BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ TRƯƠNG QUỐC DUY KHẢO SÁT DUY TRÌ THỰC HIỆN TIÊU CHUẨN GPP TẠI CÁC NHÀ THUỐC, QUẦY THUỐC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẬU GIANG NĂM 2017 2018 LUẬN VĂN[.]
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Tất cả các nhà thuốc và quầy thuốc đạt chuẩn GPP tại tỉnh Hậu Giang đều có người phụ trách chuyên môn và nhân viên bán thuốc được đào tạo bài bản, đảm bảo chất lượng dịch vụ và an toàn cho người dân Việc duy trì chuẩn GPP nhằm nâng cao năng lực quản lý, đảm bảo nguồn thuốc chính hãng, giúp phát huy vai trò của các nhà thuốc trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng trên địa bàn tỉnh.
Từ tháng 6 năm 2017 đến ngày 31 tháng 3 năm 2018
Tại các nhà thuốc, quầy thuốc đạt chuẩn GPP trên địa bàn tỉnh Hậu Giang
Các nhà thuốc và quầy thuốc đạt chuẩn GPP tại tỉnh Hậu Giang đảm bảo chất lượng, an toàn và phù hợp quy định của pháp luật Nhân viên bán thuốc tại các địa điểm này được đào tạo bài bản, có đủ năng lực để tư vấn, chăm sóc sức khỏe cho khách hàng Việc duy trì các tiêu chuẩn GPP giúp nâng cao uy tín, đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng, đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển y tế dự phòng tại địa phương.
- Các nhà thuốc, quầy thuốc đƣợc cấp Giấy chứng nhận đạt “Thực hành tốt nhà thuốc” nhƣng không hoạt động trong thời gian khảo sát
Các nhà thuốc, quầy thuốc đạt chuẩn GPP tại tỉnh Hậu Giang mới được công nhận hoặc tái công nhận đạt chuẩn GPP trong vòng 1 tháng kể từ ngày khảo sát, dựa trên ngày cấp giấy chứng nhận đạt GPP của Sở Y tế tỉnh Hậu Giang, đảm bảo chất lượng và uy tín trong phân phối thuốc.
Người có bằng chuyên môn về dược đang làm việc tại các nhà thuốc, quầy thuốc nhưng chưa được cấp thẻ hoặc chưa đăng ký trong danh sách nhân viên của nhà thuốc, điều này ảnh hưởng đến việc chứng minh trình độ và hợp pháp hóa hoạt động của họ Việc đăng ký và cấp thẻ cho nhân viên dược là cần thiết để đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại nhà thuốc Các nhà thuốc cần chủ động hoàn thiện thủ tục đăng ký và cấp thẻ cho nhân viên dược để đảm bảo hoạt động hợp pháp, thuận lợi trong công tác quản lý và phục vụ khách hàng.
Phương pháp nghiên cứu
Theo phương pháp nghiên cứu quan sát mô tả cắt ngang [31]
Tất cả các nhà thuốc, quầy thuốc đạt chuẩn GPP trên địa bàn tỉnh Hậu Giang (Tổng số cơ sở đạt chuẩn GPP 133 trong đó: nhà thuốc: 78, quầy thuốc: 55)
- Chọn khảo sát toàn thể các nhà thuốc, quầy thuốc đạt chuẩn GPP trên địa bàn tỉnh Hậu Giang
- Mỗi cơ sở chọn người phụ trách chuyên môn hoặc một nhân viên bán thuốc để phỏng vấn
2.2.4.1 Xác định tỷ lệ duy trì một số tiêu chí về GPP ở tất cả các nhà thuốc, quầy thuốc đã đạt chuẩn GPP trên địa bàn của tỉnh năm 2017 –
Tất cả các giá trị trong nội dung nghiên cứu đƣợc đánh giá theo tỉ lệ phần trăm (%)
- Người quản lý chuyên môn tại cơ sở bán lẻ thuốc:
Theo quy chế, người quản lý chuyên môn phải có mặt đầy đủ trong suốt thời gian hoạt động của cơ sở Trong trường hợp vắng mặt, cần ủy quyền bằng văn bản cho người có Chứng chỉ hành nghề dược phù hợp để đảm bảo trách nhiệm chuyên môn được duy trì theo quy định.
Trong trường hợp người quản lý chuyên môn vắng mặt trên 30 ngày, sau khi được ủy quyền, bắt buộc phải gửi văn bản báo cáo đến Sở Y tế của tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương nơi cơ sở đang hoạt động để đảm bảo cập nhật thông tin và duy trì hoạt động hợp pháp của cơ sở y tế.
Nếu thời gian vắng mặt của người quản lý chuyên môn vượt quá 180 ngày, cơ sở kinh doanh thuốc phải thực hiện thủ tục đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề dược mới cho người quản lý thay thế và đề nghị cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc cho cơ sở bán lẻ Chỉ sau khi được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện, cơ sở mới được phép hoạt động hợp pháp.
+ Không đúng quy chế: không có mặt trong thời gian hoạt động hoặc không có giấy uỷ quyền trong trường hợp người quản lý chuyên môn vắng mặt
- Việc mặc trang phục chuyên môn của người bán thuốc:
+ Đúng quy chế: mặc áo blu, mang bảng tên
+ Không đúng quy chế: không mặc áo blu hoặc không mang bảng tên
- Cơ sở có duy trì khu vực ra lẻ thuốc
+ Đúng quy chế: có duy trì khu vực ra lẻ cách ly với khu vực trƣng bày, khu vực này phải đảm bảo vệ sinh
+ Không đúng quy chế: không duy trì khu vực ra lẻ, khu vực ra lẻ không cách ly với khu vực trƣng bày
- Khu vực tƣ vấn hay bàn tƣ vấn riêng
+ Đúng quy chế: Có duy trì khu vực tƣ vấn hay bàn tƣ vấn (Khu vực tƣ vấn đảm bảo đƣợc tính riêng tƣ)
+ Không đúng quy chế: không duy trì khu vực tƣ vấn hay bàn tƣ vấn
- Sắp xếp Mỹ phẩm; thực phẩm chức năng; dụng cụ y tế:
+ Đúng quy chế: Mỹ phẩm; thực phẩm chức năng; dụng cụ y tế sắp xếp ở khu vực riêng với thuốc
+ Không đúng quy chế: Mỹ phẩm; thực phẩm chức năng; dụng cụ y tế để chung với thuốc, không sắp xếp ở khu vực hoặc ngăn riêng với thuốc
- Duy trì nhiệt độ tại nhà thuốc, quầy thuốc:
Nhiệt độ: Không cao hơn 30 0 C
Đọc số liệu nhiệt độ, độ ẩm trên “Nhiệt- ẩm kế” (tối thiểu ngày 2 lần)
Ghi số liệu đọc đƣợc vào sổ theo dõi nhiệt độ, độ ẩm
Ký, ghi rõ họ, tên người thực hiện
Không cập nhật vào sổ theo dõi nhiệt độ, độ ẩm
- Thực hiện ra lẻ thuốc không còn bao bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc:
+ Đúng quy chế: thuốc đƣợc ra lẻ trong khu vực ra lẻ thuốc, phải dùng đồ bao gói kín khí, có nhãn thuốc theo quy định gồm:
Nồng độ, hàm lƣợng thuốc
(trường hợp không có đơn thuốc đi kèm phải ghi thêm liều dùng, số lần dùng và cách dùng)
+ Không đúng quy chế: thực hiện thiếu một trong các quy định trên
- Người bán lẻ tư vấn cho người mua
Người bán lẻ cần tuân thủ đúng quy chế bằng cách tư vấn cho người mua cách sử dụng thuốc đúng cách thông qua hướng dẫn bằng lời nói Trong trường hợp không có đơn thuốc kèm theo, người bán phải ghi rõ hướng dẫn sử dụng thuốc bằng viết tay hoặc in ấn và dán trên bao bì sản phẩm, đảm bảo khách hàng hiểu rõ cách sử dụng, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và an toàn cho người dùng.
+ Không đúng quy chế: không thực hiện theo các quy định trên
- Thực hiện kiểm tra thuốc trước khi giao cho khách hàng
+ Đúng quy chế: người bán thuốc phải kiểm tra lại thuốc so với đơn thuốc có đúng không trước khi giao cho khách hàng
+ Không đúng quy chế: không kiểm tra thuốc trước khi giao cho khách hàng
- Thuốc dùng ngoài và thuốc bảo quản đặc biệt có đƣợc đựng trong bao bì dễ phân biệt
Có bao bì ra lẻ kín khí cho thuốc không còn bao bì tiếp xúc trực tiếp
Có bao bì thuốc dùng ngoài và thuốc quản lý đặc biệt
Thuốc bán lẻ không đựng trong bao bì mang tên thuốc khác hoặc chứa nội dung quảng cáo của một thuốc khác
+ Không đúng quy chế: không đáp ứng các quy định trên
- Thực hiện niêm yết giá thuốc đầy đủ và đúng quy định [9]
Đúng quy chế là yêu cầu niêm yết giá thuốc đúng quy định, rõ ràng và đầy đủ trên tất cả các bao bì sản phẩm Giá bán lẻ phải được ghi theo đơn vị tính nhỏ nhất của thuốc, đảm bảo minh bạch cho khách hàng Thuốc không được bán với giá cao hơn mức niêm yết đã công bố, đảm bảo sự công bằng và tuân thủ các quy định về giá thuốc.
+ Không đúng quy chế: niêm yết giá không đầy đủ trên tất cả các bao bì
Người bán thuốc hướng dẫn khách hàng cách xử lý khi gặp phản ứng dị ứng bằng cách nhấn mạnh việc liên hệ ngay với cơ sở y tế hoặc bác sĩ kê đơn nếu xuất hiện các dấu hiệu không bình thường sau khi sử dụng thuốc Việc này đảm bảo tuân thủ quy chế bán hàng thuốc và giúp người mua xử lý kịp thời, giảm thiểu rủi ro sức khỏe.
+ Không đúng quy chế: không tƣ vấn cho khách hàng về nội dụng nêu trên
Các cơ sở bán lẻ thuốc hợp pháp phải đảm bảo nguồn gốc thuốc rõ ràng, được mua từ các nhà phân phối có hồ sơ theo dõi đầy đủ và có số đăng ký hợp lệ hoặc được phép nhập khẩu theo yêu cầu điều trị Thuốc phải còn nguyên vẹn, đóng gói đầy đủ của nhà sản xuất và nhãn mác đúng quy định hiện hành để đảm bảo chất lượng và an toàn cho người dùng.
+ Đúng quy chế: Chỉ mua các thuốc được phép lưu hành, có số đăng ký, có hóa đơn, chứng từ hợp lệ
+ Không đúng quy chế: không đáp ứng các tiêu chí trên
- Kiểm tra nhiệt độ, độ ẩm có đầy đủ và đúng thời gian quy định
+ Đúng quy chế: cập nhật nhiệt độ, độ ẩm thường xuyên vào sổ theo dõi (ích nhất 02 lần trong ngày)
+ Không đúng quy chế: không cập nhật nhiệt độ, độ ẩm theo quy định nêu trên
- Đơn đặt hàng có đúng quy định theo mẫu (S.O.P)
+ Đúng quy chế: Áp dụng mẫu đơn đặt hàng theo đúng quy định theo mẫu (S.O.P) đã đƣợc nhà thuốc phê duyệt
+ Không đúng quy chế: không áp dụng theo quy định nêu trên
- Quản lý thuốc thuốc tại nhà thuốc, quầy thuốc:
+ Đúng quy chế: Thuốc mua về phải đƣợc nhập vào phần mềm hoặc vào sổ xuất nhập, đồng thời có lưu hóa đơn chứng từ
+ Không đúng quy chế: không thực hiện theo quy định nêu trên
- Thuốc tại nhà thuốc, quầy thuốc đảm bảo 100% hóa đơn
+ Đúng quy chế: 100% thuốc mua vào tại nhà thuốc, quầy thuốc đảm bảo 100% hóa đơn chứng từ
+ Không đúng quy định: không có đầy đủ hóa đơn, chứng từ nhập thuốc
- Thực hiện những quy định về bán thuốc theo đơn và thay thế thuốc trong đơn:
Nhận biết đƣợc dấu hiệu thuốc phải kê đơn;
Thuốc kê đơn chỉ bán khi có đơn của bác sỹ;
Chỉ có dược sĩ đại học thay thế thuốc tương tự trong đơn với điều kiện có sự đồng ý của người mua
+ Không đúng quy chế: không thực hiện đúng một trong các tiêu chí trên
- Các nhân viên của nhà thuốc có tham gia các lớp đào tạo, cập nhật kiến thức chuyên môn trong vòng 2 năm trở lại đây
+ Đúng quy chế: tất cả các nhân viên tại cơ sở bán thuốc phải đƣợc tập huấn, cập nhật kiến thức
+ Không đúng quy chế: có một nhân viên tại cơ sở bán thuốc không đƣợc tập huấn, cập nhật kiến thức
- Chỉ bán thuốc theo đơn khi đơn thuốc hợp lệ [15]
+ Đúng quy định: có đầy đủ các thông tin:
Họ tên ……… Tuổi …… nam/nữ …
Họ tên bố/mẹ/ người giám hộ(nếu người bệnh dưới 72 tháng tuổi): … CMND/Căn cước công dân số
Số thẻ bảo hiểm y tế (nếu có) ………
Ngày, tháng, năm kê đơn, chữ ký của người kê đơn (ghi rõ chức danh, họ, tên nguời kê đơn)
Không được kê các nội dung quy định tại Khoản 15 Điều 6 của Luật Dược vào đơn thuốc, bao gồm các thuốc và chất không nhằm mục đích phòng bệnh hoặc chữa bệnh, các thuốc chưa được phép lưu hành hợp pháp tại Việt Nam, thực phẩm chức năng và mỹ phẩm Việc tuân thủ quy định này giúp đảm bảo an toàn và hợp pháp trong hoạt động kê đơn thuốc, đồng thời tránh vi phạm pháp luật về dược phẩm tại Việt Nam.
Việt Nam nghiêm cấm bán thuốc khi đơn thuốc không đầy đủ các thông tin cần thiết hoặc có chứa các loại thuốc không nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh Ngoài ra, việc bán các loại thuốc chưa được phép lưu hành hợp pháp, thực phẩm chức năng hoặc mỹ phẩm cũng vi phạm quy định pháp luật về dược phẩm Các cơ sở bán thuốc cần tuân thủ đúng quy định để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng.
- Cộng tác với các tuyến y tế cơ sở trên địa bàn:
Người có cộng tác là người tham gia ít nhất một hoạt động liên quan, như hợp tác với y tế cơ sở và nhân viên y tế cơ sở trên địa bàn dân cư hoặc tham gia cấp phát thuốc Việc này giúp nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng và mở rộng phạm vi tiếp cận dịch vụ y tế tại địa phương Các hoạt động cộng tác đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường mạng lưới y tế cơ sở và đảm bảo người dân nhận được dịch vụ y tế kịp thời, chất lượng Tham gia các hoạt động này không chỉ góp phần vào công tác phòng chống dịch bệnh mà còn thúc đẩy sự phối hợp chặt chẽ giữa cộng đồng và hệ thống y tế.
Các chương trình bảo hiểm y tế, dự án y tế và các hoạt động liên quan nhằm đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện, phối hợp cung cấp thuốc thiết yếu và tham gia truyền thông giáo dục cộng đồng Nội dung truyền thông bao gồm nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe không dùng thuốc, biện pháp phòng tránh và xử lý bệnh dịch, chăm sóc sức khỏe ban đầu, cũng như kiến thức về thuốc và sử dụng thuốc an toàn Các hoạt động này góp phần thúc đẩy cộng đồng hiểu biết, tự chủ trong chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cơ sở.
+ Không có cộng tác: không tham gia hoạt nào cả
- Theo dõi và báo cáo với cơ quan y tế về tác dụng không mong muốn của thuốc (ADR) theo quy định
+ Có theo dõi, báo cáo: kiểm tra sở ghi chép báo cáo với cơ quan y tế về tác dụng không mong muốn của thuốc (ADR)
+ Không có: không có sổ ghi chép thông tin trên
- Sổ theo dõi người mua thuốc không kê đơn có chứa hoạt chất gây nghiện dạng phối hợp, hướng tâm thần dạng phối hợp [10], [13], [14]
Theo quy định, cơ sở phải mở sổ theo dõi người mua thuốc không kê đơn chứa hoạt chất gây nghiện dạng phối hợp hoặc hướng tâm thần dạng phối hợp để đảm bảo quản lý chặt chẽ Trong khi đó, trường hợp không đúng quy định là khi cơ sở không có sổ theo dõi thông tin của người mua thuốc, gây nguy cơ mất kiểm soát và dễ dẫn đến vi phạm pháp luật Việc tuân thủ quy định này giúp đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng và nâng cao uy tín của cơ sở bán thuốc.
- Một ngày nhà thuốc có bán nhiều hơn 2 đơn thuốc (quan sát thực tế)
- Cơ sở tham gia lớp tập huấn định kỳ, cập nhật kiến thức do Sở Y tế, Phòng
Y tế tổ chức trong vòng 02 năm gần đây, minh chứng bằng giấy chứng nhận hoặc hồ sơ đào tạo nhân viên
+ Đúng quy chế: tất cả các nhân viên tại cơ sở bán thuốc phải đƣợc tập huấn, cập nhật kiến thức
+ Không đúng quy chế: có một nhân viên tại cơ sở bán thuốc không đƣợc tập huấn, cập nhật kiến thức
- Thời gian kinh doanh của cơ sở lâu hơn 5 năm (phỏng vấn và xem giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc của cơ sở)
Mỗi năm, nhà thuốc đều phải chịu sự kiểm tra định kỳ từ sở hoặc phòng y tế, ít nhất hai lần Quá trình kiểm tra này bao gồm phỏng vấn và xem xét biên bản kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước lưu tại cơ sở Việc duy trì hoạt động kiểm tra thường xuyên giúp đảm bảo sự tuân thủ các quy định pháp luật về dược phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ và an toàn cho người bệnh Để duy trì hoạt động hợp pháp, nhà thuốc cần chuẩn bị sẵn sàng các giấy tờ và hồ sơ kiểm tra theo yêu cầu của cơ quan chức năng, đồng thời áp dụng các tiêu chuẩn về vệ sinh và chuyên môn Các hoạt động này nhằm nâng cao uy tín và đảm bảo an toàn, hiệu quả trong cung ứng thuốc cho cộng đồng.
2.2.4.2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến việc không duy trì thực hiện GPP tại các nhà thuốc, quầy thuốc trên địa bàn tỉnh Hậu Giang
Xác định một số yếu tố liên quan đến việc không duy trì thực hiện GPP tại các nhà thuốc, quầy thuốc trên địa bàn tỉnh Hậu Giang
Mối liên quan giữa thực hành đúng quy định về duy trì thực hiện GPP với trình độ người quản lý chuyên môn
Thực hành đúng quy định về duy trì GPP đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo chất lượng thuốc và an toàn cho người dùng Việc quản lý kiểm tra và giám sát thường xuyên của cơ quan quản lý nhà nước về dược là yếu tố quyết định hiệu quả thực hiện các quy định này, giúp phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm Tối ưu quy trình kiểm tra và giám sát không chỉ nâng cao năng lực quản lý mà còn thúc đẩy các nhà phân phối dược phẩm duy trì tiêu chuẩn GPP một cách liên tục và bền vững Đảm bảo thực hành đúng quy định GPP kết hợp với giám sát chặt chẽ của cơ quan nhà nước là chìa khóa để duy trì hệ thống phân phối dược phẩm an toàn, hiệu quả và đáp ứng yêu cầu của pháp luật.
Mối liên quan giữa thực hành đúng quy định về duy trì thực hiện GPP với thời gian kinh doanh của cơ sở bán lẻ thuốc
Mối liên quan giữa thực hành đúng quy định về duy trì thực hiện GPP với yếu tố tập huấn kiến thức về dƣợc
- Hai lần trong thời gian 2 năm
- Vắng mặt 01 lần hoặc không tham gia tập huấn
2.2.5 Phương pháp thu thập thông tin:
Thu thập số liệu dựa vào bộ câu hỏi đã chuẩn bị trước, đồng thời kết hợp quan sát, phỏng vấn ghi trực tiếp vào phiếu khảo sát
- Các nhà thuốc, quầy thuốc trên địa bàn tỉnh Hậu Giang
Dữ liệu hồi cứu được thu thập từ báo cáo của Sở Y tế, bao gồm các thông tin quan trọng về các cơ sở bán lẻ, nhân lực, trình độ chuyên môn và địa điểm hoạt động từ tháng 12 năm 2016 đến ngày 31/3/2018 Các số liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về hệ thống phân phối và năng lực riêng biệt của từng cơ sở y tế trong giai đoạn này Thông tin từ báo cáo giúp đánh giá chính xác hiện trạng hoạt động của các cơ sở bán lẻ y tế, từ đó hỗ trợ xây dựng các chiến lược phát triển hợp lý và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cộng đồng.
Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đã tuân thủ các nguyên tắc đạo đức trong y học, đảm bảo quyền lợi và sự tự nguyện của các đối tượng tham gia Các đối tượng được phỏng vấn rõ ràng về mục tiêu và ý nghĩa của nghiên cứu, đồng ý tham gia một cách tự nguyện Thông tin cá nhân của các đối tượng nghiên cứu được bảo mật tuyệt đối để đảm bảo quyền riêng tư và sự tin cậy trong quá trình nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả khảo sát về việc duy trì thực hiện tiêu chuẩn GPP tại các nhà thuốc và quầy thuốc ở tỉnh Hậu Giang năm 2017-2018 cho thấy còn nhiều thách thức trong việc đảm bảo tuân thủ tiêu chuẩn này Nghiên cứu bao gồm 78 nhà thuốc và 55 quầy thuốc, tiến hành từ tháng 6 năm 2017 đến ngày 31 tháng 3 năm 2018 Những kết quả này phản ánh mức độ tuân thủ tiêu chuẩn GPP của các cơ sở kinh doanh thuốc tại địa phương, góp phần đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ và đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng.
2018 chúng tôi ghi nhận kết quả nhƣ sau:
3.1 Xác định tỷ lệ duy trì một số tiêu chí về GPP ở tất cả các nhà thuốc, quầy thuốc đã đạt chuẩn GPP trên địa bàn của tỉnh
3.1.1 Tỷ lệ người quản lý chuyên môn có mặt khi cơ sở hoạt động
Bảng 3.1 Tỷ lệ người quản lý chuyên môn có mặt khi cơ sở hoạt động
Cơ sở SL cơ sở khảo sát
Số cơ sở đạt Số cơ sở không đạt
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)
Tỷ lệ thực hiện đúng quản lý chuyên môn khi cơ sở hoạt động tại nhà thuốc và quầy thuốc đạt 82,7%, cho thấy phần lớn các điểm bán lẻ y tế đều đảm bảo tuân thủ các quy định chuyên môn Tuy nhiên, vẫn còn 17,3% cơ sở chưa thực hiện đúng quy trình, đề nghị các đơn vị cần nâng cao ý thức và quy trình kiểm soát để đảm bảo chất lượng dịch vụ và an toàn cho người dân Việc duy trì tỷ lệ tuân thủ cao sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng sự tin tưởng của khách hàng và đáp ứng các tiêu chuẩn y tế quốc gia.
3.1.2 Tỷ lệ nhân viên bán thuốc mặc áo blu, đeo bảng tên
Bảng 3.2 Tỷ lệ nhân viên bán thuốc mặc áo blu, đeo bảng tên
Cơ sở SL cơ sở khảo sát
Số cơ sở đạt Số cơ sở không đạt
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)
Tỷ lệ nhân viên bán thuốc mặc áo blouse và đeo bảng tên tại nhà thuốc đạt 61,5%, trong khi tại quầy thuốc chỉ là 52,7%, cho thấy sự chuyên nghiệp và nhận diện thương hiệu cao hơn ở nhà thuốc Tuy nhiên, tỷ lệ thực hiện đúng quy định của cả nhà thuốc và quầy thuốc còn thấp, chỉ đạt 42,1%, cho thấy cần tăng cường đào tạo và kiểm soát để đảm bảo quy trình bán hàng thuốc đúng tiêu chuẩn y tế.
3.1.3 Khảo sát tỷ lệ duy trì khu ra lẻ thuốc
Bảng 3.3 Khảo sát tỷ lệ duy trì khu vực ra lẻ thuốc
Cơ sở SL cơ sở khảo sát
Số cơ sở đạt Số cơ sở không đạt
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)
Tỷ lệ duy trì khu vực ra lẻ thuốc tại nhà thuốc đạt 84,6%, cao hơn so với quầy thuốc chỉ 69,1%, cho thấy nhà thuốc có hiệu quả hơn trong việc giữ chân khách hàng Tuy nhiên, tỷ lệ chưa đạt của nhà thuốc và quầy thuốc lần lượt là 21,8%, phản ánh còn nhiều không gian để cải thiện việc duy trì và phát triển dịch vụ bán lẻ thuốc.
3.1.4 Khảo sát tỷ lệ duy trì khu vực tƣ vấn hay bàn tƣ vấn riêng
Bảng 3.4 Khảo sát tỷ lệ duy trì khu vực tƣ vấn hay bàn tƣ vấn riêng
Cơ sở SL cơ sở khảo sát
Số cơ sở đạt Số cơ sở không đạt
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)
Tỷ lệ duy trì khu vực tư vấn hoặc bàn tư vấn riêng tại nhà thuốc đạt 82,1%, cao hơn nhiều so với quầy thuốc chỉ 67,3%, cho thấy nhà thuốc chú trọng vào không gian tư vấn khách hàng Tuy nhiên, tỷ lệ thực hiện các hoạt động này vẫn chưa đạt yêu cầu với mức 24,1%, đòi hỏi cải thiện để nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng.
3.1.5 Khảo sát tỷ lệ sắp xếp thực phẩm chức năng (TPCN), trang thiết bị y tế riêng biệt với thuốc
Bảng 3.5 Khảo sát tỷ lệ sắp xếp TPCN, trang thiết bị y tế riêng biệt với thuốc
Cơ sở SL cơ sở khảo sát
Số cơ sở đạt Số cơ sở không đạt
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Tỷ lệ sắp xếp TPCN, trang thiết bị y tế riêng biệt với thuốc tại nhà thuốc, quầy thuốc đạt chiếm 79,7% Tỷ lệ cơ sở chƣa đạt 2,3%
3.1.6 Khảo sát tỷ lệ thực hiện duy trì nhiệt độ, độ ẩm và thời gian ghi chép nhiệt độ, độ ẩm
Bảng 3.6 Khảo sát tỷ lệ thực hiện duy trì nhiệt độ, độ ẩm và thời gian ghi chép nhiệt độ, độ ẩm
SL cơ sở khảo sát
Số cơ sở đạt Số cơ sở không đạt
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)
Nhận xét cho thấy tỷ lệ duy trì nhiệt độ, độ ẩm và thời gian ghi chép nhiệt độ, độ ẩm trong nhà thuốc đạt khoảng 82,1%, cao hơn so với quầy thuốc với tỷ lệ 67,3%, phản ánh sự tuân thủ quy trình quản lý môi trường tốt hơn tại nhà thuốc Trong khi đó, tỷ lệ cơ sở đạt yêu cầu chiếm 75,9%, còn 24,1% chưa đáp ứng tiêu chuẩn, cho thấy cần nâng cao các biện pháp kiểm soát môi trường để đảm bảo an toàn và chất lượng thuốc Việc duy trì các yếu tố này là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng thuốc và an toàn người dùng, do đó, các nhà thuốc cần xem xét nâng cao công tác ghi chép và kiểm soát môi trường phòng thuốc.
3.1.7 Tỷ lệ các cơ sở thực hiện ra lẻ thuốc không còn tiếp xúc bao bì trực tiếp đúng quy định
Bảng 3.7 Tỷ lệ các cơ sở thực hiện ra lẻ thuốc không còn tiếp xúc bao bì trực tiếp đúng quy định
Cơ sở SL cơ sở khảo sát
Số cơ sở đạt Số cơ sở không đạt
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)
Theo đánh giá, tỷ lệ các cơ sở thực hiện ra lẻ thuốc đúng quy định không còn tiếp xúc trực tiếp với bao bì tại nhà thuốc đạt 82,1%, trong khi đó tại quầy thuốc là 70,9% Tổng tỷ lệ các cơ sở đạt yêu cầu chiếm 77,4%, còn lại 22,6% chưa đạt chuẩn, cho thấy cần tăng cường kiểm tra và nâng cao ý thức của các cơ sở y tế trong việc tuân thủ quy định an toàn thuốc.
3.1.8 Tỷ lệ thực hiện hướng dẫn sử dụng thuốc cho khách hàng
Bảng 3.8 Tỷ lệ thực hiện hướng dẫn sử dụng thuốc cho khách hàng
Cơ sở SL cơ sở khảo sát
Số cơ sở đạt Số cơ sở không đạt
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)
Theo đánh giá, tỷ lệ khách hàng được nhận hướng dẫn sử dụng thuốc tại nhà thuốc đạt 78,2%, trong khi quầy thuốc là 72,7% Tuy nhiên, vẫn còn 24,1% các cơ sở chưa thực hiện đúng quy trình hướng dẫn sử dụng thuốc cho khách hàng, cho thấy cần cải thiện về mức độ tuân thủ hướng dẫn nhằm nâng cao an toàn và hiệu quả sử dụng thuốc.
3.1.9 Tỷ lệ thực hiện kiểm tra thuốc trước khi giao cho khách hàng
Bảng 3.9 Tỷ lệ thực hiện kiểm tra thuốc trước khi giao cho khách hàng
Cơ sở SL cơ sở khảo sát
Số cơ sở đạt Số cơ sở không đạt
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)
Tỷ lệ nhà thuốc thực hiện kiểm tra thuốc trước khi giao cho khách hàng đạt 87,2%, trong khi quầy thuốc đạt 85,5% Tổng thể, 86,5% các cơ sở đạt yêu cầu về kiểm tra thuốc, còn 13,5% chưa đạt tiêu chuẩn, cho thấy cần tăng cường công tác đảm bảo chất lượng thuốc tại các cơ sở bán lẻ.
3.1.10 Tỷ lệ sử dụng bao bì phân biệt thuốc dùng ngoài và thuốc quản lý đặc biệt
Bảng 3.10 Tỷ lệ sử dụng bao bì phân biệt thuốc dùng ngoài và thuốc quản lý đặc biệt
Cơ sở SL cơ sở khảo sát
Số cơ sở đạt Số cơ sở không đạt
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)
Tỷ lệ sử dụng bao bì phân biệt cho thuốc dùng ngoài và thuốc quản lý đặc biệt tại các nhà thuốc đạt 83,3%, cao hơn so với con số 70,9% tại quầy thuốc Tuy nhiên, vẫn còn 21,8% các cơ sở còn chưa đạt tiêu chuẩn về việc sử dụng bao bì phân biệt chính xác để đảm bảo an toàn cho người dùng và nâng cao chất lượng dịch vụ.
3.1.11 Khảo sát tỷ lệ niêm yết giá thuốc tại các cơ sở
Thuốc phải đƣợc niêm yết giá thuốc đúng quy định và không bán cao hơn giá niêm yết
Bảng 3.11 Khảo sát tỷ lệ niêm yết giá thuốc tại các cơ sở
Cơ sở SL cơ sở khảo sát
Số cơ sở đạt Số cơ sở không đạt
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Tỷ lệ niêm yết giá thuốc đầy đủ đối với nhà thuốc 88,5%, quầy thuốc là 81,8% Tỷ lệ cơ sở đạt 85,7%, cơ sở chƣa đạt chiếm 14,3%
Các người bán thuốc cần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khách hàng nhanh chóng liên hệ với cơ sở y tế hoặc bác sĩ kê đơn ngay lập tức nếu gặp các phản ứng không mong muốn như dị ứng khi sử dụng thuốc Việc này giúp đảm bảo an toàn cho người dùng và phòng tránh các biến chứng nghiêm trọng Đảm bảo tỷ lệ người bán thuốc thực hiện căn dặn này là điều kiện cần thiết để nâng cao ý thức về an toàn thuốc và đảm bảo quyền lợi của khách hàng.
Bảng 3.12 thể hiện tỷ lệ người bán thuốc hướng dẫn khách hàng liên hệ ngay với cơ sở y tế hoặc bác sĩ kê đơn nếu xảy ra vấn đề như phản ứng dị ứng trong quá trình sử dụng thuốc Việc này là cần thiết để đảm bảo an toàn cho người dùng và xử lý kịp thời các phản ứng phụ không mong muốn Tỷ lệ này phản ánh mức độ nhận thức của người bán thuốc về tầm quan trọng của việc theo dõi tình trạng sức khỏe khách hàng sau khi sử dụng thuốc theo hướng dẫn y tế Thói quen nhắc nhở khách liên hệ bác sĩ khi gặp vấn đề giúp nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm thiểu rủi ro về sức khỏe Đảm bảo khách hàng biết cách ứng phó phù hợp góp phần hạn chế các tác dụng phụ nghiêm trọng do sử dụng thuốc không đúng cách.
Cơ sở SL cơ sở khảo sát
Số cơ sở đạt Số cơ sở không đạt
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)
Tỷ lệ người bán thuốc hướng dẫn khách hàng liên hệ ngay với cơ sở y tế hoặc bác sĩ kê đơn khi phát hiện các vấn đề như dị ứng trong quá trình sử dụng thuốc là 84,6%, cao hơn so với tại quầy thuốc với tỷ lệ 76,4% Các cơ sở đạt tiêu chuẩn hướng dẫn này chiếm đến 81,2%, trong khi đó có 18,8% chưa đạt chuẩn Điều này cho thấy sự chú trọng của nhiều nhà thuốc trong việc đảm bảo an toàn cho khách hàng và tuân thủ hướng dẫn y tế.
3.1.13 Tỷ lệ thuốc mua vào có số đăng ký được phép lưu hành
Bảng 3.13 Tỷ lệ thuốc mua vào có số đăng ký được phép lưu hành
Cơ sở SL cơ sở khảo sát
Số cơ sở đạt Số cơ sở không đạt
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Tỷ lệ thuốc mua vào có số đăng ký được phép lưu hành của nhà thuốc và quầy thuốc đạt 100%
3.1.14 Tỷ lệ thực hiện kiểm tra nhiệt độ, độ ẩm đầy đủ và đúng thời gian quy định không
Bảng 3.14 Tỷ lệ thực hiện kiểm tra nhiệt độ, độ ẩm đầy đủ và đúng thời gian quy định không
Cơ sở SL cơ sở khảo sát
Số cơ sở đạt Số cơ sở không đạt
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)
Tỷ lệ nhà thuốc thực hiện kiểm tra nhiệt độ, độ ẩm đúng quy định đạt 79,5%, cao hơn so với quầy thuốc chỉ đạt 70,9% Trong tổng số cơ sở khám chữa bệnh, tỷ lệ đạt yêu cầu là 75,9%, trong khi tỷ lệ chưa đạt chiếm 24,1% Việc đảm bảo kiểm tra định kỳ đúng thời gian quy định là rất cần thiết để duy trì chất lượng và an toàn trong hoạt động của các nhà thuốc và quầy thuốc.
3.1.15 Tỷ lệ đơn đặt hàng đúng quy định theo mẫu (S.O.P)
Bảng 3.15 Tỷ lệ đơn đặt hàng đúng quy định theo mẫu (S.O.P)
Cơ sở SL cơ sở khảo sát
Số cơ sở đạt Số cơ sở không đạt
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Tỷ lệ đơn đặt hàng đúng quy định theo mẫu (S.O.P) tại các nhà thuốc chiếm 71,8%, quầy thuốc là 60% Tỷ lệ cơ sở đạt 66,9%, cơ sở chƣa đạt 33,1%
3.1.16 Tỷ lệ thuốc mua về đƣợc nhập vào phần mềm hoặc vào sổ xuất nhập, đồng thời có lưu hóa đơn chứng từ
Bảng 3.16 Tỷ lệ thuốc mua về đƣợc nhập vào phần mềm hoặc vào sổ xuất nhập, đồng thời có lưu hóa đơn chứng từ
Cơ sở SL cơ sở khảo sát
Số cơ sở đạt Số cơ sở không đạt
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)
Tỷ lệ thuốc mua về được nhập vào phần mềm hoặc sổ xuất nhập đạt 78,2%, đồng thời hóa đơn chứng từ được lưu tại các nhà thuốc đạt 67,3% Như vậy, tổng thể, tỷ lệ các cơ sở đạt chuẩn lưu trữ hồ sơ là 73,7%, cho thấy vẫn còn khoảng cách cần cải thiện để nâng cao hiệu quả quản lý thuốc.
3.1.17 Tỷ lệ thuốc tại nhà thuốc có đảm bảo 100% hóa đơn
Bảng 3.17 Tỷ lệ thuốc tại nhà thuốc có đảm bảo 100% hóa đơn
Cơ sở SL cơ sở khảo sát
Số cơ sở đạt Số cơ sở không đạt
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Tỷ lệ thuốc tại nhà thuốc có đảm bảo 100% hóa đơn đối với nhà thuốc 75,6%; quầy thuốc 76,4%, Tỷ lệ cơ sở đạt 75,9%, cơ sở chƣa đạt 24,1%
3.1.18 Tỷ lệ đảm bảo chỉ có dược sĩ mới được thay thế thuốc tương tự, tại nhà thuốc
Bảng 3.18 Tỷ lệ đảm bảo chỉ có dƣợc sĩ mới đƣợc thay thế thuốc tương tự, tại nhà thuốc
Cơ sở SL cơ sở khảo sát
Số cơ sở đạt Số cơ sở không đạt
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)
ÀN LUẬN
Dựa trên nghiên cứu về việc duy trì thực hiện các chuẩn GPP tại các nhà thuốc và quầy thuốc tư nhân ở tỉnh Hậu Giang năm 2017-2018, bài viết nhận xét và đánh giá như sau: Việc tuân thủ các tiêu chuẩn GPP đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và đảm bảo an toàn thuốc cho người dân Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn trong việc duy trì hệ thống GPP tại các cơ sở, đòi hỏi cần có các giải pháp phù hợp để thúc đẩy việc thực hiện liên tục và hiệu quả hơn Các nhà thuốc cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng để nâng cao nhận thức và năng lực của nhân viên trong việc tuân thủ các tiêu chuẩn GPP Đánh giá tổng thể cho thấy, việc duy trì tiêu chuẩn GPP tại các nhà thuốc tư nhân là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và đảm bảo sức khỏe cộng đồng tại tỉnh Hậu Giang.
Các cơ sở bán lẻ thuốc phải thực hiện đúng quy trình theo Thông tư số 02/2018/TT-BYT, thay thế cho Thông tư 46/2011/TT-BYT của Bộ Y tế, đảm bảo tuân thủ các quy định về thực hiện đúng quy trình bán lẻ thuốc nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và an toàn cho người dùng.
Theo Thông tư số 46/2011/TT-YT của Bộ Y tế, tỉnh Hậu Giang đã quan tâm và chỉ đạo thường xuyên việc triển khai đạt tiêu chuẩn GPP cho các nhà thuốc, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế trên địa bàn Tính đến nay, có 78/82 nhà thuốc trong toàn tỉnh đã được thẩm định và cấp giấy chứng nhận đạt GPP, chiếm tỷ lệ 95,12%, và 5/5 quầy thuốc bệnh viện đã đạt chuẩn GPP với tỷ lệ 100%, trong khi đó, tỷ lệ quầy thuốc đạt GPP trong các nhà thuốc tư nhân là 13,85% Điều này thể hiện sự quyết tâm của ngành y tế tỉnh Hậu Giang trong việc nâng cao chuẩn mực hoạt động của các cơ sở bán lẻ thuốc, góp phần đảm bảo an toàn sử dụng thuốc và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Theo Thông tƣ 46/2011/TT-BYT ban hành nguyên tắc, tiêu chuẩn
Thực hành tốt nhà thuốc, nay được thay thế bằng Thông tư số 02/2018/TT-BYT, yêu cầu người quản lý chuyên môn của cơ sở phải có mặt trong toàn bộ thời gian hoạt động để đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn bắt buộc trong GPP Trường hợp người quản lý vắng mặt, phải ủy quyền bằng văn bản cho người có Chứng chỉ hành nghề dược phù hợp để chịu trách nhiệm chuyên môn theo quy định Nghị định 176/2013/NĐ-CP quy định rõ về trách nhiệm của người quản lý chuyên môn khi vắng mặt và các hậu quả pháp lý nếu không thực hiện đúng quy định này.
Theo quy định của pháp luật, những trường hợp ủy quyền hoặc cử người thay thế để thực hiện công việc sẽ bị xử phạt tiền và bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề nếu vi phạm Việc này nhằm đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật và duy trì tính minh bạch trong hoạt động hành nghề Các hình thức xử phạt này nhằm răn đe và nâng cao ý thức trách nhiệm của các cá nhân trong việc thực hiện quy trình ủy quyền hợp pháp.
Theo kết quả khảo sát (bảng 3.1), có đến 82,7% người quản lý chuyên môn của cơ sở phải có mặt trong toàn bộ thời gian hoạt động của cơ sở, trong đó người quản lý chuyên môn của nhà thuốc có mặt khi cơ sở hoạt động chiếm tỷ lệ 76,9%, quầy thuốc đạt 90,9% Kết quả này cao hơn so với các nghiên cứu trước đây, như nghiên cứu năm 2012 tại quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ của Võ Hùng Cường với tỷ lệ 22%, nghiên cứu năm 2013 của Nguyễn Văn Sơn tại tỉnh An Giang là 25,76%, nghiên cứu năm 2016 của Triệu Quốc Dũng tại Sóc Trăng đạt 60,2%, nghiên cứu năm 2010 của Trương Văn Hòa tại tỉnh Bến Tre là 62%, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hương tại Đồng Tháp đạt 77%, nghiên cứu năm 2013 của Nguyễn Huỳnh Anh tại Hậu Giang là 73,8%, nghiên cứu của Đặng Thị Thúy Hồng tại Tây Ninh năm 2015 là 79,66%, và nghiên cứu năm 2014 của Bào Thanh Hoàng tại Cà Mau đạt 31,2% [1], [24], [26], [27], [28], [29], [30], [37].
Theo Nghị định 176/2013/NĐ-CP, người quản lý chuyên môn vắng mặt phải thực hiện việc ủy quyền hoặc cử người thay thế theo quy định của pháp luật, đảm bảo đầy đủ thủ tục pháp lý trong quá trình hoạt động Việc này còn giúp các cơ sở kinh doanh chuẩn bị sẵn giấy ủy quyền để đối phó hiệu quả với đoàn kiểm tra, từ đó hạn chế rủi ro vi phạm pháp luật Thực hiện đúng quy định về ủy quyền góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp và tránh các lỗi vi phạm trong hoạt động kinh doanh.
Theo khảo sát, tỷ lệ người quản lý chuyên môn có mặt tại nhà thuốc thấp hơn so với quầy thuốc tại tỉnh Hậu Giang do nhiều dược sĩ hiện đang làm việc trong các cơ quan nhà nước và mở cơ sở kinh doanh tại nhà hoặc hợp tác phụ trách chuyên môn không thường xuyên có mặt tại cơ sở Việc chỉ có mặt khi cần thiết này vi phạm quy chế hoạt động của các cơ sở kinh doanh dược phẩm.
4.1.2 Nhân viên bán thuốc mặc áo blu, đeo bảng tên
Theo Thông tư 46/2011/TT-BYT ban hành nguyên tắc, tiêu chuẩn “thực hành tốt nhà thuốc”, người bán lẻ trong các cơ sở y tế phải mặc áo blu trắng, sạch sẽ, gọn gàng và đeo biển ghi rõ tên, chức danh Kết quả khảo sát tại (ảng 3.2) cho thấy có 57,9% nhà thuốc và quầy thuốc tuân thủ quy định này, cao hơn so với khảo sát năm 2016 tại Tây Ninh của Đặng Thị Thúy Hồng (12,71%) nhưng thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu năm 2012 tại Long Mỹ, Hậu Giang của Trần Thiện Minh (84,40%), năm 2016 ở Sóc Trăng của Triệu Quốc Dũng (84,7%), năm 2014 tại Kiên Giang của Đào Thị Bích Thuận (86%) và năm 2014 tại Cà Mau của Bào Thanh Hoàng (100%) [26], [28], [29], [32], [39].
Kết quả đạt thấp do hiện nay Sở Y tế theo quy định tại Nghị định số 54/2017/NĐ-CP yêu cầu nhà thuốc tự đăng ký danh sách nhân viên với Sở Y tế Sau đó, Sở Y tế sẽ cập nhật danh sách này trên cổng thông tin điện tử của mình Đồng thời, quy định này không áp dụng việc cấp thẻ hành nghề cho nhà thuốc hay quầy thuốc, dẫn đến khó khăn trong việc xác thực và quản lý nhân viên nhà thuốc theo tiêu chuẩn.
4.1.3 Duy trì khu vực ra lẻ thuốc
Tiêu chuẩn thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc quy định về cơ sở vật chất và kỹ thuật, trong đó đặc biệt nhấn mạnh việc bố trí khu vực riêng để bán lẻ các loại thuốc không còn bao bì, nhằm tránh tiếp xúc trực tiếp với thuốc và giảm nguy cơ nhiễm bẩn, nhiễm chéo Các quy định này được ban hành theo Thông tư số 46/2011/TT-BYT và hiện nay thay thế bằng Thông tư số 02/2018/TT-YT Kết quả khảo sát tại (ảnh 3.3) cho thấy tỷ lệ duy trì khu vực này còn gặp nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến tiêu chuẩn chất lượng và an toàn của cơ sở bán lẻ thuốc.
Theo khảo sát, tỷ lệ ra lẻ thuốc tại nhà thuốc, quầy thuốc chiếm 78,2%, trong khi đó, tỷ lệ không duy trì là 21,8%, cao hơn so với kết quả nghiên cứu năm 2013 tại tỉnh An Giang của Nguyễn Văn Sơn đạt 54,8% Kết quả nghiên cứu năm 2014 tại tỉnh Cà Mau của tác giảào Thanh Hoàng cũng cho thấy tỷ lệ không duy trì đạt 15,6%, tương đương với các số liệu từ các năm trước, phản ánh xu hướng tăng cường kiểm soát và cải thiện hoạt động bán lẻ thuốc tại các địa phương.
Năm 2012 tại quận Ninh Kiều, TP.Cần Thơ, tác giả Võ Hùng Cường ghi nhận chỉ có 23% khu vực bán lẻ thuốc duy trì hoạt động ổn định, thấp hơn nhiều so với kết quả nghiên cứu năm 2016 tại tỉnh Tây Ninh của tác giả Đặng Thị Thúy Hồng, với tỷ lệ duy trì lên tới 99,15% Điều này cho thấy sự khác biệt lớn trong khả năng duy trì hoạt động của các điểm bán lẻ thuốc qua các năm và các địa phương khác nhau Các số liệu này phản ánh rõ tình trạng thiếu ổn định trong việc duy trì các khu vực bán lẻ thuốc, ảnh hưởng đến việc cung cấp thuốc an toàn và liên tục cho cộng đồng.
Theo khảo sát thực tế tại các cơ sở kinh doanh thuốc, có tới 21,8% trong số này không duy trì thực hiện tiêu chí bán lẻ thuốc một cách đều đặn, mặc dù một số cơ sở còn duy trì khu vực bán lẻ thuốc nhưng lại không thực hiện hoạt động này thực tế Để nâng cao hiệu quả thực hiện tiêu chí này, các cơ quan nhà nước cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến về tác hại của nhiễm chéo và ô nhiễm trong các cơ sở kinh doanh thuốc Đồng thời, các cơ sở cần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc duy trì và tuân thủ việc bán lẻ thuốc đúng quy định để đảm bảo thuốc giữ nguyên chất lượng từ khi xuất xưởng đến tay người bệnh, góp phần nâng cao an toàn và hiệu quả sử dụng thuốc.
4.1.4 Sắp xếp thực phẩm chức năng (TPCN), trang thiết bị y tế riêng biệt với thuốc
Các cơ sở kinh doanh thuốc có thêm các sản phẩm như mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, dụng cụ y tế phải có khu vực riêng biệt để tránh tình trạng bán chung với thuốc và gây ảnh hưởng đến chất lượng thuốc Ngoài ra, cần có biển hiệu rõ ràng ghi “Sản phẩm này không phải là thuốc” nhằm phân biệt các sản phẩm khác với thuốc nhằm tránh nhầm lẫn Theo khảo sát tại (ảng 3.5), tỷ lệ các cơ sở sắp xếp khu vực cho Thực phẩm chức năng và trang thiết bị y tế riêng biệt đạt 79,7%, cao hơn so với kết quả nghiên cứu năm trước.