BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ TRỊNH HỮU PHƯỚC KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH SỐT RÉT CỦA NGƯỜI DÂN TỘC KHƠME TẠI XÃ Ô LÂM, HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIAN[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
TRỊNH HỮU PHƯỚC
KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH SỐT RÉT CỦA NGƯỜI DÂN TỘC KHƠME TẠI XÃ Ô LÂM, HUYỆN TRI TÔN,
TỈNH AN GIANG NĂM 2012
CẦN THƠ - NĂM 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
TRỊNH HỮU PHƯỚC
KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH SỐT RÉT CỦA NGƯỜI DÂN TỘC KHƠME TẠI XÃ Ô LÂM, HUYỆN TRI TÔN,
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, được tiến hành nghiêm túc, trung thực Các thông tin, số liệu trong nghiên cứu này là mới và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Người viết luận văn
Trịnh Hữu Phước
Trang 4Tôi xin cám ơn Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, Phòng đào tạo sau đại học Khoa Y tế Công cộng Thư viện, các Bộ môn và Thầy Cô tham gia đào tạo, đã tạo cho tôi hoàn thành khoá học Bác sĩ Chuyên khoa cấp I, chuyên ngành Y tế Công cộng
Tôi xin chân thành cám ơn Thầy PGS TS Nguyễn Văn Qui, Trưởng Phòng Đào Tạo Sau Đại Học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, đã hướng dẫn khoa học, theo dõi hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cám ơn Sở Y tế tỉnh An Giang, Huyện ủy, Ủy ban Nhân dân huyện Tri Tôn đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi được hoàn thành khoá học
Xin chân thành cám ơn Phòng Y tế, Trung tâm Y tế huyện Tri Tôn đã giúp đỡ nhiệt tình thu thập thông tin nghiên cứu
Xin cám ơn Ủy ban Nhân dân xã Ô Lâm, Trạm Y tế xã
Xin cám ơn đồng nghiệp, cộng sự và bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập và xử lí số liệu thông tin và hoàn thành đề tài
Trong quá trình học tập nghiên cứu, tôi luôn có sự thông cảm, giúp đỡ, động viên của tất cả những người thân trong gia đình
Xin hứa sau khi tốt nghiệp về địa phương công tác, tôi sẽ vận dụng những kiến thức mà Thầy, Cô đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập Để không phụ ơn thầy, cô trong 2 năm học ở nhà trường
Trang 5Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cám ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Bệnh sốt rét và các vấn đề về sốt rét 3
1.2 Tình hình sốt rét trên thế giới 11
1.3 Tình hình sốt rét tại Việt Nam 13
1.4 Tình hình sốt rét tại tỉnh An Giang 18
1.5 Tình hình sốt rét tại huyện Tri Tôn và xã Ô Lâm 20
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1.Đối tượng 23
2.1.1 Các đối tượng nghiên cứu 23
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu 23
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 23
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
2.2 Phương pháp nghiên cứu 23
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 23
2.2.2 Cở mẫu 24
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 24
2.2.4 Nội dung nghiên cứu 25
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu 28
2.2.6 Phương pháp kiểm soát sai số 30
2.2.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 31
Trang 63.2 Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh sốt rét 35
3.3 Yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh sốt rét 41
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 48
4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 48
4.2 Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh sốt rét 51
4.3 Yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh sốt rét 59
KẾT LUẬN 62
KIẾN NGHỊ 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 1.1 Tình hình sốt rét khu vực Tây Thái Bình Dương năm 1996 12
Bảng 1.2 Tình hình sốt rét khu vực Mê Kông 1998 13
Bảng 1.3 Phân bố vùng dịch tễ sốt rét theo khu vực 15
Bảng 1.4 Kết quả phòng chống sốt rét 1991 – 2000 16
Bảng 1.5 Diễn biến số người mắc và chết do sốt rét 2006 – 2010 16
Bảng 1.6 Tình hình sốt rét theo khu vực 2006 – 2010 17
Bảng 1.7 Kết quả thực hiện PCSR tỉnh An Giang 2001 – 2005 19
Bảng 1.8 Kết quả thực hiện PCSR tỉnh An Giang 2006 – 2010 20
Bảng 1.9 Tình hình sốt rét ở huyện Tri Tôn 2000 - 2012 21
Bảng 1.10 Tình hình sốt rét ở xã Ô Lâm 2003 - 2012 22
Bảng 3.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 33
Bảng 3.2 Tiền sử mắc bệnh sốt rét 34
Bảng 3.3 Nguyên nhân gây bệnh sốt rét 35
Bảng 3.4 Loại muỗi truyền bệnh sốt rét 36
Bảng 3.5 Ba triệu chứng bệnh sốt rét: rét run, sốt, vã mồ hôi 37
Bảng 3.6 Biết cách phòng bệnh sốt rét 37
Bảng 3.7 Chấp nhận xét nghiệm khi có yêu cầu 38
Bảng 3.8 Ngủ mùng khi đi ngủ 39
Bảng 3.9 Thực hành tẩm mùng 40
Bảng 3.10 Thực hành giặt mùng sau khi tẩm thuốc 40
Bảng 3.11 Phát quang bụi rậm và khai thông cống rãnh 40
Bảng 3.12 Thực hành khi bị sốt 41
Bảng 3.13 Liên quan giữa nhóm tuổi và kiến thức chung 42
Bảng 3.14 Liên quan giới tính với kiến thức chung 42
Trang 8Bảng 3.18 Liên quan nhóm tuổi với thực hành chung 45
Bảng 3.19 Liên quan giới tính với thực hành chung 45
Bảng 3.20 Liên quan trình độ với thực hành chung 46
Bảng 3.21 Liên quan tình trạng kinh tế với thực hành chung 46
Bảng 3.22 Liên quan kiến thức chung với thực hành chung 47
Trang 9Biểu đồ 3.1 Các nguồn thông tin về phòng bệnh sốt rét 34
Biểu đồ 3.2 Đường lây truyền bệnh sốt rét 35
Biểu đồ 3.3 Dấu hiệu của bệnh sốt rét 36
Biểu đồ 3.4 Kiến thức chung về phòng bệnh sốt rét 38
Biểu đồ 3.5 Thái độ chung về phòng bệnh sốt rét 39
Biểu đồ 3.6 Thực hành chung về phòng bệnh sốt rét 41
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sốt rét là bệnh truyền nhiễm do Ký sinh trùng Plasmodium ở
người gây nên Bệnh lây truyền theo đường máu, chủ yếu là do muỗi
Anopheles truyền Bệnh biểu hiện bằng những cơn sốt rét với ba triệu chứng
cơ bản: rét run, sốt, vã mồ hôi Ở người bệnh tiến triển có chu kỳ và có hạn định nếu không bị tái nhiễm Ký sinh trùng sốt rét gây miễn dịch đặc hiệu nhưng không bền vững Bệnh lưu hành địa phương, trong những điều kiện thuận lợi có thể gây thành dịch Bệnh có thuốc điều trị đặc hiệu và có thể phòng chống được [2]
Trong thời đại chúng ta, bệnh sốt rét vẫn là một trong những vấn đề sức khỏe toàn cầu chính, làm hơn 1 triệu ngừơi chết hàng năm, với hơn 90% số ca chết và 60% số ca bệnh xảy ra tại Châu Phi, phía nam sa mạc Sahara [27]
Từ đầu thập kỷ 1980, tình hình sốt rét ở Việt Nam diễn biến phức tạp, bệnh sốt rét quay trở lại ở nhiều nơi và có chiều hướng ngày càng xấu đi Đến năm 1991, tình hình trở nên trầm trọng, cả nước có 4.646 người chết, 144 vụ dịch và 1.091.201 người mắc sốt rét Trước tình hình trên, từ 1992, Chính phủ
và Bộ Y tế đã đưa chương trình phòng chống bệnh sốt rét thành một trong những Dự án thuộc chương trình mục tiêu y tế quốc gia ưu tiên với các mục tiêu giảm chết, giảm dịch và giảm mắc do sốt rét Nhờ sự đầu tư kinh phí và nguồn lực ngày càng tăng, các biện pháp tổ chức điều hành và biện pháp chuyên môn
kỹ thuật được triển khai đồng bộ, mạnh mẽ và có hiệu quả, nên bệnh sốt rét đã được khống chế, các mục tiêu được giao cơ bản đã đạt được [41],
Sốt rét hiện nay tuy ổn định nhưng vẫn còn là mối đe dọa sức khỏe đối với người dân ở vùng rừng núi, nguy cơ dịch tìm ẩn ở nhiều nơi do sự thay đổi môi trường và tác động to lớn của các yếu tố kinh tế và xã hội Mức độ lan truyền sốt
Trang 11rét phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố về tập quán canh tác, lối sống, mức thu nhập của con người và hệ thống chăm sóc y tế…[11]
Tri Tôn là huyện miền núi, là trọng điểm sốt rét của tỉnh An Giang trước đây, bởi các yếu tố địa hình, dân cư, khí hậu, điều kiện kinh tế xã hội thuận
lợi cho muỗi Anopheles phát triển và lan truyền sốt rét Mặc dù kết quả
chương trình phòng chống sốt rét tại Tri Tôn đã đạt được những kết quả đáng kể: tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng, tỷ lệ tử vong giảm rõ rệt Tuy nhiên, những năm gần đây bệnh sốt rét vẫn còn mắc rãi rác trong huyện Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại xã Ô Lâm, đây là xã vùng núi, chủ yếu là nông nghiệp, dân tộc Khmer chiếm 94,75%, hộ nghèo 47,34% [40], dân sống dọc triền núi, liên tục những năm gần đây đều có bệnh sốt rét, vấn đề nghiên cứu đặt ra là để ngăn chặn sốt rét quay trở lại, cần có những biện pháp phòng bệnh sốt rét bền vững Một trong những giải pháp phòng bệnh đó là người dân cần phải có kiến thức, thái độ, thực hành tốt trong phòng bệnh sốt rét
Vậy thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh sốt rét của người dân tại xã Ô Lâm như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh sốt rét của người dân tại xã Ô Lâm?
Với lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát kiến thức, thái độ,
thực hành phòng bệnh sốt rét của người dân tộc Khmer tại xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang năm 2012” với mục tiêu như sau:
1 Xác định tỷ lệ người dân tộc Khmer có kiến thức, thái độ và thực hành đúng về phòng bệnh sốt rét tại xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn
2 Xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh sốt rét của người dân tộc Khmer xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Bệnh sốt rét và các vấn đề về sốt rét:
1.1.1 Sơ lược vài nét về lịch sử:
Bệnh sốt rét được mô tả từ thời thượng cổ, Hypocrate đã mô tả các kiểu sốt rét cơn trong bệnh sốt rét Từ năm 1630 người Ấn Độ đã dùng vỏ cây Quinquina để điều trị sốt rét Năm 1820, Pellettur và Caventon chiết xuất quinin từ cây quinquina để điều trị sốt rét
Năm 1880, Laveran người Pháp đã tìm được Ký sinh trùng sốt rét
Plasmodium - tác nhân gây bệnh sốt rét, năm 1881 Laveran mô tả
Plasmodium Malaria gây sốt cách hai ngày một cơn
Năm 1885, Golgi người Ý, mô tả 2 loại ký sinh trùng sốt rét của người
là P Vivax và Malaria
Năm 1887 – 1888, Ross chứng minh sự phát triển của Plasmodium trong cơ thể muỗi
Năm 1889 – 1890, Cell và Marchiafuva mô tả P Falciparum
Năm 1890, Grassi, mô tả P Vivax và năm 1922 Stephens mô tả P Ovalae Năm 1898, Manson chứng minh vai trò của muỗi Anopheles truyền bệnh sốt rét [19]
1.1.2 Định nghĩa ca bệnh
Ca bệnh lâm sàng: Bệnh nhân có các triệu chứng lâm sàng điển hình hoặc sốt không điển hình mà không được xét nghiệm máu hoặc kết quả xét nghiệm âm tính nhưng có 4 đặc điểm sau: (1) hiện đang sốt (trên 37,50C) hoặc
có sốt trong 3 ngày gần đây; (2) không giải thích được nguyên nhân gây sốt
Trang 13khác; (3) đang ở hoặc qua lại vùng sốt rét trong vòng 9 tháng trở lại; (4) điều trị bằng thuốc sốt rét có đáp ứng tốt trong vòng 3 ngày
+ Giai đoạn sốt nóng: rét run giảm, bệnh nhân thấy nóng dần, thân nhiệt
có thể tới 40 – 410C, mặt đỏ, da khô nóng, mạch nhanh, thở nhanh, đau đầu, khát nước, có thể hơi đau tức vùng gan lách Giai đoạn sốt nóng khoảng 1 – 3 giờ
+ Giai đoạn vã mồ hôi: thân nhiệt giảm nhanh, vã mồ hôi, khát nước, đau đầu giảm, mạch trở lại bình thường, bệnh nhân cảm thấy dễ chịu và ngủ thiếp đi
Ca bệnh xác định mắc sốt rét: là bệnh nhân có ký sinh trùng sốt rét trong máu được khẳng định qua xét nghiệm máu [4]
1.1.3 Tác nhân gây bệnh
1.1.3.1 Tên tác nhân
Ký sinh trùng sốt rét thuộc ngành động vật, lớp Protozoa, bộ chính Sporozoa, bộ phụ Hemosporidae, họ plasmodidae, giống plasmodium (p) Có tới 120 plasmodium, trong đó có ít nhất 22 loài ở động vật tứ chi, 19 loài ở động vật có vú, khoảng 70 loài được mô tả ở chim và bọ sát Người không mắc plasmodium của chim và loài gậm nhấm vì có miễn dịch tự nhiên với các plasmodium này có 4 loại ký sinh trùng sốt rét ký sinh ở người là: P.malariae, P.vivax, P.falciparum và P.ovale
Cả 4 loài ký sinh trùng sốt rét trên điều có mặt và gây bệnh sốt rét ở Việt Nam, trong đó P.falciparum chiếm tỷ lệ 75% - 80%, P.vivax từ 19% -
Trang 1423%, P.malariae từ 1% - 2%, P.ovale thường chỉ được phát hiện bằng kỹ thuật sinh học phân tử [2]
1.1.3.2 Hình thái
Có 3 hình thái chính phát triển trong hồng cầu
- Thể tư dưỡng: có hình nhẫn điển hình, hình chấm phẩy hoặc hình cánh nhạn, hình vành khuyên
- Thể phân liệt: nhân phân chia thành 8 đến 10 mảnh, sắp xếp không đều, tập trung thành từng đám, mỗi mảnh nhân kèm theo một mảnh nguyên sinh chất
- Thể giao bào: thể giao bào của P.falciparum có hình chuối hoặc hình liềm điển hình Giao bào của P.vivax và P.malariae có hình tròn hoặc bầu dục [4]
1.1.3.3 Khả năng tồn tại trong môi trường bên ngoài
Ký sinh trùng sốt rét không tồn tại ở ngoại cảnh, chỉ tồn tại trong máu
và trong cơ thể muỗi truyền bệnh [4]
Bệnh sốt rét chủ yếu do muỗi truyền, có liên quan chặt chẽ với môi trường và điều kiện kinh tế xã hội Tuy nhiên, ngoài cách lây truyền qua trung gian bị muỗi đốt, ký sinh trùng sốt rét còn có thể nhiễm trực tiếp vào cơ thể người khi truyền máu hoặc khi dùng bơm kim tiêm có dính máu bị nhiễm, mẹ truyền cho con qua nhau thai bị tổn thương [4],[32]
Muỗi truyền bệnh và môi trường:
Trên thế giới có khoảng 422 loài Anopheles nhưng có khoảng 70 loài
truyền bệnh sốt rét, trong đó khoảng 40 loài truyền bệnh chính Ở Việt Nam
Trang 15có 15 loài Anopheles truyền bệnh, trong đó 3 loài truyền bệnh chính:
An.minimus, An.dirus, An.epiroticus và 12 loài truyền bệnh phụ [4]
Chỉ có muỗi cái Anopheles mới có khả năng truyền sốt rét Điều kiện cần thiết để một loài Anopheles có thể đóng vai trò véc tơ sốt rét là: Có sự tương hợp di truyền giữa muỗi với các loài ký sinh trùng sốt rét, sự tương hợp này cho phép ký sinh trùng sốt rét có thể phát triển trong cơ thể muỗi; Tuổi thọ của loài muỗi đó đủ dài, ít nhất muỗi phải sống được một thời gian đủ để
ký sinh trùng sốt rét hoàn thiện chu kỳ thoa trùng trong cơ thể muỗi; Loài muỗi đó đốt người: Chỉ những loài Anopheles nào đốt người mới có khả năng truyền sốt rét cho người [2]
Bệnh sốt rét phát triển quanh năm, các tỉnh rừng núi phía Bắc có 2 đỉnh bệnh đầu và cuối mùa mưa Ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, sốt rét phát triển cao trong mùa mưa Sau khi muỗi truyền bệnh đốt hút máu người bệnh có giao bào, giao bào đực và cái sẽ kết hợp trong dạ dày muỗi thành noãn, noãn chui qua thành dạ dày và tạo thành kén ở mặt ngoài dạ dày, ký sinh trùng phát triển tạo thành hàng nghìn ký sinh trùng non gọi là thoa trùng, kén vỡ giải phóng thoa trùng, thoa trùng di chuyển lên tập trung trong tuyến nước bọt của muỗi Ở nhiệt độ môi trường từ 20 – 300C, sau 10 ngày, ký sinh trùng hoàn thành chu kỳ phát triển hữu tính trong cơ thể muỗi
và có thể truyền bệnh đến khi muỗi chết Ở nhiệt độ này, muỗi có thể sống được trên dưới 4 tuần [4]
1.1.5 Nguồn truyền nhiễm
1.1.5.1 Ổ chứa
Người là ổ chứa duy nhất của ký sinh trùng sốt rét ở người (bệnh nhân, người mang ký sinh trùng lạnh)
Trang 161.1.5.2 Thời gian ủ bệnh
Thời gian ủ bệnh kể từ khi bị muỗi nhiễm ký sinh trùng sốt rét đốt đến khi có các biểu hiện lâm sàng
1.1.5.3 Thời kỳ lây truyền
Chu kỳ phát triển vô tính của ký sinh trùng trên người bắt đầu từ khi muỗi nhiễm ký sinh trùng đốt người Ký sinh trùng vào máu rồi đến gan, phát triển trong tế bào gan qua các giai đoạn từ thể tư dưỡng đến thể phân liệt làm
vỡ tế bào gan giải phóng ký sinh trùng non vào máu Tại máu, ký sinh trùng non thâm nhập hồng cầu non, và phát triển qua các giai đoạn như trong tế bào gan, phá vỡ hồng cầu giải phóng ký sinh trùng non gây nên cơn sốt rét Ký sinh trùng non có 2 thể:
- Thể vô tính lại xâm nhập hồng cầu để phát triển,
- Thể hữu tính gồm giao bào đực và cái Giao bào không xâm nhập vào hồng cầu và có thể truyền sang muỗi khi muỗi đốt máu người bệnh Bệnh nhân còn là nguồn lây khi còn giao bào trong máu Những bệnh nhân không được điều trị hoặc điều trị không triệt để có thể là nguồn lây cho muỗi Máu
dự trữ nhiễm ký sinh trùng sốt rét có thể truyền bệnh ít nhất 1 tháng [4]
1.1.6 Tính cảm nhiễm và miễn dịch
Mọi người đều có thể nhiễm sốt rét Miễn dịch sốt rét không đầy đủ và ngắn do vậy có thể bị tái nhiễm ngay Không có miễn dịch chéo nên một người có thể nhiễm đồng thời hai ba loại ký sinh trùng sốt rét [4]
1.1.7 Các biện pháp phòng chống sốt rét
1.1.7.1 Biện pháp dự phòng
Tuyên truyền giáo dục phòng chống sốt rét để huy động sự tham gia của cộng đồng, các đoàn thể tham gia phòng chống sốt rét, nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của người dân về phòng chống sốt rét, tập trung vào những nội dung chính sau: Bệnh sốt rét do muỗi truyền, khi bị sốt đến ngay
Trang 17cơ sở y tế để khám và điều trị Ngủ màn kể cả ở nhà, nhà nương rẫy hoặc ngủ trong rừng Diệt muỗi bằng cách phun tồn lưu và tẩm hóa chất diệt muỗi, xoa kem xua muỗi, phát quang bụi rậm và khai thông cống rãnh quanh nhà, làm nhà xa rừng và xa nguồn nước, mặc quần áo dài buổi tối v.v [4].
Vệ sinh phòng bệnh: Phòng chống muỗi truyền bệnh vẫn được coi là biện pháp hữu hiệu nhất bao gồm: Tẩm màn, rèm bằng hóa chất: tẩm 100% màn hiện có của dân; Phun tồn lưu mặt trong tường vách: độ cao từ nền nhà lên tới 2 mét; Hương xua muỗi: tác dụng qua đường xông hơi bảo vệ cá nhân
và gia đình; Phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh quanh nhà, làm nhà xa rừng và xa nguồn nước, mặt quần áo dài buổi tối…; Hạn chế bọ gậy: khơi thông dòng chảy, vớt rong rêu làm thoáng mặt nước; Uống thuốc dự phòng: Ở nước ta hiên nay, do bệnh sốt rét đã giảm mạnh nên không uống thuốc phòng
mà chỉ cấp thuốc cho những người vào vùng sốt rét ngắn ngày, phụ nữ có thai
ở vùng sốt rét, người mới định cư tại vùng sốt rét để tự điều trị khi mắc sốt rét; An toàn truyền máu phải được kiểm soát chặt chẽ đặc biệt với người có tiền sử sốt rét hoặc đã sống trong vùng sốt rét [4]
Trang 18p.falciparum không được dùng một thuốc sốt rét đơn thuần, phải điều trị thuốc sốt rét phối hợp để hạn chế kháng thuốc và tăng hiệu lực điều trị; Điều trị thuốc sốt rét đặc hiệu kết hợp với điều trị hỗ trợ và nâng cao thể trạng [3]
1.1.7.3 Biện pháp chống dịch
Tổ chức: Báo cáo khẩn lên tuyến trên Thành lập ngay đội chống dịch, thuốc men, hóa chất phòng chống muỗi v.v đến nơi xảy ra dịch để điều tra dịch và thực hiện các biện pháp khống chế dịch
Chuyên môn:
Thu dung, cách ly và điều trị bệnh nhân
Quản lý người lành mang trùng
Dự phòng cho đối tượng nguy cơ cao [4]
1.1.8 Yếu tố xã hội ảnh hưởng đến sốt rét
Yếu tố được cho là nguyên nhân làm gia tăng sự xuất hiện và lây truyền bệnh sốt rét là di dân theo định kỳ vào các khu vực tiềm ẩn sự lây truyền trong các khu vực sốt rét lưu hành Yếu tố này được cho là nổi bật đến khả năng làm tăng tiềm ẩn sự phơi nhiễm với véc tơ sốt rét của dân di cư Tuy nhiên khu vực phơi nhiễm và mức độ nguy cơ trong quần thể dân di cư cho thấy có ảnh hưởng rộng rãi do một số yếu tố riêng rẽ hay các tác động tương tác nhau đến sự xuất hiện của bệnh sốt rét Các yếu tố này bao gồm: Khu vực dân cư hay nơi làm việc gần với những nơi muỗi đẻ trứng sẽ có nguy cơ cao hơn; Hoạt động thường xuyên trong các trọng điểm lưu hành cao có nguy cơ mắc tăng 24,28 lần; Hình thức di cư tạm thời, quay vòng có định kỳ đặc biệt
là khoảng cách di cư ngắn vào trong các trọng điểm lây truyền cao gây ra nguy cơ mắc sốt rét cao hơn trong điều kiện hoạt động vài ngày và ở khoảng cách xa hơn; Cư trú trong thời gian ngắn trong khu vực lây truyền có nguy cơ mắc sốt rét cao hơn
Trang 19Nguy cơ bệnh sốt rét gia tăng ở những người không sử dụng màn gấp 2,45 lần so với người sử dụng thường xuyên Những người sống trong những điều kiện nhà ở kém và không sử dụng màn thường xuyên có nguy cơ mắc sốt rét cao gấp 19 lần so với sống trong điều kiện nhà ở tốt và sử dụng màn thường xuyên
Lao động và các hoạt động xã hội thường trùng với thời gian muỗi đốt máu cao nhất, chẳng hạn vào rừng lúc nữa đêm, ở lại rừng trong suốt mùa mưa để đào đãi vàng, khai thác gỗ trái phép đã làm tăng nguy cơ truyền bệnh sốt rét Những nhà được phun một phần bằng DDT có nguy cơ mắc sốt rét gấp 2,06 lần so với những nhà được phun toàn bộ [43]
1.1.9 Yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến sốt rét
Khí hậu thuận lợi cho sự phát triển của từng loại ký sinh trùng sốt rét Vùng hàn đới nhiệt độ giá lạnh quanh năm, ký sinh trùng sốt rét không thể hoàn thành chu kỳ sinh sản trong cơ thể muỗi, nên vùng này không có sốt rét Vùng ôn đới khí hậu ôn hòa, ký sinh trùng sốt rét chỉ có thể phát triển trong
cơ thể muỗi vào các tháng mùa hè, đây là các vùng sốt rét lưu hành nhẹ Vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới có khí hậu nắng nóng, độ ẩm cao do mưa nhiều là
vùng sốt rét lưu hành nặng Ký sinh trùng sốt rét P.falciparum chiếm ưu thế ở
vùng này và thường xuyên có dịch sốt rét xảy ra [23]
1.1.10 Bệnh sốt rét ảnh hưởng đến kinh tế gia đình
Khi bị sốt rét, người ốm phải nghỉ việc, người nhà phải chăm sóc, ảnh hưởng đến công việc đồng áng, thu hoạch và chăn nuôi Mắc bệnh sốt rét phải
đi khám, chữa bệnh từ đó làm giảm thu nhập gia đình
Mắc sốt rét liên tục trong các cộng đồng dân cư đã trở thành một “gánh nặng” trong gia đình các nhóm dân tộc ở các vùng sốt rét về sức khỏe và kinh
tế Khi có người mắc sốt rét gia đình phải lo các khoảng chi phí, có những chi tiêu có thể tính được dưới dạng chi phí trực tiếp nhưng cũng có nhiều khoản
Trang 20tiền tiêu hao mà bệnh nhân và gia đình không nhìn thấy, chi phí này dưới dạng gián tiếp thông qua ngày công lao động của gia đình bị giảm thấp do mắc sốt rét
Chi phí trực tiếp cho một người mắc một lần sốt rét là 34.650 VNĐ, trong đó chi phí cho điều trị bệnh chiếm phần lớn: 32.760 VNĐ (63%), tiếp đến là chẩn đoán và xét nghiệm: 11.000 VNĐ và cho đi lại khám chữa bệnh ít nhất: 1.895 VNĐ
Chi phí gián tiếp trung bình khi mắc sốt rét, một bệnh nhân mất 0,6 ngày công do đến cơ sở y tế khám bệnh và người nhà đi kèm Số thu nhập mất
do đi khám bệnh là: 6.712 VNĐ Thu nhập trung bình 1 ngày/người lao động
là 11.186 VNĐ Một lần bệnh nhân bị sốt rét, thời gian nghỉ ốm, chăm ốm trung bình là 8,3 ngày và thu nhập mất đi là 92.844 VNĐ [12]
1.2 Tình hình sốt rét trên thế giới
Hiện nay có khoảng 100 nước trên thế giới có sốt rét lưu hành, hơn một nữa ở Châu Phi Khoảng 40% dân số Thế giới có nguy cơ nhiễm bệnh Ước tính hàng năm toàn Thế giới có 300 đến 500 triệu người mắc sốt rét, trong đó Châu Phi chiếm 90% số người bị sốt rét, có khoảng 1,5 đến 2,7 triệu người tử vong do sốt rét trên Thế giới, trong đó số trẻ em chết dưới 5 tuổi khoảng 1 triệu chủ yếu là ở Châu Phi Bệnh sốt rét gây sốt rét ác tính, thiếu máu chủ yếu do ký sinh trùng P.falciparum gây nên, đặt biệt gây nguy hiểm với trẻ em, phụ nữ có thai, những người mới mắc sốt rét lần đầu chưa có miễn dịch Việc giám sát, phòng chống sốt rét ngày càng trở nên khó khăn hơn do nhiều yếu tố
có liên quan đến lây truyền sốt rét, trong đó có khó khăn về chuyên môn kỹ thuật, ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc, đặc biệt sốt rét ở các vùng biên giới như Thái Lan – Myanmar, Thái Lan – Campuchia [23]
Một số vùng trên Thế giới sốt rét đô thị cũng gia tăng và là một vấn đề đặt ra trong phòng chống sốt rét hiện nay như Châu Phi và một số nước Châu
Trang 21Á như Ấn Độ Mức độ di biến động dân số ngày càng gia tăng cũng là yếu tố làm tăng sốt rét [23]
Dịch tễ học sốt rét ở các vùng cũng có sự khác biệt nhau, thậm chí ngay trong cùng một nước do sốt rét có liên quan đến cảnh quan địa lý, đến môi trường, điều kiện tự nhiên và các hoạt động của con người Phòng chống sốt rét không thể thực hiện riêng trong một quốc gia mà cần có sự hợp tác, đồng thực hiện ở các nước trong từng khu vực mới có hiệu quả bền vững [23]
1.2.1 Tình hình sốt rét khu vực Tây Thái Bình Dương
Bảng 1.1 Tình hình sốt rét khu vực Tây Thái Bình Dương năm 1996
Tên Nước
Dân số Nguy cơ
Số ca sốt rét dương tính
Trang 221.2.2 Tình hình sốt rét khu vực sông Mê Kông
Bảng 1.2 Tình hình sốt rét khu vực sông Mê Kông 1998
Tên nước Dân số
chung
Số KSTSR
KSTSR/
1.000 dân
Số chết do Sốt rét
Chết SR/ 100.000dân
1.3 Tình hình sốt rét tại Việt nam
Việt Nam đã tiến hành “chương trình tiêu diệt sốt rét” từ 1958 ở miền Bắc và mở rộng ra cả nước từ năm 1976, sau khi thống nhất đất nước và đã đạt được thành tựu to lớn: Sau giai đoạn tấn công bệnh sốt rét ở miền Bắc (1958 – 1964) giảm 20 lần (tỷ lệ ký sinh trùng sốt rét/lam từ 5,6% xuống 0,28%), ở miền Nam (1976 -1980) giảm 4 lần (từ 11,7% xuống 3,5%) Chương trình thanh toán sốt rét đã góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng miền Bắc và giải phóng đất nước
Tuy nhiên trong thập kỷ 1980 – 1990, đặc biệt là từ 1985 – 1990 bệnh sốt rét đã quay trở lại trên phạm vi cả nước với tốc độ nhanh và ngày càng nghiêm trọng: Năm 1985 chết do sốt rét là 1.413 người, tăng lên 3.439 người năm 1989 và đến năm 1991 là 4.646 người chết, hơn 1 triệu người mắc với
144 vụ dịch sốt rét Bệnh sốt rét hoành hành ở hầu khắp các khu vực miền núi
Trang 23và nông thôn nước ta, chiếm gần 80% dân số cả nước (57 triệu trong tổng số
67 triệu dân)
Các nguyên nhân chính là: Khủng hoảng kinh tế, đời sống cực kỳ khó khăn (nhiều nơi thiếu đói); Giao lưu lớn trong và sau chiến tranh; nguồn lực cho phòng chống sốt rét bị cạn kiệt (không còn viện trợ); Mạng lưới y tế cơ sở (xã, thôn bản) rệu rã (không còn phụ cấp của hợp tác xã); Ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc và muỗi kháng hóa chất (DDT) phổ biến…[10]
1.3.1 Mục tiêu phòng chống sốt rét 1991 – 2000, 2001 – 2005:
1991 – 1995: “…Khống chế tốc độ tăng tỷ lệ chết, giảm dịch sốt rét (1991- 1993), tiến tới ổn định tình hình (không tăng) và bắt đầu giảm trở lại (1994 – 1995) và không chế bệnh sốt rét vào năm 2000…”
1996 – 2000: Giảm chết 60% so với 1995, giảm mắc 59% so với 1995, không để dịch sốt rét lớn xảy ra, nếu xảy ra phải dập tắt kịp thới, phát triển các yếu tố bền vững để duy trì thành quả phòng chống sốt rét lâu dài
2001 – 2005: Giảm chết sốt rét dưới 0,17/100.000 dân (năm 2000 = 0,19/100.000 dân) Không còn tỉnh có tỷ lệ chết do sốt rét trên 1/100.000 dân; Giảm mắc sốt rét dưới 3,5/1.000 dân (năm 2000 = 3,84) Không còn tỉnh có tỷ
lệ mắc trên 10/1.000 dân; Không có dịch lớn xảy ra; Ít nhất 50% số huyện vùng sốt rét lưu hành phát triển được các yếu tố phòng chống sốt rét bền vững
Phương hướng phòng chống sốt rét đến năm 2010: Tiếp tục đẩy lùi sốt rét ở các vùng sốt rét lưu hành nặng còn lại Giảm chết sốt rét dưới 0,15/100.000 dân, mắc sốt rét dưới 3/1.000 dân; Ít nhất 75% số huyện vùng sốt rét lưu hành phát triển được các yếu tố phòng chống sốt rét bền vững; Không để dịch sốt rét xảy ra [10]
Trang 24Bảng 1.3 Phân bố vùng dịch tễ sốt rét theo khu vực
Số xã Dân số Số xã Dân số Số xã Dân số Vùng I: không
Trang 26Bảng 1.6 Tình hình sốt rét theo khu vực 2006 – 2010
Khu vực
Số BNSR
Số KSTSR
Số Chết
Số BNSR
Số KSTSR
Số Chết Miền núi
Đồng bằng
Cả nước 91.365 22.635 41 54.297 17.515 21 [41]
1.3.3 Chiến lược quốc gia phòng, chống và loại trừ bệnh sốt rét ở Việt Nam đến năm 2020
Quan điểm chỉ đạo phòng chống, loại trừ bệnh sốt rét: Bệnh sốt rét là bệnh dịch nguy hiểm, là gánh nặng bệnh tật đối với sức khỏe, tính mạng của con người Bệnh sốt rét lưu hành tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế, văn hóa của người dân và quốc gia Do vậy, phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét phải được coi là một nhiệm vụ trọng tâm và lâu dài không chỉ riêng của ngành
y tế mà còn là nhiệm vụ của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, cần phải tăng cường huy động cộng đồng tham gia phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét; Đầu tư cho công tác phòng, chống và loại trừ bệnh sốt rét góp phần
Trang 27làm giảm gánh nặng bệnh tật cho nhân dân, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao, đặc biệt đối với vùng núi, vùng kinh tế khó khăn và đặc biệt khó khăn;
Xã hội hóa công tác phòng chống sốt rét: Huy động sự tham gia của chính quyền các cấp, phối hợp các ban ngành vào công tác phòng chống sốt rét, trong đó y tế đóng vai trò chỉ đạo; Phòng chống sốt rét tích cực, đạt hiệu quả cao tiến tới loại trừ bệnh sốt rét theo hướng dẫn và các chỉ tiêu công nhận loại trừ bệnh sốt rét của WHO; Tăng cường hợp tác song phương, đa phương, mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức quốc tế, các nước trong khu vực và trên thế giới trong phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét
Mục tiêu chiến lược: Phòng chống sốt rét chủ động tích cực tại các vùng sốt rét lưu hành nặng và vừa Triển khai loại trừ bệnh sốt rét ở các vùng sốt rét đã giảm thấp trong nhiều năm Đến năm 2020 tỷ lệ mắc sốt rét đạt dưới 0,15/1.000 dân, tỷ lệ chết do sốt rét dưới 0,02/100.000 dân, loại trừ bệnh sốt rét tại ít nhất 40 tỉnh, góp phần chăm sóc sức khỏe nhân dân và sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước [7]
1.4 Tình hình sốt rét tại tỉnh An Giang
Trước năm 2005 công tác phòng chống sốt rét của tỉnh An Giang bước đầu
đã được duy trì ổn định, đã khống chế được tốc độ tăng của bệnh sốt rét, khống chế được dịch sốt rét, hạ thấp tỷ lệ tử vong do sốt rét, vấn đề sốt rét không còn là sự quan tâm của cộng đồng … Bệnh sốt rét đã được đẩy lùi một bước đáng kể, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, nhất là đồng bào vùng dân tộc, vùng núi Tuy nhiên những thành quả bước đầu này vẫn còn chứa đựng nhiều yếu tố không bền vững vì:
- Tình hình sốt rét ở các địa phương khác vẫn còn diễn biến rất phức tạp;
- Sự giao lưu qua lại giữa người dân ở các vùng khó quản lý;
- Hoạt động y tế cơ sở, mạng lưới cộng tác viên thôn bản ngày càng giảm sút;
- Cán bộ y tế lơ là, mất dần kinh nghiệm về chẩn đoán và điều trị sốt rét;
Trang 28- Địa phương chủ quan, thiếu quan tâm và giảm đầu tư cho công tác sốt rét
Bảng 1.7 Kết quả thực hiện phòng chống sốt rét giai đoạn 2001- 2005
- Giảm mắc sốt rét
- Không chết do sốt rét
- Không để xảy ra dịch sốt rét
Trong thời gian qua được sự quan tâm của chính quyền các cấp, ngành y
tế và sự nổ lực của hệ thống phòng chống sốt rét của địa phương, công tác phòng chống sốt rét tỉnh An Giang đã đạt được những kết quả khả quan, đạt mục tiêu đề ra, duy trì sốt rét luôn ổn định
Trang 29Bảng 1.8 Kết quả thực hiện phòng chống sốt rét giai đoạn 2006 - 2010
2006 2007 2008 2009 2010 TB
06-10
TB 01-05
% tăng, giảmTB
5 năm
Tỷ lệ chết /
100000 dân 0,05 0 0,04 0,05 0 0,028 0,0186 50,5 Bệnh nhân
Tỷ lệ mắc /
1000 dân 0,01 0,01 0,01 0,02 0,01 0,012 0,0124 -3,2 Bệnh nhân
1.5 Tình hình sốt rét ở huyện Tri Tôn và xã Ô Lâm
1.5.1 Vài nét về huyện Tri Tôn
Huyện Tri Tôn nằm về hướng Tây Nam tỉnh An Giang, cách trung tâm tỉnh lỵ 50km, gồm 13 xã và 02 thị trấn với 79 khóm, ấp Ranh giới hành chính được xác định như sau: phía Bắc giáp huyện Tịnh Biên và Vương quốc Campuchia; phía Nam giáp tỉnh Kiên Giang; phía Đông giáp huyện Châu Thành và huyện Thoại Sơn; phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang
Địa hình đặc trưng của huyện Tri Tôn là vùng đồng bằng nhưng có xen lẫn nhiều đồi núi; Nhiệt độ trung bình năm trên phạm vi toàn huyện là 27,7oC,
Trang 30nằm trong vùng giàu ánh sáng, có 2 hướng gió chính là gió Đông Bắc và gió Tây Nam, tổng lượng mưa bình quân trong năm là 1.615,1mm, mùa mưa tập trung vào tháng 5 đến tháng 11, mùa khô tập trung vào khoảng tháng 1 – 4 [38]
Năm 2012, dân số toàn huyện là 132.803 người, tổng số hộ trên địa bàn huyện là 32.720 hộ, trong đó hộ dân tộc Khmer là 11.035 chiếm 33,72%; Hộ nghèo chiếm 33,117% [8], [39]
Mạng lưới y tế huyện gồm: Phòng Y tế, Trung tâm Y tế, Trung tâm Dân số, Bệnh viện Đa khoa huyện với 120 giường, Phòng khám Đa khoa Khu vực 20 giường, 15 Trạm Y tế và 99 cơ sở hành nghề Y – Dược tư nhân Toàn huyện có 276 cán bộ y tế, trong đó cán bộ có trình độ bác sỹ là 45, y sỹ là
113, y tá 52 còn lại là nữ hộ sinh và cán bộ y tế khác [24]
1.5.2 Tình hình sốt rét ở huyện Tri Tôn
Bảng 1.9 Tình hình sốt rét ở huyện Tri Tôn năm 2000 - 2012
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Các đối tượng nghiên cứu
Những người dân tộc Khmer từ 18 tuổi trở lên đang sinh sống trên địa bàn nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Hộ gia đình của đối tượng nghiên cứu phải có hộ khẩu thường trú tại
xã từ 01 năm trở lên
- Chủ hộ hoặc người đại diện từ 18 tuổi trở lên
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Người mắc bệnh ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp qua ngôn ngữ
- Người không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Hộ gia đình vắng nhà sau 3 lần đến phỏng vấn
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu xã Ô Lâm – huyện Tri Tôn – tỉnh An Giang
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11 năm 2012 đến tháng 06 năm 2013
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang
Trang 33) 1
(
d
p p
Z n
−
Trong đó:
- n: là số mẫu nghiên cứu
- Z(1-α/2): là ước lượng khoảng tin cậy của kết quả nghiên cứu; với mức tin cậy mong muốn là 95% thì Z(1-α/2) = 1, 96
- p: là tỷ lệ ước đoán người dân tộc Khmer có kiến thức, thái độ và thực hành đúng về phòng bệnh sốt rét Do không có số liệu nghiên cứu trước đây nên chúng tôi ước đoán có 50% người dân tộc Khmer có kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh sốt rét, p = 0,5
- d: là Khoảng sai lệch cho phép, chúng tôi lấy d = 0,05
Thay vào công thức ta được n = 384,
Cỡ mẫu cần thiết (làm tròn) sẽ là 400
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Dùng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
Dân số xã Ô Lâm 11.820, dân tộc Khmer 11.199 chiếm 94,75%, có 2.864 hộ người dân tộc Khmer, xã có 06 ấp [40]
- Lập danh sách hộ dân trong xã
- Xác định khoảng cách K= N/n (N là số cá thể trong quần thể, n là cỡ mẫu):
K = 2.864/400 = 7,16 ( làm tròn = 7 )
Trang 34- Chọn một số ngẫu nhiên R nằm trong [1,K], chọn K = 7, các cá thể
có số thứ tự R + iK (i đi từ 0 đến n-1) sẽ được chọn vào mẫu cho đến khi kết thúc danh sách (đủ mẫu)
Với cách chọn mẫu như trên, mẫu sẽ được phân bố đều trong toàn xã,
đủ về số lượng và có tính đại diện
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tỷ lệ người dân tộc Khmer có kiến thức, thái độ và thực hành đúng về phòng bệnh sốt rét tại xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn
- Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành
phòng bệnh sốt rét của người dân tộc Khmer xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn
2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
+ Mù chữ ( là không biết đọc và không biết viết ),
+ Biết đọc biết viết, tiểu học (lớp 1 – 5), trung học cơ sở (lớp 6 – 9),
Trang 35+ Trung học phổ thông (lớp 10 – 12),
+ Trên trung học phổ thông
Trong quá trình phân tích các nhóm tuổi này được chia làm 3 nhóm: nhóm mù chữ, nhóm tiểu học (cấp I), nhóm trung học cơ sở (cấp II) trở lên
Trong quá trình phân tích được chia làm 2 nhóm:
+ Nhóm hộ nghèo (hộ nghèo và hộ cận nghèo) có thu nhập bình quân
từ 520.000 đồng /người/tháng trở xuống
+ Nhóm hộ không nghèo có thu nhập bình quân từ 521.000 đồng/người/tháng trở lên
- Tiền sử mắc bệnh sốt rét:
Với 2 giá trị có và không mắc sốt rét
+ Có tiền sử mắc bệnh sốt rét khi mắc bệnh sốt rét đã được xác định bởi nhân viên y tế và được điều trị thuốc sốt rét hoặc đã từng đi nằm viện vì sốt rét,
+ Không có tiền sử mắc sốt rét khi chưa lần nào lên cơn sốt và chưa từng dùng thuốc sốt rét để trị bệnh
2.2.4.2 Nguồn thông tin về phòng bệnh sốt rét
Nguồn thông tin từ con người:
+ Cán bộ y tế
+ Cán bộ khác
Trang 36Nguồn thông tin từ phương tiện truyền thông: tivi, radio, loa phát thanh, tranh ảnh
Đánh giá chung về kiến thức: Mỗi hiểu biết đúng đối tượng sẽ được 1
điểm, có 5 câu về kiến thức, điểm tối đa là 5 khi đối tượng trả lời đúng đạt từ
3 - 5 điểm thì được xem là có kiến thức đúng
Trang 37+ Đến cơ sở y tế khi có sốt: Có thái độ đúng là chấp nhận đến cơ sở y tế khám bệnh khi có sốt
+ Xét nghiệm máu: Thái độ đúng chấp nhận xét nghiệm máu khi có yêu cầu
Đánh giá chung về thái độ: Mỗi thái độ đúng đối tượng sẽ được 1
điểm, có 5 câu về thái độ, điểm tối đa là 5 khi đối tượng trả lời đúng đạt từ 3
- 5 điểm thì được xem là có thái độ đúng
- Biến số thực hành
+ Ngủ mùng: Thực hành đúng là ngủ mùng khi đi ngủ
+ Tẩm mùng: Thực hành đúng là có tẩm mùng khi có yêu cầu của y tế địa phương
+ Giặt mùng sau khi tẩm hóa chất diệt muỗi: Thực hành đúng là giặt mùng
đã tẩm hóa chất diệt muỗi sau 6 tháng
+ Phát quang bụi rậm và khơi thông cống rãnh: Thực hành đúng là có phát quan bụi rậm hoặc khơi thông cống rãnh xung quanh nhà
+ Lựa chọn dịch vụ đến khám khi mắc bệnh: thực hành đúng là đến cơ sở
y tế khám bệnh khi có sốt (Phòng khám tư nhân, Trạm y tế, Phòng khám khu vực, Bệnh viện)
Đánh giá chung về thực hành: Mỗi thực hành đúng đối tượng sẽ được 1
điểm, có 5 câu về thực hành, điểm tối đa là 5 Khi đối tượng trả lời đúng đạt
từ 3 - 5 điểm thì được xem là có thực hành đúng
2.2.4.4 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh sốt rét
Liên quan giưa kiến thức, thái độ, thực hành của người dân Khmer
về phòng bệnh sốt rét với những đặc điểm chung của đối tượng:
- Tuổi
- Giới tính
- Trình độ học vấn
Trang 38- Tình trạng kinh tế gia đình
- Nguồn thông tin
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp thu thập số liệu: Phỏng vấn chủ hộ hoặc người đại
diện gia đình theo bộ câu hỏi soạn sẵn
- Công cụ: Dùng bộ câu hỏi phỏng vấn đã chuẩn bị sẵn để phỏng vấn
chủ hộ gia đình hoặc người thay thế đủ tiêu chuẩn lựa chọn; Danh sách hộ gia đình của ấp được chọn
- Cách tiến hành thu thập số liệu:
Bước 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu:
Xây dựng bộ câu hỏi: dựa vào các khái niệm, đặc điểm dịch tể, triệu chứng lâm sàng của bệnh và các biện pháp phòng chống sốt rét
Thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu: Điều tra thử 20 hộ, chỉnh sửa nội dung bộ câu hỏi cho phù hợp
Bước 2: Tập huấn
Đối tượng tập huấn: 6 cán bộ tổ y tế và 6 trưởng ấp
Nội dung tập huấn: Kỹ năng ghi chép thông tin, phỏng vấn và điều tra kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét Thực hành thu thập dữ liệu
Bước 3: Điều tra, giám sát
Chuẩn bị: Nghiên cứu viên liên hệ chính quyền địa phương và Trạm y
tế nhận danh sách và trao đổi kế hoạch làm việc
Nhân lực: dự kiến 12 người, gồm 6 nhóm, mỗi nhóm 2 người điều tra 1 ấp Tiến hành điều tra: các nhóm nhận biểu mẫu và kế hoạch điều tra Nghiên cứu viên trực tiếp đi cùng các tổ quan sát phỏng vấn 5 hộ gia đình để
hỗ trợ kịp thời những thiếu sót trong quá trình điều tra
Trang 39Bước 4: Thu thập phiếu điều tra
Sau 5 ngày điều tra các nhóm nộp phiếu phỏng vấn cho nghiên cứu viên Nghiên cứu viên kiểm phiếu phỏng vấn về số lượng, chất lượng bộ câu hỏi và kiểm tra xác suất một số hộ đã được phỏng vấn, nếu không đạt yêu cầu điều tra viên điều tra lại
2.2.6 Phương pháp kiểm soát sai số
Kiểm soát sai số lựa chọn:
- Định nghĩa rõ ràng đối tượng được chọn Nếu các hộ gia đình hoặc đại diện vắng nhà không có trong tiêu chuẩn đưa vào, nhân viên điều tra phải
quay lại phỏng vấn, không được bỏ sót trường hợp nào
- Điều tra viên được tập huấn về cách thu thập thông tin từ bảng phỏng vấn – chọn các đối tượng (hộ gia đình) để điều tra và được giám sát chặt chẽ việc chọn hộ đầu tiên và những hộ được chọn tiếp theo
- Để giảm sai số và đảm bảo tính khách quan, trong giai đoạn điều tra, người thu thập thông tin cần ghi chép đầy đủ các thông tin trong bảng câu hỏi, chọn ngẫu nhiên theo quy định, nhân viên Trạm Y tế xã phối hợp với chủ đề tài để giám sát và kiểm tra thông tin thu thập được tại các ấp được chọn
Kiểm soát sai lệch thông tin:
- Từ bảng câu hỏi điều tra:
+ Thiết kế bộ câu hỏi đúng mục tiêu, dễ hiểu và dễ trả lời
+ Bảng câu hỏi sau khi được thiết lập, được điều tra thử tại điểm nghiên cứu nhằm thay đổi những câu hỏi khó, gây hiểu nhầm hoặc gợi ý người trả lời, sắp xếp lại trật tự câu hỏi để thu thập thông tin được logic
+ Mỗi phiếu điều tra phải được kiểm tra tính đầy đủ, chính xác trước khi nhập liệu
Trang 40- Từ điều tra viên:
+ Người phỏng vấn và điều tra là nhân viên y tế ấp, không sử dụng người của trạm y tế hoặc người là cộng tác viên của chương trình phòng chống sốt rét của xã để tránh tình trạng chủ quan khi phỏng vấn
+ Phân công trách nhiệm, nhiệm vụ, địa bàn và thời gian cụ thể cho từng thành viên tham gia công tác điều tra
- Từ người cung cấp thông tin:
Ngườn dẫn đường và cộng đồng các ấp điều tra không được thông báo trước về mục đích của đợt điều tra về sốt rét để tránh có sự chuẩn bị trước khi điều tra, làm sai lệch thông tin
2.2.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Kiểm tra tất cả các phiếu phỏng vấn, loại bỏ các phiếu không đạt yêu cầu
- Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1
- Phân tích và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0, với các test thống
kê y học thông thường như tính tỷ lệ %, so sánh test χ2, chọn p < 0,05 là có ý nghĩa thống kê
- Chuẩn bị file kiểm tra để kiểm soát sai lệch khi nhập liệu và làm sạch số liệu
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành sau khi Hội đồng báo cáo đề cương - Trường Đại học Y Dược Cần Thơ đồng ý thông qua bằng văn bản
- Bộ câu hỏi không có các vấn đề nhạy cảm, riêng tư nên không ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe của đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích và nội dung nghiên cứu;
- Đối tượng nghiên cứu có thể đặt bất cứ câu hỏi nào nếu chưa rõ và nghiên cứu viên sẽ có trách nhiệm trả lời, có quyền từ chối cuộc phòng vấn và