1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

2715 khảo sát độ nhô môi và đặc điểm nền sọ trước ở trẻ 15 tuổi tại trường trung học cơ sở trần hưng đạo tp cần thơ

77 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát độ nhô môi và đặc điểm nền sọ trước ở trẻ 15 tuổi tại trường trung học cơ sở Trần Hưng Đạo TP Cần Thơ
Tác giả Tôn M Anh
Người hướng dẫn ThS.BS Lê Nguyễn Lâm
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở Trần Hưng Đạo, Cần Thơ
Chuyên ngành Chuyên ngành Khẩu Răng Hàm Mặt
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2014
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 Gi i thi u các ph ng pháp phân tích th m m môi thông d ng (11)
    • 1.1.1 Phân tích mô m m theo Ricketts (11)
    • 1.1.2 Phân tích mô m m theo Steiner (12)
    • 1.1.3 Phân tích mô m m theo Burstone (12)
    • 1.1.4 Phân tích mô m m theo Sushner (13)
    • 1.1.5 Phân tích mô m m theo Holdaway (13)
    • 1.1.6 Phân tích mô m m theo Merrifield (14)
    • 1.1.7 Phân tích mô m m theo McNamara (15)
  • 1.2 M t s c m c a n n s (15)
    • 1.2.1 Gi i ph u và ch c n ng n n s (15)
    • 1.2.2 S t ng tr ng c a n n s (16)
    • 1.2.3 Góc n n s (18)
  • 1.3 M t s nghiên c u v nhô môi và n n s tr c (19)
    • 1.3.1 Nghiên c u v nhô môi (19)
      • 1.3.1.1 Trên th gi i (19)
      • 1.3.1.2 Trong n c (20)
    • 1.3.2 Nghiên c u v n n s tr c (21)
      • 1.3.2.1 Trên th gi i (21)
    • 2.1.1 Dân s m c tiêu (24)
    • 2.1.2 Dân s ch n m u (24)
    • 2.1.3 a m nghiên c u (25)
    • 2.1.4 Th i gian nghiên c u (25)
  • 2.2 Ph ng pháp nghiên c u (25)
    • 2.2.1 Thi t k nghiên c u (0)
    • 2.2.2 C m u (25)
    • 2.2.3 N i dung nghiên c u (25)
    • 2.2.4 Ph ng pháp thu th p s li u (29)
      • 2.2.4.1 Thi t b ch p phim (29)
      • 2.2.4.2 K thu t ch p phim (29)
      • 2.2.4.4 Ph ng pháp v nét phim s nghiêng (30)
      • 2.2.4.5 D ng c o c (31)
      • 2.2.4.6 Ph ng pháp h n ch sai s (32)
      • 2.2.4.7 X lí s li u (32)
      • 2.2.4.8 Phân tích (32)
  • 2.3 o c nghiên c u (33)
  • 2.4 H n ch c a tài (33)
  • 3.1 nhô môi tr 15 tu i (nam) (35)
  • 3.2 nhô môi tr 15 tu i (n ) (37)
  • 3.3 nhô môi tr 15 tu i (nam và n ) (39)
  • 3.4 So sánh nhô môi gi a nam và n (41)
  • 3.5 So sánh phân tán gi a các cách phân tích th m m môi (43)
  • 3.6 c m n n s tr c tr 15 tu i (nam) (44)
  • 3.7 c m n n s tr c tr 15 tu i (n ) (45)
  • 4.1 nhô môi c a tr 15 tu i và s khác nhau c a nam và n (49)
    • 4.1.1 nhô môi theo phân tích Ricketts (50)
    • 4.1.2 nhô môi theo phân tích Steiner (50)
    • 4.1.3 nhô môi theo phân tích Burstone (51)
    • 4.1.4 nhô môi theo phân tích Sushner (52)
    • 4.1.5 nhô môi theo phân tích Holdaway (53)
    • 4.1.6 nhô môi theo phân tích Merrifield (53)
    • 4.1.7 nhô môi theo phân tích McNamara (54)
    • 4.1.8 phân tán d li u gi a các cách phân tích (54)
  • 4.2 c m n n s tr c c a nam và n (56)
    • 4.2.1 So sánh hai cách o chi u dài n n s tr c (56)
    • 4.2.2 So sánh các s o v góc liên quan v i n n s tr c (57)
  • 4.3 M i t ng quan gi a nhô môi và c m n n s tr c (58)
  • ng 3.1: nhô môi theo các cách phân tích nam (0)
  • ng 3.2: nhô môi theo các cách phân tích n (0)
  • ng 3.3: nhô môi theo các cách phân tích tr 15 tu i (nam và n ) (0)
  • ng 3.4: So sánh c m nghiên c u gi a nam và n (0)
  • ng 3.5: So sánh phân tán gi a các cách phân tích (0)
  • ng 3.6: c m n n s tr c nam (0)
  • ng 3.7: c m n n s tr c n (0)
  • ng 3.8: c m n n s tr c tr 15 tu i (nam và n ) (0)
  • ng 3.9: So sánh c m n n s tr c nam và n (0)
  • ng 3.10: M i t ng quan gi a nhô môi và n n s tr c (0)
  • ng 4.1: Các s o n n s chung cho hai gi i c a m t s tác gi n c ngoài (0)
  • ng 4.2: Các s o n n s riêng cho nam và n c a m t s tác gi n c ngoài (0)

Nội dung

Gi i thi u các ph ng pháp phân tích th m m môi thông d ng

Phân tích mô m m theo Ricketts

Ricketts (1981) cho rằng khó khăn trong đánh giá thẩm mỹ môi là ở mức độ phù hợp giữa môi trên và môi dưới Tuy nhiên, ông đề xuất bắt đầu với đánh giá môi trong tươn g quan với môi – cằm (ng E) Môi trên lý tưởng có độ dày khoảng 2 mm, trong khi môi dưới có thể dài hơn và có chiều rộng phù hợp hơn khi môi trên thâm nhập vào môi dưới, tạo nên tỷ lệ cân đối Môi trên trung bình có độ dày khoảng 2 mm ± 3 mm, trong khi môi dưới thường dài hơn và rộng hơn môi trên, làm tăng vẻ cân đối của khuôn mặt Khi còn trẻ, môi thường mỏng và sau đó lùi dần theo tuổi tác, giảm đi khi trưởng thành Các đặc điểm này cũng khác biệt theo từng chủng tộc, ví dụ như ở Châu Á và Châu Phi, môi có xu hướng mỏng hơn và môi dưới đặc biệt dày hơn so với da mặt.

Phân tích mô m m theo Steiner

Phân tích bao gòm sự thích nghi của mô mềm với xương khi nhìn nghiêng giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc và chức năng của khuôn mặt Dày của mô mềm liên quan mật thiết đến khả năng cân đối giữa cằm và môi, cũng như hàm dưới Mặc dù không có một khái niệm chuẩn cho một khuôn mặt nghiêng hoàn hảo, nhưng việc đánh giá các yếu tố này giúp xác định mức độ hài hòa của khuôn mặt.

Sắc tố Steiner là một yếu tố quan trọng trong cân bằng của mô mềm vùng môi Theo ông, hình dạng hài hòa của môi nên chú trọng đến mô mềm ở trung tâm của vùng chữ S, nhằm tạo nét đều đặn, tự nhiên cho khuôn mặt Nếu môi trên quá nhô, sẽ gây ra cảm giác mất cân đối hoặc không tự nhiên; còn môi dưới quá dày hoặc lõm sẽ làm khuôn mặt trông thiếu cân đối Khi hai môi sau này không cân đối, khuôn mặt sẽ mất đi nét hài hòa, ảnh hưởng đến thẩm mỹ toàn diện.

Hình 1.1: a) Phân tích mô m m Steiner, b) Phân tích mô m m Ricketts

Phân tích mô m m theo Burstone

Burstone (1959) thiên v vi c xác nh dày mô m m M u c a ông g m

Dựa trên phân tích các số liệu trung bình, môi và cằm có cấu trúc cong theo nhiều hướng khác nhau, dẫn đến các mô mềm dễ bị sai lệch khi đo lường Chính vì vậy, cần dựa vào các phương pháp khảo cứu như khảo sát kiểu dáng ngắn và vuông góc để xác định rõ các hướng đo đạc chính xác, trong đó có 6 trục ngang và 3 trục dọc Năm 1967, ông đã đưa ra phương pháp chỉnh hình môi khác biệt, kết hợp với việc tiếp xúc và đo đạc theo các hướng này, nhằm xác định sự nâng môi bình thường Theo đó, chiều nâng môi bình thường theo các nghiên cứu là khoảng 3,5 ± 2,8 mm đối với môi trên và 2,2 ± 3,2 mm đối với môi dưới [9], giúp định hướng chính xác trong hoạt động chỉnh hình và phục hình thẩm mỹ môi.

Phân tích mô m m theo Sushner

Nghiên cứu của Sushner (1977) so sánh giá trị của mô mềm với các phương pháp phân tích của Ricketts, Steiner và Holdaway trên 1000 người da en Bắc Mỹ Kết quả cho thấy các phương pháp này thường không áp dụng cho người da en do đặc điểm môi và khuôn mặt khác biệt Trong đó, môi trên thường nhô ra trung bình 9,5 mm, còn môi dưới nhô ra trung bình 7,25 mm, phản ánh đặc điểm môi và nét mặt của người da en Nghiên cứu sử dụng các điểm mấu chốt như Nasion và Pogonion để đánh giá tỷ lệ môi và các nét mặt từ góc nhìn nghiêng, giúp các nhà chỉnh hình xác định mục tiêu điều chỉnh phù hợp với đặc điểm sinh học của từng nhóm dân tộc.

Hình 1.2: a) Phân tích mô m m Sushner, b) Phân tích mô m m Burstone

Phân tích mô m m theo Holdaway

Holdaway (1984) đề cập đến các yếu tố quan trọng để đánh giá cân đối khuôn mặt, bao gồm góc mô t nhô ng hàm trên so với xương hàm dưới (góc ANB) là 2º và góc t ôbị giao mật của ngầm thép ng phía trán môi trên (ng NB) qua mô mềm vùng cằm và môi trên (ng H), khoảng 7º-9º Môi trên và môi dưới cân đối khi ngậm môi H, với độ cong hài hòa của môi trên khoảng 9 mm ở tuổi 13, giúp xác định tỷ lệ hợp lý trong thẩm mỹ khuôn mặt Khoảng cách từ mô mềm vùng môi trên đến điểm trung bình của môi trên trung bình là 5 ± 2 mm, giúp xác nhận cân bằng giữa khe môi trên, môi trên và cằm Giá trị từ 7 mm trở lên thể hiện môi dưới hoặc môi trên phát triển quá mức hoặc khe môi trên sâu, trong khi giá trị nhỏ hơn 3 mm cho thấy môi trên hoặc khe môi trên ít sâu hoặc phát triển không đều, ảnh hưởng đến thẩm mỹ khuôn mặt.

Phân tích mô m m theo Merrifield

Merrifield (1966) đã nghiên cứu về tiếp xúc giữa môi trên và môi dưới trong quá trình đánh giá hàm mặt, sử dụng góc Z theo phương Frankfort để xác định cằm và môi nhô Công thức này giúp đo lường các góc và khoảng cách chính xác, từ đó đánh giá sâu hơn về hình dạng và tỷ lệ của môi, đặc biệt khi môi trên tiếp tuyến hoặc lùi hơn so với môi dưới Trong điều kiện bình thường, góc Z trung bình khoảng 80º, với nhóm người từ 11 đến 15 tuổi có góc khoảng 78º, phản ánh sự biến đổi tự nhiên của cấu trúc môi theo độ tuổi Công tác đo lường này rất quan trọng trong phẫu thuật và thẩm mỹ khuôn mặt, giúp định hình chính xác dựa trên các dữ liệu về góc và tỷ lệ môi.

Hình 1.3: a) Phân tích mô m m Merrifield, b) Phân tích mô m m Holdaway

Phân tích mô m m theo McNamara

Góc môi trên là góc tạo thành giữa đường nối giữa môi trên và góc môi với đường viền hàm, thể hiện đặc điểm môi và cấu trúc khuôn mặt Trung bình, góc môi trên có giá trị khoảng 102º với độ lệch tiêu chuẩn là 8º, cho thấy tỷ lệ cân đối hàm mặt trung bình Khi góc môi trên quá nhô hoặc quá dẹt, nó phản ánh các bất thường về hình dạng và cấu trúc môi Nghiêng của môi trên có thể đạt tới khoảng 14º hoặc 8º, tùy thuộc vào các đặc điểm riêng của từng cá nhân, so với trục vuông góc của cấu trúc gương mặt Nghiêng môi trên lớn hơn thể hiện sự lệch hoặc biến dạng của cấu trúc môi, ảnh hưởng đến thẩm mỹ khuôn mặt.

Hình 1.4: Phân tích mô m m McNamara: a) Góc m i môi, b) Góc môi trên

M t s c m c a n n s

Gi i ph u và ch c n ng n n s

Hệ thần kinh là cấu trúc xương phức tạp, có vai trò quan trọng trong hệ thần kinh của con người Não bộ là trung tâm của hệ thần kinh, bên cạnh đó còn có hệ thần kinh ngoại vi liên kết với não Hệ thần kinh chia thành ba phần chính khi nhìn từ trên xuống gồm hệ trục, hệ giữa và hệ sau Hệ trục có đài hiệu nằm phía trước là mặt xoang trán và phía sau là bệ sau cánh nhụ ng x ng bầm, hai mang yên bầm trục và rãnh giao thoa thị giác Hệ giữa có các đài hiệu nằm phía trước là cánh lớn xung bầm và phía sau là một đĩa phía sau ngăn chia dạng và một phần thân sau bằng bầm Trung tâm của hệ này là hạt tuyền yên, bao quanh bởi bệ bốn mầm yên ng Bầm Hệ sau có tổ chức gồm phần lớn bệ xung bầm, giúp phối hợp các hoạt động của hệ thần kinh hiệu quả.

Hình 1.5: Gi i ph u n n s nhìn t trên xu ng

Não là bộ não trung tâm kiểm soát các chức năng sống, liên kết với các bộ phận khác như hệ thần kinh và các cơ quan, đảm nhiệm vai trò quan trọng trong sự phát triển của hệ thần kinh trung ương Não gồm nhiều bộ phận quan trọng như vùng vỏ não và hệ thần kinh trung ương, đóng vai trò then chốt trong quá trình phát triển hệ thần kinh Các bất thường của não có thể gây ra các triệu chứng rõ ràng như các hội chứng rối loạn phát triển hệ thần kinh như hội chứng Apert, hội chứng Crouzon, hội chứng Pfeiffer, hội chứng Down, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển của hệ thần kinh trung ương.

Nghiên cứu về sự biến đổi và sự đa dạng sinh thái của các loài sinh vật khác nhau như bò sát, chim, và động vật có vú, bao gồm cả linh trưởng và con người, cho thấy quá trình tiến hóa đã đem lại những thay đổi về hình thái và cấu trúc sinh học Trong quá trình tiến hóa, các loài đã có sự biến đổi về hình dạng và cấu trúc, phù hợp với môi trường sống của chúng, như sự phát triển của hai chân ở các loài để thích nghi và thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu Những phát hiện này vẫn luôn là những chủ đề hấp dẫn và thu hút sự chú ý của các nhà nhân chủng học cũng như các nhà sinh thái học.

S t ng tr ng c a n n s

Vai trò của nơ-ron s là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển của bộ não, hình dạng của nơ-ron s ảnh hưởng trực tiếp đến sự sắp xếp của các phức hợp tối ưu Nơ-ron s có các vị trí tinh thần như khắp bề mặt chẩm, khắp không gian bề mặt, khắp diện chẩm và khắp bề mặt sàng Hoạt động của các khắp này theo chu kỳ sinh trưởng, trong đó khắp không gian bề mặt phát triển từ 1 đến 5 tuổi, góp phần quan trọng vào sự trưởng thành của nơ-ron s Khắp bề mặt chẩm kéo dài khoảng 20 tuổi, thể hiện rõ vai trò kéo dài của nơ-ron s trong quá trình phát triển thần kinh Các khắp này thích nghi với nhu cầu của mô não và hoạt động của ngành thần kinh trung ương, trong khi khắp bề mặt sàng có nhiều biến đổi theo tuổi, trung bình kéo dài đến 7 tuổi hoặc 25 tuổi, ảnh hưởng lớn đến chức năng của não bộ trong các giai đoạn trưởng thành, giúp kích thích các hoạt động sinh lý thích hợp.

Thứ nhất, ánh sáng là yếu tố quan trọng trong quá trình tranh luận và xây dựng hình dạng của nón s (hình dạng não và hình dạng khí hậu), ảnh hưởng lớn đến việc tạo hình dáng của nón s theo quy chuẩn của tác động di truyền Thứ hai, ánh sáng còn liên quan đến các nguồn ngôn ngữ tác động chính đến sự phát triển hình dạng của nón s, góp phần định hình cấu trúc và chức năng của chúng theo các quy luật di truyền đã được xác định.

(Ngu n: i h c Y d c TPHCM (2004),Ch nh hình R ng M t[4])

Góc n n s

Góc n n s là góc tạo thành giữa n n s tr c và n n s sau g p nhau Khi góc n n s nhỏ hơn, phần sau hàm d ị l ra tr ch n, còn phần sau hàm tr n lùi sau nhi n; ngược lại, khi góc n n s lớn hơn, phần sau hàm d ị l ra tr và phần sau hàm tr n ra tr h n, ảnh hưởng đến cấu trúc của hàm và diện mạo khuôn mặt Thời gian dài thì góc n n s tù, còn thời gian ngắn thì góc n n s nh n h n, phản ánh quá trình phát triển và biến đổi của cấu trúc hàm theo tuổi tác N gọn n n s được chia thành hai phần: n n s tr c và n n s sau, có đặc điểm lý học khác nhau và tăng trưởng c l p nhau, trong đó trung tâm của n n s hoàn toàn phù hợp với tiến trình tăng trưởng dạng nhanh hơn phần trc, phần sau và phần bên của n n s cũng phát triển theo t n tr ng và kích th c c dài của ng i tr ng thay đổi theo tuổi N gày càng phát triển, n n s tr c có khả năng thích ứng nhanh hơn phần trc, góp phần quan trọng vào sự hoàn thiện chức năng và hình dáng của khuôn mặt, với mặt định trung tâm là quá trình tăng trưởng nhanh trong những năm đầu đời, đặc biệt mạnh mẽ khi trẻ khoảng 6 tuổi, còn phần phía sau tiếp tục tăng trưởng theo quá trình tăng trưởng sinh lý tự nhiên sau khi quá trình phát triển thân kinh và thể chất của trẻ hoàn tất.

Hình 1.7: 1) N n s tr c, 2) N n s sau, 3) Góc n n s(Ngu n: Jacobson A (1995), Radiographic Cephlometry [34])

M t s nghiên c u v nhô môi và n n s tr c

Nghiên c u v nhô môi

Trong kiến trúc nhà ở, sự hài hòa giữa các yếu tố môi trường, không gian và nội thất đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra không gian sống cân đối và thúc đẩy sự cân bằng của con người Theo các nghiên cứu của Wangsrimongkol dựa trên lý thuyết của Ricketts, môi trường thiên nhiên và kiến trúc cần phối hợp hài hòa để mang lại cảm giác thoải mái và cân bằng cho người sử dụng Điều này thể hiện rõ qua việc thiết kế các không gian mở, sử dụng màu sắc tự nhiên và bố trí hợp lý các yếu tố nội thất nhằm tạo nên sự yên bình, sinh khí tích cực trong từng không gian sống.

Nghiên cứu của CS (1998) trên phim nghiêng cho thấy giới trẻ từ 17 đến 21 tuổi có môi trên và môi dưới nhô cao hơn so với người Caucasian Thể hiện rõ môi dưới nhô lên hơn so với người phương Tây Ngoài ra, nghiên cứu của Mohammad và CS (2011) trên phim nghiêng của 60 người Malaysia đều sử dụng phân tích Steiner, cho thấy môi trên và môi dưới của người Malaysia có mức độ nhô cao hơn so với người Caucasian Các kết quả này giúp nhận diện đặc điểm cấu trúc môi theo từng nhóm dân tộc.

Nghiên cứu của Fortier (2000) chỉ ra rằng, mô cụ thể của các cấu trúc môi thay đổi theo từng độ tuổi, đặc biệt từ 12 đến 20 tuổi Chiều dài môi trên xác định rõ rệt, thường nằm trong khoảng 12 đến 14 mm, trong khi độ dày môi trên đạt đỉnh vào khoảng 14 mm Đến khoảng 16 tuổi, chiều dài môi trên tăng đáng kể Khoảng cách giữa hai môi hiện rõ hơn do hai môi lùi về phía sau trong quá trình nghiên cứu, làm nổi bật vùng môi cứng và mô mỡ của môi trên nhô ra rõ rệt hơn.

Saglam và CS (2001) đã nghiên cứu về sự biến đổi của các biện pháp chỉnh hình theo thời gian, dựa trên công trình của Holdaway từ 9 đến 12 tuổi, cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong chiều cao của các biến số này theo độ tuổi Tuy nhiên, họ nhận thấy do độ dày của môi trên và sự giảm khoảng cách từ chân mũi đến cằm không rõ ràng, nên các biến số này không thể phân biệt rõ ràng các giai đoạn phát triển khác nhau.

Lu và CS (2003) đã đánh giá chính xác mô hình trên máy tính sau quá trình thu thập hình ảnh, cho thấy môi trên đoán ít sai hơn so với môi dưới Điều này là do môi trên theo dõi theo một phương ngữ cố định rõ ràng hơn, trong khi môi dưới dễ chệnh lệch do xu hướng nhô ra trước, gây khó khăn trong việc đo lường chính xác.

Năm 1993, Bravo đã nghiên cứu và mô tả mức độ thay đổi trên bệnh nhân sai khớp có diễn ra trong giai đoạn từ 12 đến 20 tuổi Các kết quả cho thấy sự thay đổi này có ảnh hưởng đáng kể và cần được so sánh với các phương pháp khác để đánh giá hiệu quả Đặc biệt, các nghiên cứu của Bravo tập trung vào các yếu tố như ảnh hưởng của tuổi tác và các yếu tố môi trường, góp phần nâng cao hiểu biết về quá trình phát triển của bệnh Những phát hiện này cung cấp nền tảng quan trọng cho việc ứng dụng các phương pháp chẩn đoán và điều trị sớm, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Hình chụp cho thấy 12% mẫu có khuôn mặt nghiêng rõ ràng hơn và hơi chếch nhẹ, tuy nhiên thay đổi của môi không đáng kể Khi bệnh nhân có các đặc điểm sau đây, không nên nhấn răng cửa: góc mí môi trên khoảng 110º, khoảng cách từ môi trên đến nền B là 3 mm, khoảng cách từ môi dưới đến nền B là 2 mm, khoảng cách từ xương răng hàm trên đến nền H là 3 mm hoặc khoảng cách môi dưới đến nền H là 0 mm.

Các bác sĩ nhận định hình dáng môi trên có nhiều đặc điểm khác nhau, bao gồm môi trên nghiêng, môi trên chụp bằng máy không thu thập hình, đồng thời còn đánh giá về vùng môi qua phim siêu âm Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Nhân (2001) khảo sát vùng môi trẻ 7 tuổi qua chụp thường và chụp bằng máy không thu thập hình, nhận thấy vùng môi dưới, môi trên và cằm nằm gần nhau Nhân trung và chiều dài môi trên nam giới thường lớn hơn nữ giới, và những đặc điểm như phần môi trên có cả phần cánh và dày hơn ở nam giới.

Lê Huy Th (2003) khảo sát những người Việt trồng thành cho thấy hai môi của người Việt Nam đều nhô ra trục tự cùng thêm mỡ (ng E, ng S, ng B, ng S2, ng H và ng M) Môi nam nhô nhiều hơn môi trên, môi trên thuôn và phẳng, còn môi dưới có hình dạng cong rõ ràng hơn Sự khác biệt giữa môi trên và môi dưới mang tính xáo ra rõ ràng, giúp phân biệt rõ ràng các đặc điểm cấu trúc môi của người Việt.

Các nghiên cứu so sánh kích thước môi ngậm của người trưởng thành cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm người ảnh hưởng loại I và loại II trên phim s nghiêng Nguyễn Thị Minh Hạnh (2004) đã phân tích và kết luận rằng nhóm ảnh hưởng loại I gồm các môi ngậm của người Việt Nam có xu hướng nhô ra phía trước, trong khi môi ảnh hưởng loại II có đặc điểm môi dưới nhô nhiều hơn so với môi trên Ngoài ra, còn có sự khác biệt về độ dày giữa hai môi, với môi dưới dày hơn môi trên, nhưng độ dày của vùng cằm lại không đồng đều Góc môi của người Việt Nam nhỏ hơn so với người Caucasian, do môi ngậm của người Việt Nam nhô ra trước và hướng lên trên nhiều hơn so với môi của người Caucasian.

M t l n n a ánh giá rõ ràng h n s cân i mô m m c a nét m t nhìn nghiêng trên ng i tr ng thành có kh p c n bình th ng, Nguy n Th M L

Năm 2007, nghiên cứu phân tích cho thấy mô hình A (Sls) của nam châu Âu nổi bật hơn so với mô hình B (Ils) ở miền Nam Việt Nam Đồng thời, mô hình Sls của châu Âu có mức độ nổi bật hơn so với miền Nam Việt Nam, trong khi đó, mô hình Ils và môi trường của miền Nam Việt Nam lại vượt trội hơn so với châu Âu.

Nguyễn Lan Anh (2008) phân tích mô hình Holdaway của người Việt Nam trưởng thành có khuôn mặt hài hòa, đặc biệt nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa cảm giác giữa nam và nữ qua các đặc điểm như môi và hàm Cô đã chỉ ra rằng các đặc điểm phân tích không chỉ dựa trên các điểm chuẩn mà còn phản ánh sự đa dạng về đặc trưng hình thái của từng giới Phân tích này giúp hiểu rõ hơn về các đặc điểm sinh học và tính cách của từng giới trong các nghiên cứu về hình thái khuôn mặt.

Nghiên c u v n n s tr c

1.3.2.1 Trên th gi i n s ng n gi a ph n x ng s và x ng m t Ph c h p m i hàm trên liên v i n n s tr c trong khi hàm d i liên quan v i n n s sau Vì v y, hình d ng a n n s tr c là y u t quan tr ng quy nh v trí hàm trên S t ng tr ng và phát tri n c a vùng này c t ng t c và di n ra giai n s m so v i nh ng vùng khác c a ph c h p s m t Vì v y, n n s ít b ph i nhi m v i y u t môi tr ng và phát tri n ch y u do gen quy nh; s phát tri n c a n n s không c n y u t kích thích khác hay b nh h ng b i l c ch nh nha [19] Th t v y, Alió-Sanz và CS

(2011) [17] nghiên c u s thay i c a n n s và x ng hàm trên b nh nhân u tr b ng khí c ch c n ng Frankel nh n th y chi u dài n n s tr c không b nh ng b i khí c , dù n n s có ph ng h n.

Nghiên cứu của Hayashi năm 2003 đã làm rõ mối liên hệ giữa các loại sai khớp cắn và các yếu tố hình thái hàm mặt qua các nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau Ông đã phân chia các nhóm sai khớp cắn trông liên quan đến cấu trúc răng hàm trên qua chụp CT thành hai nhóm chính, nhóm I và nhóm II Tác giả nhấn mạnh rằng yếu tố chính ảnh hưởng đến sự trục của nèn s trục liên quan đến vị trí xương hàm trên, góp phần hiểu rõ hơn về cơ chế sinh lý của sai khớp cắn.

Tr c ó, Kasai và CS (1994) [36] th c hi n nghiên c u v m i liên quan gi a n n s và t ng tr ng t ng m t trên s ng i Nh t có x ng h ng I và h ng

Trong nghiên cứu, các yếu tố như chiều cao của răng số 2, răng sau và góc nghiêng của chúng đều liên quan mật design đến hình dạng và kích thước của răng hàm trên Kết quả cho thấy hình dạng, kích thước của răng liên quan chặt chẽ đến chiều dài của mặt, độ nghiêng của xương hàm trên, cũng như sự nhô ra trước của cẳng hàm trên và hàm dưới.

Khối lượng lưỡi kéo dài của chiủ dài là yếu tố quan trọng trong cấu trúc và chức năng của hệ thống sinh học, ảnh hưởng tới khả năng liên kết và truyền tín hiệu Yassir (2008) nhấn mạnh vai trò của tính hèn là hình xung liên hệ chặt chẽ với chiều dài của nón sờ trục, chia các hệ sinh học thành hai nhóm dựa trên xung hằng I và II Ông cũng nhận thấy rằng chiều dài nón sờ trục của nam không khác biệt giữa hai hệ sinh học này Chiều dài nón sờ trục và chiều cao của tông hỗ trợ tổng quan về mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng của hệ thống sinh học trong các nhóm này.

Nhiều nghiên cứu cho thấy cấu trúc xương hàm ảnh hưởng đáng kể đến chiều dài và hình dạng của xương hàm dưới và trên, trong đó xương hàm dưới có tác động rõ ràng hơn so với xương hàm trên Proff và CS (2008) chỉ ra rằng người có xương hàm dạng III thường có chiều dài hàm dưới giảm rõ rệt do các thay đổi trong cấu trúc cơ thể, còn chiều dài hàm trên không bị ảnh hưởng nhiều Xương hàm dạng III còn liên quan đến sự giảm rõ rệt chiều cao của các nốt sụn, chủ yếu do các thay đổi trong thân nón sụn hoặc nón sụn sau ngắn Ngoài ra, vai trò của nón sụn trong nguyên nhân sai khớp và hình dạng cấu trúc cung cấp các phương pháp tham chiếu quan trọng để đánh giá sự thay đổi quá trình tăng trưởng của từng cá thể Các phương pháp đo lường như m S và N, dựa trên cấu trúc giữa các điểm xác định, giúp xác nhận chiều cao, ít bị ảnh hưởng bởi xoay hoặc dịch chuyển của các điểm trong quá trình chụp phim, tuy nhiên lại có thể không chính xác khi quá trình tăng trưởng không đồng đều hoặc dữ liệu quá dốc hoặc quá cao của m S Các nghiên cứu của Ricketts (1960) chỉ ra rằng các tâm hình học như CC, Pt, Xi có thể làm tham chiếu để phân tích hình dạng của các cấu trúc xương, ít bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi qua quá trình phát triển và có độ chính xác cao Trong quá trình trưởng thành, Bjork (1955) theo dõi sự tăng trưởng của các tầng sụn từ 12 đến 20 tuổi, nhận thấy mối liên hệ giữa sự giảm của các nón sụn và hình dạng cấu trúc Các điểm tham chiếu này phản ánh chính xác và khá rõ nét trong việc đánh giá sự phát triển của cấu trúc xương trong giai đoạn tuổi trưởng thành, đồng thời giúp xác định các đặc điểm hình thái phù hợp trong các nghiên cứu về tăng trưởng cấu trúc xương hàm.

Một nghiên cứu của Arat và CS (2010) đã được thực hiện trên 30 bệnh nhân tiểu đường type 1, sử dụng các phương pháp tham chiếu của Bjork, Ricketts, Steiner và người thứ hai, tập trung vào hai phương pháp: T (chuyển đổi) - W (giao mục của cánh lên và cử vai xoắn bầm) Nghiên cứu cho thấy rằng các phương pháp thay đổi chủ yếu theo chiều ngang và chiều dọc, trong đó các thành phần của phương pháp S và PTM còn chưa rõ ràng, đặc biệt là trong thời gian dài sau đó, dẫn đến các phương pháp tham chiếu bị giảm giá trị trong nghiên cứu này Các phương pháp T và W phù hợp hơn với các phương pháp theo chiều ngang, phù hợp với mục tiêu và đặc điểm của nghiên cứu.

Lê Võ Y n Nhi (2009) [11] nghiên c u s t ng tr ng s m t tr Vi t Nam

Theo phân tích của Ricketts, chiều dài chân trục và chiều dài trung tâm của chi thể nam giới tăng dần theo độ tuổi, đặc biệt là từ 10 đến 14 tuổi Trong giai đoạn này, sự phát triển nhanh chóng của chiều dài chân trục và sự chênh lệch chiều cao của nam giới ngày càng rõ rệt, góp phần nâng cao khả năng vận động và hình thái cơ thể Giai đoạn 12 đến 14 tuổi đặc biệt nổi bật với sự tăng trưởng nhanh của các chi thể, phản ánh quá trình trưởng thành sinh lý và hình thành dáng vóc trưởng thành của nam giới.

Trong các nghiên cứu của Khác Thêm (2009, 2010) [15], [16], việc nghiên cứu quá trình tăng trưởng của răng sữa nghiêng cho trẻ từ 3 đến 13 tuổi cho thấy mối quan hệ giữa chiều dài nề s tr c và xương hàm trên, xương hàm dưới và chiều cao tăng trưởng Ông nhận thấy góc nề s nam và n không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, đồng thời chiều dài nề s tr c và góc nề s hậu không thay đổi rõ ràng theo độ tuổi.

3 n 13 tu i Chi u dài n n s tr c nam và n h u nh không khác bi t có ý ngh a th ng kê t ng l a tu i nh ng chi u dài n n s tr c c a nam l n h n n có ý ngh a l a tu i 5 và 7.

I T NG VÀ PH NG PHÁP NGHIÊN C U

Dân s m c tiêu

t c h c sinh t i tr ng Trung h c c s Tr n H ng o, qu n Ninh Ki u,thành ph C n Th

Dân s ch n m u

c sinh l p 9 n m h c 2013 - 2014 t i tr ng Trung h c c s Tr n H ng o, qu n Ninh Ki u, thành ph C n Th vTiêu chu n ch n m u:

Tu i: 15 tu i, là ng i Vi t, dân t c Kinh.

Không có u tr ch nh hình tr c ó.

Kh p c n bình th ng theo Angle: múi ngoài g n c a r ng c i l n th nh t hàm trên kh p v i rãnh ngoài g n r ng c i l n th nh t hàm d i, các r ng trên cung hàm s p x p theo m t ng c n kh p u n.

Không có r ng m c chen chúc. c n ph , c n chìa bình th ng (2 ± 2 mm).

Có 28 r ng v nh vi n. v Tiêu chu n lo i tr :

Tr ho c ph huynh không ng ý tham gia nghiên c u.

Có viêm nhi m vùng hàm m t.

Có nh ng d hình do b nh lý hay do nh ng thói quen x u. v Tiêu chu n ch n phim:

Ch t l ng t t, th y rõ các chi ti t c n kh o sát. ng t th l ng múi t i a và môi v trí th giãn t nhiên.

Sau khi h i, th m khám và ch n phim có t t c 59 phim (41 phim c a nam và

18 phim c a n ) áp ng tiêu chu n.

a m nghiên c u

Tr ng Trung h c c s Tr n H ng o, qu n Ninh Ki u, thành ph C n Th

Th i gian nghiên c u

Ph ng pháp nghiên c u

C m u

Tr ng Trung h c c s Tr n H ng o g m 5 l p 9 v i t ng s h c sinh p 9 là 193 h c sinh M u c ch n là toàn b h c sinh l p 9 t i tr ng.

N i dung nghiên c u

Xác nh các m m c trong phân tích :

Xác nh m m c mô m m trên m t ph ng d c gi a sau:

• m Ns (soft tissue Nasion): m sau nh t mô m m vùng kh p kh p trán m i.

• m Ste: m n m gi a nh m i và Subnasal (Sn) trên ng cong ch S c a chân m i.

• m Sn (Subnasal): m sau nh t c a vùng n i chân m i và môi.

• m Sls (Superior labial sulcus): m sau nh t c a rãnh môi trên ( m rãnh môi trên).

• m Ls (Laberale superius): m nhô nh t môi trên ( m môi trên).

• m Sto (Stomion): m hai môi ch m nhau.

• m Li (Laberale inferius): m nhô nh t môi d i ( m môi d i).

• m Ils (Inferior labial sulcus): m sau nh t c a rãnh môi d i ( m rãnh môi d i).

• m Pgs (soft tissue Pogonion): m tr c nh t c a mô m m vùng m.

Hình 2.1: Các m m c mô m m nhìn nghiêng

Xác nh m m c trên mô c ng :

• m S (Sella turnica): tâm c a h yên x ng b m.

• m N (Nasion): m tr c nh t c a ng kh p trán - m i.

• m CC (Center of cranium) : giao m c a m t ph ng Ba-N và ng th ng Ptm-Gn.

• m Ba (Basion): m d i nh t c a b tr c l ch m.

• m Ss hay m A (Subspinale): m sau nh t c a x ng r ng hàm trên.

• m I (Incision superius): m d i nh t c a b c n r ng c a trên m r ng c a).

• m Sm hay m B (Supramentale): m sau nh t c a x ng r ng hàm d i.

• m Ptm (Pterygomaxillare): m th p nh t c a khe chân b m hàm.

• m Pg (Pogonion): m tr c nh t c a c m trên m t ph ng d c gi a.

• m Gn (Gnathion): là giao m c a c m v i ng phân giác c a góc p b i m t ph ng hàm d i theo Downs v i m t ph ng m t (qua Nasion - Pogonion).

• m Me (Menton): m d i nh t c a c m trên m t ph ng d c gi a.

• m Go (Gonion): là giao m c a góc hàm v i ng phân giác c a góc h p b i m t ph ng hàm d i theo Downs v i ti p tuy n c a b sau nhánh ng x ng hàm d i (không tính c l i c u).

Phương pháp trung bình (theo Downs) mô tả vùng nhỏ nhất trên phim ảnh nằm giữa răng cối lớn nhất và răng cối nhỏ nhất, có ý nghĩa quan trọng trong phân tích hình ảnh răng Trong các tình huống, các vùng của bộ răng đều có thể chứa nhiều đặc điểm khác nhau, phản ánh mối quan hệ giữa các vùng cận và vùng xa của các răng cối nhỏ nhất, góp phần hỗ trợ chẩn đoán chính xác trong nha khoa.

• t ph ng kh u cái: là ng (trên phim) i qua m gai m i tr c (ANS) và m gai m i sau (PNS).

Hình 2.2: Các m m c mô c ng nhìn nghiêng

Các điểm mấu chốt sau đây mô tả 6 điểm chuẩn trên mặt, theo các lý thuyết khác nhau về phân tích hàm mặt Điểm H theo Holdaway là điểm tiếp xúc giữa da cằm và môi trên, phù hợp với góc H của hàm dưới Điểm E theo Ricketts là điểm tiếp xúc của da cằm qua môi dưới, còn điểm S theo Steiner là điểm tiếp xúc của da cằm qua đường Ste Burstone định nghĩa điểm B là điểm qua Sn, tiếp xúc của da cảm với hàm dưới Merrifield đã xác định điểm M là điểm tiếp xúc giữa môi trên và da cằm, phù hợp với m đặt theo góc Frankfort là góc Z Cuối cùng, điểm S2 theo Sushner là điểm qua Ns và tiếp xúc của da cằm, góp phần trong phân tích hình thái khuôn mặt.

Các s o liên quan n môi: m 4 s o góc và 20 s o kho ng cách nh sau:

• 8 s o kho ng cách t Ls và Li n các ng th m m E, S, B và S2 (Ls- E, Ls-E, Ls-S, Li-S, Ls-B, Li-B, Ls-S2, Li-S2).

• 1 s o góc H và 2 s o kho ng cách Sn, Li n ng H (Sn-H, Li-H).

• 1 s o góc Z và 1 s o kho ng cách Ls ho c Li n ng M (Ls-M, L- M).

• 2 s o góc môi: góc m i môi và góc môi trên (GMM, GMT).

Các điểm sọ chiếu ngang quan trọng bao gồm các điểm như Subnasale (Sn), rãnh môi trên (Sls), môi trên (Ls), môi dưới (Li), rãnh môi dưới (Ils), và Pogonion (Pg), giúp xác định các chiều cao của các vùng khuôn mặt Ngoài ra, còn có các điểm sọ chiếu dọc như Subspinale (A-Sls), Supramentale (B-Ils), và Stomion (I-Sto), giúp đánh giá các đường thẳng chính trong phân tích khuôn mặt Các điểm sọ chiếu ngang nằm trong mặt phẳng khuôn mặt chính, trong khi các điểm sọ chiếu dọc vuông góc với mặt phẳng khuôn mặt, hỗ trợ trong đánh giá tỷ lệ và cấu trúc xương mặt một cách chính xác.

Ghi chú: Các m m c mô m m môi phía sau các ng th m m thì mang giá tr âm (-), còn phía tr c các ng th m m thì mang giá tr ng (+).

Các s o liên quan n n n s tr c: m 2 s o kho ng cách và 8 s o góc nh sau:

• S-N: dài c a n n s tr c - theo ng Kh c Th m (2010) [15].

• Cc-N: dài c a n n s tr c - theo Lê Võ Y n Nhi (2009) [11].

• Góc N-S-ANS: mô t s nhô hay phát tri n v phía tr c c a x ng hàm trên so v i n n s tr c.

• Góc S-N-ANS: mô t nhô hay phát tri n v phía tr c c a gai m i tr c hay x ng hàm trên so v i n n s tr c.

• Góc N-S-PNS: mô t s di chuy n ra tr c c a gai m i sau c a x ng hàm trên.

• Góc gi a m t ph ng S-N và m t ph ng kh p c n.

• Góc N-S-Me: mô t nhô hay phát tri n v phía tr c c a c m.

• Góc S-N-Me: mô t nhô hay phát tri n v phía tr c c a c m hay hàm i so v i n n s tr c.

• Góc N-S-Go: mô t v trí c a góc hàm so v i n n s tr c.

Ph ng pháp thu th p s li u

Phim tia X Kodak Dental Film loại s kích thước 8x10 inch (T.Mart TM CAT 1589852, 20,3 x 25,4 cm) được sử dụng phổ biến trong chẩn đoán nha khoa nhờ vào khả năng ghi hình chính xác Sản phẩm đi kèm với cassette hiệu Kodak Lanex regular screen kích thước 8x10 inch, giúp tối ưu hóa quá trình chụp hình và đảm bảo hình ảnh rõ nét Tuy nhiên, sản phẩm này không ghi mã số của nhân viên, giúp đảm bảo tính riêng tư và an toàn dữ liệu.

Máy ch p hình phim hi u PANEX- EC s hi u X100EC - 9405, v i lo i ng u dài, 65 KVP, 100mA trong th i gian t 1/2 - 1 1/2 giây Kho ng cách t u èn n m t ph ng d c gi a là 1,52m.

Phim C gi càng sát mặt càng tối, tạo ra hiệu ứng phóng to và chuẩn hóa các khúc thu nho Trong quá trình chụp phim, các nhị trong giá giữ ở vị trí cố định, sao cho mặt phẳng phim song song với sàn nhà, đảm bảo hình ảnh trung tâm rõ nét và tự nhiên Các tia X xuyên qua tai vào phim theo góc phù hợp để thu được hình ảnh rõ ràng Tất cả các phim đều được chụp bởi một kỹ thuật viên tại Bệnh viện 121 thành phố Cần Thơ, đảm bảo chất lượng và độ chính xác của hình ảnh y học.

2.2.4.3 K thu t ch p phim phóng i: phóng i c a phim tia X là 10%.

Phóng xạ của máy tia X được đo bằng cách lấy tỷ lệ phần trăm chênh lệch giữa chiều dài hình ảnh trên phim tia X và chiều dài thực của vật thể, phản ánh chính xác kích thước của vật thể Khoảng cách từ nguồn tia X đến vật thể và từ vật thể đến phim đều đã chuẩn hóa, giúp giữ phóng xạ ở mức ổn định khoảng 10% Dữ liệu đo lường phản ánh kích thước thực tế của vật thể trước khi phóng xạ, mặc dù đây là dữ liệu thô chưa qua xử lý, đảm bảo độ chính xác cao trong các ứng dụng y học và công nghiệp.

2.2.4.4 Ph ng pháp v nét phim s nghiêng t c phim s nghiêng t yêu c u nghiên c u c v nét theo ph ng pháp ã c th ng nh t trên th gi i N u c u trúc có hai hình nh (g i là c u trúc ôi nh cành ng và b d i x ng hàm d i) thì v b ng ng t nét và sau ó v ng trung gian b ng ng liên t c T t c nh ng m chu n c a nh ng u trúc ôi s c xác nh trên ng trung gian. thu t v nét b ng tay:

- ánh 3 d u (+) lên trên phim, giúp nh h ng b n v nét trên phim vì n v và phim th ng b xê d ch trong khi v

- Dán gi y v nét lên phim.

- Sao l i 3 d u (+) lên trên gi y v nét Ghi l i mã s , ngày ch p c a b nh nhân lên góc trên trái c a b n v nét.

- l i các c u trúc c n nghiên c u b ng vi t chì u nh n 0,5 mm.

- ng vi n c a t s ng c th nh t và th hai ( t i và t tr c a x ng).

• n n s , x ng trán, x ng m i, h c m t và l ng tai:

- ph n trên c a x ng b m, h yên x ng b m c m u yên tr c và sau c a x ng b m.

- m t tr c x ng trán và x ng m i.

• x ng hàm trên và r ng trên:

- ng vi n x ng hàm trên t gai m i tr c d c theo sàn h m i n gai m i sau, r i i theo m t kh u cái x ng hàm trên n m t trong ng r ng xung quanh các r ng c a và m t tr c c a x ng hàm trên.

- r ng c a gi a và r ng c i l n th nh t hàm trên trong t ng quan c n kh p.

- vùng c m và x ng v bên trong.

- r ng c a gi a và r ng c i l n th nh t hàm d i trong t ng quan c n kh p.

Th c k p n t có nh y 0,01 mm o kích th c chi u dài Th c o góc o kích th c góc.

Hình 2.3: Th c k p n t và th c o góc.

2.2.4.6 Ph ng pháp h n ch sai s tránh sai l m do vi c v phim, xác nh m chu n và o c, t t c các quá trình trên c th c hi n b i cùng m t ng i và c ki m tra b ng vi c o và l i các c m b i ng i có chuyên môn trong b môn Ch nh hình, tr ng i c Y D c C n Th kiên nh c a ng i v và o c ki m nh nh sau:

Ch n ng u nhiên 10 phim v và o l i v i cùng ph ng pháp b i cùng t ng i sau 2 tu n.

Phương pháp t-test là công cụ hữu ích để so sánh các số liệu thu thập được nhằm xác định sự khác biệt giữa hai nhóm dữ liệu Khi kết quả phân tích cho thấy giá trị p lớn hơn 0,05, điều này có nghĩa là không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm (Phụ lục 1) Đồng thời, hệ số tương quan trên 0,7 cho thấy mối liên hệ chặt chẽ và đáng tin cậy giữa các biến số trong phân tích.

Các s li u và d ki n thu th p c nh p vào máy vi tính và l u gi l i.

Nh p, x lý và phân tích s li u trong lu n v n b ng ph n m m th ng kê SPSS 18.0 for Window.

Tính trung bình và l ch chu n c a c m nghiên c u cho nam và n

So sánh các giá tr trung bình c a nam và n b ng phân tích t-test cho hai u c l p.

So sánh s phân tán d li u gi a các cách phân tích b ng h s phân tán ng i V (V = l ch chu n/Trung bình*100%) Theo sách th ng kê y h c c a Ngô Nh Hòa [9]:

• u V 10% các s li u ít phân tán, kho ng tin c y h p, giá tr tìm ra là h ng s t t s d ng trong lâm sàng.

Trong các nghiên cứu có giá trị trên 30% tiêu chuẩn phân tán, giá trị tìm ra không phản ánh đúng tình trạng lâm sàng của bệnh nhân Ánh giá tổng quán là phương pháp khảo sát xu hướng và mối liên hệ giữa hai hay nhiều biến số nghiên cứu, giúp định hình các kết quả nghiên cứu chính xác hơn Hệ số tương quan Pearson (ký hiệu: r) thường được sử dụng để đo lường mức độ liên quan giữa các biến trong phân tích thống kê, góp phần cung cấp cái nhìn toàn diện về dữ liệu nghiên cứu.

T h s r, m i t ng quan c ánh giá nh sau: r = 0,3 n d i 0,5: t ng quan m c trung bình. r = 0,5 n d i 0,7: t ng quan m c t ng i cao. r = 0,7 n d i 0,9: t ng quan m c cao. r 0,9: t ng quan m c r t cao.

o c nghiên c u

Nghiên cứu của Cục Sở chẩn của Bản ch nh m khoa R ng Hàm T, Ban giám hi u tr ng i h c Y d c C n Th và Ban giám hi u tr ng THCS Tr n H ng o tập trung vào việc cung cấp thông tin rõ ràng, đầy đủ về mục đích, nội dung nghiên cứu của người tham gia Thông tin của người tham gia nghiên cứu góp phần quan trọng trong việc đảm bảo tính minh bạch và chính xác của dữ liệu, đồng thời hỗ trợ công tác nghiên cứu đạt hiệu quả cao hơn.

H n ch c a tài

Nghiên cứu cho thấy học sinh 15 tuổi ở thành phố Cần Thơ thường có trình độ học vấn cao hơn so với các vùng miền khác trong lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, do hạn chế của nghiên cứu thuộc loại mô tả, những kết quả quan trọng đã phát hiện chưa thể hiện rõ ý nghĩa sâu xa của chúng trong thực tiễn lâm sàng.

T QU t qu trình bày g m ba ph n:

Phần 1: Nhấn mạnh về đặc điểm của mô hình môi của trẻ 15 tuổi theo mẫu chung, dựa trên tổng giả thiết So sánh sự khác biệt giữa hai giới trong quá trình phát triển của trẻ Đồng thời, phân tích sự phân tán của dữ liệu bằng các phương pháp phân tích thống kê bổ sung để có cái nhìn toàn diện về đặc điểm phát triển của từng giới.

Ph n 2: Nh ng s o c m n n s tr c c a tr 15 tu i theo m u chung, theo t ng gi i tính và so sánh s khác bi t gi a hai gi i.

Ph n 3: K t qu trình bày d i d ng mô t h s t ng gi a nhô môi và c m n n s tr c.

nhô môi tr 15 tu i (nam)

ng 3.1: nhô môi theo các cách phân tích nam

Giá tr n v TB LC Giá tr max Giá tr min

GMT 13,24 3,34 20,00 5,50 nhô môi theo các cách phân tích th m m tr 15 tu i (nam) có m t s nét áng chú ý sau:

• trí hai môi so v i ng th m m E trung bình môi trên là 1,00 ± 2,6 mm và môi d i là 3,87 ± 2,8 mm.

• trí hai môi so v i ng th m m S trung bình môi trên là 1,75 ± 2,5 mm và môi d i là 4,33 ± 2,8 mm.

• trí hai môi so v i ng th m m B trung bình môi trên là 6,66 ± 2,8 mm và môi d i là 6,98 ± 2,9 mm.

• trí hai môi so v i ng th m m S2 trung bình môi trên là 13,65 ± 4,0 mm và môi d i là 10,92 ± 3,4 mm.

• Góc m i môi trung bình là: 100,5 ± 12,5º.

nhô môi tr 15 tu i (n )

ng 3.2: nhô môi theo các cách phân tích n

Giá tr n v TB LC Giá tr max Giá tr min

GMT 14,67 4,13 22,00 5,00 nhô môi theo các cách phân tích th m m tr 15 tu i (n ) có m t s nét áng chú ý sau:

• trí hai môi so v i ng th m m E trung bình môi trên là -0,02 ± 2,0 mm và môi d i là 2,05 ± 2,5 mm.

• trí hai môi so v i ng th m m S trung bình môi trên là 1,28 ± 2,3 mm và môi d i là 2,85 ± 2,6 mm.

• trí hai môi so v i ng th m m B trung bình môi trên là 6,69 ± 2,4 mm và môi d i là 6,44 ± 3,8 mm.

• trí hai môi so v i ng th m m S2 trung bình môi trên là 13,05 ± 3,3 mm và môi d i là 9,42 ± 3,0 mm.

• Góc m i môi trung bình là: 93,5 ± 15,5º.

nhô môi tr 15 tu i (nam và n )

ng 3.3: nhô môi theo các cách phân tích tr 15 tu i (nam và n )

Giá tr n v TB LC Giá tr max Giá tr min

GMT 13,68 3,62 22,00 5,00 nhô môi theo các cách phân tích th m m tr 15 tu i (nam và n ) có t s nét áng chú ý sau:

• trí hai môi so v i ng th m m E trung bình môi trên là 0,69 ± 2,5 mm và môi d i là 3,31 ± 2,8 mm.

• trí hai môi so v i ng th m m S trung bình môi trên là 1,61 ± 2,4 mm và môi d i là 3,88 ± 2,8 mm.

• trí hai môi so v i ng th m m B trung bình môi trên là 6,67 ± 2,7 mm và môi d i là 6,81 ± 3,2 mm.

• trí hai môi so v i ng th m m S2 trung bình môi trên là 13,47 ± 3,7 mm và môi d i là 10,46 ± 3,3 mm.

• Góc m i môi trung bình là: 98,54 ± 13,8º.

So sánh nhô môi gi a nam và n

ng 3.4:So sánh c m nghiên c u gi a nam và n

(*): Ki m nh t cho hai m u c l p, khác bi t có ý ngh a khi p < 0,05.

Qua so sánh nhô môi theo các cách phân tích tr 15 tu i gi a nam và ph n l n cho th y khác bi t không có ý ngh a (p > 0,05) ngo i tr các bi n s :

• trí môi d i n ng th m m E: p = 0,02 có s khác bi t l n nh t.

• trí môi lùi sau nh t n ng th m m M: p = 0,04.

• dày mô m m m sau nh t rãnh môi trên : p = 0,043.

• dày mô m m m nhô nh t môi d i: p = 0,047.

So sánh phân tán gi a các cách phân tích th m m môi

ng 3.5: So sánh phân tán gi a các cách phân tích c m

GMT % 25 17 26 phân tán gi a các cách phân tích th m m có m t s nét áng chú ý sau:

• V 10% là: góc Z (V = 8%) ít phân tán nh t.

• 10% < V 30% là : dày vùng chân m i, dày vùng rãnh môi trên, dày vùng môi trên, dày vùng môi d i, dày vùng rãnh môi i, dày vùng c m, góc m i môi và góc môi trên.

• V > 30% là nh ng bi n s còn l i, trong ó phân tán nhi u nh t là v trí môi trên n ng th m m E (V = 355%).

c m n n s tr c tr 15 tu i (nam)

Giá tr n v TB LC Giá tr max Giá tr min

N-S-Go 103,44 4,21 112,00 96,00 c m n n s tr c tr 15 tu i (nam) có m t s nét áng chú ý:

• Chi u dài n n s tr c S-N trung bình là: 76,48 ± 7,35 mm.

• Chi u dài n n s tr c Cc-N trung bình là: 71,06 ± 6,68 mm.

• Góc n n s Ba-S-N trung bình là: 125,88 ± 6,46 mm.

c m n n s tr c tr 15 tu i (n )

Giá tr n v TB LC Giá tr max Giá tr min

N-S-Go 104,11 4,06 111,00 96,00 c m n n s tr c tr 15 tu i (n ) có m t s nét áng chú ý:

• Chi u dài n n s tr c S-N trung bình là: 76,62 ± 6,54 mm.

• Chi u dài n n s tr c Cc-N trung bình là: 71,54 ± 6,02 mm.

• Góc n n s Ba-S-N trung bình là: 129,78 ± 5,16 mm.

3.8 c m n n s tr c tr 15 tu i (nam và n ) c m n n s tr c tr 15 tu i (nam và n ) có m t s nét áng chú ý:

• Chi u dài n n s tr c S-N trung bình là: 76,53 ± 7,06 mm.

• Chi u dài n n s tr c Cc-N trung bình là: 71,21 ± 6,44 mm.

• Góc n n s Ba-S-N trung bình là: 127,07 ± 6,32 mm. ng 3.8: c m n n s tr c tr 15 tu i (nam và n )

Giá tr n v TB LC Giá tr max Giá tr min

3.9 So sánh các c m n n s tr c gi a nam và n ng 3.9: So sánh c m n n s tr c nam và n

N-S-Go 103,44 4,21 0,571 104,11 4,06(*): Ki m nh t cho hai m u c l p, khác bi t có ý ngh a khi p < 0,05.

Trong quá trình so sánh các nhóm trẻ em ở các độ tuổi khác nhau, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), ngoại trừ góc nếp gấp nếp (p = 0,028), cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm Tuy nhiên, chiều dài nếp gấp sàn sụn (S-N) không ghi nhận sự khác biệt đáng kể (p = 0,945).

3.10 M i t ng quan gi a nhô môi và c m n n s tr c tr 15 tu i ng 3.10: M i t ng quan gi a nhô môi và n n s tr c

S-N Cc-N N-S-ANS S-N-ANS SN-mpkc

Sau khi tính hệ số tương quan giữa môi và cằm, kết quả cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với mức độ biến thiên trung bình trong các nhóm khác nhau Các mức quan hệ có biên độ r trong khoảng từ -0,3 đến 0,3 cho thấy mối liên hệ yếu hoặc không rõ rệt Trong các nhóm có mức quan hệ trung bình, thấy rằng góc môi trên có xu hướng tăng, trong khi góc tông và góc môi dưới lại có xu hướng giảm, đặc biệt là mối quan hệ giữa góc tông và góc môi trên là rõ rệt (r = -0,515), phản ánh mối tương quan nghịch giữa các yếu tố này.

Chú thích b ng 3.10 : trình bày nh ng c p bi n s có t ng quan t m c trung bình tr lên Chi ti t c trình bày Ph l c 2.

nhô môi c a tr 15 tu i và s khác nhau c a nam và n

nhô môi theo phân tích Ricketts

Nghiên cứu của Lê Huy Thực M (2003) cho thấy môi trên trung bình có v trí môi trên so với ng thành là 1,00 ± 2,6 mm, trong khi môi dưới là 3,87 ± 2,8 mm, với đối tượng là các nam nữ từ 18 đến 25 tuổi Trái lại, theo nghiên cứu của Wangsrimongkol (1998), người Thái có môi trên hỉnh lùi hơn so với ng trung bình còn môi dưới lại trồi quá ng E, cho thấy sự khác biệt về hình thái môi giữa các nhóm dân tộc Đồng thời, nghiên cứu của Bishara (1985) cũng tiến hành khảo sát v trí môi theo từng nhóm tuổi, nhấn mạnh ý nghĩa của yếu tố tuổi tác trong đặc điểm hình thái môi Những phát hiện này đều giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm hình thái môi và có thể hỗ trợ trong các kỹ thuật chỉnh hình và phẫu thuật thẩm mỹ.

Nghiên cứu của Erbay (2002) cho thấy hai môi trên và môi dưới nhô ra nhiều hơn bình thường do tăng mô mềm, đặc biệt khi xét trên người Thái trương thành có hai môi u lùi sau môi trên Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng kích thước môi trên theo chiều trục sau có sự khác biệt rõ rệt, trong khi môi dưới theo chiều trục sau lại giảm nhiều hơn, điều này mang ý nghĩa thống kê (p = 0,02) Trong khi đó, Lê Nguyên Lâm (2007) khảo sát 12 tuổi tại Việt Nam và Lê Võ N Nhi (2009) ghi nhận tuổi 14 không có sự khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm tuổi, tuy nhiên, chiều cao nam và nữ thấp hơn có thể dẫn đến sự chênh lệch về hình thái môi Các yếu tố này cho thấy độ tuổi và giới tính đều đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và hình dạng của môi, đặc biệt là trong các nghiên cứu về tăng mô mềm và điều chỉnh thẩm mỹ môi.

nhô môi theo phân tích Steiner

Môi trên có độ dày trung bình là 1,75 ± 2,5 mm, trong khi môi dưới là 4,33 ± 2,8 mm, và môi dưới thường nhô nhiều hơn môi trên Theo nghiên cứu của Lê Huy Thực M (2003), môi dưới nhô ra phía trước so với trung tâm môi trên với mức trung bình là 3,3 ± 1,7 mm, cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các vị trí môi Trong khi đó, Erbay (2002) ghi nhận các giá trị này là -3,8 ± 2,4 mm đối với môi trên và -3,1 ± 3,6 mm đối với môi dưới, thể hiện các đặc điểm về vị trí môi so với trung tâm khuôn mặt Ngoài ra, vị trí môi trên so với đường trục trung tâm trung bình là 1,29 ± 2,27 mm, còn môi dưới là 2,85 ± 2,62 mm, nhấn mạnh sự nhô ra của môi dưới so với môi trên Các nghiên cứu này giúp hiểu rõ về đặc điểm giải phẫu môi trong các phân tích thẩm mỹ và phục hồi chức năng.

Nghiên cứu của 2003 và Erbay (2002) cho thấy môi trên hơi nhô, trong khi môi dưới có xu hướng lùi, mặc dù giá trị trung bình theo nghiên cứu của Lê Huy Thục M cho thấy môi trên nhô với độ lệch chuẩn là 3,8 ± 2,4 mm và môi dưới lùi với độ lệch chuẩn là -3,1 ± 3,6 mm Tuy nhiên, phân tích theo tiêu chuẩn Steiner cho thấy các giá trị chênh lệch này không đáng kể hoặc không tính toán chính xác.

nhô môi theo phân tích Burstone

Trên môi trên có chiều cao trung bình là 6,66 ± 2,8 mm, trong khi môi dưới là 6,98 ± 2,9 mm, với sự chênh lệch ít giữa hai môi Giá trị trung bình này cho thấy sự cân đối giữa các môi, phù hợp với các nghiên cứu của Lê Huy Thức M (2003) và Wangsrimongkol (1998), khi nhận thấy khoảng cách giữa môi trên và môi dưới không quá 1 mm Ngoài ra, các nghiên cứu của Jain (2011) và Erbay (2002) đã tiến hành khảo sát về đặc điểm của môi trong các cộng đồng khác nhau, góp phần làm rõ đặc điểm sinh học của môi trong quá trình thẩm mỹ và y học.

Trong nghiên cứu, thấy rằng kích thước môi trên tăng lên rõ ràng khi môi trên dày hơn, phù hợp với các tiêu chuẩn phân tích về đặc điểm hình thái môi Kích thước trung bình của các vùng khác nhau trên môi như chân môi, rãnh môi trên, môi trên, môi dưới, rãnh môi dưới và cằm đều có sự dao động, ví dụ như vùng chân môi trung bình là 16,23 ± 3,06 mm và vùng môi trên là 15,68 ± 2,67 mm Nghiên cứu của Nguyên Thị Minh Hạnh (2004) cũng đã khảo sát rõ các kích thước môi ngồi trương thành, góp phần làm rõ các đặc điểm hình thái môi phù hợp với đặc điểm giải phẫu vùng mặt.

Trong nghiên cứu về đặc điểm giải phẫu môi của người Việt Nam, nhận thấy môi trên và môi dưới có kích thước dày môi trên lớn hơn dày môi dưới, trong đó dày vùng rãnh môi dưới là 12,62 ± 1,37 mm và dày vùng cằm là 12,13 ± 1,77 mm, cho thấy vùng rãnh môi dưới và cằm có độ dày nhỏ hơn các vùng khác Riêng vùng môi trên trung bình có độ dày là 14,82 ± 2,45 mm, vùng rãnh môi trên là 13,64 ± 2,22 mm, vùng chân môi là 14,67 ± 2,66 mm, vùng môi dưới là 15,35 ± 2,93 mm, vùng rãnh môi dưới là 14,48 ± 1,96 mm và vùng cằm khoảng 15,79 ± 2,93 mm, phản ánh sự phân bố kích thước mô mỡ ở các vùng môi và cằm đa dạng Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hạnh (2004) và các biến số mô tả từ nghiên cứu của Fortier (2000), góp phần cung cấp số liệu chuẩn cho thiết kế thẩm mỹ và phẫu thuật phục hình môi tại Việt Nam.

Các sổ theo chiều ngang khá ngang cằm, tuy nhiên nam có dày vùng rãnh môi trên và dày môi dưới rõ rệt, với ý nghĩa thống kê quan trọng (p = 0,043 và p = 0,047) Khoảng cách từ trung tâm môi tới rãnh môi trên của nam là 1,99 ± 2,51 mm, tới rãnh môi dưới là 4,34 ± 3,61 mm, và khoảng cách từ trung tâm môi tới điểm mút của hai môi là 1,93 ± 1,77 mm, tất cả đều gần bằng nhau Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lê Huy Thức M (2003), khi nhận thấy khoảng cách từ trung tâm môi tới điểm mút là tối thiểu, nhưng các khoảng cách khác có thể khác nhau nhiều do góc nghiêng của vùng rãnh môi trên và dưới so với mặt phẳng Frankfort, dẫn đến nhiều sai số trong đo đạc.

nhô môi theo phân tích Sushner

Môi trên nhô ra trung bình 13,65 ± 4,0 mm và môi d i là 10,92 ± 3,4 mm, với sự khác biệt rõ rệt giữa các cá nhân Nhiều nghiên cứu đã xác nhận môi trên có xu hướng nhô ra nhiều hơn môi d i, như nghiên cứu của Lê Huy Thục M (2003) cho thấy môi trên nhô 13,5 ± 2,6 mm và môi d i nhô 9,9 ± 2,5 mm Trong khi đó, Erbay (2002) nhận định môi trên thường nhô ra trước hơn môi d i, với khoảng cách trung bình là 9,9 ± 2,9 mm và môi d i là 6,7 ± 3,1 mm Theo Sushner (1977), giới nam có môi nhô ra nhiều hơn giới nữ, với môi trên nhô 9,5 mm và môi d i nhô 7,25 mm, phản ánh nét khác biệt rõ rệt giữa các giới và các chủng tộc Các phân tích này cũng phù hợp với các nghiên cứu của Ricketts (1981), cho thấy người châu Phi có đậm rãi môi dày hơn so với người châu Á, do đó các đặc điểm môi có thể bị ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền và chủng tộc.

nhô môi theo phân tích Holdaway

Các nghiên cứu cho thấy góc H trung bình của nam giới là khoảng 13,92 ± 4,8º, với khoảng cách từ chân răng đến ngôi H là -9,01 ± 3,54 mm và khoảng cách từ môi đến ngôi H là 3,19 ± 2,15 mm Nhiều tác giả như Bishara (1985) và Hussein (2011) đều nhận định rằng góc H không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm Trong khi đó, Nguyễn Lan Anh (2008) phân tích Holdaway trên người Việt Nam và tìm thấy góc H trung bình là 17,6 ± 4,64º, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về khoảng cách từ môi đến ngôi H so với các nghiên cứu khác (p = 0,041) Các nghiên cứu của Bishara, Hussein và Wangsrimongkol cũng nhất trí rằng góc H không khác biệt nhiều giữa các nhóm, trong khi Sagalm (2001) ghi nhận góc H là 14,63 ± 3,79º, còn theo Lê Huy Thức M (2003), góc H có xu hướng lớn hơn.

Vết nhấn lìn là 12,9 ± 3,6º, với khoảng cách từ chân môi đến môi trên và môi dưới lần lượt là 4,7 ± 2,73 mm và 1,62 ± 1,91 mm So sánh với nghiên cứu của Hussein (2011) trên người Palestine, người Việt Nam có đặc điểm vết nhấn lùi sau hơn hoặc môi trên dày hơn hoặc khe môi trên sâu hơn Các nghiên cứu trước đó đều cho thấy sự khác biệt về đặc điểm hình thái giữa các nhóm dân tộc, trong đó Việt Nam có những đặc điểm nổi bật riêng so với người Palestine Điều này cho thấy cần xem xét các yếu tố di truyền và sinh lý khi thực hiện các ca phẫu thuật thẩm mỹ hoặc chỉnh hình môi.

(2002) [27] nh n th y giá tr góc H nh nh t là 9,9 ± 3,4º và g n v i nghiên c u c aHoldaway nh t.

nhô môi theo phân tích Merrifield

Tr nam có giá tr góc Z trung bình là 69,45 ± 5,79º và kho ng cách t môi lùi sau h n n ng th m m M là 3,75 ± 3,01 mm T ng t , Bishara (1985)

[20] nh n th y góc Z tr 5 n 12 tu i có giá tr 68,81 ± 1,42º Tuy nhiên, Lê Huy

Chỉ số góc Z của cây trồng trong nghiên cứu của Th c M (2003) là 72,9 ± 4,6º cùng với độ lệch chuẩn, cho thấy cây trồng có góc nghiêng trung bình cao hơn so với các nghiên cứu trước Vị trí môi giữa của cây trồng đạt mức 2,2 ± 1,8 mm, phản ánh khoảng cách trung bình giữa các phần của cây trồng trong điều kiện nghiên cứu Trong khi đó, Erbay (2002) ghi nhận góc Z nhỏ hơn, với trung bình là 67,4 ± 6,9º, cho thấy sự khác biệt đáng kể về góc nghiêng của cây trồng giữa các nghiên cứu này, có thể do ảnh hưởng của điều kiện môi trường hoặc phương pháp đo lường.

Giá trị góc Z trung bình là 74,17 ± 5,27º, cho thấy sự biến đổi đáng kể (p = 0,05), trong khi chiều dài lùi sau trung bình là 2,15 ± 1,71 mm (p = 0,04) Nghiên cứu này so sánh với các kết quả của Bishara (1985) và Wangsrimongkol (1998), những nghiên cứu đã khảo sát trên các nhóm tuổi khác nhau và nhận thấy sự khác biệt đáng kể trong các chỉ số này, minh họa cho tầm quan trọng của yếu tố tuổi tác và các biến số khác trong phân tích độ lệch góc và chiều dài lùi sau.

17 n 21 tu i và Erbay (2002) [27] nghiên c u trên ng i Th Nh K tr ng thành u cho r ng góc H trung bình kho ng 70º So v i nghiên c u c a Merrifield

(1966) [41] trên ng i tr ng thành có h ng x ng bình th ng thì góc Z là 80º và78º tr t 11 n 15 tu i thì góc Z c a nghiên c u chúng tôi nh h n nhi u.

nhô môi theo phân tích McNamara

Góc môi trung bình của nam giới là 100,76 ± 12,64º, trong khi góc môi trên trung bình là 13,24 ± 3,34º Tuy nhiên, nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hạnh (2004) cho thấy góc môi của người Việt trưởng thành có giá trị trung bình là 91,9 ± 9,36º Các kết quả này cho thấy sự khác biệt về góc môi giữa các nhóm dân tộc và có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá đặc điểm hình thái khuôn mặt.

Nghiên cứu năm 2011 cho thấy góc môi trên trung bình là 93,93 ± 13,55 độ, phản ánh đặc điểm môi của người dân tại thành phố Theo đó, góc môi trung bình là 93,5 ± 15,47 độ, và góc môi trên trung bình là 14,67 ± 4,13 độ, cung cấp thông tin quan trọng trong đánh giá cấu trúc môi Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hình (2004) cũng đã khảo sát đặc điểm này trong cộng đồng, giúp hiểu rõ hơn về phân bố và biến đổi của góc môi trong dân số Các dữ liệu này là cơ sở để các chuyên gia nha khoa và thẩm mỹ định hướng chỉnh hình môi phù hợp với đặc điểm sinh học của từng nhóm đối tượng.

Vi t tr ng thành cho bi t góc m i môi là 92,9 ± 9,35º Wangsrimongkol (1998)

[50] và Jain (2011) [35] c ng cho k t qu t ng t So v i nghiên c u c a McNamara (1984) [40] thì góc m i môi và góc môi trên c a hai gi i u n m trong gi i h n bình th ng.

phân tán d li u gi a các cách phân tích

Các số liệu về phân tích hình thái vùng miệng của người Việt Nam thể hiện rõ sự phân tán dữ liệu, được chia thành ba nhóm chính Nhóm đầu tiên gồm các mẫu có V < 10% với góc Z trong phân tích Merrifield cho thấy tỷ lệ phân tán rất thấp là 8%, không phù hợp để dự đoán lâm sàng Nhóm thứ hai, gồm các mẫu có V từ 10% đến dưới 30%, là các số đo dày mô mềm trong phân tích của Burstone và góc môi trong phân tích của McNamra, thể hiện phân tán trung bình phù hợp trong chẩn đoán Nhóm cuối cùng với V > 30% bao gồm các phân tích của Ricketts, Steiner, Sushner và Holdaway, có độ phân tán cao, khiến việc dự đoán trở nên khó khăn hơn trong lâm sàng.

Các nghiên cứu của Ricketts [45] và Steiner [9] nhấn mạnh mối liên hệ giữa hình dạng môi và cấu trúc khuôn mặt, cung cấp cái nhìn toàn diện về mối quan hệ giữa môi và các đặc điểm khác của khuôn mặt Nhân tố cấu trúc môi cần có sự cân đối và hài hòa với môi nhô để không gây mất cân đối; ngược lại, môi ít nhô hoặc lùi môi tạo cảm giác không cân đối Trong khi đó, Sushner [49] mô tả mối quan hệ môi theo phương ngũ giác, thể hiện rõ tỉ lệ giữa môi trên và môi dưới, giúp xác định các tỷ lệ phù hợp và dự đoán hình dạng môi Ngược lại, các nghiên cứu của Holdaway [32] và Marrifield [41] ít đề cập đến vị trí môi, do sự biến đổi đáng kể của môi dưới, khiến phân tích này không phù hợp để xác định hình dạng môi sai lệch McNamara [40] tập trung vào mối liên hệ giữa môi trên và các điểm liên quan như Nasion và Frankfort, sử dụng phân tích Burstone để đánh giá hình dạng môi dựa trên các điểm tham chiếu ngang và dọc, từ đó hỗ trợ chẩn đoán và phân tích hình thái môi một cách chính xác.

Naidu (2010) đã nghiên cứu so sánh chiều cao và nhịp của mũi cùng môi trên với môi dưới qua góc nhìn nghiêng của khuôn mặt Kết quả cho thấy, sự hài hòa giữa các yếu tố này góp phần tạo nên tỷ lệ cân đối và thẩm mỹ tổng thể cho khuôn mặt Trong đó, chiều cao của mũi và môi trên cao hơn môi dưới là đặc điểm nổi bật, giúp nâng cao sự hài hòa và thu hút của khuôn mặt.

E và ng S2 cho th y c hi u cao nh ng nh y không cao trong khi ng S và ng H là ít c hi u và ít nh y nh t.

Các phương pháp phân tích phân tán cho các vùng miền khác nhau đều có những ưu điểm và hạn chế riêng, giúp dễ dàng chọn lựa phương pháp phù hợp để đạt được kết quả chính xác hơn Trong đó, phân tích vùng miền Việt Nam nói chung và miền Nam nói riêng cần được thực hiện bằng các phương pháp phù hợp, phù hợp với đặc điểm địa lý và hình thái vùng miền, nhằm tối ưu hóa khả năng phân tích và đưa ra dự đoán chính xác hơn Việc sử dụng nhiều phương pháp phân tích cùng lúc sẽ giúp nâng cao độ chính xác và khả năng dự đoán, đồng thời gần hơn với mong muốn nghiên cứu, góp phần phát triển các giải pháp phù hợp cho các vùng miền.

c m n n s tr c c a nam và n

So sánh hai cách o chi u dài n n s tr c

Theo nghiên cứu của chúng tôi, chiều dài trục S-N (76,48 ± 7,3 mm) dài hơn chiều dài trục Cc-N (71,06 ± 6,7 mm) do chiều dài trục xuyên lại cong trục ra sau và cong lệ lên trên Khi so sánh, hình ảnh trục S’ của mắt S cho thấy trục này lùi về phía sau hơn trục Cc, tức là tâm s phía trước hơn so với tâm h.yên xung quanh bấm Trung bình chung của chiều dài trục nằm trong nghiên cứu của chúng tôi vượt qua các nghiên cứu trước như của Khắc Thâm (2010) với chiều dài trung bình 69,2 ± 3,1 mm, Hayashi (2003) với 66,15 ± 2,92 mm, và Alió-Sanz.

(2012) [17] tr 8 n 14 tu i là 59,39 ± 2,77 mm và c a Proff (2008) ng i t

14 n 24 tu i [44] là 70,9 ± 3,4 mm nh ng gi ng v i k t qu c a Kuroda (2009)

[37] ng i tr ng thành là 74,8 ± 3,5 mm Chi u dài n n s tr c Cc-N l n h n nghiên c u c a Lê Võ Y n Nhi (2009) [11] l a tu i 14 là 59,61 ± 3,27 mm S khác bi t này có th do phóng i trong nghiên c u c a chúng tôi là 10%, trong khi nghiên c u c a ng Kh c Th m (2010) [15] và c a Lê Võ Y n Nhi (2009)

[11] là 9,5%; ngoài ra nguyên nhân có th do c m u c a chúng tôi nh

Xét riêng gi i nam, tr trai có chi u dài n n s tr c S-N là 76,48 ± 7,3 mm, gi ng v i nghiên c u c a Berger (2011) [19] ng i tr ng thành là 76,91 ± 3,58 mm nh ng l n h n k t qu c a Yassir (2008) [51] ng i t 17 t i 25 tu i là 76,91 ± 3,58 mm và ng Kh c Th m (2010) [15] tr 13 tu i là 69,9 ± 3,4 mm Chi u dài n n s tr c Cc-N là 71,06 ± 6,7 mm, u l n h n ghi nh n c a Alió-Sanz

(2012) [17] tr 8 n 14 tu i là 60,66 ± 2,95 mm và Lê Võ Y n Nhi (2009) [11] tr 14 tu i là 61,04 ± 2,73 mm n , giá tr trung bình c a chi u dài n n s tr c S-N là 76,62 ± 7,5 mm; so v i các giá tr 66,54 ± 2,68 mm c a Yassir (2008) [51], 72,16 ± 3,09 mm c a Berger (2011) [19] và 68,4 ± 2,6 mm c a ng Kh c Th m

(2010) [15] u th y l n h n T ng t v i chi u dài n n s tr c Cc-N, Alió-Sanz

Nghiên cứu của năm 2012 cho thấy chiều dài trung bình là 58,03 ± 2,53 mm, trong khi Lê Võ Yên Nhi (2009) ghi nhận giá trị là 58,25 ± 3,21 mm Kết quả của chúng tôi thu thập được là 71,54 ± 6 mm, cho thấy sự khác biệt Tuy nhiên, khi so sánh giá trị chiều dài giữa nam và nữ, không có sự khác biệt rõ ràng, phù hợp với kết quả của Lê Võ Yên Nhi (2009), cho thấy đặc điểm này không bị ảnh hưởng bởi giới tính.

Kh c Th m (2010) [15] nh ng Yassir (2008) [51] l i cho r ng chi u dài n n s tr c S-N nam l n h n n

So sánh các s o v góc liên quan v i n n s tr c

Nghiên cứu cho thấy góc nón sườn chung của hai giới nghiên cứu đều nằm trong khoảng từ 125,87º đến 131,38º, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,028) Berger (2011) ghi nhận góc nón sườn nam là 128,52 ± 5,37º, phù hợp với kết quả của chúng tôi về giá trị trung bình và độ lệch chuẩn, mặc dù có sự chênh lệch nhỏ Theo nghiên cứu của Khúc Thẩm (2010), giá trị trung bình góc nón sườn chung cho hai giới là 127,8 ± 5,1º, và không phát hiện sự khác biệt đáng kể giữa các giới trong nghiên cứu này Các tác giả khác như Kuroda cũng đã công bố các giá trị tương tự về góc nón sườn, góp phần xác nhận tính thống nhất của các nghiên cứu về đặc điểm giải phẫu này.

(2009) [37] là 129,3 ± 5,5º; Hayashi (2003) [31] là 135,1 ± 5,73º và Proff (2008)

[44] là 131 ± 4,5º. ng 4.1: Các s o n n s chung cho hai gi i c a m t s tác gi n c ngoài c m N/C Kuroda

Ba-S-N (º) 129,3 ± 5,5 135,10 ± 5,73 131,0 ± 4,5 ng 4.2: Các s o n n s riêng cho nam và n c a m t s tác gi n c ngoài c m N/C Nam

Khoảng cách từ cùa tới niềng (Cc-N) trung bình là 60,66 ± 2,95 mm, trong khi đó giá trị này ở nhóm khác là 58,03 ± 2,53 mm Các chỉ số liên quan đến nhô xương hàm trên như góc S-N-ANS, góc N-S-A, góc N-S-PNS, cũng như các yếu tố nhô xương hàm dưới như S-N-Me, góc N-S-Me và N-S-Go đều cho thấy sự tăng lên đáng kể so với nhóm khác, phản ánh sự khác biệt về cấu trúc xương hàm giữa các nhóm Những thay đổi này giúp làm rõ sự khác biệt về giải phẫu hàm và có thể ảnh hưởng đến kế hoạch điều trị.

Thành phần không khác biệt giữa nắm và n Kết quả thu được từ nghiên cứu của Khắc Thắm (2010) cho thấy, khả năng hàm trên và hàm dưới mọc ra phía trước, hàm mọc ra sau ngược chiều với trục chính của răng và răng sau, tạo thành một góc hài hòa Phân tích cho thấy, tỉ lệ phần trăm của các răng cấm có ảnh hưởng đến khả năng của răng cửa và răng hàm Theo phân tích của Steiner, góc trung bình của khuynh hướng này là 14º và trong môi trường không nên thay đổi góc này, vì giá trị góc tốt nhất là mức tối ưu cho sự hài hòa của khuôn mặt Trong nghiên cứu của chúng tôi, góc tở mở trung bình là 10,64º ± 4,1º và không có sự khác biệt đáng kể giữa các giới và kỹ thuật.

M i t ng quan gi a nhô môi và c m n n s tr c

Các nghiên cứu cho thấy mô mềm vùng môi không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ xương hàm trên hay xương hàm dưới, vì vậy nó có xu hướng phát triển cùng hướng với xương hàm, nhưng lại có tần suất biến dạng và chuyển dạng khác so với cấu trúc xương Nhô môi là kết quả của sự phát triển mô mềm và cấu trúc xương, đồng thời còn chịu ảnh hưởng của quy luật di chuyển và độ dày của mô mềm quanh môi Holdaway (1984) và Yogasawa (1990) đã nhấn mạnh mối quan hệ rõ ràng giữa nhô môi và chiều dài, độ dày của mô mềm, cho thấy khi xương di chuyển, mô mềm sẽ theo và phản ánh biến đổi đó Cụ thể, khi xương hàm di chuyển, mô mềm môi cũng sẽ di chuyển theo tỉ lệ 1:1, phù hợp với sự biến đổi của độ dày môi, đặc biệt là khi có sự thay đổi về chiều dài hoặc độ dày của mô mềm quanh môi và cằm.

Nghiên cứu của Yogasawa (1990) cho thấy khi môi di chuyển theo răng, không thay đổi độ dày, thì môi dày trung bình 14-16 mm có thể làm dày mô môi vùng cằm giảm, khiến cằm có vẻ lùi sau Trong các trường hợp nhô hai hàm, môi trên lùi khoảng 40% và môi dưới lùi khoảng 70% so với răng, phản ánh ảnh hưởng của cấu trúc hàm trên và dưới Theo Lê Võ Yến Nhi (2009), các răng càng nhô ra trước theo tuổi, thì môi cũng nhô ra trước, nhưng độ di chuyển của môi không làm thay đổi độ nhô của môi so với môi và cằm Ngoài ra, việc đánh giá nhô môi qua phim chụp phim giúp xác định chính xác hơn so với các phương pháp khác, đặc biệt khi môi có khít hay mở hơn bình thường.

Trong quá trình phân tích hình dạng môi, nghiên cứu cho thấy góc môi trên tăng tương ứng với sự tăng của góc đo phía đỉnh mũi, đặc biệt là trong khoảng r từ 0,3 đến 0,5 Hàm trên phát triển theo chiều dọc và so sánh với hàm dưới, cho thấy hàm trên dài hơn do hàm trên được kéo dài ra phía trước Ngoài ra, xương hàm trên còn di chuyển ra trước để cân đối với chiều dài của hàm trên và sự phát triển ngược của xương hàm dưới, giúp bảo vệ vùng mềm môi và duy trì sự ổn định của khớp thái dương hàm Xương hàm dưới có xu hướng phát triển theo chiều ngang qua hõm khớp thái dương, làm cho hàm dưới dài ra phía trước trong quá trình trưởng thành Chuyển động của xương hàm trên và dưới liên tục tác động qua lại, duy trì sự cân đối và kích thích quá trình phát triển của khu vực môi, kéo dài thời gian thích ứng của vùng mềm môi và đảm bảo sự toàn diện của chức năng cơ mặt.

Qua phân tích 59 phim s nghiêng tr 15 tu i, chúng tôi rút ra k t lu n nh sau: nhô hai môi và c m n n s tr c tr 15 tu i:

Nam: ng E: môi trên 1,00 ± 2,6 mm, môi d i 3,87 ± 2,8 mm. ng S: môi trên 1,75 ± 2,5 mm, môi d i 4,33 ± 2,8 mm. ng B: môi trên 6,66 ± 2,8 mm, môi d i 6,98 ± 2,9 mm. ng S2: môi trên 13,65 ± 4,0 mm, môi d i 10,92 ± 3,4 mm.

Chi u dài n n s tr c Cc-N: 71,06 ± 6,68 mm.

: ng E: môi trên -0,02 ± 2,0 mm, môi d i 2,05 ± 2,5 mm. ng S: môi trên 1,28 ± 2,3 mm, môi d i 2,85 ± 2,6 mm. ng B: môi trên 6,69 ± 2,4 mm, môi d i 6,44 ± 3,8 mm. ng S2: môi trên 13,05 ± 3,3 mm, môi d i 9,42 ± 3,0 mm.

Chi u dài n n s tr c Cc-N: 71,54 ± 6,02 mm.

Góc n n s có giá trị là 129,78 ± 5,16º Mối quan hệ giữa môi trên và mũi cho thấy môi trên có mối liên hệ với chiều cao của mũi và góc n n s, với các góc trung bình cao hơn khi mũi tăng chiều cao Trong các cặp tỉ lệ trung bình, góc tô bị mũi và góc môi trên có mối quan hệ nghịch chiều rõ rệt (r = -0,515), cho thấy khi góc môi trên tăng, thì góc tô bị mũi giảm Các kết quả này giúp hiểu rõ hơn về mối liên hệ hình dạng giữa các bộ phận trên mặt, góp phần trong lĩnh vực thẩm mỹ và phẫu thuật tạo hình.

Môi sau chân nhà có nhiều yếu tố hình dạng, không chỉ đơn thuần là hình dáng lồi theo chiều trước-sau mà còn có các đặc điểm rõ ràng trong không gian ba chiều như chiều cao, chiều dài, độ dày, cấu trúc ngắn, hình dạng Điều này giúp các nghiên cứu tiếp theo có thể tiếp cận một cách toàn diện, đánh giá chính xác hơn môi chính, góp phần chẩn đoán và đưa ra kế hoạch trồng phù hợp.

1 Cù Hoàng Anh (2010), “ c m hình thái s m t c a nhóm ng i Vi t Nam và ng i Pháp Caucasian h ng III có ch nh ph u thu t”, Y h c Thành ph H Chí Minh, 14(1), tr 265-273.

2 Nguy n Lan Anh (2008), Phân tích mô m m Holdaway ng i Vi t Nam tr ng thành có khuôn m t hài hòa, Lu n v n t t nhi p Bác s R ng Hàm t, i h c Y D c TPHCM.

3 i h c Y D c TPHCM, B môn B nh h c mi ng (2010), nh h c mi ng,

4 i h c Y D c TPHCM, B môn Ch nh hình r ng m t (2004), Ch nh hình ng m t, Nhà xu t b n y h c, TPHCM.

5 Nguy n Th Minh H nh (2004),Kích th c môi ng i tr ng thành có h ng ng I và II trên phim s nghiêng, Lu n v n t t nghi p Bác s R ng Hàm t, i h c Y D c TPHCM.

6 Hoàng T Hùng (2008),Gi i ph u r ng, Nhà xu t b n y h c, TPHCM.

7 Lê Nguyên Lâm (2007), Phân tích Ricketts tr 12 tu i: nghiên c u trên phim s nghiêng, Lu n v n Th c s Y h c, i h c Y D c TPHCM.

8 Nguy n Th M L (2007), Phân tích s cân i c a nét m t nhìn nghiêng mô m m trên ng i tr ng thành có kh p c n bình th ng, Lu n v n Th c

9 Lê Huy Th c M (2003), Kh o sát nhô môi ng i Vi t tr ng thành bình th ng, Lu n v n t t nghi p Bác s R ng Hàm M t, i h c Y D c TPHCM.

10 Nguy n H u Nhân (2001),Kh o sát c m c vùng m t c a tr 7 tu i trên nh ch p th ng và nghiêng b ng máy nh k thu t s , Lu n v n Th c s

12 Netter F H., Nguy n Quang Quy n, Ph m ng Di u (2009), Atlas gi i ph u ng i, Nhà xu t b n y h c, TPHCM.

13 Nguy n Quang Quy n (2008),Bài gi ng Gi i ph u h c, Nhà xu t b n y h c,

14 Tr n c Thành (2012), Nha khoa công c ng, Nhà xu t b n y h c, TPHCM.

15 ng Kh c Th m (2010), i liên h gi a n n s và h th ng s m t trong quá trình t ng tr ng: nghiên c u d c trên phim o s tr t 3-13 tu i,

16 ng Kh c Th m, Hoàng T Hùng (2009), “T ng quan gi a chi u dài n n tr c v i x ng hàm trên, x ng hàm d i và chi u cao t ng m t: nghiên u d c trên phim o s tr t 3-13 tu i”, p chí y h c TPHCM, 13(1), tr.

Tài li u ti ng Anh:

The study by Alió-Sanz et al (2012) examines cranial base and maxillary modifications in patients undergoing treatment with Frankel’s Functional Regulator (1b) Their research highlights how this functional appliance influences skeletal structures, promoting mandibular advancement and maxillary repositioning The findings provide valuable insights into the orthopedic effects of Frankel’s regulator, emphasizing its role in correcting malocclusions through skeletal modulation This study underscores the significance of functional appliance therapy in craniofacial growth modification, making it a noteworthy option in orthodontic treatment planning.

18 Arat Z M., Türkkahraman H., English J D., Gallerano R L., Boley J C.

(2010), “Longitudinal growth changes of the cranial base from puberty to adulthood”,Angle orthodontist, 80(4), pp 537-44.

“Comparative study of linear and angular measures of the cranial base in skeletal Class I and III malocclusion”, Rev Odonto Cienc, 26(2), pp 126-

21.Bishara S E., Jakobsen J R., Hession T J., Treder J E (1998), “Soft tissue profile changes from 5 to 45 years of age”, Am J Orthod Dentofacial Orthop, 114(6), pp 698-706.

Björk A (1995) conducted an in-depth follow-up X-ray study on cranial base development, focusing on individual growth variations between ages 12 and 20 The research highlights how cranial base growth influences overall braincase and facial development during adolescence, providing valuable insights into orthodontic growth patterns Published in the American Journal of Orthodontics, the study underscores the significance of understanding cranial base dynamics for effective orthodontic diagnosis and treatment planning.

23 Bravo L A (1994), “Soft tissue facial profile changes after orthodontic treatment with four premolars extracted”,Angle Orthod, 64(1), pp 31-42.

24 Burstone C J., (1958), “The integumental profile”, American Journal of OrthodontiCS, 44(1), pp 1-25.

25 Buschang P H., Fretty K., Campbell P M (2011), “Can commonly used profile planes be used to evaluate changes in lip position?”, Angle Orthodontist, 81(4), pp 557-63.

26 Cendekiawan T., Wong R W., Rabie A B (2010), “Relationship between cranial base synchodroses and craniofacial development: A review”, The Open Anatomy Journal 2, pp 67-75.

27 Erbay E F., Caniklioglu C M (2002), “Soft tissue profile in Anatolian Turkish adults: Part II Comparison of different soft tissue analyses in the evaluation of beauty”,Am J Orthod Dentofacial Orthop 121, pp 65-72.

28 Feghali R., Ghafari J., “Craniofacial growth and development”,

ORTHOdontiCS PG I, course ID: ODO 12-1.

29 Fortier E (2000), “Soft tissue profile changes in females 12-20 years”,

Division of Graduate OrthodontiCS, The University of Western Ontario,

London. dentofacial complex obtained by reconstructive computer tomographic images”,Eur J Orthod, 25(4), pp 385-391.

32 Holdaway R A (1984), “A soft-tissue cephalometric analysis and its use in orthodontic treatment planning”, American Journal of OrthodontiCS,

33 Hussein E., Khateeb S A., Watted N., Aksoy A., Acar A., Mowais M A.

(2011), “Evaluation of facial soft tissue parameters for Palestinian using Holdaway analysis”,The Saudi Dental Journal, 23, pp 191-195.

35 Jain P., Kaira J P (2011), “Soft tissue cephalometric norms for a North Indian population group using Legan and Burstone analysis”, Int J Oral Maxillofac Surg 40, pp 255-259.

36 Kasai K., Moro T., Kanazawa E., Iwasawa T (1995), “Relationship between cranial base and maxillofacial morphology”, Eur J Orthod, 17(5), pp 403- 10.

37 Kuroda S., Okada T., Ishimitsu T., Tanimoto Y., Miyawaki S., Tanako- Yamanoto T (2009), “Longitudinal cranialfacial changes in Japanese adults with untreated maxillary and mandibular protrusion”,Orthodontic Waves 68, pp 158-165.

38 Lu C H., Ko E W C., Huang C S (2003), “The accuracy of video imaging prediction in soft tissue outcome after bimaxillary orthognathic surgery”,

Journal of Oral and Maxillofacial Surgery, 61(3), pp 333-342.

39 Mamandras A H (1988), “Linear changes of the maxillary and mandibular lips”,Am J Orthod Dentofacial Orthop, 94(5), pp 405-10. facial esthetiCS”, American Journal of OrthodontiCS, 52(11), pp 804-822.

42 Mohammad H A., Hassan A., and Hussain S F (2011), “Cephalometric evaluation for Malaysian Malay by Steiner analysis”, Scientific Research and Essay, 6(3), pp 627-634.

43 Naidu D L (2010), “Comparisons of the Consistency and Sensitivity of Five Reference Lines of the Horizontal Position of the Upper and Lower Lip to Lateral Facial Harmony”, The Orthodontic CYBERjournal.

44 Proff P., Will F., Bokan I., Fanghanel J., Gedrange T ( 2008), “Cranial base feature in skeletal class III patients”, Angle Orthodontist, 78(3), pp.

45 Ricketts R M (1981), “Perspective in the Clinical Application of CephalometriCS”,The Angle Orthodontist, 51(2), pp 115-150.

46 Saglam A M., Gazilerli U (2001), “Analysis of Holdaway soft tissue measurements in children between 9 and 12 years of age”, Eur J Orthod,

47 Singh J., Mehrotra P., Kapoor S., Tandon R., Dattada H (2007),

“Cephalometric soft tissue analysis of individuals with pleasant faces”,

48 Subtelny J D (1959), “A longitudinal study of soft tissue facial structures and their profile characteristiCS, defined in relation to underlying skeletal structures , American Journal of OrthodontiCS, 45(7), pp 481-507.

49 Sushner N I (1977), “A photographic study of the soft-tissue profile of the Negro population”, Am J Orthod, 72(4), pp 373-85.

50 Wangsrimongkol T., Beress A., Caruso J M., Schlenker W L., Jeiroudi T.

M (1998), “Soft tissue analysis in Thai alults females with pleasing faces”,

Khon Kaen Dental Journal, 1(1), pp 26-35.

52 Yogosawa F (1990), “Predicting soft tissue profile changes concurrent with orthodontic treatment”,Angle Orthod, 60(3), pp 199-206.

(*): Ki m nh t cho hai m u b t c p, tin c y c ch p nh n khi m c ý ngh a p > 0,05 và t ng quan r 0,7.

ANS ANS PNS mpkc N-S-Me S-N-Me N-S-Go

19 LÊ NGUY N HU NH NH 9A2 X 1999

29 TR N TH Y HU NH CH 9A3 X 1999

30 HU NH NG LINH CH 9A3 X 1999

60 PHAN NGUY N TR NG TH 9A5 X 1999

Ngày đăng: 22/08/2023, 19:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w