn có các khe thi công như khe giữa các tầng, giữa các lớp, giữa các khối
bê tông cũng là những nơi dễ tạo ra những nguyên nhân gây nứt Vì vậy việc thi công các khe cũng phải chú y đến các giải pháp tăng cường chất lượng để hạn chế hiện tượng nứt có thể xẩy ra ở các khe này
Trong vận hành khai thác thông qua các kết quả quan trắc thường xuyên theo dõi hiện tượng lún và các diễn biến trường nhiệt độ trong thân đập, nhiệt độ nền, nhiệt
độ môi trường xung quanh, kết hợp với các tính toán dự báo khả năng xuất hiện các vết nứt trong thân đập từ đó có những can thiệp cần thiết để hàn gắn hoặc hạn chế vết nứt khi cần thiết
- Sức chịu tải về kéo của bê tông so với sức chịu nén là rất nhỏ, các số
liệu tổng kết về vật liệu bê tông đầm lăn cho thấy cường độ chịu kéo chỉ vào khoảng 5% đến 15% của cường độ chịu nén Nứt bê tông chủ yếu
do phá hoại kéo Úng suất kéo có thể do biến dạng cơ học trong quá trình đập làm việc sinh ra, hoặc trong quá trình phát sinh ứng suất nhiệt
do chênh lệch nhiệt độ giữa các phần trong đập, hoặc ứng suất kéo do đồng thời cả hai nguyên nhân Các chỉ tiêu tính toán để đánh giá hiện tượng nứt là xét tương quan giữa sức chịu kéo của bê tông với giá trị ứng suất kéo phát sinh trong đập do các nguyên nhân cơ học và nguyên nhân do nhiệt Các giải pháp hạn chế về nứt trong đập bê tông trọng lực phải hướng tới hai mục tiêu Thứ nhất là tăng cường khả năng chống kéo cho vật liệu Thứ hai là giảm nhỏ ứng suất kéo, ứng suất nhiệt phát sinh trong đập Các nhóm giải pháp như đã nêu ở mục 2 trong đó đều nhằm vào hai mục tiêu này để hạn chế nứt ở đập bê tông trọng lực
Trang 6Hình 3 Đầm bê tông biến thái ở đập Định Bình
Trang 7Chương II
CÁC GIẢI PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN PHÒNG NGỪA HIỆN TƯỢNG
NỨT ĐẬP BÊ TÔNG ĐẦM LĂN ĐỊNH BÌNH
Đâp bê tông trọng lực đầm lăn Định bình dài 571 m, chiều cao lớn nhất của đập là 52,4m, đập được đặt trên nền chủ yếu là đá cứng IIb Dọc theo chiều dài đập được chỉa ra làm 14 đoạn Chiều dài đoạn ngắn nhất là 31m, chiều dài đoạn dài nhất là 37m Giữa các đoạn là các khe vĩnh cửu
Theo các tài liệu tổng kết về xây dựng đập bê tông đầm lăn ở miền nam Trung quốc, người ta đã chia đập thành các đoạn dài từ 40 - 60 m, có đập tính toán nhiệt một cách chi tiết đã lấy tới 75 m Có nhiều đập không phân đoạn, nhưng một số đập không chia đoạn có hiện tượng nứt sâu
Đập Plei krông ở Kon tum là đập bê tông trọng lực đầm lăn xây dựng đầu tiên ở nước ta Đập có chiều dài 497 m, chiều cao lớn nhất 71m, toàn bộ đập xây dựng trên nền đá rắn chắc IIa và IIb, không cần bố trí khớp lún nhưng cứ 40m bố trí một khe vĩnh cửu để ứng xử về nhiệt
Như vậy về khoảng cách giữa các khe vĩnh cửu ở đập Định bình so với kinh nghiệm của miền nam Trung quốc và thực tế xây dựng ở đập Pleikrông thì chiều dài mỗi đoạn chia còn đang nằm ở giới hạn dưới Hơn nữa đập định bình có chiều cao mới chỉ là 52,4 m
Chất lượng của khe phụ thuộc rất nhiều vào biện pháp thi công tạo khe Để tạo thành khe vĩnh cửu ở đập Định bình đã dùng phương pháp cắt khe ngay sau khi thi công xong từng lớp đổ sau đó dùng tấm nhựa ngăn cách Cách thi công này có độ tin cậy cao
Xét riêng về khe nhiệt vĩnh cửu thì chiều dài các đoạn được xem xét phải thông qua phân tích nhiệt, do đó đoạn đập ngắn hay dài còn phụ thuộc vào vật liệu, các diễn biến về xử lí nhiệt trong quá trình thi công vv… Tuy vậy xem xét các điều kiện có liên quan tương tự như các đập khác đã xây dựng thì có thể đánh giá thiết kế và thi công khe vĩnh cửu ở Định Bình là phù hợp với công nghệ và thiên về an toàn
Trang 8II CÁC BIỆN PHÁP VỀ VẬT LIỆU XÂY DỰNG ĐẬP
Chất kết dính thay thế, tro bay, puzơlan… đóng vai trò quan trọng trong sự thành bại về chất lượng của khối BTĐL cả về mặt cường độ và mặt xử lí nhiệt Theo thiết kế, ban đầu Đập định bình xử dụng tro bay Phả lại nhưng không đáp ứng yêu cầu tiến độ ( chưa được 30% tiến độ) thi công Nhà thầu đã phải thay thế bằng nguồn tro bay Đồng Nai Formosa đạt tiêu chuẩn phụ gia khoáng hoạt tính nghiền mịn dùng cho bê tông 14TCN 105-1999 Cấp phối mới của BTĐL trong đó sử dụng tro bay Đồng nai đã được nghiên cứu về mọi mặt theo yêu cầu và đã chú làm rõ được sự cải thiện tình hình nhiệt, phát triển cường độ của khối BTĐL có cấp phối mới
Vật liệu BTĐL ở đập Pleikrong sử dụng chất kết dính là Puzơlan Phong Mỹ và Puzơlan Phong quy Cấp phối BTĐL M150 dùng tỉ lệ 80 kg xi măng 210 kg Puzơlan, tổng của cả hai loại lên tới 290 kg Trong khi đó cấp phối ở Định bình trước khi điều chỉnh tổng của hai chất này là 245 kg và sau khi cũng là 245kg nhưng xi măng rút từ 105kg xuống chỉ còn 70kg Một điều đáng lưu tâm là ở đập Pleikrông sử ly khe giữa các lớp cũng sử lí như khe lạnh do đó hàm lượng xi măng trong BTĐL ở đập Pleikrông nhiều hơn nữa So với đập Định bình lượng xi măng trong một khối BTĐL lớn hơn 14%
Nhìn chung cấp phối BTĐL cho đập Định bình đã được thiết kế, nghiên cứu điều chỉnh kịp thời, theo hướng giảm xi măng, sử dụng tỷ lệ tro bay một cách thích hợp để có lợi về khống chế nhiệt đảm bảo tốt cường độ thiết kế
Trang 9III KHỐNG CHẾ NHIỆT TRONG THI CÔNG
3 Khống chế nhiệt độ cho hỗn hợp bê tông
Quá trình thi công đập BTĐL Định bình việc khống chế nhiệt độ của hỗn hợp bê tông được đặc biệt chú trọng Nhiệt độ ban đầu của hỗn hợp bê tông đã được xác định trên cơ sở nghiên cứu quan hệ giữa nhiệt độ ban đầu với chiều cao khối đổ và thời gian giãn cách giũa hai khối đổ
Các nghiên cứu nhiệt độ ban đầu ở đập Định Bình đã được thực hiện với hai loại cấp phối với các chiều cao khối đổ từ 0,9 – 1,5 m tùy thuộc vào ở các độ cao của đập mà sự thay đổi nhiệt độ ban đầu nhiều hay ít Nhiệt độ này đối với cấp phối đã điều chỉnh ổn định hơn khu vực gần nền dao động trong khoảng 29-30 độ, đoạn giữa 31-32 độ, khu vực gần đỉnh 32-33 độ
4 Chọn thời gian đổ bê tông thích hợp - Ứng xử với nhiệt độ môi trường
Thường xuyên theo dõi nhiệt độ môi trường để lựa chọn thời điểm thi công hợp
lí Tại công trường thi công đập Định Bình đã tận dụng thời mùa đông và ban đêm mùa hè để đổ bê tông để hạn chế xử lí nhiệt ban đầu của hỗn hợp bê tông Kết quả đo nhiệt độ tại giữa khối đổ có nhiệt độ ban đầu ở đập Định bình ngày thứ sáu là 37,5 độ C
5 Các biện pháp để giảm nhiệt độ ban đầu của cốt liệu và hỗn hợp bê tông
Đá dăm được để nỏi có mái che và tưới ẩm để hạ nhiệt thực tế ở Định Bình hạ được
4-5 độ C Nước trộn bê tông lấy ở tầng sâu của sông Tai khối đổ ở mặt đập những ngày nắng phun sương mù để giữ ẩm và hạ nhiệt độ môi trường
4 Công tác bảo dưỡng bê tông
Thực hiện phun sương giữ độ ẩm, hạ nhiệt suôt quá trình thi công đến khi lớp bê tông trên cùng kết thúc ninh kết thì chuyển qua dưỡng hộ bằng tưới nước tránh hiện tượng nứt do mất nươc
Thi công đập bê tông đầm lăn Định Bình đã thực hiện các biện pháp khống chế nhiệt và bảo ôn như hướng dẫn của công nghệ thi công đập bê tông đầm lăn Trong quá trình thi công chưa thấy xuất hiện vết nứt ở bê tông đầm lăn
Trang 10
Hình 4 Tạo khe ngang khi thi công đập bê tông đầm lăn Định Bình
Hình 5 Xử lý tiếp giáp giữa các lớp bê tông đầm lăn Định Bình
Trang 11đập Các RCCD đã và sẽ xây dựng đều là các đập cao, nhiều đập như Đồng nai 4, Bản vẽ, Sơn la có chiều cao hơn 100 m
Hiện nay nước ta chưa có hệ thống tiêu chuẩn đồng bộ về RCCD, thực tế xây dựng loại đập này đang chịu ảnh hưởng của hệ thống tiêu chuẩn kĩ thuật và công nghệ của nhiều nước như Nhật, Mỹ, Trung quốc…nên còn nhiều vấn đề cần thảo luận Cho đến nay mới chỉ có đập RCCD Plêikrông, đập Định bình đang trong thời kì hoàn thiện tất các thủ tục và vài ba đập nữa đang trong thời kì thi công Đội ngũ
kĩ sư, công nhân nước ta chưa có nhiều kinh nghiệm với loại công nghệ này Vì vậy thu thập các thông tin, các kinh nghiệm, các kết quả nghiên cứu về RCCD đưa ra thảo luận từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm để xây dựng ở nước ta ngày một tốt hơn là một việc làm cần thiết
Các nội dung trong bài báo này mới chỉ tập trung thảo luận một số vấn đề
ảnh hưởng chất lượng các khe ngang và tiếp giáp giữa các lớp đến chất lượng RCCD Bài báo cũng giới thiệu một số kết quả phân tích nhiệt và lập quan hệ giữa cường độ bê tông và độ chặt làm cơ sở điều chỉnh biện pháp thi công để đảm bảo chất lượng RCCD
I Khe nối ngang
Cũng như đập bê tông truyền thống, RCCD xây dựng trên các tuyến dài cần phải phân đập thành những đoạn nhỏ bằng các khe nối ngang Khe nối ngang có tác dụng tránh cho đập không bị nứt khi bị lún không đều và khi bị ảnh hưởng của nhiệt
độ Trong thi công, người thi công dùng biện pháp không thích hợp sẽ xẩy ra tình trạng chất lượng RCC ở vùng lân cận các khe không đạt yêu cầu hoặc các thiết bị kín nước không đảm bảo Nếu tình trạng này xảy ra thì mặc dù tính toán phân khe
đã đúng nhưng hiện tựong nứt hoặc hiện tượng thấm nước tập trung qua khe vẫn xảy
ra
Tổng kết 37 đập RCCD đã xây dựng ở Trung quốc từ năm 1986 đến 2000 trong đó có năm đập có chiều dài từ 139 m đến 237 m không có khe nối ngang, bốn
Trang 12trong năm đập này có hiện tượng nứt Trong đó ba đập có vết nứt sâu, một đập có vết nứt bề mặt Các đập có khe nối ngang chưa phát hiện vết nứt [1]
II Khe tiếp giáp giữa các lớp bê tông đầm lăn
Đập bê tông đầm lăn được thi công đổ, san, đầm theo từng lớp vì vậy sự hình thành các khe giữa các lớp đổ là không thể tránh được Cũng như đối với bê tông truyền thống, bê tông đầm lăn hình thành các khe lạnh và ngay cả khi còn là khe nóng xử l#í không tốt đập cũng bị giảm khả năng chống trượt và khả năng chống thấm
Các nghiên cứu vê RCCD khuyến cáo khi bề mặt bê tông đầm lăn đạt đến thời gian đông kết ban đầu chưa đổ lớp mới lên thì sẽ hình thành khe lạnh Sự hình thành khe lạnh được định lượng bằng đại lượng gọi là “độ già” tính bằng tích số của nhiệt
độ trung bình bề mặt lớp (AST) với thời gian mặt tiếp xúc với bên ngoài (TE)
(Độ GIà) = ( 1,8 AST +32 ).(TE)
Trong đó: (Độ già) đo bằng độ giờ, AST đo bằng độ C, TE đo bằng độ
Sự hình thành khe lạnh còn phụ thuộc vào chất lượng và đặc tính của vật liệu kết dính cũng như hiệu quả của phụ gia đông kết Ví dụ cùng ở nhiệt độ 21độ C, bê tông
đầm lăn không có phụ gia chậm đông kết hình thanh khe lạnh khoảng 4 giờ, RCC có phụ gia thời gan này là 6 giờ Biện pháp xử lí khe nối tiếp là làm sạch bề mặt và phủ một lớp vữa lót có cường độ chịu kéo và chống cắt cần thiết mới có thể đạt được yêu cầu chống thấm và chống trượt cho đập [2,3]
Hỡnh 6 Cỏc dải dầm bờ tụng đầm lăn kế tiếp ở Định Bỡnh
Trang 13Các nghiên cứu về cường độ kháng kéo của RCC thấy khả năng kháng kéo ở các khe tiếp giáp giữa các lớp nhỏ hơn so với nơi không có khe tiếp giáp Kết quả đo
được ở mẫu không có khe Rk = ( 5% - 10%) Rn, ở mẫu có khe cường độ chịu kéo của RCC
Rk = 10% Rn, tại khe chi đạt được Rk = 5%Rn Như vậy tại khe tiếp giáp Rk giảm 50% so với RCC [3]
Cường độ kháng cắt trên bề mặt lớp đổ bao gồm lực dính kết và lực ma sát trượt giữa các lớp đổ Trong thiết kế giả thiết lực dính kết trên 100% bề mặt là không thực
tế Khả năng dính kết còn phụ thuộc vào hàm lượng và chất lượng chế tạo RCC, khả năng làm sạch bề mặt, chất lượng RCC khi đổ vào khoảnh đổ,thời tiết …Như vậy khả năng chống cắt trên khe tiếp giáp giữa hai lớp phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thi công chứ không hoàn toàn tuân thủ theo chủ quan của người thiết kế
Các nghiên cứu cho thấy hệ số thấm của RCC có thể đạt K= (0,15-15)10-9 cm/s tùy thuộc vào định lượng các thành phần của vật liệu, phương pháp đổ, mức độ đầm Tai khe tiếp giáp khả năng chống thấm bị giảm Vì vậy hiện tượng thấm ở đập bê tông đầm lăn chủ yếu là thấm qua các khe giữa các lớp đổ này Tại những khe có xuất hiện dòng thấm ở đó đồng thời có hiện tượng xuy giảm về cường độ kháng cắt
và kháng kéo
Theo báo cáo của hiệp hội bê tông và hiệp hội các kĩ sư quân đội Mỹ phổ biến các đập tại khe tiếp xúc Rk=5%Rn, góc ma sát trong của RCC = 40 – 60 độ trong trường hợp không có thí nghiệm có thể lấy = 43 độ để tính toán thiết kế
Căn cứ vào kết quả phân tích nhiệt trong quá trình thiết kế, nguời ta phân khe ngang để ứng xử với nhiệt Để tạo ra trường nhiệt độ trong đập như thiết kế, khi thi công thương xuyên phải điều chỉnh Căn cứ để điều chỉnh là những số liệu quan trắc
được và những kết quả phân tích nhiệt trong thi công Số liệu quan trắc có hạn, vì vậy số liệu dự báo bằng tính toán trong thi công là cần thiết Bài toán nhiệt trong quá trình thi công là loại bài toán nhiệt không ổn định có thể giải bằng phương pháp giải tích, phương pháp sai phân hữu hạn, phần tử hữu hạn Kinh nghiệm thực tế cho thấy dùng phương pháp sai phân hữu hạn tính toán đơn giản vẫn đạt được độ chính xác cần thiết Quy phạm một số nước như Trung quốc cũng khuyến cáo sử dụng phương pháp này Như trên Hình 4 so sánh kết quả phân tích nhiệt ở khối đổ với các
số liệu quan trắc ở vị trí đập cách nền 8 mét thấy sự sai khác không lớn Bằng cách này có thể dự báo được nhiệt độ của đập ở các vị trí khác nhau ở những thời điểm khác nhau
Trang 14III Khe thi công, khe tiếp giáp giữa BTĐL với bê tông thường Khi thi công đập bê tông đầm lăn, do năng lực của nhà thầu đã phải đổ thành từng khoảnh đổ Giữa các khoảnh đổ hình thành các khe tiếp giáp Tại đập Pleikrong
và đập Sêsan 4 Các khe này hình thành các mái nghiêng được đầm bằng đầm tay hình 9, hình 10 Các thí nghiệm hiện trường đo dung trọng và độ chặt của vật liệu bê tông đầm lăn ở các vị trí này thường đạt thấp hơn so với các vị trí khác Một số nghiên cứu quan hệ giữa độ chặt và cường độ cho thấy khi độ chặt nhỏ hơn dung trọng thiết kế cường độ của RCC có thể giảm 13% - 15%
Trong báo cáo của viện nghiên cứu bê tông của Mỹ ( ACI 207- 5R – 99 ) độ dầy của lớp đổ RCC phải tuân thủ theo một nguyên tắc chung là độ dày của bất kỳ lớp RCC nào ít nhất cũng phải bằng ba lần đường kính cốt liệu lớn nhất
Như trên hình khối đổ trước (A) và khối đổ sau (B) luôn có một phần không
đủ chiều dày quy định
Mặc dù ở các khe này cũng đã xử lí tiếp giáp như các khe lạnh nhưng về mặt
lí luận và thực tiễn ở đây vẫn còn nhiều vấn đề cần thảo luận Thực tế loại khe này
đã để lại tiềm ẩn những vùng có cường độ thấp và xuy giảm về khả năng chống thấm Trong đồ án thiết kế và thực tế thi công cần giảm thiểu và tốt nhất là loại bỏ khe loại này
Tiếp giáp giữa khối RCC với khối bê tông khác
Thực tế thi công thường xảy ra trường hợp phải đầm ép khối RCC vào các khối bê tông thường Một trong những yêu cầu bắt buộc là RCC chưa bị đông kết thì hai khối mới dính bám được với nhau Tại những nơi này thường không dùng các
đầm lớn phải dùng các đầm nhỏ
IV- MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP NỨT ĐẬP Bấ TễNG ĐẦM LĂN
Một số trường hợp nứt nẻ và thấm đó xảy ra tại cỏc cụng trỡnh đập ở nước ta cũng như trờn thế giới:
Đõp Copperfield - một vết nứt ngang qua phần tràn của đập đó xuất hiện sau 7 thỏng kể từ khi bắt đầu chứa nước vào hồ
Đập Upper Stillwater - Nứt ngang do nhiệt độ một lỳc nào đú đó xảy ra ở cấu trỳc đập dài này và nhiều khe nứt đó phỏt triển, trong đú nhiều khe nứt cú mức độ nghiờm trọng đũi hỏi phải được xử lý vỡ kẽ hổng lớn
Đập Galesville - Bảy vết nứt ngang nghiờm trọng đó xuất hiện ngang qua thõn đập đũi hỏi phải xử lý để giảm nhẹ dũng thấm