QUAN TÀI LIỆU
Mãn kinh
1.1.1 Khái niệm về mãn kinh
Trong khoảng tuổi 40-50, chức năng buồng trứng giảm dần do trứng không còn đáp ứng với kích thích của tuyến yên, gây ra hiện tượng chu kỳ kinh nguyệt và phóng noãn không đều Sau vài tháng đến vài năm, các chu kỳ sinh dục ngừng hẳn, chị em phụ nữ mất kinh và hormone sinh dục giảm gần như bằng không Hiện tượng này được gọi là mãn kinh, và theo định nghĩa, mãn kinh là sự ngừng hoàn toàn và vĩnh viễn các huyết đạo của chu kỳ kinh ít nhất 1 năm.
Mãn kinh sớm xảy ra trước 45 tuổi, trong khi đó mãn kinh rất sớm bắt đầu trước 40 tuổi, còn mãn kinh muộn thường xuất hiện sau 55 tuổi Mãn kinh còn có thể do phẫu thuật, như cắt bỏ tử cung hoặc buồng trứng, gây ra hiện tượng mất khả năng sản xuất hormone nội tiết và ảnh hưởng đến chu kỳ sinh lý của phụ nữ.
Mãn kinh tự nhiên (mãn kinh sinh lý) là mãn kinh xảy ra tự nhiên ở phụ nữ trên 45 tuổi [4]
1.1.3 Sơ lược thay đổi sinh học thời kỳ mãn kinh và nguy cơ bệnh lý
Sự xuất hiện của mãn kinh có thể khác nhau ở từng cá thể, thường xảy ra trên dưới 40 tuổi và bắt đầu ghi dấu bằng những thay đổi bất thường của chu kỳ kinh như thiểu kinh, khoảng cách giữa hai kỳ kinh kéo dài và xuất hiện vô kinh Thời gian từ khi xuất hiện các biểu hiện đầu tiên đến khi mãn kinh thực sự thường kéo dài từ 1-5 năm Trong một số trường hợp, phụ nữ có thể không gặp phải rối loạn kinh nguyệt trước khi trải qua vô kinh kéo dài trên 1 năm, chứng tỏ quá trình mãn kinh có thể diễn ra theo nhiều cách khác nhau.
Mặc dù mãn kinh không phải là bệnh lý, nhưng tình trạng thiếu hụt estrogen kéo dài làm tăng nguy cơ các rối loạn liên quan đến quá trình lão hóa, bao gồm rối loạn tâm lý, tiền đái tháo đường, đái tháo đường, rối loạn lipit máu, loãng xương và vữa xơ động mạch.
Trong thời kỳ mãn kinh, thiếu hụt estrogen, giảm độ nhạy cảm insulin, tăng trọng và hạn chế hoạt động thể chất góp phần vào sự phát triển của hội chứng chuyển hóa Hội chứng này bao gồm rối loạn lipid máu, rối loạn chuyển hóa glucose, và rối loạn chức năng mô mỡ, dẫn tới tăng huyết áp và không dung nạp glucose Hiện nay, hội chứng chuyển hóa được xem là tiền đề của bệnh “tiền mạch vành” và các bệnh tim mạch, đứng hàng đầu trong các nguyên nhân gây bệnh tật và tử vong ở phụ nữ mãn kinh.
1.1.4 Sự liên quan giữa mãn kinh và các yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành
Các yếu tố nguy cơ bệnh động mạch vành (ĐMV) ở phụ nữ mãn kinh tương tự như ở nam giới, nhưng mức độ ảnh hưởng có sự khác biệt Pada phụ nữ trên 75 tuổi, gần 80% mắc tăng huyết áp, đây là yếu tố nguy cơ chính gây bệnh tim mạch Theo nghiên cứu Framingham, gần một nửa số trường hợp nhồi máu cơ tim ở phụ nữ bị liên quan đến tăng huyết áp, tuy nhiên nhiều trường hợp vẫn không nhận ra triệu chứng rõ ràng, làm tăng nguy cơ biến chứng nghiêm trọng.
Phụ nữ có tỷ lệ tăng cholesterol và fibrinogen cao hơn so với đàn ông, đồng thời tăng triglycerid (TG) là yếu tố nguy cơ độc lập của bệnh ĐMV, đặc biệt ở phụ nữ lớn tuổi Nguy cơ đái tháo đường không phụ thuộc insulin và béo phì trung tâm cũng cao hơn ở phụ nữ so với nam giới Đái tháo đường góp phần làm gia tăng nguy cơ các biến cố tim mạch, đòi hỏi chú trọng chẩn đoán và phòng ngừa ở nhóm phụ nữ trung niên và cao tuổi.
4 lần ở phụ nữ (ở nam chỉ hơn 2 lần)
Phụ nữ thường ít vận động thể lực hơn so với nam giới, và khi áp dụng vận động thể lực trị liệu, hiệu quả mang lại cũng kém hơn ở phụ nữ Hiện nay, nghiên cứu mới đã phát hiện rằng YTNC high sensitivity C-reactive protein (hs-CRP) là chỉ số quan trọng phản ánh tình trạng viêm trong cơ thể Chất hs-CRP đóng vai trò là yếu tố độc lập mạnh mẽ, liên quan đến nguy cơ bệnh động mạch vành, đặc biệt ở phụ nữ.
Tuy nhiên qua nghiên cứu người ta thấy phụ nữ mãn kinh thiếu hụt estrogen làm gia tăng CRP huyết tương và gợi ý một tác động khởi xướng viêm
Các YTNC tim mạch chính có xu hướng kết cụm, do vậy ở phụ nữ mãn kinh (có sẵn một YTNC) nên tầm soát các YTNC khác [75].
Các yếu tố nguy cơ tim mạch
Hiện nay tỷ lệ bệnh mạch vành ngày càng gia tăng, theo số liệu Viện Tim mạch quốc gia Việt Nam năm 1991 là 3,1% đến năm 1999 là 9,5% [24]
Các yếu tố nguy cơ có thể được chia làm 2 nhóm:
Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi như hút thuốc lá, béo phì, ít vận động thể lực, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp và đái tháo đường/đề kháng insulin đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa các bệnh lý mạch vành và các biến cố tim mạch Việc điều chỉnh lối sống như bỏ thuốc, duy trì cân nặng hợp lý, tăng cường hoạt động thể chất, kiểm soát rối loạn lipid máu và huyết áp sẽ giúp giảm thiểu rủi ro mắc các bệnh tim mạch và nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được:
+ Tuổi càng cao, nguy cơ càng tăng
+ Giới nam hoặc nữ sau mãn kinh
+ Gia đình (huyết thống) có người bị bệnh ĐMV sớm: Nam trước 55 tuổi, nữ trước 65 tuổi
Theo khảo sát theo từng nhóm tuổi, tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành (BMV) cao nhất ở nhóm trên 65 tuổi và đứng thứ hai ở nhóm 45-64 tuổi Tần suất nhồi máu cơ tim tăng dần theo tuổi và phổ biến hơn ở nam giới, với tỷ lệ thay đổi từ 2/10.000 dân mỗi năm ở nam giới trong độ tuổi 35-50.
Tỷ lệ nhồi máu cơ tim (NMCT) tăng theo tuổi, với các số liệu thống kê cho thấy ở nam giới từ 65-70 tuổi, tỷ lệ này tăng lên 20/10.000 dân mỗi năm Ở nữ giới, con số này thay đổi từ 3/10.000 dân ở độ tuổi 35-45 lên 8/10.000 dân ở tuổi 65-70 Theo Robbins và cộng sự, có khoảng 5% số ca NMCT xảy ra ở người dưới 40 tuổi, trong khi 45% xảy ra ở người trên 65 tuổi, nam giới gấp 4-6 lần nữ giới, và đến tuổi 80, tỷ lệ nam nữ là 2/1 Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Minh Đức với 129 bệnh nhân chụp mạch vành cản quang tại Bệnh viện Thống Nhất cho thấy tuổi trung bình là 63,67±11,84, đa số bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên, phản ánh sự gia tăng các bệnh lý tim mạch theo tuổi tác.
Nghiên cứu của Framingham (1986) kéo dài 27 năm trên nhóm tuổi từ 35-84 cho thấy tỷ lệ BMV ở nam cao gấp 2 lần so với nữ, và nam giới thường gặp bệnh sớm hơn 10 năm Tuy nhiên, sau tuổi mãn kinh, phụ nữ có tỷ lệ BMV bằng nam giới Những yếu tố nguy cơ tương tự như nam giới xuất hiện ở phụ nữ, mặc dù đái tháo đường ở nữ gây ra nhiều nguy cơ hơn như tăng cholesterol và giảm HDL-C Nghiên cứu của nhóm tác giả tại trường Đại học Y dược Huế phát hiện rằng HDL-C có mối quan hệ nghịch rõ ràng với mức độ nguy cơ mắc bệnh mạch vành; can thiệp thông qua chế độ ăn uống, luyện tập hoặc sử dụng thuốc để tăng HDL-C sẽ giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.
Khoảng 80% các trường hợp tử vong do nhồi máu cơ tim (NMCT) xảy ra ở bệnh nhân trên 65 tuổi Nghiên cứu của Trần Thanh Hòa và cộng sự tại Thừa Thiên Huế cho thấy, tuổi trung bình của bệnh nhân mắc bệnh mạch vành là 67,3 tuổi Việc đánh giá lâm sàng cùng với bộ câu hỏi Rose giúp nâng cao khả năng chẩn đoán và quản lý bệnh mạch vành ở nhóm bệnh nhân lớn tuổi.
Phụ nữ có các yếu tố nguy cơ tương tự như nam giới khi mắc đái tháo đường, tuy nhiên, đái tháo đường ở phụ nữ đặc biệt gây ra các nguy cơ về rối loạn lipid máu, bao gồm tăng triglycerides (TG) và giảm HDL-cholesterol (HDL-C) nhiều hơn so với nam giới.
Xơ vữa mạch vành có xu hướng tập trung gia đình, điều này làm nổi bật yếu tố di truyền trong nguyên nhân bệnh Nghiên cứu của Framingham cho thấy rằng anh em của những bệnh nhân mắc bệnh mạch vành có nguy cơ tăng gấp đôi, kể cả sau khi đã điều chỉnh các yếu tố nguy cơ khác Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố gia đình trong dự phòng và quản lý bệnh lý mạch vành.
Gia tăng nguy cơ bệnh mạch vành có thể liên quan đến yếu tố gia đình, đồng thời ảnh hưởng gián tiếp qua di truyền các yếu tố nguy cơ khác như béo phì, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và đái tháo đường Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố gia đình vào các nguy cơ này giúp cung cấp thêm thông tin về nguy cơ bệnh mạch vành của từng cá nhân, từ đó đưa ra các chỉ định điều trị phù hợp và chính xác hơn.
Nicotine là chất tác động mạnh đến hệ thần kinh adrenergic, gây tăng tiết norepinephrine và ảnh hưởng đến lưu lượng máu của tim Hít khói thuốc lá làm tăng trương lực mạch vành, thúc đẩy co mạch, gây mất cân bằng giữa cung và cầu oxy cho cơ tim Tình trạng này thường liên quan đến các đợt thiếu máu cục bộ cơ tim im lặng, làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch ở bệnh nhân BMV.
Nghiên cứu của Kaufman và cộng sự cho thấy người hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 2,8 lần so với người không hút, trong đó người hút ít có nguy cơ là 2,1 và người nghiện nặng là 4 Nguy cơ này không thay đổi theo lượng nicotine và monoxide carbon trong thuốc lá Ngoài ra, các thí nghiệm cho thấy hít nicotine làm tăng sự bắt giữ Fibrinogen bởi thành động mạch, đây là cơ chế chính gây tác động tiêu cực đến hệ tuần hoàn.
Ngay cả những người không hút thuốc lá vẫn có nguy cơ mắc bệnh tim mạch khi tiếp xúc với khói thuốc thụ động, do đó giảm tiếp xúc với khói thuốc là yếu tố quan trọng trong phòng ngừa bệnh Tỷ lệ nhồi máu cơ tim (NMCT) đã giảm rõ rệt ở những người bỏ thuốc lá, với nguy cơ giảm đáng kể chỉ sau 12 tháng cai thuốc Việc từ bỏ thuốc lá mang lại lợi ích sức khỏe nhanh chóng, giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Theo tổ chức y tế thế giới:
- Bệnh nhân được xem hút thuốc lá khi: bệnh nhân đang hút thuốc lá ≥
10 điếu/ ngày, từ 3 năm trở lên, hoặc đã từng hút thuốc lá, mới ngưng hút trong vòng 6 tháng qua
- Không hút thuốc lá khi: không hút, hoặc đã bỏ hút ít nhất 3 năm, hoặc hút < 10 điếu/ngày và thời gian < 3năm.Tính đến thời điểm nhập viện
Thừa cân và béo phì là hiện tượng dư thừa mỡ trong cơ thể, được đánh giá qua các chỉ số như chỉ số khối cơ thể (BMI), vòng hông (VH) và tỷ số vòng hông/vòng mông (VH/VM) Chỉ số BMI phản ánh tổng khối lượng mỡ trong cơ thể, trong khi vòng hông và tỷ số VH/VM giúp xác định tình trạng béo trung tâm hay béo tạng, đặc biệt là béo vùng bụng và béo phì dạng nam.
Tính chỉ số khối cơ thể BMI (Body Mass Index) theo công thức:
Chỉ số BMI được tính bằng công thức: BMI = cân nặng chia cho bình phương chiều cao Trong đó, cân nặng và chiều cao đều được đo bằng cân bàn do Trung Quốc sản xuất có gắn thước đo chiều cao Việc đo đạc chính xác các yếu tố này giúp xác định chỉ số BMI một cách đáng tin cậy, hỗ trợ việc đánh giá tình trạng sức khỏe của bạn.
B ảng 1.1 Phân loại béo ph ì c ủa dành cho người Châu Á trưởng th ành [35]
1.2.6 Ít hoạt động thể lực Ít hoạt động thể lực là yếu tố nguy cơ ngang tầm với tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và hút thuốc lá; Hội nghị tim mạch học Châu Âu lần thứ XXI
Năm 2009, các nghiên cứu đã nhận thấy rằng phần lớn các trường hợp bệnh tim mạch ở châu Âu hiện nay đều liên quan đến lối sống ít vận động thể lực Tăng cường hoạt động thể dục đều đặn, kể cả khi đã đứng tuổi hoặc già, sẽ giúp giảm tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch cũng như giảm nguy cơ mắc các bệnh khác như đái tháo đường, loãng xương, viêm khớp và ung thư Những hoạt động nhẹ nhàng trong thời gian ngắn như leo cầu thang hoặc tập luyện tích cực trong ngày cũng mang lại lợi ích đáng kể cho sức khỏe Hội nghị cũng khẳng định rằng "Tăng hoạt động thể lực là đầu tư tốt nhất cho sức khỏe cộng đồng".
Thang điểm Reynolds
1.3.1 Phân loại nguy cơ theo thang điểm Reynolds
B ảng 1.4 Đánh giá nguy cơ theo thang điểm Reynolds [79]
Loại nguy cơ Thang điểm Reynolds (nguy cơ trong 10 năm tới)
Hút thuốc lá Có:……… Không:………
Chỉ số huyết áp tâm thu mmHg
Cholesterol toàn phần ………….mg/dl (Hoặc) …… mmol/L
Chỉ số HDL-c ………….mg/dl (Hoặc) …… mmol/L
Chỉ số hs-CRP ………….mg/L
Tiền sử có cha hoặc mẹ bệnh tim trước 60 tuổi? Có:……… Không………
… Tính nguy cơ trong 10 năm tới
(Nguồn: http://www.reynoldsriskcore.org/defult.asp)
Năm 2007, một thang điểm đánh giá nguy cơ được phát triển dựa trên nghiên cứu theo dõi 24.558 phụ nữ Mỹ khỏe mạnh trong suốt 10 năm Nghiên cứu này đã xác định rõ các yếu tố có nguy cơ cao gây bệnh tim mạch và đột tử, giúp cải thiện chẩn đoán và phòng ngừa các bệnh lý tim mạch hiệu quả hơn.
Các yếu tố đánh giá nguy cơ tim mạch theo thang điểm Reynolds [79]
Cholesterol toàn phần, theo khuyến cáo của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ, nên được đo và lấy giá trị trung bình của hai lần đo thấp nhất từ một mẫu máu chuẩn, đơn vị tính là mg/dl Trong phần lớn các trường hợp, mức cholesterol toàn phần của cá nhân thường nằm trong khoảng từ 100 đến 240 mg/dl, phản ánh mức độ an toàn và cần thiết để theo dõi sức khỏe tim mạch.
HDL-cholesterol, theo khuyến cáo của Hiệp hội Tim Mạch Hoa Kỳ, nên được xác định dựa trên giá trị trung bình của hai lần đo thấp nhất trong một mẫu máu chuẩn, đơn vị đo là mg/dl Trong hầu hết các cá thể, mức HDL-cholesterol dao động từ 10 đến 60 mg/dl, phản ánh vai trò quan trọng của loại cholesterol này trong việc bảo vệ sức khỏe tim mạch.
+ Huyết áp tâm thu: ở hầu hết cá thể huyết áp tâm thu dao động từ 90- 180mm/Hg
+ Đối tượng hút thuốc đánh giá trong thang điểm Reynolds là có hút thuốc trong tháng trước
+ Bố hoặc mẹ bị bệnh tim mạch hay đột quỵ trước 60 tuổi thì thang điểm nguy cơ Reynolds sẽ tăng lên [79]
+ hs-CRP (high sensitivity C-Reactive protein): hiệp hội tim mạch Hoa
Kỳ khuyến cáo nên lấy giá trị thấp hơn trong hai lần đo thấp nhất của mẫu máu chuẩn, với đơn vị đo là mg/l để đảm bảo độ chính xác Có thể tiến hành đo cholesterol toàn phần, HDL-Cholesterol và Hs.CRP trên cùng một mẫu máu, điều này giúp tiết kiệm thời gian và giảm thiểu sai số, đặc biệt ở phụ nữ, với giá trị đo thường từ 0,01 mg/l [88], [61].
De Beer F.C và CS (1982) ghi nhận sự gia tăng nồng độ CRP sau nhồi máu cơ tim, liên quan đến kích thước ổ nhồi máu và dự đoán tiên lượng bệnh nhân bệnh mạch vành Phát hiện này đã thúc đẩy nghiên cứu về vai trò của CRP trong đánh giá nguy cơ bệnh mạch vành, một yếu tố quan trọng trong dự phòng các biến cố tim mạch CRP là protein phản ứng C, gồm 5 chuỗi polypeptide giống nhau, là protein pha cấp với nồng độ trong huyết thanh thay đổi ít nhất 25% trong các rối loạn viêm Các phát hiện về mức CRP thấp ( 3,4 mg%
- Hẹp động mạch thận cả 2 bên (hoặc 1 bên ở người còn 1 thận)
Nguyên tắc quan trọng khi sử dụng ƯCMC là phải rà soát hẹp động mạch thận để đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị Nếu phát hiện hẹp động mạch thận, việc sử dụng ƯCMC có thể không đáp ứng mong muốn và còn gây tổn thương thêm cho chức năng thận Do đó, kiểm tra hẹp động mạch thận trước khi điều trị bằng ƯCMC là bước cần thiết để tránh nguy cơ làm nặng hơn tình trạng suy thận.
Kết hợp thêm thuốc: (nếu UCMC đã dùng liều lượng đầy đủ x 2 lần mỗi ngày mà không kết quả)
+ Kết hợp đạt tác dụng khi hiệp đồng với lợi tiểu (Thiazid, Furosemid), với các đối kháng Calci
+ Kết hợp cũng cho phép với chẹn beta
Thuốc ức chế men chuyển và ức chế thụ thể có nhiều tác dụng đặc biệt như giảm dày thất trái ở bệnh nhân THA, giảm tái định dạng các động mạch, giảm Albumin niệu ở THA kèm ĐTĐ, kiểm soát các cơn tăng huyết áp bằng cách ngậm dưới lưỡi Captopril 25 mg, sử dụng lâu dài mà không gây rối loạn lipid máu, đồng thời có tác dụng bảo vệ thận Ngoài ra, chúng còn có khả năng kháng viêm, làm giảm hs-CRP và IL-6, mang lại lợi ích toàn diện cho bệnh nhân.
- Hạ huyết áp: nếu liều lượng quá cao
- Suy thận chức năng: nhất là ở người ĐTĐ bị mất nước và cung lượng tim thấp Nếu ngưng điều trị thì có thể phục hồi
- Tăng kali máu: điều này dễ xảy ra nếu hạn chế mặn quá mức, hoặc dùng kết hợp với các lợi tiểu giữ Kali
- Hạ bạch cầu (chỉ xảy ra nếu liều lượng UCMC quá cao)
- Ho khan do bị kích thích
+ Với các thuốc kháng viêm không Steroid vì chúng làm giảm hoạt tính giãn mạch của UCMC, lại còn tạo nguy cơ suy thận
+ Với các lợi tiểu giữ Kali
- ƯCMC kết hợp rất thuận lợi với các thuốc chống thiếu máu cục bộ cơ tim như Nitrat, chẹn beta, ức chế calci [12]
1.4.2 Vai trò của nhóm thuốc statin trong điều trị rối loạn lipid máu
Statins are inhibitors of the enzyme HMG-CoA reductase, essential for cholesterol biosynthesis The first discovered statin was Mevastatin, found in Japan and derived from the culture of Penicillium citrinum Subsequent discoveries included well-known statins such as Simvastatin (Zocor, Lodal, Vida), Lovastatin (Mevacor), and Pravastatin, all of which are widely used to lower cholesterol levels and improve cardiovascular health.
(Elizor, Vasten, Pravachol, Lipostat), Fluvastatin (Lescol), Ruvastatin (Crestor), gần đây nhất là Atorvastatin (Lipitor) [17]
Các thuốc được hấp thu nhanh và nhiều qua đường tiêu hóa, riêng pravastatin được hấp thụ ít hơn (34%) Nồng độ đỉnh trong huyết tương sau 1-
Mức liên kết protein huyết tương thay đổi theo từng thuốc: 50% với pravastatin, 94% với simvastatin, 98% với fluvastatin Khả dụng sinh học thấp 4-24% tùy thuốc
Các thuốc được gan chuyển hóa, đào thải chủ yếu qua mật và phân, một phần nhỏ qua nước tiểu
Thời gian bán thải ngắn, fluvastatin: 0,5 giờ, pravastatin 1,5- 2 giờ, lovastatin và simvasttatin: 2-3 giờ, riêng atorvastatin kéo dài 13-16 giờ [17]
Statin là thuốc ức chế đặc hiệu và cạnh tranh tác dụng của enzyme HMG-CoA reductase, enzyme chủ yếu trong quá trình tổng hợp cholesterol trong tế bào Nhờ đó, statin giúp giảm mức cholesterol nội sinh hiệu quả, chủ yếu là giảm LDL-cholesterol (LDL-c) và tăng nhẹ HDL-cholesterol (HDL-c) Ngoài ra, statin còn giúp giảm nhẹ triglyceride, với mức giảm này phụ thuộc vào liều dùng của thuốc Các nghiên cứu gần đây cho thấy hiệu quả giảm cholesterol của statin ngày càng rõ ràng và phụ thuộc vào liều lượng sử dụng.
Statin có tác dụng giảm cholesterol, LDL-C, điều hòa hoạt động của tế bào nội mạc mạch máu, ổn định mảng xơ vữa và ức chế phản ứng viêm như giảm hs-CRP và IL-6 Do quá trình tổng hợp cholesterol diễn ra nhiều nhất vào ban đêm, nên khuyến cáo nên dùng thuốc statin vào buổi chiều để đạt hiệu quả tối ưu.
Chỉ định: rối loạn lipoprotein máu týp IIa, có thể dùng cho IIb
Liều và cách dùng: bắt đầu bằng liều nhỏ rồi tăng dần sau vài tuần
B ảng 1.6 Các thuốc nhóm statin [17] [20]
Loại Biệt dược Hàm lượng Liều dùng
Atorvastatin Lipitor, Tahor 10-20 mg 10-20 mg
Liều thuốc đề xuất là liều trung bình, nhưng có thể cần thiết tăng để kiểm soát các chỉ số lipid máu bệnh lý xuống mức bình thường Sau khi đạt được mục tiêu giảm lipid, nên duy trì liều duy trì phù hợp để duy trì kết quả Thuốc nên dùng một lần sau bữa ăn chiều để đạt hiệu quả tốt nhất.
Sơ lược lịch sử và tình hình nghiên cứu thang điểm Reynolds
1.5.1 Nguồn gốc thang điểm Reynolds
Donald W Reynold (1906-1993) là một doanh nhân nổi tiếng người
Mỹ, sinh ra tại Oklahoma, là người có tấm lòng yêu thương con người và luôn hướng về cộng đồng Ông nổi bật như một nhân vật quan trọng trong tập đoàn Donrey Media, được biết đến rộng rãi với vai trò lãnh đạo và ảnh hưởng trong ngành truyền thông.
Ông là một doanh nhân xuất sắc với khả năng kinh doanh vượt trội, sở hữu khối tài sản đáng kể Trước khi qua đời, ông đã quyên góp toàn bộ tài sản của mình để thành lập quỹ tài trợ mang tên Donald W Reynolds, thể hiện tấm lòng nhân hậu và sự đóng góp cho cộng đồng.
Quỹ Donald W Reynolds vẫn duy trì hoạt động tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu nhằm nâng cao tuổi thọ và chất lượng cuộc sống Đặc biệt, quỹ tập trung hỗ trợ các nghiên cứu lâm sàng về tim mạch, góp phần thúc đẩy tiến bộ trong lĩnh vực này Dự án thang điểm Reynolds đã nhận được sự tài trợ chính từ quỹ này, cùng với sự tham gia của các quỹ tài trợ khác, nhằm nâng cao hiệu quả và phạm vi của nghiên cứu.
1.5.2 Tình hình nghiên cứu thang điểm Reynolds
Từ năm 1956 đến 1966, các nhà nghiên cứu tại Framingham đã chứng minh rằng các yếu tố như tuổi tác, tăng huyết áp, đái tháo đường và tăng lipid máu là những yếu tố chính gây bệnh mạch vành, và thang điểm Framingham đã được áp dụng rộng rãi trong chẩn đoán và dự đoán nguy cơ bệnh tim mạch Tuy nhiên, nghiên cứu trên phụ nữ cho thấy khoảng 20% người mắc bệnh mạch vành không có các yếu tố nguy cơ điển hình này, trong khi những phụ nữ có các yếu tố nguy cơ lại không mắc bệnh, cho thấy sự phức tạp trong cơ chế bệnh lý Gần nửa thế kỷ sau, với sự phát triển của y học, nhiều chất mới như HDL-cholesterol, hs-CRP, fibrinogen, homocystein, creatinine, và apolipoprotein A-1, B-100 đã được phát hiện nhằm cải thiện khả năng dự đoán và kiểm soát bệnh mạch vành.
Paul M Ridker cùng các cộng sự tại Bệnh viện Phụ nữ Brigham ở Boston nhận thấy các nghiên cứu trước đây bỏ qua một số yếu tố nguy cơ quan trọng, họ đã tiến hành nghiên cứu và phát triển một thang điểm mới giúp đánh giá chính xác hơn nguy cơ mắc bệnh tim mạch trong 10 năm tới ở phụ nữ.
Do vậy mà thang điểm Reynolds đã ra đời cùng với sự ủng hộ, giúp đỡ của nhiều tổ chức, học viện thế giới [79]
Nghiên cứu của Ridker và cộng sự trên 24.558 phụ nữ Mỹ trên 45 tuổi đã theo dõi trung bình 2 năm về nguy cơ mắc các bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ, bệnh mạch vành hoặc đột tử Trong đó, 2/3 (16.400 người) thuộc nhóm nghiên cứu sử dụng thang điểm Reynolds để đánh giá nguy cơ, còn lại 1/3 (8.158 người) là nhóm chứng Kết quả so sánh với thang điểm Framingham cho thấy nguy cơ tim mạch ở các nhóm có điểm từ 5-10% và 10-20% thường cao hơn hoặc thấp hơn dự đoán, với độ đặc hiệu lên đến 98% khi sử dụng thang điểm Reynolds Thêm vào đó, thang điểm Reynolds còn bổ sung đánh giá hs-CRP và tiền sử gia đình bị nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ, giúp xác định chính xác nguy cơ tim mạch ở phụ nữ hơn so với thang điểm Framingham.
Năm 2007, nghiên cứu của Ridker và cộng sự về thang điểm Reynolds sử dụng để dự đoán nguy cơ mắc bệnh tim mạch trong 10 năm đã được công bố lần đầu trên tạp chí Y học Mỹ (JAMA).
Nghiên cứu của Matth ew C Tattersall và cộng sự năm 2008 đã đánh giá hiệu quả của thang điểm Reynolds trong dự báo nguy cơ tim mạch trên hơn 43 triệu phụ nữ tại Mỹ Kết quả cho thấy, sử dụng thang điểm Reynolds giúp tăng khả năng dự đoán chính xác với tỷ lệ tăng 10,7% và giảm 1,6% trong bảng nguy cơ so với nghiên cứu của Framingham, chứng tỏ đây là công cụ dự báo đáng tin cậy trong lâm sàng.
Năm 2009, nghiên cứu của Matthew C Tattersall và cộng sự đã mở rộng việc áp dụng thang điểm Reynolds trên cả nam và nữ, với mẫu khảo sát gồm 20 triệu người Mỹ Kết quả cho thấy sự nhất quán và đáng tin cậy, khẳng định giá trị của thang điểm này trong các nghiên cứu về giới và dân số lớn.
+ Năm 2010 nghiên cứu của Calomfirescu N và cộng sự về thang điểm Reynolds trên phụ nữ chưa có nguy cơ về tim mạch [57]
Hiện nay, thang điểm Reynolds vẫn chưa được áp dụng rộng rãi trên toàn cầu do còn khá mới mẻ Thang điểm này chủ yếu đánh giá chỉ số hs-CRP, một xét nghiệm ít phổ biến hơn so với các xét nghiệm thông thường như cholesterol.
Chưa có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này tại Việt Nam, ngoại trừ đề tài của Huỳnh Văn Minh và Trần Phước Minh Đăng (2012) về các thành tố của thang điểm nguy cơ Reynolds ở bệnh nhân nữ mắc bệnh mạch vành Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá (6,6%), tăng huyết áp (45,9%), tăng cholesterol (55,74%), giảm HDL-C (49,18%) và hs-CRP > 3mg/L (72,2%), góp phần xác định mức độ nguy cơ bệnh mạch vành theo thang điểm Reynolds Kết quả cho thấy mức nguy cơ thấp chiếm 13,2%, trung bình 26,22%, trung bình cao 44,26% và cao 16,4% Ngoài ra, nghiên cứu còn so sánh độ nhạy và độ đặc hiệu của thang điểm Reynolds với thang điểm Framingham, cho thấy thang Reynolds vượt trội hơn trong đối tượng nữ giới Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc đánh giá các yếu tố nguy cơ và mức độ nguy cơ chung, chưa tiến hành can thiệp điều trị, dù tỷ lệ các yếu tố nguy cơ có khả năng can thiệp khá cao Đây là nghiên cứu ban đầu trong lĩnh vực này tại Việt Nam, mở ra hướng đi cho các nghiên cứu tiếp theo trong nước về dự phòng và điều trị bệnh mạch vành.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu
Phụ nữ mãn kinh tự nhiên là những người đã ngưng kinh 12 tháng liên tiếp mà không gặp phải các nguyên nhân bệnh lý hoặc không trải qua phẫu thuật Chỉ những phụ nữ tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu mới đủ điều kiện để tham gia Đặc điểm nhận diện của phụ nữ mãn kinh tự nhiên là sự kết thúc của chu kỳ kinh nguyệt không do tác động từ các yếu tố bệnh lý hay can thiệp y tế Việc xác định mãn kinh tự nhiên dựa trên tiêu chuẩn về thời gian và không có nguyên nhân gây ra tình trạng này.
- Phụ nữ mãn kinh do đã cắt tử cung và/ hoặc hai phần phụ
Tất cả các bệnh nhân có mắc các bệnh lý gây tăng hs-CRP như viêm khớp dạng thấp, gout, viêm amidan, bệnh van tim hậu thấp, viêm khớp vẩy nến hoặc viêm nút quanh động mạch đều có nguy cơ nhiễm trùng cấp hoặc mãn tính Nhiễm trùng cấp và mãn tính ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ hs-CRP, phản ánh tình trạng viêm nhiễm trong cơ thể Việc theo dõi chỉ số hs-CRP là cần thiết để đánh giá mức độ viêm của bệnh nhân, đặc biệt trong các bệnh lý liên quan đến viêm nhiễm kéo dài hoặc viêm nhiễm cấp tính.
Chấn thương, phẫu thuật, bỏng, gãy xương
Ung thư: ung thư hạch, carcinoma
- Bệnh nhân đang điều trị tăng huyết áp bằng thuốc ức chế men chuyển và thuốc ức chế thụ thể
- Bệnh nhân đang dùng thuốc hạ lipid máu
- Bệnh nhân bệnh đái tháo đường
- Bệnh nhân có bệnh mạch vành đã được chẩn đoán và đang điều trị
Từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013
Khoa khám bệnh, bệnh viện đa khoa Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre.
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang và can thiệp không đối chứng 2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
2.2.2.1 C ỡ mẫu cho mục ti êu 1 và 2 Áp dụng công thức tính cỡ mẫu để ước lượng một tỷ lệ: [29]
- Z1-α/2 làgiá trị thu được từ bảng Z và bằng 1,96 độ tin cậy là 95%
- d là sai số cho phép, chọn d = 4% (0,04)
Tỷ lệ các yếu tố nguy cơ tim mạch có thể thay đổi được ở phụ nữ mãn kinh còn chưa được nghiên cứu và xác định rõ ràng trong các tài liệu hiện có Trong bối cảnh đó, nghiên cứu đã chọn tỷ lệ rối loạn lipid máu ở phụ nữ mãn kinh làm chỉ số dự báo tỉ lệ tương đối Việc hiểu rõ tỷ lệ này đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá nguy cơ tim mạch và phát triển các chiến lược phòng ngừa phù hợp cho nhóm phụ nữ này.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Trung Kiên về các chỉ số sinh học ở phụ nữ mãn kinh tại Cần Thơ, tỷ lệ phụ nữ gặp rối loạn lipid máu chiếm đến 93,2% Đây cho thấy mức độ phổ biến cao của vấn đề rối loạn lipid trong nhóm đối tượng này, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tim mạch và chất lượng cuộc sống của phụ nữ mãn kinh Các kết quả nghiên cứu giúp nâng cao nhận thức và hướng tới các giải pháp phòng ngừa, điều trị hiệu quả hơn.
Chọn p= 0,932, thay vào công thức ta có:
Vậy cỡ mẫu nghiên cứu là 152 Trong thực tế chúng tôi đã nghiên cứu trên 223 đối tượng
2.2.2.2 C ỡ mẫu cho mục ti êu 3
Trong nghiên cứu này, các bệnh nhân mắc rối loạn lipid máu và tăng huyết áp (THA) có chỉ định sử dụng atorvastatin và enalapril đã được tuyển chọn, đồng ý tham gia vào nghiên cứu Cụ thể, chúng tôi đã thu thập dữ liệu từ 74 bệnh nhân sử dụng atorvastatin và 31 bệnh nhân sử dụng enalapril để phân tích hiệu quả điều trị và các đặc điểm lâm sàng.
Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013, đảm bảo tính hệ thống và hợp lý của mẫu khảo sát Các bước chính gồm hỏi bệnh sử, khai thác tiền sử và các yếu tố liên quan, cùng với khám lâm sàng để ghi nhận các dấu hiệu cơ năng và thực thể Ngoài ra, xét nghiệm và ghi nhận kết quả là các hoạt động không thể thiếu để đảm bảo độ chính xác của nghiên cứu.
2.2.4 1 Đặc điểm chung của đối tượng nghi ên c ứu
- Tuổi mãn kinh: xác định tuổi mãn kinh nhỏ nhất, lớn nhất và trung bình
- Thời gian mãn kinh chia làm 3 nhóm
- Nghề nghiệp chia làm 5 nhóm
+ Công nhân viên (công chức, viên chức)
+ Nông dân (làm vườn, làm ruộng)
+ Khác (mua bán, thợ may, nội trợ)
- Địa dư: thành thị và nông thôn
2.2.4.2 Xác địn h t ỷ lệ các yếu tố nguy cơ tim mạch có thể thay đổi được trên ph ụ nữ m ãn kinh
- Hút thuốc lá: theo Tổ chức y tế thế giới:
+ Bệnh nhân được xem hút thuốc lá khi: Bệnh nhân đang hút thuốc lá ≥
10 điếu/ ngày, từ 3 năm trở lên, hoặc đã từng hút thuốc lá, mới ngưng hút trong vòng 6 tháng qua
+ Không hút thuốc lá khi: Không hút, hoặc đã bỏ hút ít nhất 3 năm, hoặc hút < 10 điếu/ngày và thời gian < 3năm Tính đến thời điểm nhập viện
+ Theo thang điểm Reynolds thì đối tượng có hút thuốc lá trong tháng trước được xem là có hút thuốc lá
- Béo phì tính theo chỉ số khối cơ thể (BMI): được tính theo công thức của Tổ chức Y giới thế giới
Cân nặng (kg) BMIBình phương chiều cao (m 2 ) Đánh giá BMI theo tiêu chuẩn của WHO dành cho người Châu Á năm
B ảng 2.1 Phân lo ại béo ph ì dành cho ng ười Châu Á trưởng th ành [35]
- Ít hoạt động thể lực
+ Đi bộ hoặc đi xe đạp liên tục ≥ 30 phút/ ngày (Ít nhất 5 ngày/tuần) tính là có hoạt động thể lực
Hoạt động thể lực bao gồm những hoạt động với cường độ thấp như đi bộ, chạy xe đạp, leo cầu thang hoặc làm vườn, làm ruộng Những người dành ít hơn 30 phút mỗi ngày hoặc tổng cộng ít hơn 150 phút hoạt động thể lực mỗi tuần thường được xếp vào nhóm không hoạt động thể lực hàng ngày, dễ dẫn đến lối sống tĩnh tại và ảnh hưởng đến sức khỏe.
+ Đối tượng hoạt động thể lực > 30 phút/ngày hoặc > 150 phút trong một tuần xếp vào nhóm có hoạt động thể lực hàng ngày
Tiền sử gia đình có cha hoặc mẹ mắc bệnh tim trước 60 tuổi tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim, thiếu máu cơ tim hoặc đột quỵ Đặc biệt, các yếu tố di truyền này làm tăng khả năng phát triển các vấn đề về tim mạch ở thế hệ sau Việc xác định tiền sử gia đình mắc bệnh tim ở người thân giúp nhận biết các yếu tố nguy cơ sớm và có kế hoạch phòng ngừa phù hợp Vì vậy, cần chú ý theo dõi sức khỏe, kiểm tra định kỳ và duy trì lối sống lành mạnh để giảm thiểu rủi ro mắc các bệnh tim mạch.
Tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp (THA) dựa trên định nghĩa và phân loại mức huyết áp (HA) theo JNC VI (Joint National Committee) 2003, áp dụng cho người từ 18 tuổi trở lên Theo bảng 2.2 của tài liệu này, huyết áp được phân loại thành các mức khác nhau để giúp các bác sĩ xác định và điều trị phù hợp Việc hiểu rõ các tiêu chuẩn này giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán và kiểm soát bệnh tăng huyết áp, góp phần giảm nguy cơ biến chứng tim mạch và đột quỵ.
B ảng 2.2 Phân lọai tăng huyết áp theo JNC VI [64]
Phân loại huyết áp HATT (mmHg) HATTr (mmHg)
Tăng huyết áp độ I 140-159 hoặc 90-99
Tăng huyết áp độ II 160-179 hoặc ≥ 100
Tăng huyết áp độ III ≥ 180 hoặc ≥ 110
- Rối loạn lipid (RLLP) máu:
B ảng 2.3 Phân loại rối loạn lipid máu theo NCEP -ATP III [72]
Lipid máu ( mg/dl) Phân loại
< 200 (< 5,2 mmol/L) Bình thường 200-239 (5,2-< 6,2 mmol/L) Cao giới hạn
< 100 (< 2,6 mmol/L) Tối ưu 100-129 (2,6-< 3,4 mmo/L) Gần tối ưu 139-159 (3,4-4,2 mmol/L) Cao giới hạn 160-189 (4,2-< 5 mmol/L) Cao
< 150 (< 1,7 mmol/L) Bình thường 150-199 (1,7-< 2,3 mmol/L) Cao giới hạn 200-249 (2,3-< 5,7 mmol/L) Cao
- High sensitivity C-reactive protein (hs-CRP)
Giá trị bình thường: hs-CRP: 0,00-< 1,00 mg/L Tăng khi hs-CRP > 1mg/L Mức nguy cơ hs-CRP được chia làm 3 mức độ [88]
Nguy cơ thấp < 1mg/L Nguy cơ trung bình 1-< 3 mg/L Nguy cơ cao ≥ 3mg/L
Tiền sử gia đình có cha hoặc mẹ mắc các bệnh tim như nhồi máu cơ tim, thiếu máu cơ tim hoặc đột quỵ trước 60 tuổi là yếu tố nguy cơ quan trọng Những người có tiền sử này cần chú ý kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch để phòng ngừa các biến cố đáng tiếc Việc phỏng vấn trực tiếp giúp xác định rõ hơn về tình trạng bệnh lý trong gia đình, từ đó xây dựng kế hoạch dự phòng phù hợp.
2.2.4.3 Ước lượng nguy cơ mắc bệnh mạch v ành trong 10 năm theo thang điểm Reynolds
Thang điểm Reynolds xác định các yếu tố nguy cơ bao gồm giới tính, tuổi dưới 80, thói quen hút thuốc lá, huyết áp tâm thu cao, mức cholesterol toàn phần, HDL-C, hs-CRP và tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch hoặc đột quỵ trước 60 tuổi Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch, giúp xác định nhóm có nguy cơ cao để có phương pháp phòng ngừa phù hợp Việc khảo sát đầy đủ các yếu tố nguy cơ này giúp nâng cao hiệu quả trong dự phòng và quản lý bệnh lý tim mạch.
- Tính mức độ nguy cơ bệnh mạch vành trong 10 năm cho từng đối tượng nghiên cứu bằng phần mềm của thang điểm Reynolds theo bảng 2.4
Để sử dụng phần mềm này, bạn cần điền các giá trị như giới tính (là nữ mãn kinh trong nghiên cứu này), tuổi tính bằng năm, tình trạng hút thuốc lá (có hoặc không), huyết áp tâm thu (HATT, mmHg), cholesterol toàn phần (mmol/L), HDL-c (mmol/L), hs-CRP (mg/L), và tiền sử gia đình (có cha hoặc mẹ mắc bệnh tim trước 60 tuổi hoặc không) vào các ô tương ứng Sau khi nhập đủ dữ liệu, bạn nhấn vào ô kết quả để phần mềm tự động tính tỷ lệ phần trăm nguy cơ mắc bệnh mạch vành trong 10 năm tới.
- Đánh giá kết quả: thang điểm Reynolds gồm 4 mức độ nguy cơ [79] Nguy cơ 10 năm < 5%: nguy cơ thấp
Nguy cơ 10 năm từ 5-< 10%: nguy cơ trung bình
Nguy cơ 10 năm từ 10-< 20%: nguy cơ trung bình cao
Nguy cơ 10 năm ≥ 20%: nguy cơ cao
B ảng 2.4 Bảng tính nguy cơ bệnh mạch vành theo thang điểm Reynolds
Hút thuốc lá có không
Huyết áp tâm thu mm/Hg
Cholesterol toàn phần mg/DL (or) mmol/L
HDL-c mg/DL (or) mmol/L hs-CRP mg/L
Tiền sử có cha hoặc mẹ bệnh tim trước 60 tuổi Yes No
(Nguồn: http://www.reynoldsriskcore.org/defult.asp)
Đánh giá hiệu quả cải thiện các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được như huyết áp (HA), rối loạn lipid máu và hs-CRP trong thang điểm Reynolds sau 3 tháng điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển và statin cho thấy rõ ràng những tiến triển tích cực Kết quả này cho thấy việc kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ này có thể làm giảm khả năng mắc các biến cố tim mạch, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Việc theo dõi định kỳ các chỉ số này giúp đánh giá chính xác tác dụng của phương pháp điều trị và điều chỉnh phù hợp để đạt được kết quả tối ưu.
+ Hiệu quả cải thiện huyết áp tâm thu
+ Hiệu quả cải thiện hs-CRP
+ Hiệu quả cải thiện cholesterol toàn phần
+ Hiệu quả cải thiện HDL-c
+ Tác dụng phụ của thuốc statin trong quà trình can thiệp
+ Tác dụng phụ của thuốc enalapril trong quá trình can thiệp Đối với mục tiêu 3 đối tượng chọn can thiệp gồm:
- Đối tượng tăng cả hai cholesterol TP và LDL-c: sử dụng atorvastatin 20mg/ngày, trong đó có 18 trường hợp THA sử dụng cả hai thuốc atorvastatin và enalapril
- THA (huyết áp ≥ 140/90 mmHg) sử dụng enalapril 5mg/ngày
Khám lâm sàng và xét nghiệm được thực hiện để theo dõi các chỉ số theo thang điểm Reynolds, bao gồm huyết áp tâm thu, cholesterol, HDL-c, và hs-CRP Đồng thời, các xét nghiệm theo dõi tác dụng phụ của thuốc atorvastatin và enalapril, như SGOT, SGPT, Kali và creatinin máu, được thực hiện sau 3 tháng can thiệp Kết quả xét nghiệm máu lần thứ hai sau 3 tháng sẽ được ghi nhận và phân tích để so sánh với kết quả trước khi bắt đầu điều trị.
- Chọn thuốc atorvastatin 20mg của Domesco, viên nén, vỉ 10 viên, hộp
- Liều: 20 mg/ngày Uống 1 viên 20 mg sau ăn chiều
- Chỉ định: tăng cholesterol, tăng LDL-c
- Chống chỉ định: men gan tăng gấp 3 lần bình thường
- Tác dụng phụ: đau cơ, tăng men gan
- Theo dõi: tái khám theo dõi sau mỗi 2 tuần, xét nghiệm lần 2 sau 3 tháng
Thuốc ức chế men chuyển
- Chọn enalapril 5mg của Domesco, viên nén, vỉ 10 viên, hộp 30 viên
- Liều 5 mg uống sáng, tái khám sau 2 tuần Nếu chưa đạt huyết áp mục tiêu sau 4 tuần điều trị tăng liều 10 mg/ ngày
- Chỉ định: HA ≥ 140/90mmHg, huyết áp mục tiêu < 140/90mmHg
- Chống chỉ định: creatinin > 3,4 mg/dL
- Tác dụng phụ: hạ huyết áp nếu dùng liều quá cao, suy thận chức năng, ho, rối loạn vị giác
Chuyển thuốc ức chế thụ thể như losartan 50mg/ngày cần được thực hiện khi bệnh nhân gặp tác dụng phụ gây khó chịu, đặc biệt là các vấn đề về ho Trong trường hợp này, cần xem xét đổi thuốc phù hợp để giảm thiểu tác dụng phụ và đảm bảo hiệu quả điều trị Nếu bệnh nhân phản ứng không phù hợp với losartan, có thể loại bỏ khỏi đối tượng nghiên cứu để đảm bảo tính chính xác của dữ liệu.
Tiêu chuẩn loại trừ đái tháo đường và bệnh mạch vành dựa trên phỏng vấn trực tiếp và xét nghiệm đường huyết lúc đói Các đối tượng có đường huyết đói ≥ 126 mg/dl sẽ bị loại trừ khỏi nghiên cứu, đồng thời kết quả đo điện tâm đồ cũng được sử dụng để loại trừ những trường hợp phù hợp nhằm đảm bảo tính chính xác của nghiên cứu.
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu
Tất cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều được ghi nhận đầy đủ về hành chính, khai thác bệnh sử, tiền sử bệnh lý, khám lâm sàng và cận lâm sàng theo mẫu thu thập thống nhất, bao gồm các thông tin như tuổi, tuổi mãn kinh, thời gian mãn kinh, nghề nghiệp, địa chỉ, hút thuốc lá, chỉ số BMI, hoạt động thể lực, tiền sử đái tháo đường và bệnh tim mạch Các xét nghiệm cần thiết như đo điện tâm đồ, xét nghiệm đường máu, lipid máu, SGOT, SGPT, Kali máu, creatinin máu, men gan và xét nghiệm hs-CRP được thực hiện bằng máy sinh hóa tự động theo các bước tiến hành chuẩn xác.
Đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc về đạo đức trong nghiên cứu khoa học
Bệnh nhân được thông báo rõ ràng về mục tiêu và phương pháp nghiên cứu, đồng thời tự nguyện quyết định tham gia Họ có quyền rút khỏi nghiên cứu bất kỳ lúc nào mà không cần phải giải thích lý do, đảm bảo quyền tự do và quyền lợi của người tham gia.
- Các thông tin riêng của bệnh nhân được đảm bảo bí mật Các số liệu thu thập được từ bệnh nhân chỉ phục vụ cho công tác nghiên cứu
Các bệnh nhân sẽ được khám nội khoa và làm các xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán chính xác Trong trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ hoặc phát hiện bệnh lý, bác sĩ sẽ tư vấn phương pháp điều trị phù hợp và xây dựng kế hoạch theo dõi bệnh để đảm bảo quá trình hồi phục hiệu quả.
- Nghiên cứu được sự chấp thuận của Sở Y tế, của Ban giám đốc bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu- Bến Tre.