Mục tiêu của đề tài Điều tra, nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống và tương đối đầy đủ về nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu ở VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An.. Ý nghĩa của luận án Cá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VIẾT HÙNG
ĐÁNH GIÁ NGUỒN TÀI NGUYÊN THỰC VẬT CÓ TINH DẦU TẠI VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT, TỈNH NGHỆ AN VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BẢO TỒN
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
CHUYÊN NGÀNH: THỰC VẬT HỌC
MÃ SỐ: 62.42.01.11
NGHỆ AN, 2017
Trang 2Luận án được hoàn thành tại Trường Đại học Vinh
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Trần Huy Thái
2 PGS TS Nguyễn Đình San
Người phản biện 1:
Người phản biện 2:
Người phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Trường, họp tại tầng 4, nhà A1
Trường Đại học Vinh, Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2017
Có thể tìm luận án tại, Thư viện Quốc gia Việt Nam,
Thư viện Nguyễn Thúc Hào
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tinh dầu và các cây chứa tinh dầu là nguồn nguyên liệu rất cần thiết cho nhiều ngành công nghiệp Tinh dầu được sử dụng làm gia vị, trong chế biến thực phẩm (đồ hộp, bánh kẹo, rượu mùi) được trao đổi, buôn bán hàng năm trên thế giới với số lượng lớn và giá trị cao Sau ngành thực phẩm, ngành sử dụng nguồn nguyên liệu lớn nữa về tinh dầu là ngành công nghiệp hương liệu, dược phẩm và mỹ phẩm Đây thực sự là những ngành công nghiệp chế biến đem lại giá trị kinh tế cao Ngoài ra, tinh dầu còn được sử dụng trong công nghiệp sơn, công nghiệp chế biến một số hương liệu như tecpin, menthol, cineol, camphor,
Hệ thực vật Việt Nam hiện dự kiến có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó đã thống kê được 657 loài thực vật có tinh dầu Đây là nguồn tài nguyên thực vật có tiềm năng rất lớn đối với kinh tế và xã hội Những năm gần đây đã có một số công trình lớn điều tra, khảo sát nguồn thực vật có tinh dầu ở các vùng khác nhau như vùng Bắc Trung Bộ và Đông Bắc Việt Nam Hàng trăm loài có tinh dầu, trong đó có nhiều loài cho tinh dầu quý, có giá trị có thể khai thác và phát triển
Vườn Quốc gia (VQG) Pù Mát nằm ở phía Tây Nghệ An Hệ Thực vật ở đây rất đa dạng và phong phú, hiện đã biết gần 2.500 loài thực vật bậc cao có mạch Trong đó, các
họ có chứa tinh dầu như Long não (Lauraceae), Cam (Rutaceae), Cúc (Asteraceae), Na (Annonaceae), Gừng (Zingiberaceae),… khá đa dạng về thành phần loài Tuy vậy, các nghiên cứu về nguồn thực vật có tinh dầu ở Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong đời sống Những nghiên cứu trong thời gian qua của Trần Đình Thắng, Lê Văn Hạc, Nguyễn Xuân Dũng, Đỗ Ngọc Đài, Nguyễn Anh Dũng,… thường chủ yếu tập trung xác định thành phần hóa học của một số loài hoặc một số chi thuộc một số họ thực vật ở một số địa phương nhất định Nhằm cung cấp các dẫn liệu khoa học mang tính định lượng về nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu ở VQG, làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá tiềm năng cũng như đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát triển và khai thác một cách
Trang 4bền vững Vì vậy, tôi chọn đề tài “Đánh giá nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu tại
Vườn Quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An và đề xuất biện pháp bảo tồn”
2 Mục tiêu của đề tài
Điều tra, nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống và tương đối đầy đủ về nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu ở VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An Trên cơ sở đó đề xuất một
số biện pháp bảo tồn, phát triển và khai thác đạt hiệu quả cao, bền vững
3 Ý nghĩa của luận án
Các kết quả nghiên cứu của luận án là những dẫn liệu điều tra, nghiên cứu cơ bản
về tính đa dạng của nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu tại VQG Pù Mát, Nghệ An, đồng thời cung cấp những dẫn liệu mới về thành phần hoá học tinh dầu của một số loài thuộc một số họ trong hệ thực vật VQG Pù Mát
4 Những điểm mới của luận án
- Lần đầu tiên cung cấp các dẫn liệu tương đối đầy đủ và có hệ thống về nguồn tài nguyên thực vật cho tinh dầu ở VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An
- Bổ sung 01 loài mới thuộc chi Gừng (Zingiber) là Gừng lá sáng bóng (Zingiber
nitens M F Newman) cho hệ thực vật Việt Nam
- Cung cấp những dẫn liệu mới về hàm lượng, thành phần hóa học trong tinh dầu
ở các bộ phận lá, thân, rễ, vỏ và quả của 38 mẫu thuộc 25 loài trong 7 họ thực vật tại VQG Pù Mát, Nghệ An
- Lần đầu tiên cung cấp những dẫn liệu về tinh dầu của các loài: Trâm lá cứng (Syzygium sterophyllum), Chân chim ngăn quả (Schefflera myriocarpa), Sa nhân miên (Amomum repoense), Gừng đen (Distichochlamys citrea), Riềng (Alpinia napoensis), Gừng lá sáng bóng (Zingiber nitens), Thần phục (Homalomena pierreana), An phong bắc
bộ (Alphonsea tonkinensis), Chắp dai (Beilschmiedia percoriacea), Bời lời lá nhục đậu khấu (Litsea myristicaefolia), Re trắng chùy (Phoebe paniculata), Bưởi bung ít gân (Maclurodendron oligophlebium), Quýt rừng (Atalantia guillauminii)
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Vài nét chung về tinh dầu
Phần này nêu lên khái niệm về cây tinh dầu, Trạng thái tự nhiên và phân bố, Đặc tính và thành phần hoá học của tinh dầu, Giá trị sử dụng, tầm quan trọng của tinh dầu và nguyên liệu chứa tinh dầu
1.2 Nghiên cứu về thực vật chứa tinh dầu trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới
Cho tới nay chưa có đủ tài liệu để hình dung ra lịch sử của lĩnh vực nghiên cứu cây tinh dầu thế giới Tài liệu sớm nhất hiện có được là cuốn “Những cây làm thuốc” được tìm thấy ở Nhật Bản, viết năm 890 Trong tài liệu này đã thống kê gần 100 loài cây tinh dầu, đồng thời mô tả phương thức chế biến và sử dụng chúng
Tuy nhiên, nghiên cứu cây tinh dầu và tinh dầu đặc biệt thu hút các nhà nghiên cứu
từ đầu thế kỷ XX Những công trình đáng lưu ý hơn cả là tài liệu do Charabot và các học trò của ông công bố vào năm 1903, 1904, 1907 Vào thời gian sau này các công trình nghiên cứu tăng lên rất nhanh và thuộc nhiều lĩnh vực
Theo Brian M Lawrence trong công trình “Progress in essential oils” (1992-1994)
và “Essential oils” (1995-2005) tác giả đã thống kê khoảng 1.000 loài thực vật chứa tinh dầu đã được phân tích thành phần hoá học trên thế giới Theo L.P.A Oyen và Nguyễn Xuân Dũng (1999) trong công trình “Essential oil plants in South-East Asia” thì ở các nước Đông Nam Á với trên 70 loài thực vật có tinh dầu đã được phân tích về thành phần hoá học, trong đó khoảng 30 loài được nghiên cứu khá toàn diện từ đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố, khả năng gây trồng, phát triển, sử dụng, sâu bệnh, sản lượng và buôn bán đến thành phần hoá học
1.2.2 Ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về cây tinh dầu ở Việt Nam thực sự bắt đầu từ sau năm
1956 Trong thời gian này hàng loạt các công trình nghiên cứu về tinh dầu Bạc hà, Sả,
Trang 6Màng tang,… được công bố Theo Lã Đình Mỡi và Lưu Đàm Cư (2001) thì đến nay chúng ta mới khai thác tự nhiên và đưa vào trồng được khoảng hơn 20 loài cây có tinh dầu trong khoảng hơn 600 loài đã biết (chỉ chiếm 3% số loài cây có tinh dầu đã biết) Những loài nói trên thường là những loài được trồng khá phổ biến như Sả, Bạc hà, Hương nhu, Long não, Tràm, Quế, Húng Quế, Hồi, Hoắc hương
1.3 Nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu của một số họ trên thế giới và ở Việt Nam
Phần này tác giả đã tổng hợp các công trình nghiên cứu về tinh dầu các họ Na (Annonaceae), Ráy (Araceae), Nhân sâm (Araliaceae), Long não (Lauraceae), Sim (Myrtaceae), Cam (Rutaceae), Gừng (Zingiberaceae) ở trên thế giới và Việt Nam
1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng nghiên cứu
Phần này nêu lên vị trí địa lý, địa hình, địa mạo, đặc điểm khí hậu, đặc điểm kinh
tế xã hội, đặc điểm hệ thực vật của khu vực nghiên cứu
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Toàn bộ các loài thực vật bậc cao có mạch chứa tinh dầu phân bố ở Vườn Quốc gia Pù Mát, Nghệ An
2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 6 năm 2012 đến tháng 8 năm 2016
Mỗi năm được chia làm 4 đợt thu mẫu, mỗi đợt từ 5-7 ngày
2.3 Nội dung nghiên cứu
+ Lập danh lục thành phần loài thực vật chứa tinh dầu
+ Phân tích tính đa dạng về các taxon, dạng thân, giá trị sử dụng, nguồn gen quý hiếm và phân bố thực vật có tinh dầu theo đai độ cao
Trang 7+ Xác định hàm lượng và xác định thành phần hóa học tinh dầu của một số loài trong một số họ đại diện
+ Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý một số loài thực vật cho tinh dầu
2.4 Dụng cụ và trang thiết bị phục vụ khảo sát thực địa
Các trang thiết bị xác định vị trí : bản đồ địa hình tỷ lê ̣ 1/25.000, máy định vị toàn cầu: GPS Garmin, máy ảnh…
Các vật dụng để thu mẫu: nhãn cây và dây buộc đánh dấu, kéo cắt, nhãn ghi mẫu vật, bút ghi nhãn, dây buộc, ống nhòm, túi đựng mẫu tạm thời, kẹp mẫu, cồn công nghiệp,…
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp nghiên cứu sinh học
2.5.1.1 Phương pháp kế thừa số liệu
Các số liệu về điều kiện tự nhiên - xã hội ở khu vực nghiên cứu, các mẫu thực vật lưu ở bảo tàng trong nước và nước ngoài, các công trình công bố liên quan đến đề tài
2.5.1.2 Phương pháp điều tra thực địa
Dựa theo bản đồ chọn các tuyến điều tra chính để nghiên cứu: bao gồm 4 tuyến là Lục Dạ - Môn Sơn; tuyến Khe Bu; tuyến Khe Kèm; tuyến Tam Đình - Tam Hợp Quá trình, điều tra nghiên cứu thực địa áp dụng theo phương pháp được Nguyễn Nghĩa Thìn giới thiệu trong “Phương pháp nghiên cứu thực vật” (2008)
2.5.1.3 Phương pháp thu mẫu và định loại
Mỗi cây ít nhất thu 2-3 mẫu tiêu bản ở cùng 1 địa điểm Sau khi thu mẫu đánh số hiệu vào mẫu Khi thu mẫu thì ghi chép tỉ mỉ ngay những đặc điểm dễ bị mất khi mẫu khô hoặc ngâm trong dung dịch như: màu sắc, nhựa mủ, đặc điểm của hoa, quả, lá Ngoải ra còn chụp ảnh của cây bằng máy ảnh kĩ thuật số Canon
Sau khi mẫu được xử lý sơ bộ ở ngoài thực địa, tiếp tục xử lý khô tại phòng mẫu thực vật của trường Đại học Vinh
Trang 8Các mẫu vật thu thập trong quá trình thực địa được mang về phân tích và xử lý trong phòng thí nghiệm để phục vụ cho công tác nghiên cứu cũng như lưu trữ
Tổng số mẫu thu được là hơn 1.500 mẫu, số mẫu đã phân tích và xác định tên khoa học là khoảng 1.000 mẫu Mẫu hiện được lưu trữ ở Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; phòng mẫu Thực vật, khoa Sinh học, trường Đại học Vinh
Các tài liệu chính được sử dụng trong quá trình nghiên cứu, định loại là:
- Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1991 - 1993, 1999 - 2000);
- Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín Việt Nam (Nguyễn Tiến Bân, 1997);
- Cây gỗ rừng Việt Nam (Viện Điều tra Quy hoa ̣ch rừng , Bô ̣ Lâm nghiê ̣p 1989);
(1971 Thực vật chí Đại cương Đông Dương (1907);
- Flora of China (1994-2002);
- Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam;
- Thực vật chí Việt Nam (gồm 11 tập) và một số tài liệu chuyên ngành khác
Chỉnh lý tên khoa học và xây dựng danh lục: Thống nhất tên gọi theo Bộ luật về
tên gọi thực vật, sắp xếp tên họ và chi theo R.K Brummitt (1992), chỉnh lý tên tác giả theo R.K Brummitt và cộng sự (1992)
2.5.1.4 Phương pháp đánh giá tính đa dạng của hệ thực vật
- Đa dạng về các taxon của hệ thực vật: Theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa
Thìn (2008)
- Đa dạng về dạng thân: Dựa vào ghi chép quá trình điều tra thực địa cũng như các
tài liệu liên quan để thống kê và đánh giá về các dạng thân của cây chứa tinh dầu
- Đa dạng về phân bố theo đai độ cao: Dựa vào cách phân chia thảm thực thực
vật theo đai thực vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (2008)
Trang 9- Đa dạng về giá trị sử dụng của hệ thực vật: Tiến hành thống kê các loài có giá trị
sử dụng từ bảng danh lục thực vật bằng các tài liệu chuyên ngành, như: “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (2012), “1900 cây có ích” (1993), “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (2003, 2005), “Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam” (2007), “Cây cỏ Việt Nam” (1991-1993, 1999-2000),
“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” (2003), “Cây thuốc Việt Nam, trồng, hái, chế biến, trị bệnh ban đầu”, “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”,
- Đa dạng các loài thực vật quý hiếm và vấn đề bảo tồn: Căn cứ vào Sách Đỏ
Việt Nam (2007), thang đánh giá của IUCN (2014), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (2006)
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu
2.5.2.1 Thu mẫu và chưng cất tinh dầu
Mẫu để chưng cất tinh dầu là các bộ phận riêng biệt của cây (lá, cành, vỏ, thân giả, thân rễ, hoa, quả) Mỗi mẫu thu từ 0,5-3 kg tươi Mẫu được ghi số hiệu (số hiệu này trùng với số hiệu mẫu để định loại) và ngày tháng thu Sau khi thu hái, mẫu được cắt nhỏ và chưng cất bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước có hồi lưu trong thiết bị Clevenger trong thời gian 2-4 giờ ở áp suất thường theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam (2002)
2.5.2.2 Phương pháp định lượng tinh dầu
Tinh dầu của các bộ phận khác nhau được định lượng theo phương pháp I của Dược điển Việt Nam II (2002) Hàm lượng tinh dầu tươi được tính theo công thức
Hoặc theo công thức
X(%) = (khi d>1) Trong đó: a là thể tích của tinh dầu tính bằng ml
b là khối lượng của mẫu tính bằng gam
Trang 10Tinh dầu được làm khô bằng Na2SO4 khan, đựng trong các lọ tiêu chuẩn đậy kín, bảo quản ở 0-5oC trước khi đem phân tích
2.5.2.3 Phương pháp phân tích thành phần hoá học tinh dầu
Chuẩn bị mẫu phân tích cho sắc ký khí : Hoà tan 1,5 mg tinh dầu đã được làm khô bằng Na2SO4 khan trong 1ml hexan tinh khiết loại dùng cho phân tích sắc ký
+ Sắc ký khí (GC) với đầu dò FID: Được thực hiện trên máy Agilent Technologies
HP 6890N Plus với detectơ FID, cột mao quản HP-5MS chiều dài 30 m, đường kính trong (ID) = 0,25 mm, lớp phim mỏng 0,25m với khí mang là hydro Nhiệt độ buồng bơm mẫu
là 250oC Nhiệt độ Detectơ là 260oC Chương trình nhiệt độ 60oC (2 min), tăng 4o
C/phút cho đến 220o
C, dừng ở nhiệt độ này trong 10 phút
+ Sắc ký khí-khối phổ (GC/MS): Được thực hiện trên hệ thống thiết bị sắc ký khí
khối phổ liên hợp Agilent Technologies HP 6890N/ HP 5973 MSD với cột tách và các điều kiện vận hành sắc ký như nêu ở trên và với Heli làm khí mang
Việc xác định định tính các thành phần của tinh dầu được thực hiện bằng các phương pháp sau:
- Dựa trên giá trị của chỉ số lưu giữ (Retention Index), xác định với một dãy các đồng đẳng n-alkan trong cùng một điều kiện sắc ký
- Dựa trên sắc ký nội chuẩn (co-injection) với các chất chuẩn thương mại (của hãng Sigma-Aldrich, St Louis, MO, USA) hoặc với các thành phần tinh dầu đã biết
- Dựa trên phổ khối lượng, so sánh với phổ khối lượng tìm thấy trong các ngân hàng dữ liệu (NIST 08 và Wiley 9th Version) hoặc so sánh với các dữ liệu của các tài liệu tham khảo
Tỉ lệ % các thành phần trong tinh dầu được tính toán dựa trên diện tích hoặc chiều cao của pic sắc ký (detector FID) mà không sử dụng các yếu tố điều chỉnh
2.6 Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu được xử lí trên phần mềm Microsoft Office Excel 2007
Trang 11CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đa dạng thành phần loài cây cho tinh dầu ở Vườn quốc gia Pù Mát
3.1.1 Đa dạng các taxon
Trong quá trình thực hiện đề tài “Đánh giá nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An và đề xuất biện pháp bảo tồn“, đã tiến hành 10 đợt thu mẫu ở 5 tuyến nghiên cứu đặc trưng của các sinh cảnh ở VQG Pù Mát và thu thập được hơn 1.500 mẫu tiêu bản của các loài cây có tinh dầu, mẫu được lưu trữ tại Viện Sinh thái
và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Phòng mẫu Thực vật, Khoa Sinh học, Trường Đại học Vinh Trên cơ sở các mẫu vật nghiên cứu đã xác định được ở VQG Pù Mát, Nghệ An có 358 loài và 3 thứ thuộc 129 chi, 33 họ của 2 ngành thực vật bậc cao có mạch (phụ lục 1) Trong đó bổ sung 01 loài mới cho Hệ Thực
vật Việt Nam là Gừng lá sáng bóng (Zingiber nitens M F Newman)
- Đa dạng bậc ngành: Thành phần loài thực vật có tinh dầu ở VQG Pù Mát, bước
đầu đã xác định được 358 loài và 3 thứ, 129 chi, 33 họ của 2 ngành thực vật bậc cao có mạch (bảng 3.1)
Bảng 3.1 Phân bố các taxa có tinh dầu trong Hệ Thực vật Vườn Quốc gia Pù Mát
Trang 12trung ở ngành Ngọc lan với số chi và loài chiếm trên 90%; điều này hoàn toàn phù hợp so với sự tiến hóa của thực vật, bởi vì ngành Ngọc lan là ngành chiếm ưu thế nhất của thực vật bậc cao có mạch
- Tỷ lệ giữa hai lớp trong Magnoliophyta: Sự phân bố không đều nhau của bậc taxon
không chỉ ở các ngành mà còn được thể hiện giữa hai lớp trong Magnoliophyta, kết quả được trình bày ở bảng 3.2
Bảng 3.2 Phân bố cây có tinh dầu trong hai lớp của ngành Ngọc lan (Magnoliophyta)
Tên lớp
Số họ Tỷ lệ % Số chi Tỷ lệ % Số loài Tỷ lệ % Magnoliopsida 22 78,57 111 89,52 314 88,45
Sự phân bố không đều nhau của các taxon không chỉ được thể hiện giữa các ngành
mà còn được thể hiện giữa hai lớp trong Ngành Ngọc lan Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) có số lượng các taxon chiếm ưu thế trên 70% tổng số họ, trên 80% số chi và số loài của ngành; lớp Hành (Liliopsida) với 6 họ (chiếm 11,44%); 13 chi (chiếm 10,48%) và 41 loài (chiếm 11,55%) Các dẫn liệu trên là hợp lý, vì lớp Ngọc lan luôn chiếm yêu thế so với lớp Hành và phù hợp với các công trình nghiên cứu của Phùng Ngọc Lan và cs (1996), Nguyễn Nghĩa Thìn và cs (2004),… khi nghiên cứu các khu hệ thực vật khác ở Việt Nam
Như vậy, tỷ lệ của lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) so với Hành (Liliopsida) luôn lớn hơn 3, thậm chí đạt tới 8,5 Như vậy, hệ thực vật có tinh dầu ở VQG Pù Mát nói riêng và
hệ thực vật nói chung mang tính chất nhiệt đới gió mùa Kết quả này phù hợp với nhận định của Nguyễn Nghĩa Thìn (2008), cho rằng: Tỷ lệ của lớp Ngọc lan (Magnoliopsida)
so với Hành (Liliopsida) ở vùng nhiệt đới luôn lớn hơn 3
Trang 13Đa dạng bậc họ: Trong số 33 họ cho tinh dầu đã xác định được ở VQG Pù Mát thì hầu
hết thuộc về ngành Magnoliophyta với 28 họ (chiếm 84,85% tổng số họ có tinh dầu), ngành Pinophyta với 5 họ chiếm 15,15% Có 12 họ chỉ có 1 loài; 8 họ có từ 2 - 5 loài; 3 họ
có từ 6 -12 loài; 5 họ có từ 14 - 26 loài và 5 họ có từ 30 - 62 loài Như vậy, tại VQG Pù Mát chỉ 10 họ đã có tới 302 loài, chiếm 83,65% tổng số loài có tinh dầu đã được nghiên cứu Các họ giàu loài chứa tinh dầu vẫn là Long não (Lauraceae), Cúc (Asteraceae), Gừng (Zingiberaceae), Cam (Rutaceae), và Na (Annonaceae)
Đa dạng bậc chi: 10 chi giàu loài chứa tinh dầu ở VQG Pù Mát, mặc dù chỉ chiếm 7,19%
tổng số chi nhưng đã có tới 119 loài và dưới loài chiếm 32,96% so với tổng số loài có
tinh dầu đã được nghiên cứu Các chi đa dạng nhất là Trâm (Syzygium), Màng tang (Litsea), Hồ tiêu (Piper), Quế (Cinnamomum) là những chi giàu loài hơn cả Các chi còn
loài chiếm từ 6-12 loài
3.1.2 So sánh thành phần loài cây tinh dầu ở VQG Pù Mát với cả nước
Tính đa dạng các loài cây cho tinh dầu ở VQG Pù Mát so với cả nước thể hiện ở bảng 3.5
Bảng 3.5 So sánh của cây tinh dầu ở VQG Pù Mát so với cây tinh dầu của Việt Nam
(1)
Tỷ lệ % Pù Mát so với Việt Nam
Trang 14Trong khi đó, Pù Mát là vùng nhiệt đới ẩm điển hình nên tại đây điều kiện không thuận lợi cho sự phát triển và cản trở sự phân bố của các loài thực vật ngành Thông (Pinophyta) chỉ có 6 loài chiếm 28,57% so với tổng số loài cho tinh dầu của cả nước) Mặt khác, với khí hậu nhiệt đới gió mùa nên Pù Mát lại rất thuận lợi cho các loài thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) sinh trưởng và phát triển
3.1.3 Đa dạng về dạng thân
Kết quả nghiên cứu về dạng thân của các loài thực vật cho tinh dầu ở Pù Mát, dựa vào tài liệu “Tên cây rừng Việt Nam” (2000), đã phân chia dạng thân của các loài thực vật có tinh dầu thành 5 dạng thân chính Trong các dạng thân trên thì cây thân bụi với 54 loài (chiếm 14,96%) chủ yếu thuộc các họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae), Thầu dầu (Euphorbiaceae), Nhân sâm (Araliaceae), Na (Annonaceae), Cam (Rutaceae)…; cây gỗ lớn với 67 loài (chiếm 18,56%) thuộc các họ sau: Hoàng đàn (Cupressaceae), Kim giao (Podocarpaceae), Bụt mọc (Taxodiaceae), Ngọc lan (Magnoliaceae), Long não (Lauraceae), Sim (Myrtaceae),…; cây gỗ nhỏ với 94 loài (chiếm 26,04%) với các họ chính như: Na (Annonaceae), Nhân sâm (Araliaceae), Long não (Lauraceae), Hồi (Illiciaceae), Sim (Myrtaceae),…; thân leo trườn với 27 loài (chiếm 7,48%) tập trung ở các họ Hồ tiêu (Piperaceae), Na (Annonaceae), Cam (Rutaceae),…; thân thảo với 119 loài (chiếm 32,96%) Như vậy cây thân thảo là đa dạng nhất gồm chủ yếu là các loài thuộc các
họ Gừng (Zingiberaceae), Cúc (Asteraceae), Ráy (Araceae), Bạc hà (Lamiaceae),…Các kết quả trên đã góp phần định hướng cho việc khai thác, trồng và sử dụng nguồn tài nguyên thực vật cho tinh dầu đạt hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường tại VQG Pù Mát
3.1.4 Đa dạng về giá trị sử dụng
Ngoài giá trị sử dụng cho tinh dầu thì các loài nghiên cứu trên còn có các giá trị
sử dụng khác như làm thuốc, ăn được, làm gia vị, cho gỗ,… Trên cơ sở các thông tin đã
có (Từ điển cây thuốc, 1900 loài cây có ích, Danh lục các loài thực vật Việt Nam,…)
- Nhóm cây làm thuốc: Đây là nhóm loài nhiều nhất, phong phú nhất với 196
loài, chiếm 55,21% tổng số loài cây tinh dầu được nghiên cứu Ngoài giá trị về tinh dầu