Bộ Nông nghiệp và PTNT Viện Khoa học thuỷ Lợi Trung tâm Nghiên cứu phòng trừ mối Báo cáo tổng kết Chuyên đề Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài mối gây hại chính đối vớ
Trang 1Bộ Nông nghiệp và PTNT
Viện Khoa học thuỷ Lợi Trung tâm Nghiên cứu phòng trừ mối
Báo cáo tổng kết Chuyên đề
Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài mối gây hại chính đối với đập
ở tây nguyên
Thuộc Đề tài
“Nghiên cứu phòng trừ mối cho cây công nghiệp (cà
phê cao su) và đập ở các tỉnh Tây Nguyên”
Người viết: ThS Trần thu huyền
7109-1
16/02/2009
Hà Nội, 12/2007
Trang 2Đặc điểm sinh học, sinh thái học của những loài mối gây
hại chính đối với đập ở tây nguyên
1 Mở đầu
Mối là nhóm côn trùng khá đa dạng về thành phần loài Mỗi loài thường
có những đặc điểm sinh học, sinh thái học riêng Chúng có thể khác nhau về vị trí làm tổ, chất liệu xây dựng tổ, cấu trúc tổ hoặc cách thức chế biến thức ăn Chính vì những đặc tính khác nhau này ở từng loài mà ở một hoàn cảnh nào đó chúng được xem là những loài gây hại hoặc không có hại
Khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4
là hai tháng nóng và khô nhất Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400-500 m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên 1000 m (như Đà Lạt) thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm như vùng ôn đới Tây nguyên cũng là vùng có nắng nhiều, cân bằng bức xạ 90 -95Kcal/cm2/năm Độ ẩm tương đối cao vào mùa mưa (82-88%) và thấp vào mùa khô, cực tiểu vào các tháng II, III, IV (70-80%), về độ ẩm trái ngược hẳn với miền Bắc
Mối vốn là côn trùng sống trong đất vì vậy điều kiện tự nhiên như thảm thực vật, nhiệt độ, độ ẩm, độ mùn của đất, độ pH …có liên quan trực tiếp đến
sự phân bố của chúng Nói cách khác, điều kiện tự nhiên của môi trường quy
định thành phần loài mối sống trong môi trường đó Tây nguyên nằm trong đai khí hậu á chí tuyến gió mùa trên núi, có từ 7-10 tháng nhiệt độ dưới 250c, nhiệt
độ trung bình cả năm là 22 - 240c
Chính những đặc điểm về đất đai và nguồn thức ăn phong phú ở đây đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho mối sinh sống và phát triển
Trong công tác xử lý phòng chống mối cho đập, để biết được vị trí tổ mối, đánh giá được mức độ nguy hại của từng loài và đề xuất giải pháp xử lý
Trang 3mối có hiệu quả cao, phù hợp với điều kiện địa phương thì việc hiểu biết về những đặc điểm sinh học của mỗi loài mối gây hại đối với đê đập nói chung và
đập Tây Nguyên nói riêng là rất cần thiết Vì vậy, để góp phần trong nghiên
cứu về mối ở Tây Nguyên, chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề “Đặc điểm
sinh học, sinh thái học của những loài mối gây hại chính đối với đập ở Tây Nguyên” Dưới đây là phương pháp và kết quả nghiên cứu của chúng tôi
2 Thời gian, địa điểm và Phương pháp nghiên cứu
2.1 Thời gian
Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 4/2006 đến tháng 11/2007
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi đã thực hiện điều tra khảo sát mối tại 9 đập, trong đó có 2 đập thuộc tỉnh Gia Lai, 4 đập thuộc tỉnh Đắc Lắc, 3 đập thuộc tỉnh Lâm Đồng và 1
đập thuộc Kontum (bảng 1)
Các nghiên cứu về sinh học sinh thái của các loài mối gây hại trên các
đập ở Tây Nguyên được tiến hành tại một số vùng có cùng loài gây hại như:
Đồng Mô - Vĩnh Phúc, Xuân Mai - Hà Tây (cũ) và trong phòng thí nghiệm của Trung tâm nghiên cứu phòng trừ mối
Bảng 1 Địa điểm các đập nghiên cứu
TT Tên đập Địa điểm Chiều dài đập F tưới
Trang 48 Đơn Dương Đơn Dương -Lâm Đồng 1040 1500
2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Dụng cụ thu mẫu: Sử dụng các dụng cụ thu mẫu đơn gian như: panh, tuốc nơ vít, cuốc, xẻng, lọ đựng mẫu
- Phương pháp thu mẫu: Cách thức thu mẫu là đào để thu mẫu trong tổ hay từ bất kì vị trí nào có dấu hiệu của mối như lỗ vũ hoá, cành cây, gốc cây,
gỗ mục, nơi có đường mui hay mối đang hoạt động kiếm ăn như Nguyễn Đức Khảm đã thực hiện [2] Mẫu mối được thu trên toàn bộ thân đập và môi trường xung quanh trong dải rộng 100m tính từ viền chân đập Mẫu mối được lưu giữ ở phòng thí nghiệm Trung tâm Nghiên cứu phòng trừ mối - Viện Khoa học Thuỷ lợi, số 267 Chùa Bộc - Đống Đa - Hà Nội
- Phương pháp xử lý, phân tích định loại mẫu vật: Các mẫu vật đều được phân tích định loại đến loài dựa theo các tài liệu định loại mối của Việt nam (Động vật chí Việt nam – Mối) và một số khóa định loại khác của các tác giả Muzaffer Ahmad (1958, 1965)[12][13]
- Quan sát một số đặc điểm sinh học, sinh thái học trên bề mặt đê, đập theo Vũ Văn Tuyển (1982)[9] Ghi chép lại và chụp ảnh những dấu hiệu và theo dõi sự hoạt động của mối trên bề mặt đê, đập
- Phương pháp giải phẫu tổ mối: Nghiên cứu cấu trúc tổ mối thông qua việc giải phẫu tổ theo các lát cắt từ ngoài vào trung tâm phần diện tích xuất hiện dấu hiệu tổ mối Các lát cắt cách nhau 50cm ở phần bên ngoài tổ Khi vào gần bên trong, các lát cắt được cắt mỏng dần, khoảng 20 cm/lát cắt cho đến khi vào khoang chính của tổ Cấu tạo chi tiết của tổ được ghi lại chi tiết bằng máy ảnh và các hình vẽ mô tả
3 Kết quả nghiên cứu
Trang 5Dựa vào Tiêu chuẩn ngành 14TCN 167: 2006 về Mối gây hại công trình thuỷ lợi – Phân loại và đặc điểm sinh học, sinh thái học do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2006, chúng tôi xác định được trong tổng số 15 loài phân
bố trên đập ở Tây Nguyên, có 7 loài gây hại đối với đập, là loài: Odontotermes
hainanensis, Odontotermes angustignathus, Odontotermes ceylonicus, Hypotermes mankhamensis, Hypotermes obscuricep, Macrotermes annadalei, Macrotermes gilvus Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh
học, sinh thái học của những loài gây hại đối với đập ở Tây Nguyên
3.1 Odontotermes hainanensis (Light,1924)
3.1.1 Đặc điểm cấu tạo tổ
* Hình thái ngoài:
Tổ của loài này nằm hoàn toàn dưới đất, dấu hiệu phát hiện tổ thường bằng
lỗ vũ hóa (hình 1)
* Cấu trúc bên trong tổ
Tổ thường gồm một khoang chính, nhiều khoang phụ và có hệ thống
đường giao thông chằng chịt Tổng thể tích rỗng của một tổ có thể ước đoán qua lượng vữa sét cần xử lý cho một tổ mối tới 2m3
A
B
D
C E
Mặt đất
Hình 1: Cấu trúc tổ mối Odontotermes hainanensis
A: Nắp phòng đợi bay; B: Khoang chính; C: Khoang phụ;
D: Hang thông khí; E: Hoàng cung
Trang 6Khoang chính có đường kính từ 20-60cm, phổ biến nhất là 40 cm Chiều sâu của khoang chính tính từ mặt đất đến đỉnh của khoang chính thường sâu 50cm
Khoang phụ thường tập trung gần khoang chính và giảm dần khi xa khoang chính Khoang phụ được tập trung nhiều ở phía phần mặt cắt phía trên khoang chính (chiếm 74%) và số lượng khoang phụ còn lại nằm ở dưới khoang chính chỉ chiếm 26% Số lượng khoang phụ có thể tới hàng trăm Khoang phụ
có đường kính trung bình từ 7 - 18cm, cá biệt có những khoang phụ có đường kính tới 28cm, thường phổ biến từ 10 - 14cm
Tổ của loài này có hệ thống hang giao thông rất phức tạp Hang giao thông nối từ khoang phụ lên mặt đất kiếm ăn, hoang giao thông nối giưa khoang phụ với nhau hoặc nối giữa khoang phụ và khoang chính Hang giao thông đi từ khoang chính xuống sâu để lấy nước Ngoài ra còn có dạng hang giao thông
đặc biệt gọi là hang thông khí Số lượng hang giao thông phụ thuộc vào số lượng khoang trong tổ Mật độ hang giao thông đạt tới 5,5 hang/m2 Hang giao thông từ khoang chính đi lên có tiết diện lớn nhất, đường kính có thể đạt tới 15cm
3.1.2 Đặc điểm sinh sản và phát triển tổ
Theo kết quả nghiên cứu của Ngô Trường Sơn (2003)[5], trước khi bay giao hoan phân đàn mối thường đắp từ 3 - 66 nắp phòng đợi bay lộ trên mặt
đất, nắp phòng đợi bay thường có dạng hình tháp hoặc hình trụ ( Hình 2, 3)
Đường kính chân nắp phòng đợi bay tới 12 cm, cao nhất tới 9 cm, nhưng cũng có những nắp phòng đợi bay rất nhỏ, khó phát hiện Mối đắp phòng đợi bay vào nhiều đợt; trong một khu vực tổ có cả những nắp phòng đợi bay cũ và mới Thậm chí một nắp phòng đợi bay có phần dưới xây dựng trước thì khô và phần đỉnh mới xây còn ẩm Nắp phòng đợi bay của mối có trên mặt đất từ tháng 2 đến giữa tháng 4, đôi khi đến tháng 5 Thời điểm này là thời điểm dễ pháp hiện tổ mối nhất trong năm
Trang 7Mối cánh bay phân đàn vào bất kỳ thời gian nào trong ngày Chúng bay lúc trời chuẩn bị mưa hoặc đang mưa Mối cánh sau khi ghép đôi chui xuống làm
tổ dưới đất Mối cánh thường chọn nơi đất xốp để làm tổ Tổ của loài này hay nằm ở rìa mặt đê, mái đê, hãn hữu mới ở chân đê Chúng cũng hay làm tổ ở nền nhà gây sụt lún nền Sau 1 tuần cặp đôi trong tổ thường có từ 8 - 24 trứng, phổ biến có 14 - 16 trứng
3.1.3 Tập tính kiếm ăn và khai thác vườn nấm
Loài này tiêu hoá thức ăn chứa cellulose bằng cách nuôi cấy nấm
Termitomyces để phân huỷ cellulose thành đường và các sản phẩm khác rồi
mới ăn Vườn cấy nấm của loài này có dạng khối xốp Chúng luôn xây mới ở trên và khai thác ở dưới đáy
3.1.4 Phân bố
Theo Nguyễn Đức Khảm (1976) [2], loài mối này phân bố toàn miền Bắc Việt Nam Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấy loài này phân bố ở các tỉnh Tây Nguyên Trên đập, tổ của loài này thường tập trung ở mép trên của mái
đập thượng lưu và hạ lưu
3.2 Odontotermes angustignathus Tsai et Chen,1963
3.2.1 Đặc điểm cấu tạo tổ
Hình 2 Nắp phòng đợi bay tổ mối
Hình 3 Nắp phòng đợi bay tổ mối
Trang 8* Hình thái ngoài:
Tổ nằm chìm hoàn toàn dưới đất, dấu hiệu phát hiện tổ thường bằng lỗ vũ hóa Đất nơi làm tổ thường có pH trong khoảng 3,5-7,0
* Cấu trúc bên trong tổ
Khoang chính có đường kính nhỏ hơn loài Odontotermes hainanensis,
dao động của đường kính tổ từ 35 - 45 cm, chiều sâu từ 50 - 70 cm Trong khoang chính có các vườn nấm xếp chồng lên nhau, cấu trúc như khoang chính
ở tổ mối Odontotermes hainanensis Mối vua, mối chúa không nằm trong
khoang chính mà nằm trong một khe hẹp hình "con trai" cách khoang chính 0,8m Vị trí hoàng cung có thể nằm ngang hoặc nằm phía trên của khoang chính
Tổ mối có nhiều khoang phụ, các khoang phụ có đường kính gần tương
đương nhau Dao động từ 14 - 22cm Số lượng khoang phụ của tổ ít dao động
Có nhiều khoang phụ không chứa nấm hoặc chứa rất ít vườn nấm Nhiều tác giả cho rằng trong tổ mối bắt gặp một số khoang rỗng, đây là những khoang di cư của mối khi gặp những điều kiện không thuận lợi như lũ lụt, ngập nước, nhưng
tổ mà chúng tôi nghiên cứu ở vị trí rất thuận lợi, không bao giờ bị ngập nước Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Khảm (1976)[2], tác giả cho rằng khi gặp điều kiện bất lợi (nước dò vào khoang tổ), mối có thể di cư
3.2.2 Đặc điểm sinh sản và phát triển tổ
Nắp phòng đợi bay của Odontotermes angustignathus được phát hiện
vào, số lượng nắp phòng đợi bay từ 13 - 17 cái
Mối cánh của loài này thường bay giao hoan phân đàn vào những ngày
có những trận mưa mùa hạ, cuối tháng 2, đầu tháng 3 Số lượng nắp phòng đợi bay thường từ 13 - 17 nắp phòng đợi bay Thời gian bay phân đàn có thể diễn
ra ở bất kể thời gian nào trong ngày Mối chúa trưởng thành mỗi vụ sinh hàng vạn trứng (mối cánh cái vụ đầu tiên chỉ sinh vài chục trứng) (Nguyễn Đức Khảm, 1976) [2]
Trang 93.2.3 Tập tính kiếm ăn và khai thác vườn nấm
Thức ăn của loài này cũng tương tư như loài Odontotermes hainanensis 3.2.4 Phân bố
Phân bố tương tự loài Odontotermes hainanensis
3.3 Odontotermes ceylonicus Wasmann
Loài mối này làm tổ chìm dưới mặt đất và có cấu trúc tổ, tập tính kiếm
ăn tương tự loàiOdontotermes hainanensis
3.4 Hypotermes obscuricep (Wasmann, 1902)
3.4.1 Đặc điểm cấu tạo tổ
* Hình thái ngoài:
Tổ thường nằm ngầm trong đất, cũng có trường hợp tổ nổi, phần nhô lên trên thường thấp và có hình nón
* Cấu trúc bên trong tổ
Tổ gồm có nhiều khoang Đặc điểm cấu trúc bên trong tưong đối giống
với cấu trúc của loài Odontotermes hainanensis Tuy nhiên, có điểm khác với loài Odontotermes hainanensis là hoàng cung nằm giữa khoang chính
3.4.2 Đặc điểm sinh sản và phát triển tổ
Đặc điểm sinh sản chưa được nghiên cứu rõ
3.4.3 Tập tính kiếm ăn và khai thác vườn nấm
Thức ăn là lá cây, cành cây và vỏ cây đã khô, đôi khi cũng thấy gặp vỏ
cây sống Đặc điểm khai thác vườn nấm cũng giống với loài Odototermes
hainanensis
3.4.4 Phân bố
Trang 10Mật độ phân bố trên đập thường không nhiều Phân bố tập trung ở mép trên mái đập giáp hai đầu vai đập
3.5 Hypotermes makhamensis Ahmad, 1965
3.5.1 Đặc điểm cấu tạo tổ
Tổ làm chìm dưới đất, cũng có trường hợp là tổ nổi ở trên mặt đất Tổ thường gồm một khoang chính và nhiều khoang phụ
ở khoang trung tâm tổ có vườn cấy nấm lớn màu xám tro và có hình bầu dục, vườn nấm cấu tạo 4 lớp xếp chồng lên nhau Gần đáy khoang, trong lớp cuối cùng thường có hoàng cung, vách của hoàng cung thường rất mỏng
3.5.2 Đặc điểm sinh sản và phát triển tổ
Mỗi tổ thường có 1 mối chúa Mối chúa dài khoảng 3,5cm, mỗi vụ sinh sản có thể sinh ra tới hàng chục vạn trứng
3.5.3 Tập tính kiếm ăn và khai thác vườn nấm
Thức ăn là lá cây, cành cây và vỏ cây đã khô, đôi khi cũng thấy gặp vỏ cây sống Khi bị tấn công, mối lính thường tiết ra từ miệng một thứ dịch màu nâu với mùi hôi có tác dụng bảo vệ
3.5.4 Phân bố
Chúng thường làm tổ ở vùng đồi trồng bạch đàn hoặc thung lũng Phân
bố tập trung ở mép trên mái đập giáp hai đầu vai đập
3.6 Macrotermes annandalei (Silvestri, 1914)
3.6.1 Đặc điểm cấu tạo tổ
* Hình thái ngoài:
Macrotermes annandalei làm tổ nổi, thoạt nhìn bên ngoài tổ giống như
một ụ đất nhỏ kiểu hình mồ mả Nóc tổ thường có những vạt đất mới đắp, xuất hiện nhiều vào thời diể trước hoặc sau cơn mưa
Trang 11* Cấu trúc bên trong tổ
Tổ có nhiều khoang, bao gồm một khoang chính và nhiều khoang phụ Các khoang phụ có thể có vườn nấm hoặc là khoang trống Số lượng khoang phụ có đến 19 khoang, kích thước khoang có chiều rộng dao động từ 13-20cm, chiều cao từ 5 - 8cm Các khoang này thường nằm xung quanh khoang trung tâm
Khoang trung tâm có dạng vòm, cấu trúc khác biệt hẳn so với thành tổ,
là nơi tập trung các cá thể trong quần thể mối Khoang trung tâm không thông trực tiếp với với thành tổ mà được ngăn cách bởi một khoảng trống hẹp với độ rộng khoảng 0,5 - 1cm Khoang trung tâm có cấu trúc nửa nổi, nửa chìm Chiều rộng khoang dao động khoảng từ 19 đến 60cm, chiều cao từ 3,3 đến 120cm bên trong có chứa các cấu trúc bản mỏng, nhẵn, hơi cong, có độ dày 0,2 -1cm và xếp chồng lên nhau, tạo thành các khoang nhỏ thông với nhau Khoang trung tâm có thể chia thành 3 vùng: vùng xung quanh hoàng cung thường gồm các khoang có kích thước nhỏ nhất (kích thước trung bình chiều rộng là 8,0 ± 2,3cm, chiều cao là 2,4 ± 0,4cm) và chúng là các khoang không chứa vườn cấy nấm mà chứa mối non và trứng; vùng phía trên hoàng cung gồm các khoang có kích thước lớn nhất (trung bình chiều rộng là 12,0 ± 2,6cm); vùng phía dưới hoàng cung gồm các khoang có kích thước trung bình chiều rộng là 8,9 ± 1,4cm, chiều cao là 3,5 ± 0,7cm Các khoang ở hai vùng này là các khong chứa vườn cấy nấm [4]
Vườn cấy nấm có cấu trúc đặc biệt giống như tổ ong nhưng luôn biến
đổi theo quy luật nhất định Vườn cấy nấm chỉ tiếp xúc với đáy khoang ở một
số điểm nhất định, phần dưới là phần già luôn được mối gặm mòn dần và xây
đắp mới lên phân trên
Hoàng cung của loài này là khối đất mịn, rắn chắc, giống như hai đĩa úp vào nhau, đường kính có thể tới 30cm Trong một tổ có thể có tới 3 hoàng cung Thông thường trong một hành cung có 1 cặp mối vua chúa nhưng cũng