Sau năm 1954, kháng chiến thắng lợi, việc nghiên cứu thuỷ văn được đặt ra, Bộ Thủy Lợi - Kiến Trúc và Nha Khí tượng Thuỷ văn đã đặt thêm một số trạm cấp I ở trên dòng chính đo đủ các yếu
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN QUI HOẠCH THỦY LỢI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KH&CN CẤP BỘ:
“NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC
VÀ GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LƯU VỰC SÔNG HỒNG”
Chủ nhiệm đề tài: TS Tô Trung Nghĩa _
BÁO CÁO TỔNG KẾT CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
TÍNH TOÁN VÀ CHỈNH BIÊN SỐ LIỆU DÒNG CHẢY CÁC SÔNG THUỘC HỆ
THỐNG SÔNG HỒNG-THÁI BÌNH
Trang 2VIỆN QUY HOẠCH THUỶ LỢI
-
DỰ ÁN XÂY DỰNG QUY TRÌNH VẬN HÀNH HỒ CHỨA BẬC THANG SÔNG ĐÀ, SÔNG LÔ ĐIỀU TIẾT NƯỚC TRONG MÙA KIỆT CHO HẠ
DU SÔNG HỒNG - SÔNG THÁI BÌNH
CHUYÊN ĐỀ TÍNH TOÁN CHỈNH BIÊN SỐ LIỆU KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN PHỤC VỤ TÍNH TOÁN KINH TẾ
CÁC KỊCH BẢN VÙNG SÔNG LÔ
Hà nội 12/2006
Trang 3I ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÙNG NGHIÊN CỨU 3
I.1 Vị trí địa lý: 3 I.2 Đặc điểm địa hình 3
Trang 4I.1 Vị trí địa lý:
Bắt nguồn từ cao nguyên Vân Quý - Trung Quốc, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Sông có các phụ lưu lớn nằm trong lãnh thổ Việt Nam gồm sông Gâm, sông Chảy và sông Phó Đáy Chiều dài sông 470 km và phần chảy qua địa phận Việt Nam 275 km Diện tích lưu vực sông Lô (tính đến Việt Trì) là 39.000 km2 trong đó diện tích thuộc lãnh thổ Trung Quốc là 16.400 km2 chiếm 42%, diện tích thuộc lãnh thổ Việt Nam 22.600 km2 chiếm 58%
I.2 Đặc điểm địa hình
Nằm phía Đông Bắc sông Hồng có các rặng núi nằm theo hình cánh quạt, trung tâm là ngọn Tam Đảo thuộc phía Bắc tỉnh Vĩnh Yên Từ Tả ngạn sông Hồng ra tới Móng Cái có những rặng núi và cao nguyên sau đây:
Khoảng giữa sông Hồng và sông Chảy có rặng Con Voi, thuộc tỉnh Yên Bái, với cao nguyên Bảo Hà nằm cạnh thung lũng sông Hồng
Khoảng giữa sông Chảy và sông Lô, về phía Bắc có cao nguyên Pakha thuộc tỉnh Lào Kai, cao nguyên Hoàng Su Phì thuộc tỉnh Hà Giang với ngọn Tây Côn Lĩnh cao 2.431 thước Về phía Nam có cao nguyên Lục An Châu, thuộc tỉnh Yên Bái
Khoảng giữa sông Lô và sông Gâm là một vùng cao nguyên rộng lớn nằm trên hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang, cao trung bình khoảng 800 thước ở phía Bắc và thấp dần còn 400 thước về phía Nam
Khoảng giữa sông Gâm và sông Cầu là dãy núi cánh cung Sông Gâm, có ngọn Piaya cao gần 2.000 thước, nằm trên ranh giới hai tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn
I.3 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng
Các sông và các dãy núi dọc sông Chảy, sông Lô, sông Gâm phân bổ kiểu nan quạt từ Tây Bắc ÷ Đông Nam sang Đông Bắc ÷ Tây Nam nên đã đón gió Tây Nam vào rất sâu trong lưu vực gây mưa lớn Trong dãy có ngọn Tây Côn Lĩnh là cao nhất (2.149 m), nằm ở phần Việt Nam giữa sông Lô và sông Chảy đã tạo nên một trung tâm mưa lớn nhất trong lưu vực sông Hồng (lượng mưa năm bình quân đạt 5.000 mm ở Bắc Quang, năm 1971 có lượng mưa năm 6.466 mm) Trong lưu vực, đá vôi phân bố rộng rãi và hiện tượng Karst phát triển mạnh
Trang 5- Phương hướng kiến tạo đại thể song song với dòng chính có dốc trượt và uốn nếp mạnh, nham thạch vụn nát, đá vôi có hiện tượng Karst nghiêm trọng Từ ngã ba sông đến biên giới Việt - Trung là đá vôi bị xâm thực, trên thượng lưu từ Tú Nam trở lên phần lớn là sa diệp thạch
- Vùng Nguyên Giang cũng gồm nhiều phần nham thạch, có đá biến chất thời Thái Cổ và biến chất hệ Côn Dương Các nham thạch chủ yếu là sa diệp thạch thể bị xói lở xâm thực, loại đá vôi có hiện tượng hang động Karst rất mạnh Sa diệp thạch bị phong hoá rất nghiêm trọng
Phần lục địa giữa sông Hồng và sông Chảy
Phần này là mảnh vỏ lục địa cổ nhất ở lưu vực sông Hồng như các dải núi con Voi ở Việt Nam và hệ nham thạch Thái cổ đại như Granit Nges, Marbre phân
bố từ sông Nam Ninh đến Việt Nam
Phần đông lưu vực sông Hồng
Phần lớn vùng này gắn với phía lõm nền Vân Nam - Quảng Tây của khối Hoa Á (Katazia) viền quanh rìa phía Nam nền Hoa Nam, đặc trưng bởi cấu trúc chủ yếu dạng vòm ít phun trào
- Giai đoạn Henxin: Thấy đá vôi ở vùng Tây sông Gâm lục nguyên là chủ yếu, ở đới vùng trũng sâu sông Cầu dày 1.200 ÷ 1.300 m Thời kỳ Henxin muộn khắp nơi tạo thành đá vôi đồng nhất trên dưới 1.000m
- Giai đoạn Indosini: Là thời kỳ tạo núi, cấu tạo bên trong phần này phân thành các đới:
Trang 6nham biến chất, phiến nham
- Kỷ Đệ Tam có đá vôi Calcium tầng mỏng, Marbre cuội kết pha tích, cuội kết đá vôi tạo thành, hoặc xen kẹp sa diệp thạch
- Nhóm thứ hai: vỏ phong hoá của các đá Andezit, Bazan, Pocfirit, đá vôi hoa hoá Đặc trưng nổi bật của vỏ phong hoá do các đá này sinh ra là có màu đỏ thẫm, cấu trúc hạt, độ rỗng lớn Ranh giới giữa đá gốc với sản phẩm phong hoá tương đối rõ Độ khoáng hoá của nước dưới đất thuộc loại rất nhỏ, nước có phản ứng từ trung bình đến kiềm yếu Đa số nước Bicacbonat - Canxi Magie Hàm lượng SiO2 lớn, axít sắt và nhôm nhỏ hơn nhóm trên
- Nhóm thứ ba, vỏ phong hoá thường có màu nâu, phân lớp, hàm lượng các nguyên tố kiềm thấp, SiO2 cao, axit sắt và nhôm dao động trong giới hạn lớn
Trên lãnh thổ Việt Nam (phần trung, hạ lưu sông Hồng) phát triển các vỏ thổ nhưỡng Feralit khác nhau Vỏ phong hoá dày tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác và sử dụng nước vì nước không bị thấm mất khi xây dựng kênh mương hoặc đắp đập Phong hoá dày cũng cũng tạo điều kiện cho tồn tại nước ngầm giúp cho cấp nước sinh hoạt
I.3 Đặc điểm lưu vực, mạng lưới sông ngòi
Sông Lô là phụ lưu Đông Bắc của sông Hồng, chảy qua Hà Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Yên, rồi đổ vào sông Hồng ở Việt Trì Sông Lô có hai phụ lưu là sông Chảy ở hữu ngạn và sông Gâm ở Tả ngạn Sông Chảy dẫn ngang qua các tỉnh Lào Kai, Yên Bái, Tuyên Quang và nhập vào sông Lô ở Đoan Hùng Sông Gâm chảy từ Cao Bằng ngang qua gần suốt chiều Bắc-Nam của tỉnh Tuyên Quang, nhập vào sông Lô ở phía Bắc thị trấn Tuyên Quang
Sông Lô với diện tích lưu vực là 39.000 km2, phần diện tích thuộc lãnh thổ Trung Quốc là 16.400 km2
Trang 7TT TÊN TRẠM TÊN SÔNG CHIỀU DÀI SÔNG F LƯU VỰC
Ghi chú: - Tử số là chiều dài, diện tích lưu vực tính đến trạm
- Mẫu số là chiều dài, diện tích lưu vực thuộc địa phận Việt Nam
II TÌNH HÌNH MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC KHÍ TƯỢNG - THUỶ VĂN
II.1 Lưới trạm khí tượng và thời kỳ đo đạc
Trên lưu vực việc quan trắc các yếu tố khí tượng nói chung bắt đầu từ khi Nha Khí Tượng được thành lập năm 1902, riêng yếu tố mưa ở đo ở Lào Cai năm 1905 Thực dân Pháp chỉ xây dựng trạm đo nhằm phục vụ cho việc mở đồn điền, khai thác
mỏ, xây dựng nhà cửa, cầu cống và dự báo thời tiết nên một số trạm đo khí tượng, khí hậu, đo mưa rất ít Trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1946 ÷ 1954, hầu hết các trạm đều ngừng đo
Từ năm 1959, chuẩn bị thành lập Uỷ ban Trị thuỷ và Khai thác Sông Hồng,
bộ phận chuẩn bị kinh tế kỹ thuật Bộ Thuỷ Lợi - Kiến Trúc đã đề ra mấy chủ trương:
Trang 8II.2 Mạng lưới trạm thuỷ văn
Người Pháp chiếm đóng Việt Nam từ những năm 60 của thế kỷ 19, nhưng việc đo đạc và theo dõi tình hình thuỷ văn mới có từ năm 1884 (theo dõi mực nước
ở Hà Nội từ năm 1885, Yên Bái năm 1888 Từ năm 1901 trở đi thì số liệu quan trắc mực nước (H) được ghi chép trong sổ thống kê, từ năm 1901 ÷ 1905 thêm các trạm mực nước ở Lào Cai, Yên Bái và Việt Trì (sông Hồng và cửa sông Lô)
Việc đo lưu lượng (Q) cũng đã được chú ý từ lâu, lúc đầu đo bằng phao, sau dùng lưu tốc kế đo rải rác không liên tục Từ năm 1932 trở đi mới có kế hoạch đo lưu lượng ở Việt Trì, Yên Bái
Sau năm 1954, kháng chiến thắng lợi, việc nghiên cứu thuỷ văn được đặt ra,
Bộ Thủy Lợi - Kiến Trúc và Nha Khí tượng Thuỷ văn đã đặt thêm một số trạm cấp
I ở trên dòng chính (đo đủ các yếu tố) và các chi lưu lớn của hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình Sau khi thành lập Cục Thủy văn thuộc Bộ Thuỷ Lợi, năm 1959, đến năm 1960 đã chính thức hoàn thành các trạm thuỷ văn phục vụ nền kinh tế
Sau năm 1972 do kinh tế bị hạn chế, một số trạm phải ngừng hoạt động Sau năm 1975 lại phải điều chuyển nhân lực, vật tư trang thiết bị cho Miền Nam để đo các sông, nên một số trạm phải tạm ngừng hoặc phải hạ cấp xuống chỉ còn đo mực nước
Trang 9Hµm Yªn
Chiªm Ho¸
Tuyªn Quang
Th¸c
Bµ
Phï Ninh
II.3 Đánh giá chất lượng tài liệu
Nhìn chung việc tiến hành đo đạc thuỷ văn vùng nghiên cứu được thiết lập từ
rất sớm, nhưng do chiến tranh nên một số năm phải ngừng đo, số liệu giữa các
trạm thuỷ văn và trạm khí tượng đo mưa chưa được đồng bộ ít nhiều đã ảnh hưởng
tới việc tính toán
II PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
III.1 Tính đồng nhất về số liệu mưa
Để phục vụ cho công tác vận hành liên hồ chứa khi có thuỷ điện Sơn La,
Tuyên Quang nhất là vào những tháng nhu cầu dùng nước lớn, nhiệm vụ của
chuyên đề này là mô phỏng, phục hồi lại chuỗi dòng chảy đến các trạm thuỷ văn và
khu giữa của sông Lô tính từ biên giới Việt Trung tới Vụ Quang
Qua xem xét số liệu hiện có tại Viện Quy hoạch thuỷ lợi cho thấy về thời gian
đo đạc đa số các trạm không có tính đồng nhất, số liệu các trạm thường bị thiếu
nhiều hoặc thiếu số liệu mưa tháng trong năm, để khôi phục số liệu mưa cần phân
tích tương quan giữa các trạm mưa
Sau khi tính toán tương quan các trạm mưa có số liệu trên lưu vực và xem xét
bản đồ đẳng trị mưa năm cho thấy:
- Tương quan tổng lượng mưa năm giữa các trạm không đồng nhất về
Trang 10Dựa trên hệ số tương quan giữa các trạm đã tính toán và bản đồ đẳng trị mưa năm chọn các trạm có số liệu đủ dài và tương quan R lớn hơn 0,6 kiểm định tính đồng nhất của số liệu theo phương pháp phương sai hai chiều khẳng định được tính đồng nhất của các trạm trong lưu vực Qua đó cho thấy trên toàn lưu vực sông Lô chỉ có vùng hạ lưu sông Lô từ trạm mưa Tuyên Quang lên đến trạm Hàm Yên, Chiêm Hoá và chếch về hướng trạm Chợ Rã có tính đồng nhất về số liệu mưa hay nói cách khác các trạm mưa này có tính đồng nhất về nguyên nhân hình thành mưa Phân tách những trạm có cùng tổng lượng mưa năm trung bình gần bằng nhau tiến hành phân tích phương sai cho kết quả đồng nhất giữa các trạm Phó Bảng, Tuyên Quang, Na Hang, Bắc Mê, Hàm Yên, Chiêm Hoá, Hoàng Su Phì, Bắc
Hà, Thác Bà Có thể cho thấy tương quan những trạm này là chấp nhận được
Trang 12Pho Bang 1.00
Tuyen Quang 0.30 1.00
Na Hang 0.44 0.39 1.00
Bac Me 0.71 0.21 0.34 1.00
Ham Yen 0.65 0.61 0.33 0.47 1.00
Chiem Hoa 0.57 0.66 0.49 0.49 0.57 1.00
Hoang Su Phi 0.38 0.44 0.16 0.34 0.50 0.57 1.00
Bac Quang 0.64 0.01 -0.01 0.25 0.10 0.14 0.01 1.00 Bac Ha 0.17 0.31 0.36 0.48 0.39 0.54 0.38 -0.10 1.00
Bao Lac 0.86 0.34 -0.07 0.12 0.34 0.40 0.41 0.17 0.18 1.00
Cho Ra 0.57 0.42 0.29 0.50 0.36 0.67 0.37 0.07 0.48 0.36 1.00
Luc Yen 0.43 0.34 0.21 0.39 0.48 0.43 0.40 0.07 0.50 0.35 0.27 1.00
Ha Giang 0.49 0.27 0.23 0.35 0.47 0.39 0.63 0.11 0.25 0.26 0.32 0.28 1.00
Thac Ba 0.16 0.05 0.07 0.11 0.19 0.20 0.36 -0.04 0.16 0.17 0.34 0.32 0.35 1.00
Sau khi xem xét tính tương quan về phương sai của các trạm mưa như đã phân tích ở trên tiến hành xây dựng phương trình tương quan đa biến để kéo dài chuỗi số liệu bị thiếu ở các trạm có dạng:
Y = C+ aX1 + bX2 + cX3 + dX4 +…
Trong đó: C: Hằng số tự do
a, b, c…: Hằng số của từng trạm mưa
Trang 13Station Tuyen Quang Bac Me Ham Yen Chiem Hoa Hoang Su Phi Bac Ha Bao Lac Cho Ra Luc Yen Ha Giang
Thac
Ba
C R
Tuyen Quang -0,46 0,34 0,57 0,08 -0,26 -0,07 0,15 0,17 0,03 -0,02 665,1 0,82 Bac Me -0,29 0,25 0,14 -0,04 -0,02 -0,14 0,32 0,17 0,14 -0,05 637,2 0,77 Ham Yen 0,54 0,63 -0,07 -0,01 0,11 0,10 0,29 0,07 0,04 0,02 -154,9 0,72 Chiem Hoa 0,50 0,19 -0,04 0,28 0,23 0,001 0,31 -0,03 -0,06 -0,08 -323,5 0,86 Hoang Su Phi 0,09 -0,07 -0,01 0,33 0,09 0,12 -0,09 -0,02 0,26 0,08 148,8 0,76 Bac Ha -0,36 -0,04 0,09 0,36 0,12 -0,10 0,22 0,23 0,01 -0,01 740,25 0,66 Cho Ra 0,14 0,48 -0,17 0,33 -0,08 0,15 0,13 -0,07 0,001 0,14 -276,6 0,78 Luc Yen 0,42 0,67 0,11 -0,07 -0,06 0,42 0,30 -0,18 -0,13 0,09 -392,4 0,72
Trang 14III.2 Tính đồng bộ về số liệu mưa
Qua xem xét, phân tích dựa trên các phương pháp kiểm định tính thuần nhất của số liệu (F-test, T-test) chọn các trạm có số liệu đủ dài (trên 25 năm để kiểm định cho kết quả như sau:
- Xét về phương sai của hai chuỗi số liệu trong cùng một trạm bằng phương pháp chia đều chuỗi số liệu quan trắc thành hai chuỗi quan trắc cho thấy phương sai giữa các trạm nhìn chung là ổn định, sai số phương sai ở hai chuỗi quan trắc là không thực tại mức ý nghĩa 2,5 đến 97,5%
- Xét về tổng lượng trung bình nhiều năm bằng phương pháp T-test cho thấy tỷ lệ sai khác giữa tổng lượng trung bình nhiều năm giữa các trạm trong là gần bằng nhau, nói cách khác về giá trị trung bình của hai thời kỳ là đồng nhất
- Trong trường hợp chuỗi quá ngắn, phương sai tổng lượng mưa của từng năm biến động lớn có thể cho kiểm định không thuần nhất
KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH GIÁ TRỊ BÌNH QUÂN CỦA HAI CHUỖI SỐ LIỆU
Trang 15t-Test: Paired Two Sample for Means
Trang 16t-Test: Paired Two Sample for Means
Trang 17t-Test: Paired Two Sample for Means
df 20.00
Trang 18t-Test: Paired Two Sample for Means
Variance 570641.78 935739.22
Trang 19t-Test: Paired Two Sample for Means
df 19
Trang 20t-Test: Paired Two Sample for Means
Trang 21KẾT QUẢ TÍNH HỆ SỐ BIẾN ĐỘNG Cv NĂM
Trang 22g Su Phi
Bac Q
uang
Bac HaBao La
c Cho
Cv
b Hệ số biến động Cv theo từng tháng
Để xem xét tính biến động của mưa tháng, trong từng trạm, tiến hành phân tích các tham số thống kê của từng trạm trong từng tháng, nhìn chung hệ số biến động Cv tăng từ tháng 1 đến tháng 3 sau đó giảm đến tháng 7 và tháng 8 và tăng lên vào cuối năm (tháng 12)
ĐỒ THỊ BIỂU THỊ HỆ SỐ BIẾN ĐỘNG Cv VÀ GIÁ TRỊ TRUNG BÌNH
Mean Cv
Mean Cv
Trang 23Mean Cv
Mean Cv
Mean Cv
Trang 24Mean Cv
Mean Cv
Mean Cv
Trang 25Mean Cv
Mean Cv
Mean Cv
Trang 26Mean Mode
Mean Cv
Mean Cv
III.4 Tính chu kỳ của mưa năm
Dựa trên tài liệu mưa thực đo của các trạm có số liệu lớn hơn 20 năm tiến hành phân tích, tính toán, xây dựng đường luỹ tích sai chuẩn Qua kết quả tính toán tổng lượng mưa năm cho thấy trong khoảng từ 10 năm trở lại đây xu hướng mưa có giá trị giảm, điều này thể hiện ở đường cong luỹ tích có độ dốc nghiêng xuống dưới so
Trang 27các trạm Xem xét đường cong lũy tích sai chuẩn có thể cho thấy chu kỳ tổng lượng mưa năm giao động từ 5 đến 7 năm cho một chu kỳ nhiều nước hoặc ít nước Sử dụng đường trung bình trượt 5 năm cho thấy dự báo trong vòng 5 năm tiếp theo của các trạm tổng lượng mưa năm có xu hướng giảm
Trang 28Đường luỹ tích sai chuẩn và trung
Trang 29Đường luỹ tích sai chuẩn và trung
Trang 30Đường luỹ tích sai chuẩn và trung
Chọn trạm khí tượng tính toán mô phỏng, phục hồi, kéo dài dòng chảy
Sau khi xem xét, phân tích số liệu số liệu hiện có toàn lưu vực sông Lô tính đến Tuyên Quang chọn các trạm Bắc Hà, Lục Yên, Thác Bà trên sông Chảy, trạm
Hà Giang, Hàm Yên, Bắc Quang, Tuyên Quang, Vụ Quang trên sông Lô, trạm Bảo Lạc, Chợ Rã, Bắc Mê, Chiêm Hoá trên sông Gâm để tính toán phục hồi dòng chảy
Về bốc hơi chọn bốc hơi trung bình nhiều năm của một số trạm Hà Giang, Vĩnh Yên,
Lựa chọn phương pháp tính toán
Sử dụng mô hình mưa - dòng chảy để tính toán, phục hồi dòng chảy là một trong những phương pháp cổ điển và đạt hiệu quả cao trong tính toán thuỷ văn
Trang 31NAM… Trong chuyên đề này đã lựa chọn mô hình MIKE 11 - NAM để tính toán khôi phục dòng chảy đến các trạm thuỷ văn và khu giữa
II.3 Áp dụng mô hình
Qua phân tích bản đồ mưa năm trên toàn lưu vực, xây dựng lưới đa giác Thisen, tính mưa trọng số cho các trạm đã phân chia lưu vực như sau:
Trạm mưa Lưu vực
Bắc
Hà
Lục Yên
Hàm Yên
Chiêm Hoá
Tuyên Quang
Chợ
Rã
Bảo Lạc
Hà Giang
Bắc Quang Tong
+ Trạm Bảo Lạc thời đoạn mô phỏng từ 1961 - 1973, sử dụng trạm mưa Bảo Lạc để tính toán Kết quả tính toán mô phỏng cho sai số R2 = 0,865
+ Trạm Hà Giang thời đoạn mô phỏng từ năm 1960 - 1990, sử dụng trạm mưa Hà Giang để tính toán Kết quả tính toán cho sai số R2 = 0,696
+ Trạm Ngòi Sảo thời đoạn mô phỏng từ 1961 - 1976, sử dụng trạm mưa Hà Giang để tính toán Kết quả tính toán cho sai số R2 = 0,702
+ Trạm Đầu Đẳng thời đoạn mô phỏng từ 1965 - 1976, sử dụng trạm mưa Chợ Rã để tính toán Kết quả tính toán cho sai số R2 = 0,891
Trang 32BAO LAC MP, Observed RunOff [m^3/s]
II.4 Sử dụng kết quả sau khi mô phỏng
+ Sau khi tính toán mô phỏng cho các trạm có chuỗi tài liệu mưa và dòng chảy tương đối dài đã sử dụng bộ thông số mô phỏng tiến hành kéo dài chuỗi dòng chảy thuỷ văn từ năm 1960 đến năm 2004 cho các trạm trên
Trang 33dòng chảy cho các khu giữa thuộc lưu vực sông Lô
BẢNG KẾT QUẢ TÍNH TOÁN PHỤC HỒI, KÉO DÀI DÒNG CHẢY TẠI MỘT SỐ
TRẠM VÀ KHU GIỮA LƯU VỰC SÔNG LÔ
Thoi gian Thang Ha Giang F=8260 Chiem Hoa F=16500 Ninh Kiem F=46.8 Bao Lac F=4060 Dau Dang F=1890
Trang 35Thoi gian Thang F=8260 F=16500 F=46.8 F=4060 F=1890
Trang 37Thoi gian Thang F=8260 F=16500 F=46.8 F=4060 F=1890
Trang 39Thoi gian Thang F=8260 F=16500 F=46.8 F=4060 F=1890