Thấy rõ ý nghĩa to lớn của việc cần phải đảm bảo an toàn thường xuyên cho các đập hồ chứa, chúng tôi được giao nhiệm vụ điều tra về thành phần loài mối, một số đặc điểm sinh học, sinh th
Trang 1Bộ Nông nghiệp và PTNT
Viện Khoa học thuỷ Lợi
Trung tâm Nghiên cứu phòng trừ mối
Báo cáo tổng kết Chuyên đề nghiên cứu
Thành phần loài mối hại đập
ở các tỉnh tây nguyên
Thuộc Đề tài
“Nghiên cứu phòng trừ mối cho cây công nghiệp (cà phê cao su) và
đập ở các tỉnh Tây Nguyên”
Người viết: TS Nguyễn tân vương
7109-4
16/02/2009
Hà Nội, 12/2007
Trang 2Mở đầu
Hệ thống đập hồ chứa nước có vai trò to lớn đối với nền kinh tế của nước ta Một mặt chúng góp phần cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt, mặt khác chúng còn có tác dụng cắt giảm lũ cho hạ lưu những mùa mưa bão Tây nguyên là một vùng có chiến lược rất quan trọng về kinh tế và quốc phòng, Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh: Kon tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng Cao độ chủ yếu của Tây Nguyên từ 300m đến 700m, cùng với một số yếu tố tự nhiên khác rất thuận lợi cho việc phát triển nông - lâm nghiệp quy mô lớn và rất thích hợp cho các loại cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su, chè Song một trong những khó khăn
để phát huy tiềm năng trên là nguồn nước
Trong những năm qua, hệ thống công trình thuỷ lợi đã được nhà nước đầu tư,
đến nay đã có hơn 60 hồ chứa lớn đảm bảo tưới cho hơn 100.000 ha góp phần tích cực
đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, tăng năng suất lúa và một số cây công nghiệp cung cấp nước sinh hoạt, cải thiện môi trường sinh thái
Bên cạnh những mặt lợi to lớn đó, các hồ chứa cũng tiểm ẩn các nguy cơ khi xảy ra sự cố nhất là an toàn hệ thống đập
Thấy rõ ý nghĩa to lớn của việc cần phải đảm bảo an toàn thường xuyên cho các
đập hồ chứa, chúng tôi được giao nhiệm vụ điều tra về thành phần loài mối, một số đặc
điểm sinh học, sinh thái mối ở một số đập nằm trong các tỉnh Tây nguyên và một số vấn đề có liên quan khác
Để đưa ra giải pháp xử lý mới hợp lý cần phải biết rõ đối tượng hại đập ở các tỉnh Tây Nguyên Do đó, nội dung chuyên đề này sẽ đề cập các nội dung sau:
- Thành phần loài mối gây hại đập ở một số đập ở Tây nguyên
- Một số đặc điểm sinh học sinh thái của một số loài gây hại chính
1 Một số điều kiện tự nhiên của vùng Tây nguyên có liên quan đến mối
Vùng được chọn nghiên cứu nằm trong độ cao từ 300-1100m Đất chủ yếu là Feralit nâu đỏ và đất Bazan giầu mùn, cation, đạm và lân thích hợp cho các loại cây công nghiệp lâu năm như cà phê, chè cao su [2]
Trang 3Khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao
400-500 m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên 1000 m (như
Đà Lạt) thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm như vùng ôn đới Tây nguyên cũng là vùng
có nắng nhiều, cân bằng bức xạ 90 -95Kcal/cm2/năm Độ ẩm tương đối cao vào mùa mưa (82-88%) và thấp vào mùa khô, cực tiểu vào các tháng II, III, IV (70-80%), về độ
ẩm trái ngược hẳn với miền Bắc
Mối là côn trùng sống trong đất vì vậy điều kiện tự nhiên như thảm thực vật, nhiệt độ, độ ẩm, độ mùn của đất, độ pH …có liên quan trực tiếp đến sự phân bố của chúng Nói cách khác, điều kiện tự nhiên của môi trường quy định thành phần loài mối sống trong môi trường đó Tây nguyên nằm trong đai khí hậu á chí tuyến gió mùa trên núi, có từ 7-10 tháng nhiệt độ dưới 250c, nhiệt độ trung bình cả năm là 22 - 240c
Chính những đặc điểm về đất đai và nguồn thức ăn phong phú ở đây đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho mối sinh sống và phát triển
2 Thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu
2.1 Thời gian nghiên cứu
Nhóm thực hiện đề tài đã tiến hành nghiên cứu từ tháng 4 - 11 /2006 Thu mẫu mối để xác định thành phần loài, nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái và đánh giá mức độ tác hại của mối đối với đập
Các công tác nội nghiệp được thực hiện từ tháng 7 - 12/2006 tại Trung tâm Nghiên cứu phòng trừ mối - Viện Khoa học thuỷ lợi
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Trong năm 2006 chúng tôi đã thực hiện nội dung điều tra tại 5 đập thuộc 2 tỉnh (Gia Lai, Đắc Lắc) và 4 đập khác (thuộc các tỉnh Đak Lak, Gia lai, Lâm Đồng, các đập này đã nghiên cứu trong những chương trình khác đại diện cho các tỉnh Tây nguyên Trong số các đập này cũng có đập là các nền đập chuẩn bị xây dựng (bảng 1, hình 1)
Trang 4Bảng 1: Một số thống tin về đập nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Dụng cụ thu mẫu: Mẫu được thu bằng các dụng cụ đơn giản như panh, cuốc,
xẻng và được bảo quản trong cồn 750
Cách thức thu mẫu:
Mẫu định tính: Đối với mỗi đập thu mẫu theo từng tuyến, trên mỗi tuyến chọn
ra đoạn có đặc điểm sinh cảnh khác nhau và phổ biến cho từng tuyến Khảo sát mối ở những khu vực trong mỗi tuyến như mái thượng lưu, mặt đập, mái hạ lưu
Mẫu định lượng: Thu tất cả các mẫu mối bắt gặp trong tuyến như ở đường mui mối kiếm ăn, dưới lớp lá cây cỏ, lỗ vũ hoá, thanh gỗ mục, thu tại tổ…
Mẫu mối được phân tích và lưu giữ tại Trung tâm Nghiên cứu phòng trừ mối Các mẫu mối được phân tích bằng các thiết bị chuyên dụng như kính lúp, kính hiển vi soi nổi và theo khoá định loại mối của Việt Nam (Động Vật Chí Việt nam - Mối) và các khoá định loại về mối của các tác giả Muzaffer Ahmad (1958, 1965), Thapa (1981)
Thu thập các đặc điểm sinh học sinh thái: Các đặc điểm sinh học sinh thái của
mối cũng như các dấu hiệu phá hại của mối đối với đập được quan sát, chụp ảnh và ghi chép ngoài thực địa Nghiên cứu về cấu tạo tổ mối được thực hiện theo phương pháp Darlington (1983), mô tả quá trình giải phẫu lát cắt thẳng đứng song song từ ngoài vào
TT Tên đập Địa điểm Độ cao (m) Chiều dài (m)
5 Krong Bukha* Krpach - Đắc lắc 400 470
7 Đan Kia Lạc Dương – Lâm Đồng 1500 125
8 Đơn Dương Đơn Dương -Lâm Đồng 1040 1500
Trang 5trong tổ mối Các lát cắt cách nhau 20cm Cấu tạo chi tiết của tổ được ghi lại bằng máy
ảnh và hình vẽ Các số liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê
5 6 7
4 3
8
Hình 1 Các đập đã khảo sát
1 Biển Hồ
2 Iagrai
3 Krong Buk hạ
4 Eaknop
5 Eakar
6 Eakao
7 Dankia
8 Đơn Dương
9 Đạ Hàm
9
Trang 63 Kết quả nghiên cứu
3.1 Thành phần loài mối tại các đập nghiên cứu
Trong thời gian điều tra khảo sát, chúng tôi đã thu được 559 mẫu mối, trong đó
có 344 mẫu ở nền đập, 215 mẫu ở môi trường xung quanh Các mẫu mối qua phân tích
đã xác định được 25 loài mối Trong đó, mẫu mối ở nền đập gồm 15 loài thuộc 10
giống và 2 họ mối
Trong 10 giống mối phân bố trên thân đập ở Tây nguyên, giống mối
Odontotermes phát hiện có số loài nhiều nhất (3 loài); 3 giống: Macrotermes
Hyptermes và Pericapritermes đều có 2 loài, các giống còn lại phát hiện được 1 loài
Thành phần loài cụ thể trên mỗi đập xem trong bảng 2
Bảng 2 Danh sách các loài mối phân bố tại các đập nghiên cứu
TT Tên Loài Eakar Eacao Krong
Buk Hạ
Eak -nop
Đơn Dương
Đan Kia
Đạ Hàm
Biển
Hồ Iagrai
1 C formosanus + +
2 Sche javanicus + + + +
3 G sulphureus + + +
4 O hainanensis + + +
5 O angustiganthus + +
6 O ceylonicus + + + + + + + +
7 H makhamensis + +
8 H obscuricep + + + + +
9 M annandalei + + + + + + 10 M gilvus + + + + + + + +
11 Mi pakistanicus + + + + + + + + + 12 T comis + +
13 Peri sermarangi + +
14 Peri latignathus +
15 Bul brahae + + +
Trang 7Theo kết quả của bảng 3, thì đập có số loài phân bố lớn nhất là đập đập Đan Kia, có 10 loài mối được phát hiện ở đây, tiếp theo là đập Eakar và đập Biển Hồ với 7 loài và các đập còn lại mỗi đập có từ 5 -6 loài mối phân bố
Các loài mối phân bố trên thân đập thuộc vào 5 phân họ mối chính: Coptotermitinae, Rhinotermitinae, Macrotermitinae, Amitermitinae và Termitinae, các nhóm này không chỉ khác nhau về mặt hình thái mà còn khác nhau về đặc tính sinh thái
Nhóm loài thuộc phân họ Macrotermitinae là những loài mối có vườn cấy nấm
Termitomyces, gồm các loài thuộc giống Hypotermes, Macrotermes, Odontotermes và
Microtermes Nơi làm tổ, kiếm thức ăn, cách thức chế biến và dự trữ thức ăn của các
loài thuộc nhóm loài này liên quan mật thiết với môi trường đất Nhóm loài này thường làm tổ chìm dưới mặt đất hoặc tổ nửa chìm nửa nổi với nhiều hang giao thông kín và hệ thống khoang phụ, vườn cấy nấm phức tạp, dàn trải trong một diện tích lớn Những loài này gặp phổ biến ở cả thân đập và môi trường xung quanh ở tất cả 5 đập điều tra
Ngoại trừ một loài thuộc giống Microtermes tổ nhỏ, không ảnh hưởng đến thân đập Những loài thuộc các giống Odontotermes, Hypotermes và Macrotermes đều là những loài mối hại đập, nhất là những loài như: O angustiganthus, O ceylonicus, M
carbonarius, M annandalei, và M gilvus
Nhóm loài thuộc phân họ Coptotermitinae bao gồm những loài thường làm tổ trong công trình kiến trúc như nhà cửa, kho tàng Thức ăn của chúng thường là những vật liệu có nguồn gốc xenlullo Trên thân đập, chúng không được xếp vào nhóm mang
ẩn họa đến cho đập, tuy nhiên chúng lại có thể gây hại đến những công trình kiến trúc trên đập như tháp van, nhà điều hành Phân họ Rhinotermitinae cũng chỉ phát hiện
được 1 loài là Schedo javanicus trên đập, cũng giống như loài Coptotermes chúng
cũng không phải là nhóm mối có thể gây hại đến sự an toàn của đập
Phân họ Amitermitinae mới chỉ phát hiện được một loài, loài mối này làm tổ nổi, cấu tạo tổ vững chắc, thành tổ là nhiều lớp mỏng cứng như bìa da, thích nghi được với môi trường khô, cứng, ít mùn Tuy nhiên loài này không gây ảnh hưởng đến đập
Một loài mối nữa là T comis thuộc phân họ Termitinae là những loài mối ăn mùn, làm tổ nổi, hoặc tổ chìm nhưng nông, kiếm ăn trên mặt đất ẩm, giầu mùn Những loài này khá phổ biến ở môi trường xung quanh, đặc biệt những khu vực vườn cây trồng như cà phê, ca cao Những loài này ít gây ảnh hưởng đến an toàn của đập hồ chứa
Trang 8Từ những kết quả phân tích về đặc điểm phân bố cũng đặc điểm sinh học sinh
thái của những loài mối trên, chúng tôi nhận thấy nhóm mối thuộc phân họ
Macrotermitinae là nhóm có nhiều ý nghĩa đối với đập cần chú ý trong quá trình
nghiên cứu phòng chống mối bảo vệ an toàn cho hồ đập
3.2 Sự khác nhau về thành phần loài mối trên từng đập nghiên cứu
Từ kết quả thu được, chúng tôi nhận thấy giữa các đập sự phân bố thành phần
loài có những nét khác nhau nhất định, tuy nhiên sự khác nhau này không phải lớn
Bảng 3 Số mẫu mối trên từng đập nghiên cứu
TT Tên loài Eakar Eacao Krong
Bukha
Eak -nop
Đơn Dương
Đan Kia
Đạ Hàm
Biển
Hồ Iagrai
4 O hainanensis 2 2 1 2
6 O ceylonicus 6 9 7 8 5 9 9 6
7 H makhamensis 3
9 M annadalei 12 9 8 9 10 15
10 M gilvus 12 5 11 3 10 11 5 8
11 Mi pakistanicus 11 7 9 7 4 9 8 9 9
Trong 15 loài mối thu được, có những loài mối phân bố trên hầu hết các đập
nghiên cứu Loài Mi pakistanicus tìm thấy trên cả 9 đập, loài mối M gilvus phân bố
8/9 đập, loài O ceylonicus phân bố 7/9 đập Tuy nhiên có loài cũng chỉ mới phát hiện
trên 1 đập nghiên cứu như, H makhanensis, Peri latignathus…
Trang 9Thành phần loài mối trên mỗi đập có sự khác nhau nhỏ, nhưng đây là sự sai khác ngẫu nhiên nên về cơ bản cấu trúc thành phần loài trên các đập là tương đối giống nhau
Tại đập Eakar loài ưu thế là M annandalei chiếm tỉ lệ 31,58% tổng số mẫu thu
được tại đập này, tiếp đến loài Mi pakistanicus (chiếm 28,95%), O ceylonicus với 15,79%, loài H obscuricep chiếm tỉ lệ 10,53%, các loài còn lại chiếm tỷ lệ ít hơn
Đập Eakao, loài M gilvus là loài ưu thế (với 12/45 mẫu) chiếm tỉ lệ 26,7%, tiếp
đến là loài O ceylonicus và M annandalei với 9/45 mẫu chiếm tỉ lệ 20% tổng số mẫu
thu được trên đập
Tại đập Krong Buk Hạ sự phân bố của các loài hầu như đồng đều hơn Các loài
như M annandalei, M carbonarius, H makhamensis và O ceylonicus cùng chiếm tỉ
lệ từ 14,3% - 17,8% tổng số mẫu thu được trên đập ở đập này, loài mối ưu thế, có số
lượng mẫu thu được cao nhất lại là loài Mi pakistanicus vốn không được coi là loài
gây hại cho đê đập
ở đập Eaknop, loài có số lượng mẫu cao nhất là loài M gilvus với 11 mẫu
chiếm tỉ lệ 26,8% tổng số mẫu thu được trên đập Hai loài tiếp theo là M annandalei với 9 mẫu và O ceylonicus với 8 mẫu chiếm tỉ lệ lần lượt là 21,9% và 19,5% tổng số
mẫu thu được trên đập
Tại đập Đan Kia loài ưu thế là M annandalei với 15 mẫu chiếm tỉ lệ 24,2%, tiếp
đến loài M gilvus với 19,2%, loài O ceylonicus với 17,3% tổng số mẫu thu được trên
đập
Tại đập Đơn Dương loài ưu thế là M annandalei 37,0%, tiếp đến loài O
ceylonicus với 18,5% tổng số mẫu trên đập
Tại đập Đạ Hàm loài ưu thế là M gilvus chiếm tỉ lệ 29,7%, tiếp đến là loài, loài
O angustignathus chiếm tỉ lệ 18,9%, H obscuricep với 16,2% tổng số mẫu thu được
trên đập
Số loài gây hại chủ yếu đối với đập ít nhất là 3 loài (đập Đạ Hàm) và cao nhất là
7 loài (đập Đankia) Kết quả này cho thấy, ở hầu hết các đập luôn luôn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn về mối Vì vậy, việc điều tra định kỳ về mối đối với đập hồ chứa để có cơ
sở đề xuất phương án giải quyết là hết sức cần thiết
Trang 10Trong kết quả điều tra về thành phần loài mối phân bố trên một số đập hồ chứa
ở Tây nguyên của Lê Văn Triển [19] bao gồm có 12 loài mối, thì có 3 loài mối T
comis, H makhamensis và O angustignathus lần đầu tiên được phát hiện thấy làm tổ
trên đâp ở Tây nguyên Có 2 trong số 3 loài này là những loài gây hại nghiêm trọng đối
với hệ thống đê điều nước ta Kết quả của chúng tôi đã nâng tổng số loài mối phân bố trên đập hồ chứa ở Tây nguyên từ 12 loài lên 15 loài
So sánh với kết quả điều tra của Lê Văn Triển [19] về các loài mối gây hại đập
hồ chứa ở Tây Nguyên thì trong kết quả của chúng tôi không có loài mối M
carbonarius, mặc dù ở môi trường xung quanh 9 đập điều tra chúng tôi thu được khá
nhiều mẫu mối của loài này Có thể điều kiện môi trường ở thân đập, không phù hợp
với một số loài mối nhất định trong đó có loài M carbonarius
3.3 Thành phần loài mối ở môi trường xung quanh
Song song với việc thu mẫu ở thân đập chúng tôi còn tiến hành mở rộng ra thu mẫu ở môi trường xung quanh thân đập như tại hai bên vai đập, các rừng cây lâu năm, vườn đồi cà phê, tiêu, thảm thực vật thứ sinh… Kết quả thu được cho thấy thành phần loài mối ở đập và môi trường xung quanh có quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau
Ngoài 15 loài mối thu được trên nền đập, chúng tôi còn phát hiện thêm được 10 loài mối nữa (bảng 4)
So sánh với bảng phân bố về thành phần loài mối trên đập chúng tôi có nhận xét như sau:
Hầu hết các loài mối có mặt trên đập cũng đều được tìm thấy ở môi trường xung quanh, vì đây chính là nguồn cung cấp mối cánh bay vào làm tổ trong thân đập Ngược lại cũng có một số loài mối có mặt ở môi trường xung quanh lại không xuất hiện ở trên
đập Thành phần loài mối ở môi trường xung quanh đa dạng hơn Điều này cho thấy, chỉ có một số loài mối nhất định mới có thể sống và làm tổ trong môi trường đập Đây cũng sẽ là một kết quả giúp cho các nhà quản lý đập dễ dàng khoanh vùng lựa chọn biện pháp phù hợp với loài mối cần phải xử lý trong quá trình phòng chống mối cho
đập
Trong số 10 loài mối phát hiện thêm ở môi trường xung quanh, có 4 loài mối là
M latignathus, M malaccensis O hainanensis và O maesodensis nếu phát tán vào