Gặp những năm kiệt dòng chảy tự nhiên tại Sơn Tây có tần suất nằm trong khoảng từ 75% đến 85%, trong hai tháng I+II các hồ chứa thượng nguồn cần duy trì lưu lượng xả ở mức trên 800 m3/s
Trang 1Bộ Khoa học và công nghệ Bộ NN và PT nông thôn
Trường đại học thủy lợi
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP NHÀ NƯỚC
NGHIấN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC
VÀ THỰC TIỄN ĐIỀU HÀNH CẤP NƯỚC MÙA CẠN CHO ĐỒNG BẰNG SễNG HỒNG
Báo cáo đề tài nhánh
đề xuất quy trình vận hành phát điện, cấp nước hạ du trong mùa kiệt của hệ thống hồ chứa và hệ thống công
trình phân phối nước đồng bằng sông hồng
Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Lê Kim Truyền
Chủ nhiệm chuyên đề: GS.TS Hà Văn Khối
6757-11
12/3/2008
Hà Nội, tháng 1 năm 2008
Trang 2Danh sách những người tham gia thực hiện chính đề tài nhánh
đề tài nhỏnh
Trang 3Danh sách những người tham gia thực hiện chính đề tài nhánh
đề tài nhỏnh
Trang 4Lời nói đầu
Đề tài nhánh “Phân tích và xử lý số liệu thủy văn” là đề tài số 1 trong tổng số 11 đề tài nhánh của đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp nhà nước
“Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn điều hành cấp nước cho mùa cạn
đồng bằng sông Hồng” Đề tài nhánh thực hiện các nội dung chính sau:
• Thu thập, phân tích, xử lý các số liệu khí tượng thủy văn
• Các tài liệu về quy hoạch và dân sinh, kinh tế
• Các tài liệu địa hình
• Các tài liệu thủy văn quan trắc tại các tuyến công trình
Các nội dung trên được phân tích, trình bày cụ thể trong nội dung của bốn chuyên đề thành phần thể hiện trong báo cáo này
Đề mục nghiên cứu không thể triển khai thành công và đạt được kết quả nếu thiếu sự động viên và chỉ đạo của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Thủy lợi, Ban chủ nhiệm đề tài, Phòng Quản lý khoa học, khoa Thủy văn – Tài nguyên nước Thay mặt cho nhóm nghiên cứu, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
Nhóm thực hiện chuyên đề xin bày tỏ lòng biết ơn đến Trung tâm tư liệu, Cục mạng lưới, Trung tâm Khí tượng thủy văn Quốc gia, Đài Khí tượng thủy văn Đông Bắc và rất nhiều cơ quan liên quan đã giúp chúng tôi thực hiện tốt việc thu thập, phân tích và xử lý số liệu
Do thời gian và trình độ có hạn, những kết quả nghiên cứu đạt được chắc còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thực tế Tập thể tác giả mong tìm được sự cảm thông và nhất là sự góp ý cho những công tác nghiên cứu tiếp của đông đảo các chuyên gia trong và ngoài ngành, các bạn
đồng nghiệp cùng các độc giả đọc báo cáo này
Xin chân thành cám ơn
Hà nội ngày 30 tháng 10 năm 2007
Trang 5CHƯƠNG I
CƠ SỞ ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH VẬN HÀNH HỆ THỐNG
1.1 Các văn bản pháp quy có liên quan
1 Luật Tài nguyên nước (số 08/1998/QH10) và Nghị định hướng dẫn số 197/1999/NĐ-CP ngày 30 /12/1999;
2 Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình Thủy lợi số 32/2001/PL-UBTVQH 10;
3 Pháp lệnh phòng chống lụt bão (năm 1993) và Nghị định hướng dẫn 32 – CP (ngày 20/5/1996); Pháp lênh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh phòng, chống lụt, bão (số 27/2000/PL-UBTVQH10)
4 Nghị định 72-/2007/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý an toàn đập.
5 Các tiêu chuẩn hiện hành:
a Công trình Thuỷ lợi kho nước – Yêu cầu kỹ thuật trong quản lý khai thác (14 – TCN-55-88);
b Tiêu chuẩn ngành 14TCN 121 – 2002: Hồ chứa nước – Công trình thuỷ lợi - Quy định về lập và Ban hành Quy trình vận hành điều tiết
c Các tiêu chuẩn quy phạm khác có liên quan tới công trình thủy công của hồ chứa nước
6 Nhiệm vụ thiết kế và tiêu chuẩn thiết kế của các hồ chứa Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang và Sơn La
7 Nhiệm vụ và tiêu chuẩn thiết kế của các công trình lấy nước hạ du sông Hồng
8 Quy trình vận hành liên hồ chứa thủy điện Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà trong mùa lũ hàng năm ban hành theo Quyết định số 80/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 01 tháng 6 năm 2007
9 Quy trình vận hành của các hệ thống thủy nông đồng bằng sông Hồng
10 Quy trình vận hành các hồ chứa thượng nguồn
11 Các tiêu chuẩn ngành có liên quan đến nhiệm vụ cấp nước hạ du
12 Một số văn bản khác có liên quan khác
1.2 Các kết quả nghiên cứu của đề tài
1 Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng hệ thống, hiện trạng vận hành các hồ chứa Hòa Bình, Thác Bà trong thời kỳ mùa cạn Hiện trạng về cấp nước hạ du trong những năm hạn
2 Phân tích ảnh hưởng điều tiết các hồ chứa thượng nguồn đến yêu cầu cấp nước đồng bằng Sông Hồng
3 Kết quả tính toán và đánh giá về khả năng cấp nước gia tăng các hồ chứa thượng nguồn
4 Kết quả tính toán thủy lực theo các kịch bản vận hành hệ thống và phân tích hiệu quả gia tăng cấp nước của các phương án vận hành các hồ chứa thượng nguồn
Trang 65 Phân tích về ảnh hưởng của các phương án gia tăng cấp nước đến thiệt hại điện năng cho ngành điện
1.3 Một số nhận xét và kết luận của đề tài có liên quan đến việc đề xuất quy trình vận hành
1.3.1 Về hiện trạng điều hành và cấp nước hiện nay
Trên cơ sở phân tích hiện trạng điều hành các hồ chứa thượng nguồn và hiện trạng diễn biến mực nước hạ du vùng đồng bằng trong những năm hạn chúng tôi có những nhận xét như sau:
1 Đối với các năm hạn vào thời kỳ cấp nước khẩn trương (thời kỳ đổ ải) hồ Hoà bình đã xả lưu lượng lớn hơn lưu lượng bảo đảm và phần nào làm giảm tình hình căng thẳng về mặt cấp nước cho hạ du Tuy nhiên, lưu lượng xả tăng so với lưu lượng đảm bảo phát điện chỉ vào khoảng từ 100 đến 150 m3/s Với lượng xả như vậy chưa đủ cải thiện tốt tình hình hạn hán ở hạ du
2 Trong hai năm 2004 và 2005 hồ Hoà Bình đã xả lưu lượng tương đối lớn, thời
kỳ đổ ải lưu lượng xả đạt đến khoảng 1000 m3/s (bình quân ngày), tuy nhiên thời gian duy trì lưu lượng này không liên tục nên vẫn chưa giảm đựoc căng thẳng về cấp nước cho hạ du
3 Hồ Thác Bà hàng năm trong hai tháng I và II đã xả được lưu lượng theo quy định 140m3/s (bình quân ngày), tuy nhiên vai trò của hồ Thác Bà đối với hạ du không lớn nên không tạo được sự thay đổi cần thiết về mực nước đối với hạ du Mặt khác, hồ Thác Bà là hồ điều tiết nhiều năm, nhưng năm nào cũng phải sử dụng phần dung tích nhiều năm và mực nước ở cuối vụ đều đạt mực nước chết và nhỏ hơn mực nước chết
do vận hành chưa đúng quy trình
4 Trong hai tháng I+II, khi tăng lưu lượng xả của hồ Hoà Bình từ mức khoảng
600 m3/s lên mức 1000 đến 1100 m3/s (với biên độ khoảng 400 m3/s đến 500 m3/s), chỉ ảnh rõ rệt đến sự thay đổi mực nước vùng sông không hoặc ít bị ảnh hưởng thuỷ triều Cụ thể là, vực sông Đuống, khu vực thượng nguồn sông Hồng từ cống Xuân Quan trở lên Khu vực sông Thái Bình và hạ lưu sông Hồng (từ Xuân Quan về cửa sông) hầu như không có phản ứng đáng kể khi thay đổi lưu lượng xả ở mức biên độ này Sự thay đổi từ thời kỳ sang thời kỳ triều kém hầu như ít tác động đến sự thay đổi mực nước ở khu vực này
5 Phân tích nhu cầu cấp nước vùng hạ du cho thấy, thời gia tháng 1 và tháng 2 (chính xác là từ 15 tháng 1 đến 20 tháng 2) là thời kỳ cấp nước khẩn trương và có sự tranh cấp gay gắt giữa yêu cầu phát điện và cấp nước hạ du Bởi vậy, quy trình sẽ quy định chi tiết về vận hành cấp nước cho thời gian này
6 Gặp những năm kiệt (dòng chảy tự nhiên tại Sơn Tây có tần suất nằm trong khoảng từ 75% đến 85%), trong hai tháng I+II các hồ chứa thượng nguồn cần duy trì lưu lượng xả ở mức trên 800 m3/s và tăng lên bằng 1000 m3/s đến 1100 m3/s trong thời gian lấy nước khẩn trương mới có thể đảm bảo đầu nước thiết kế cho các công
trình lấy nước ở hạ du Như vậy, trong thời kỳ cấp nước khẩn trương (thời kỳ đổ ải
từ ngày 10/I đến 20/II hàng năm) lưu lượng xả phải đạt ít nhất 1100 m3/s (lưu lượng bình quân ngày), nhưng bắt đầu từ đầu tháng I (từ ngày 1/I hàng năm) đã phải tăng lưu lượng xả và duy trì ở mức 800 m3/s để tạo nền mực nước trước khi tăng lên mức xả cao hơn Trong thời kỳ cấp nước khẩn trương, vào những ngày triều
Trang 7kém có thể giảm lưu lượng xả xuống hạ du nhưng không được nhỏ hơn ngưỡng 800 m3/s
7 Phân tích số liệu thực đo cho thấy, vùng sông từ ngã ba Trung Hà trở xuống không thấy có sự phản ứng rõ rệt về chế độ thay đổi mực nước theo chế độ điều tiết ngày đêm khi ban đêm (từ 23h đến 6h sáng hôm sau) hồ Hoà Bình phát 1 tổ máy và ban ngày phát từ 4 đến 5 tổ máy
8 Việc xây dựng phương án tưới luân phiên cho các công trình lấy nước trên trục chính sông Hồng là không thực tế vì các công trình đầu mối lớn như Xuân Quan, Liêm Mạc cần lấy nước tạo nguồn suốt thời kỳ đổ ải để thực hiện chế độ tưới luân phiên cho các công trình nội đồng mà nó phụ trách
1.3.2 Những kết luận về khả năng gia tăng cấp nước của các hồ chứa thượng nguồn khi gặp những năm hạn
1 Về chế độ điều tiết của các hồ chứa
Trên cơ sở phân tích các kết quả tính toán điều tiết trong các mục trên chúng tôi
có nhận xét như sau:
1 Các hồ chứa Hoà Bình, Sơn La là hồ chứa điều tiết năm bởi vậy hầu như tất cả các năm trong 3 tháng mùa lũ ( tháng 7 , tháng 8 , tháng 9) hồ chứa đều phải xả thừa vì
hồ chứa chỉ được tích đến mực nước trước lũ Trong các tháng còn lại muốn an toàn về mặt tích nước thì từ tháng 9 đến tháng 12 hồ chỉ được điều tiết theo công suất đảm bảo Với những năm có nước đến cuối mùa lũ không lớn (tháng 8 hàng năm) đển an toàn tích nước có thể phải tích nước sớm theo quy trình điều hành mùa lũ
2 Đối với các hồ chứa điều tiết nhiều năm (Thác Bà và Tuyên Quang) sẽ có một
số năm không tích nước đến mực nước dâng bình thường nên sẽ hạn chế đến khả năng gia tăng cấp nước cho hạ du vào những năm kiệt Với những năm như vậy hồ chứa thường phải sử dụng phần dung tích nằm dưới mực nước xả hàng năm để điều tiết theo công suất đảm bảo Vì vậy, đối với những năm này các hồ chứa chỉ có thể cấp nước cho hạ du theo lưu lượng đảm bảo
3 Các tổ hợp điển hình về dòng chảy mùa kiệt trên hệ thống sông mà chúng tôi chọn để nghiên cứu là những tổ hợp có xét đến sự hỗ trợ điều tiết nước của các hồ chứa thượng nguồn Do đó những kết quả tính toán theo các kịch bản phối hợp giữa các hồ chứa là cơ sở cho việc đề xuất các phương án vận hành hồ chứa
2 Về khả năng gia tăng cấp nước của hồ Hòa Bình (khi chưa có Sơn La)
Từ kết quả tính toán điều tiết có nhận xét như sau:
1 Theo kết quả tính toán điều tiết toàn liệt và kiểm tra vận hành thử theo biểu đồ điều phối, nếu không gia tăng cấp nước cho hạ du, hồ chứa có thể điều tiết được theo công suất đảm bảo tần suất P =90% Nhưng khi gia tăng cấp nước cho hạ du, tần suất đảm bảo cấp nước theo công suất đảm bảo giảm rất nhanh: P = 73% khi lưu lượng điều tiết trong tháng 2 là q =950 m3/s; P = 69% khi lưu lượng điều tiết trong tháng 2 là
q = 1000 m3/s; P = 60% khi lưu lượng điều tiết trong tháng 2 q = 1100 m3/s Vì vậy, cần xem xét sự hỗ trợ của hồ Tuyên Quang và Thác Bà khi phải điều tiết cấp nước gia tăng cho hạ du
2 Với 6 năm tính toán điển hình, hồ Hoà Bình đều tích đầy đến mực nước dâng bình thường (117 m), mặc dù về mùa lũ năm nào cũng phải xả thừa
Trang 82 Khi gia tăng cấp nước theo các mức khác nhau, theo kết quả tính toán điều tiết cho thấy, với mức gia tăng 950 m3/s đến 1100 m3/s, hồ Hòa Bình có thể phát được công suất lớn hơn hoặc bằng công suất đảm bảo trong suốt thời gian mùa kiệt, nhưng nếu gia tăng đến cấp lưu lượng 1200 m3/s thì hầu hết các năm không thể phát được công suất đảm bảo ở các tháng cuối mùa kiệt Như vậy, với dòng chảy mùa kiệt đến hồ ứng với tần suất từ 65% đến 85%, hồ Hoà Bình có thể cấp nước cho hạ du với lưu lượng q =1100 m3/s (vào thời kỳ cấp nước khẩn trương) và vẫn có thể phát được công suất đảm bảo ở những tháng tiếp theo
3 Theo kết quả tính toán điều tiết các năm điển hình với lưu lượng điều tiết từ 950
m3/s đến 1100 m3/s, mực nước nhỏ nhất đầu tháng I hàng năm của hồ Hòa Bình là 114,9 m (mùa kiệt năm 2002-2004 do có dòng tháng XI và XII nhỏ) Như vậy, để có thể đảm bảo cấp nước hạ du thì vào đầu tháng I hàng năm mực nước tối thiểu phải ở mức trên cao trình 115,0 m
4 Khi tăng lưu lượng yêu cầu trong hai tháng 1+2 tổn thất điện năng tăng lên Khi gia tăng cấp nước với mức lưu lượng 1100 m3/s (giới hạn có thể của hồ chứa) thì tổn thất lớn nhất về năng lượng là 82 triệu kw-h, trung bình các năm vào khoảng 50 triệu kw-h Với mức thiệt hại như vậy có thể chấp nhận được
3 Về khả năng gia tăng cấp nước của hồ Tuyên Quang
Từ kết quả tính toán điều tiết có thể rút ra kết luận sau:
1 Vào các tháng 1 và 2 để phát được công suất đảm bảo hồ phải xả qua nhà máy một lưu lượng vào khoảng từ 135 m3/s đến 150 m3/s, lớn hơn so với dòng chảy tự nhiên khoảng từ 60m3/s đến 80 m3/s
2 Theo kết quả tính toán điều tiết toàn liệt và kiểm tra vận hành thử theo biểu đồ điều phối, nếu không gia tăng cấp nước cho hạ du, hồ chứa có thể điều tiết được theo công suất đảm bảo tần suất P =90% Nhưng khi gia tăng cấp nước cho hạ du, tần suất đảm bảo cấp nước theo công suất đảm bảo sẽ giảm, nhưng tốc độ giảm thấp hơn nhiều
so với hồ Hòa Bình: P = 84% khi lưu lượng điều tiết trong tháng 2 là q = 200 m3/s; P = 73% khi lưu lượng điều tiết trong tháng 2 là q = 250 m3/s Vì vậy, khi cần gia tăng cấp nước hạ du thì hồ Tuyên Quang nên sẽ dược huy động điều tiết cấp nước trước hồ Hòa Bình
.3 Với những năm ở cuối mùa lũ mực nước hồ chỉ đạt cao trình dưới 115 m hồ Tuyên Quang không thể gia tăng cấp nước cho hạ du theo yêu cầu Trong trường hợp như vậy hồ Hoà Bình vẫn phải đảm nhiệm vai trò gia tăng cấp nước hạ du tương tự như trường hợp chưa có hồ Tuyên Quang
4 Nếu hồ Tuyên Quang đạt mực nước 115 m ở đầu mùa kiệt thì có thể gia tăng cấp nước với mức 200 m3/s trong hai tháng 1 và 2, nếu hồ được tích đầy có thể xem xét tăng mức xả xuống hạ du lên 250 m3/s
5 Tổn thất điện năng hàng năm vào khoảng từ 2 triệu kw-h đến 3 triệu kw-h Mức thiệt hại như vậy là không đáng kể Do vậy, trong trường hợp hạ lưu dòng chảy kiệt nhỏ có thể gia tăng cấp nước cho hạ du
4 Về khả năng gia tăng cấp nước của hồ Thác Bà
Từ kết quả tính toán điều tiết có thể rút ra kết luận sau:
Trang 91 Tương tự như hồ Tuyên Quang, vào các tháng 1 và 2 để phát được công suất đảm bảo hồ Thác Bà phải xả qua nhà máy một lưu lượng vào khoảng từ 135 m3/s đến
150 m3/s, lớn hơn so với dòng chảy tự nhiên khoảng từ 65m3/s đến 80 m3/s
2 Theo kết quả tính toán điều tiết toàn liệt và kiểm tra vận hành thử theo biểu đồ điều phối, nếu không gia tăng cấp nước cho hạ du, hồ Thác Bà có thể điều tiết được theo công suất đảm bảo tần suất P =90% Nhưng khi gia tăng cấp nước cho hạ du, tần suất đảm bảo cấp nước theo công suất đảm bảo cũng sẽ giảm và tốc độ giảm thấp hơn
so với hồ Hòa Bình và hồ Tuyên Quang: P = 87% khi lưu lượng điều tiết trong tháng 2
là q = 180 m3/s; P = 71% khi lưu lượng điều tiết trong tháng 2 là q = 200 m3/s Vì vậy, khi cần gia tăng cấp nước hạ du thì hồ Thác Bà nên được huy động trước, tiếp theo là
hồ Tuyên Quang và sau cùng là hồ Hòa Bình
.3 Với những năm ở cuối mùa lũ mực nước hồ chỉ đạt cao trình dưới 115 m hồ Tuyên Quang không thể gia tăng cấp nước cho hạ du theo yêu cầu Trong trường hợp như vậy hồ Hoà Bình vẫn phải đảm nhiệm vai trò gia tăng cấp nước hạ du tương tự như trường hợp chưa có hồ Tuyên Quang
4 Hồ Thác Bà có thể gia tăng cấp nước với mức 180 m3/s Nếu cao trình mực nước hồ cao hơn 57,0 m thì có thể gia tăng với mức lưu lượng 200 m3/s
4 Về khả năng gia tăng cấp nước của hệ thống hồ chứa Hòa Bình - Sơn La
1 Khi có hồ Sơn La thì mực nước nền ở hạ du những tháng mùa kiệt tăng lên vì lưu lượng qua nhà máy lớn hơn khi chỉ mới có hồ Hoà Bình (công suất đảm bảo là 671
Mw thay vì trước khi có Sơn La là 548 Mw) Theo tính toán của chúng tôi vào hai tháng 1 và 2, nếu hệ thống hồ trên sông Đà điều tiết theo công suất đảm bảo thì lưu lượng qua nhà máy xả xuống hạ du trong những tháng này thay đổi trong khoảng từ
800 m3/s đến 1050 m3/s, tương đương với mức xả hiện nay trong hai tháng này
2 Khi có hồ Sơn La, với những năm có tần suất thấp hơn 85% có thể gia tăng cấp nước cho hạ du trong hai tháng I+II lên 1300 m3/s Tuy nhiên, điện năng sẽ tổn thất nhiều hơn
3 Sau khi hồ chứa Thủy điện Sơn La đưa vò sử dụng thì có thể gia tăng cấp nước cho hạ du mà vẫn đảm bảo điều tiết theo công suất đảm bảo ở cuối các tháng mùa kiệt Mức gia tăng cấp nước trong tháng I và II như sau: tháng I xả xuống hạ du lưu lượng bằng 1100 m3/s; tháng hai tăng lên 1300 m3/s
1.3.3 Những kết luận về khả năng gia tăng cấp nước của các hồ chứa thượng nguồn khi gặp những năm hạn
Trên cơ sở những tính toán và phân tích trên đây có thể đưa ra một số kiến nghị
về chế độ vận hành hệ thống như sau :
1 Với những năm kiệt ứng với tần suất trên 75% tại Sơn Tây, nếu hồ Hoà Bình chỉ xả với mức lưu lượng nhỏ hơn hoặc bằng 800 m3/s đến mức 850 m3/s như hiện nay (vào tháng 1 và 2) thì không thể làm giảm căng thẳng cho hạ du Trong những tháng này cần phải xả với mức từ 1000m3/s đến 1100 m3/s mới đảm bảo đầu nước cho các công trình lấy nước hạ du và phải xả nước vào thời
kỳ triều cường
2 Sau khi hồ Tuyên Quang đưa vào sử dụng, nếu hồ Hoà Bình và hồ Tuyên Quang đều vận hành theo công suất đảm bảo thì cũng chưa thể làm giảm căng thẳng cho hạ du trong những năm hạn Khi đó, hồ Hoà Bình vẫn phải xả với
Trang 10mức 950 m3/s mới có thể đảm bảo đầu nước trong giai đoạn tháng 1 và tháng 2 Khi hồ Hoà bình điều tiết với lưu luợng 950 m3/s; thuỷ điện Tuyên quang tăng lưu lượng lên 250 m3/s, Thác Bà điều tiết theo công suất đảm bảo có thể đảm bảo mực nước tại các cửa lấy nước đạt mức thiết kế, đảm bảo cấp nước cho hạ du
3 Sau khi có hồ Sơn La, nếu tất cả các hồ đều điều tiết theo công suất đảm bảo thì đã có thể đáp ứng được yêu cầu cấp nước hạ du Gặp những năm rất kiệt, hồ Hòa Bình có thể xả tối đa xuống hạ du lưu lượng 1300 m3/s, hồ Tuyên Quang xả 240 m3/s vẫn có thể đảm bảo cấp nước hạ du
4 Không cần thiết và không thực hiện được chế độ vận hành tưới luân của các công trình chính trên hệ thống
1.4 Đề xuất Quy trình phối hợp điều tiết cấp nước mùa kiệt thời kỳ 2006-2010
Đây là thời kỳ mới chỉ có 3 hồ chứa Hoà Bình, Tuyên Quang và Thác Bà tham gia điều tiết cấp nước và phát điện Trên cơ sở tính toán thuỷ lực và điều tiết dòng chảy và những nhận xét ở mục trên chúng tôi kiến nghi chế độ điều tiết các hồ chứa như trình bày dưới đây
1.4.1 Đề xuất về phân chia các thời kỳ điều tiết
(1) Thời kỳ mùa lũ: các tháng mùa lũ, gồm 3 tháng 6, 7,9
(2) Thời kỳ tích nước đầu mùa kiệt: là thời kỳ từ đầu tháng 9 đến hết tháng 12 hàng năm
(3) Thời kỳ gia tăng cấp nước: là thời kỳ đổ ải từ 10 tháng 1 đến 20 tháng 2 hàng năm
(4) Thời kỳ cuối mùa kiệt: thời thời gian còn lại từ cuối tháng 2 đến 31 tháng 5 hàng năm
1.4.2 Đề xuất về chế độ điều tiết các hồ chứa
1 Thời kỳ mùa lũ: các hồ chứa được vận hành theo Quy trình vận hành hồ chứa
phòng lũ hạ du Từ 15 tháng 8 hàng năm cần sử dụng tài liệu dự báo dài hạn để tích nước an toàn đảm bảo tích đầy hồ ở đầu thời kỳ mùa kiệt
2 Thời kỳ đầu mùa kiệt: Để đảm bảo an toàn cấp nước và phát điện cuối mùa
kiệt, các hồ chứa chỉ được điều tiêt theo công suất đảm bảo Các trường hợp sau đây được giatăng cấp nước:
- Đối với hồ Hoà Bình: nếu mực nước hồ cao hơn tung độ của đường phòng phá hoại và phải cao hơn mực nước 115m (mực nước dâng bình thường theo thiết kế) và phải đảm bảo mực nước hồ đạt cao trình trên 115,0 m vào ngày 31 tháng 12 hàng năm
- Đối với hồ Tuyên Quang: được gia tăng công suất khi mực nước hồ đạt mực nước dâng bình thường
- Gặp những năm kiệt nếu mực nước hạ du tại Hà Nội thấp hơn 2,15 m cũng không cần gia tăng cấp nước để tiết kiệm nước cho thời kỳ cấp nước khẩn trương
- Tại thời điểm 31 tháng 12 hàng năm, nếu các hồ chứa không tích đầy đến mực nước dâng bình thường cần phải thông báo tình trạng thiếu nước để xem xét khả năng cắt giảm yêu cầu gia tăng cấp nước hạ du