1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

2685 Khảo Sát Kiến Thức Thái Độ Thực Hành Và Các Yếu Tố Liên Quan Đến Phòng Chống Sốt Xuất Huyết Dengue Của Người Dân Phường Mỹ Phước Tp Long Xuyên Tỉnh An.pdf

116 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Kiến Thức Thái Độ Thực Hành Và Các Yếu Tố Liên Quan Đến Phòng Chống Sốt Xuất Huyết Dengue Của Người Dân Phường Mỹ Phước Tp Long Xuyên Tỉnh An.pdf
Tác giả Nguyễn Thị Hân
Người hướng dẫn PGS TS Trần Đỗ Hùng
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y Tế Công Cộng
Thể loại Luận Văn Chuyên Khoa
Năm xuất bản 2013
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NGUYỄN THỊ HÂN KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE CỦA NGƯỜI DÂN PHƯỜNG[.]

Trang 1

NGUYỄN THỊ HÂN

KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH

VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE CỦA NGƯỜI DÂN PHƯỜNG MỸ PHƯỚC, THÀNH PHỐ LONG XUYÊN,

TỈNH AN GIANG, NĂM 2012

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP I

CẦN THƠ - 2013

Trang 2

NGUYỄN THỊ HÂN

KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH

VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE CỦA NGƯỜI DÂN PHƯỜNG MỸ PHƯỚC, THÀNH PHỐ LONG XUYÊN,

TỈNH AN GIANG, NĂM 2012

Chuyên ngành: Y Tế Công Cộng

Mã số: 60 72 0301.CK

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA I Y TẾ CÔNG CỘNG

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS TRẦN ĐỖ HÙNG

CẦN THƠ - 2013

Trang 3

trong bất kỳ công trình nào khác

Người thực hiện luận văn

Nguyễn Thị Hân

Trang 4

Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự giúp đỡ và hợp tác từ nhiều phía Tôi xin gởi lời cám ơn đến:

- Ban Giám Hiệu trường Đại học Y Dược Cần Thơ

- Qúi Thầy Cô Khoa Y Tế Công Cộng đã chỉ dẫn tôi về phương pháp nghiên cứu khoa học

- Đặc biệt tôi xin gửi lời biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS Trần

Đỗ Hùng, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài

- Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến Trạm y tế và những hộ gia đình tham

gia vào nghiên cứu ở Phường Mỹ Phước, Thành phố Long Xuyên, tỉnh

An Giang đã giúp đỡ tôi thu thập số liệu đề tài

Ngày 20 tháng 08 năm 2013

Nguyễn Thị Hân

Trang 5

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cám ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1.Lịch sử và tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue 3

1.2 Tác nhân gây bệnh 6

1.3 Nguồn bệnh, tác nhân truyền bệnh và véc tơ 6

1.4 Các biện pháp phòng chống sốt xuất huyết Dengue 8

1.5 Các chỉ số giám sát véc tơ truyền bệnh 13

1.6 Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống sốt xuất huyết 15

1.7 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 18

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu 20

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 20

2.1.4 Địa điểm nghiên cứu 20

2.1.5 Thời gian nghiên cứu 20

Trang 6

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 21

2.2.4 Nội dung nghiên cứu 22

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu 27

2.2.6 Phương pháp kiểm soát sai số 29

2.2.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 29

2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 30

Chương 3 KẾT QUẢ 31

3.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 31

3.2 Tỉ lệ nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt xuất huyết 33

3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống SXH của người dân 43

3.4 Tiếp cận dịch vụ truyền thông về phòng chống bệnh SXH 52

Chương 4 BÀN LUẬN 53

4.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 53

4.2 Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống SXH 54

4.3 Một số yếu tố liên quan tới kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống SXH của người dân 62

4.4 Tiếp cận dịch vụ truyền thông về phòng chống bệnh SXH 69

KẾT LUẬN 71

KIẾN NGHỊ 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

BĐKH Biến đổi khí hậu

Trang 8

1.1 Tình hình mắc bệnh SXHD Phường Mỹ Phước trong 05 năm 19

3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi 31

3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới 31

3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn 32

3.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp 32

3.5 Kiến thức đối tượng đã từng nghe bệnh SXH 33

3.6 Kiến thức nhận biết dấu hiệu của bệnh SXH 33

3.7 Kiến thức đối tượng về bệnh SXH đang trở nặng 34

3.8 Kiến thức đối tượng về cách lây truyền bệnh SXH 34

3.9 Kiến thức đối tượng về loài muỗi truyền bệnh SXH 34

3.10 Kiến thức đối tượng về thời gian muỗi đốt 35

3.11 Kiến thức đối tượng về nơi đẻ của muỗi truyền bệnh SXH 35

3.12 Kiến thức đối tượng về bệnh SXH có thể phòng chống bệnh 35

3.13 Kiến thức đối tượng về các biện pháp phòng chống bệnh SXH 36

3.14 Kiến thức đối tượng về phòng tránh muỗi đốt 36

3.15 Kiến thức đối tượng về cách diệt lăng quăng 37

3.16 Kiến thức đúng chung của đối tượng về phòng chống bệnh SXH 37

3.17 Thái độ đối tượng về cách tiêu diệt trung gian truyền bệnh SXH 38

3.18 Thái độ đối tượng về trách nhiệm phòng chống bệnh SXH 38

3.19 Thái độ đúng của đối tượng về bệnh SXH 38

3.20 Thực hành ngủ mùng 39

3.21 Thực hành ngủ mùng cả ngày lẫn đêm 39

3.22 Thực hành đậy nắp các dụng cụ chứa nước 39

3.23 Thực hành súc rửa dụng cụ chứa nước 39

3.24 Thực hành bỏ các vật dụng chứa nước 40

Trang 9

3.28 Kết quả quan sát các DCCN tại nhà các đối tượng 41

3.29 Thực hành đậy nắp các dụng cụ chưa nước 42

3.30 Quan sát lăng quăng ở các vât dụng chứa nước 42

3.31 Thực hành đúng chung về phòng chống bệnh SXH 42

3.32 Liên quan giữa giới và kiến thức phòng chống SXH 43

3.33 Liên quan giữa giới và thái độ phòng chống SXH 43

3.34 Liên quan giữa giới và thực hành phòng chống SXH 44

3.35 Liên quan giữa trình độ học vấn và kiến thức phòng chống SXH 44

3.36 Liên quan giữa trình độ học vấn với thái độ phòng chống SXH 45

3.37 Liên quan giữa trình độ học vấn với thực hành phòng chống sốt xuất huyết 45

3.38 Liên quan giữa gia đình đã từng có người bị SXH và kiến thức phòng chống SXH 49

3.39 Liên quan giữa gia đình đã từng có người bị SXH và thái độ phòng chống SXH 49

3.40 Liên quan giữa gia đình đã từng có người bị SXH và thực hành phòng chống SXH 50

3.41 Liên quan giữa kiến thức và thái độ 50

3.42 Liên quan giữa kiến thức và thực hành 51

3.43 Liên quan giữa thái độ và thực hành 51

3.44 Kênh truyền thông mà người dân tiếp cận 52

Trang 10

Trang

Biểu đồ 3.1 Liên quan giữa nghề nghiệp và kiến thức, thái độ, thực hành

phòng chống SXH 46

Biểu đồ 3.2 Liên quan giữa tuổi và kiến thức phòng chống SXH 47

Biểu đồ 3.3 Liên quan giữa tuổi và thái độ phòng chống SXH 48

Biểu đồ 3.4 Liên quan giữa tuổi và thực hành phòng chống SXH 48

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh truyền nhiễm cấp tính rất nguy hiểm vì hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có thuốc chủng ngừa Khi mắc bệnh sẽ dễ dẫn đến tử vong nhanh và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, học tập, làm việc Tỉ lệ mắc bệnh trên thế giới đã gia tăng mạnh

mẽ trong những năm gần đây Toàn thế giới có 2,5 tỉ người hiện đang sống trong vùng có bệnh lưu hành Sự lan tràn về mặt địa lý của cả véc tơ truyền bệnh (muỗi) và virus đưa đến tăng cao tỉ lệ bệnh trong 25 năm qua và xuất hiện dịch do nhiều type virus khác nhau ở các đô thị trong vùng nhiệt đới [2], [14], [18] Các trường hợp mắc bệnh gia tăng và khả năng nhiễm nhiều loại virus khác nhau càng đáng báo động Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương

là những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của dịch sốt xuất huyết Dengue [19], [23], [24], [44]

Việt Nam là nước nằm trong khu vực có dịch sốt xuất huyết Dengue lưu hành nặng Bệnh không chỉ xuất hiện ở đô thị mà cả vùng nông thôn, nơi có muỗi véc tơ truyền bệnh Mức độ trầm trọng của bệnh cũng như dịch ngày càng tăng Bên cạnh đó, hiện nay tình hình dịch bệnh lại càng trở nên biến đổi khó lường do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu làm thay đổi thời tiết, ảnh hưởng của thay đổi khí hậu theo mùa và biến đổi khí hậu toàn cầu có tác động không nhỏ tới sự mở rộng phạm vi và mức độ lưu hành của bệnh Theo thống

kê của Bộ Y tế, hiện nay, trong phạm vi toàn quốc, sốt xuất huyết Dengue đứng hàng thứ 7 trong số 10 nguyên nhân nhập viện hàng đầu và đứng hàng thứ 10 trong số 10 nguyên nhân tử vong hàng đầu của những bệnh nhân nhập viện Sốt xuất huyết Dengue vẫn chưa có vacxin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu, do đó chỉ có thể làm giảm lây truyền bằng cách phòng chống véc tơ

Trang 12

truyền bệnh mà chủ yếu là diệt muỗi, diệt bọ gậy của muỗi Aesdes aegypti [12], [20], [28]

Phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang là phường luôn có số ca mắc sốt xuất huyết đứng đầu toàn thành phố liên tiếp trong nhiều năm qua Mặc dù chính quyền địa phương luôn quan tâm công tác phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết ngay từ đầu năm Ngoài 03 đợt chiến dịch diệt lăng quăng theo qui định của ngành, Ủy ban địa phương cũng chi kinh phí thực hiện 03 đợt chiến dịch diệt lăng quăng đột xuất tại các khóm trọng điểm có số cas mắc sốt xuất huyết tăng trong tuần và tháng Ngoài ra, thực hiện mô hình cộng tác viên điểm phòng chống sốt xuất huyết cho 70 cộng tác viên điểm tại địa bàn, mô hình đội đặc nhiệm xử lý ổ dịch nhỏ…nhưng số ca mắc sốt xuất huyết vẫn gia tăng trên địa bàn, gây trăn trở cho ngành y tế và các cấp chính quyền tại địa phương [9], [25] Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành của người dân

về phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue tại Phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang năm 2012” với hai mục tiêu:

1 Xác định tỉ lệ người dân Phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang năm 2012 có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về phòng chống sốt xuất huyết Dengue

2 Xác định yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống SXHD của người dân

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Lịch sử và tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue

1.1.1 Tình hình sốt xuất huyết Dengue trên thế giới

Bệnh sốt xuất huyết Dengue ( SXHD) là bệnh nhiễm virus cấp tính, gây dịch do muỗi truyền Bệnh lưu hành trên 100 nước thuộc các khu vực có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới vùng Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương;

có khoảng 2,5 tỷ người sống trong vùng nguy cơ; hằng năm có hơn 50 triệu người mắc, 500.000 trường hợp sốt xuất huyết Dengue (SXHD) phải nhập viện và có 20.000 – 25.000 trường hợp tử vong, đặc biệt là trẻ em [41], [50] Đại dịch SXHD bắt dầu từ những năm cuối thế kỷ 20 với số mắc hàng năm khoảng 10 triệu người, trong đó có hơn 90% trường hợp mắc là trẻ em dưới 15 tuổi Tỷ lệ chết trung bình là 5% với khoảng 240.000 trường hợp mỗi năm Trong 40 năm qua, SXHD đã vượt ra khỏi Đông Nam Á, lan sang Tây Thái Bình Dương, Châu Mĩ, phía Đông Địa Trung Hải và cuối cùng là Châu Phi, vùng Ca-ri-bê và có mặt trên 100 nước và lãnh thổ [51], [52]

Tại Đại hội đồng Tổ chức Y tế Thế giới tháng 5/1998, bà Tổng Giám đốc Gro Harlem Brundtland đã tuyên bố: “Thế kỷ 21 là thế kỉ phòng chống bệnh sốt xuất huyết” [33], [47]

Những khu vực có khí hậu nhiệt đới đều là những vùng có nguy cơ cao của dịch SXHD tăng đáng kể trong 5 năm đầu thập niên của thế kỉ này và đã phát hiện 925.896 ca gần gấp 2 lần so với cùng kỳ 1990 – 1999 (479.848 ca) Năm 2003, SXHD là trở thành căn bệnh nghiêm trọng nhất cho người do virus Arbo gây nên, với hơn một nửa dân số thế giới sống trong vùng nguy

cơ Theo Tổ chức Y tế thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, tình hình

Trang 14

sốt xuất huyết năm 2012 ở các nước trên thế giới và trong khu vực diễn biến phức tạp [47], [49]

1.1.2 Tình hình sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue ở Việt Nam

Dịch SXHD bùng nổ lớn được ghi nhận lần đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam vào năm 1958 với 68 bệnh nhi nhập viện Bệnh viện Bạch Mai [4] Tại miền Nam, năm 1960 trận dịch đầu tiên được ghi nhận xảy ra từ tháng 4 đến tháng 6 tại Cái Bè, Định Tường (Tiền Giang) với 60 ca mắc, ở An Giang và Kiên Giang (năm 1963) với 220 ca mắc, tử vong 89 trường hợp [28]; từ đó bệnh đã trở thành dịch lưu hành địa phương trong cả nước Gần đây bệnh có chiều hướng tăng lên, nhất là từ năm 1994 trở lại đây số mắc và chết do SXHD gia tăng đáng kể; vụ dịch năm 1998 có số mắc và tử vong do SXHD rất cao với 234.920 trường hợp mắc và 337 trường hợp tử vong tại 56/61 tỉnh/thành phố Bệnh SXHD luôn tồn tại và là vấn đề y tế nghiêm trọng ở các nước nhiệt đới có khí hậu thuận lợi cho véc tơ phát triển như Việt Nam Trong những năm gần đây, số mắc trung bình mỗi năm được thông báo là trên 100.000 và chết trên 200 trường hợp; với những thay đổi về xã hội và môi trường sống, ở nhiều nơi tần số mắc bệnh có chiều hướng tăng lên nhất là ở miền Trung và miền Nam nước ta [47]

Bệnh SXHD lưu hành rộng rãi ở vùng châu thổ sông Hồng (miền Bắc), đồng bằng sông Cửu Long (miền Nam) và dọc theo bờ biển miền Trung; bệnh không chỉ xuất hiện ở đô thị mà cả vùng nông thôn, nơi có muỗi véc tơ truyền Trong những năm gần đây chỉ số mắc bệnh cao nhất được thông báo ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh ven biển miền Trung; tuy nhiên những số liệu mới đây đã chỉ ra rằng bệnh đã phát triển đến vùng cao nguyên Trung Bộ, nơi đang phát triển đô thị mới với điều kiện cung cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường kém Dịch SXHD bùng nổ theo chu kỳ với

Trang 15

khoảng cách trung bình từ 4 – 5 năm và vụ dịch lớn mới xảy ra; năm 1998,

1.1.3 Dịch tễ học của bệnh sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam

Tại Việt Nam, bệnh SXHD được biết từ những năm 60 Những trường hợp đầu tiên được ghi nhận tại đồng bằng sông Cửu Long, lan nhanh thành dịch tại nhiều vùng dọc theo hai bờ sông Hiện nay đa số tỉnh thành trong cả nước đều ghi nhận có bệnh SXHD và được xem là một vấn đề y tế công cộng quan trọng, có thể gây thành dịch lớn với cả trăm ngàn trường hợp mắc bệnh [37], [38]

Chu kỳ gây dịch trung bình khoảng 3 - 5 năm Ở Việt Nam, bệnh phát triển theo mùa và cũng có sự khác biệt giữa các miền Miền Bắc, bệnh SXHD phát triển nhiều nhất vào các tháng 7, 8, 9 trong năm Miền Nam và miền Trung, bệnh SXHD xuất hiện quanh năm và tần số xuất hiện nhiều nhất từ tháng 6 đến tháng 10 [11], [35], [40] Bệnh thường gặp ở các vùng đông dân

cư, vệ sinh môi trường kém Đối tượng mắc bệnh thường là trẻ em từ 2 - 9 tuổi, đặc biệt trẻ bụ bẫm, khỏe mạnh thường có diễn tiến nặng và phức tạp, dễ rơi vào sốc Năm 2011 cả nước có 69.680 trường hợp mắc và có 61 trường hợp tử vong do SXHD, số tử vong giảm 48 trường hợp (44%) so với năm

2010, đã thể hiện việc khống chế thành công và duy trì tốt tỷ lệ chết/mắc (năm 2011 là 0,087%) đó là thành tựu đáng khích lệ của toàn bộ hệ thống điều trị phòng, chống dịch SXHD trong điều kiện thực tế của công tác điều trị SXHD còn gặp nhiều thách thức Hiện số người mắc do SXHD đã giảm,

Trang 16

nhưng số lượng bệnh nhân SXHD cần nhập viện để cấp cứu, chẩn đoán, thu dung điều trị còn khá cao [12], [30]

1.2 Tác nhân gây bệnh

Virus Dengue truyền bệnh từ người bệnh sang người lành qua muỗi Aesdes đốt Virus là loại ARN virus, có 4 type huyết thanh, có những kháng nguyên rất giống nhau, có thể gây phản ứng chéo 1 phần sau khi bị nhiễm 1 trong 4 type và có những kháng nguyên đặc hiệu cho riêng từng type Virus

có ở trong máu người bệnh trong thời gian bị sốt

Thời kỳ ủ bệnh và lây truyền: Thời kỳ ủ bệnh từ 3-14 ngày, trung bình

từ 5-7 ngày Bệnh nhân là nguồn lây bệnh trong thời kỳ có sốt, nhất là 5 ngày đầu của sốt là giai đoạn trong máu có nhiều vi rút Muỗi bị nhiễm vi rút thường sau 8-12 ngày sau hút máu có thể truyền bệnh và truyền bệnh suốt đời [29]

1.3 Nguồn bệnh, tác nhân truyền bệnh và véc tơ

Người bệnh là ổ chứa virus chính Người bệnh nhiễm virus Dengue bị muỗi Aesdes đốt mang virus rồi truyền cho người lành Khi bị bệnh, cơ thể sẽ xuất hiện kháng thể IgM kháng Dengue tạm thời kéo dài 8 tuần và khi phát hiện kháng thể này trong huyết thanh chứng tỏ bệnh nhân đang bị nhiễm virus Dengue cấp tính hoặc vừa mới khỏi bệnh [1], [12]

Kháng thể IgG kháng Dengue xuất hiện muộn hơn, tồn tại nhiều năm hoặc suốt đời và có miễn dịch với type Dengue gây bệnh Khi bị bệnh do 1 type huyết thanh nào đó của virus Dengue thì sẽ có miễn dịch suốt đời với type Dengue đó, nhưng không có miễn dịch với các type khác Do đó, những người sống ở vùng dịch lưu hành có thể bị nhiễm bệnh SXHD nhiều lần (tối

đa 4 lần) trong suốt cuộc đời của họ Nếu bị mắc bệnh lần thứ 2 với type Dengue khác có thể bệnh nhân sẽ bị nặng hơn và dễ xuất hiện sốc SXHD [39]

Trang 17

Ở Việt Nam, hai loài muỗi truyền bệnh SXHD là muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus, trong đó quan trọng nhất là Aedes aegypti, véc tơ giữ vai trò trung gian chính truyền bệnh

Muỗi Aedes là một loại muỗi có kích thước từ nhỏ đến trung bình Muỗi Aedes aegypti và Aedes alpopictus trưởng thành màu đen xen lẫn những đám vẩy màu trắng trên khắp cơ thể tạo nên vằn trắng đen, do đó dân gian thường gọi là muỗi vằn Loại muỗi này sống gần người, thường đậu nghỉ trên quần

áo, vật dụng gia đình (GĐ), đẻ trứng nơi nước sạch, ở những vật chứa nước tự nhiên hay nhân tạo như lu, phuy, hồ, bể chứa nước không đậy nắp, lọ hoa chậu cây cảnh, chậu nước chống kiến dưới chân tủ thức ăn, lon đồ hộp, ve chai, gáo dừa, vỏ xe hoặc bất kỳ một vật dụng chứa nước (VDCN) nào khác

có thể tích trữ nước đến 7 ngày Muỗi Aedes đẻ trứng riêng rẽ ở thành ẩm, phía trên mực nước của các dụng cụ chứa nước (DCCN) Trứng nở sau khi bị ngập nước tự nhiên (mưa) hoặc nhân tạo (do người đổ nước vào để dự trữ) Trong điều kiện khô hạn tự nhiên trứng có thể duy trì được sự sống đến 6 tháng hoặc lâu hơn do đó mùa mưa là điều kiện thuận lợi cho muỗi phát triển Muỗi Aedes cái trưởng thành giao phối và thực hiện hút máu lần đầu tiên vào khoảng 48 giờ sau khi nở Muỗi đẻ khoảng 60 - 100 trứng trong lần đẻ đầu tiên Ở nhiệt độ 20oC, độ ẩm 85% thì chu kỳ phát triển của muỗi là 10 - 15 ngày, nhiệt độ < 20oC chu kỳ kéo dài trên 20 ngày [17], [21], [41]

Muỗi cái hoạt động hút máu và truyền bệnh chủ yếu ban ngày, nhiều nhất là vào lúc sáng sớm và chiều tối Sau khi hút máu người bệnh thì Aedes

có thể truyền bệnh ngay [3], [12] Nếu không có cơ hội truyền bệnh, máu sẽ đọng lại và virus tiếp tục phát triển trong ống tiêu hóa và tuyến nước bọt (thời

kỳ ủ bệnh ở muỗi 8 - 10 ngày) chờ cơ hội truyền sang người khác Khoảng cách bay xa của muỗi Aedes tương đối ngắn so với các loại muỗi khác, trung bình là 50 mét, xa nhất là 200 mét từ ổ bọ gậy

Trang 18

Sự lan truyền dịch xảy ra ở những vùng có nhiều muỗi Aesdes, vệ sinh môi trường kém, dân cư sống chen chúc và số người bị cảm thụ cao Hiện nay, người ta chưa xác định được chính xác mật độ muỗi Aesdes cần thiết để duy trì virus Dengue gây bệnh lưu hành hoặc các đợt gây dịch Tuy nhiên, trong một GĐ, chỉ một số ít muỗi cái Aesdes là có thể làm cả GĐ mắc bệnh [36], [42], [43]

Muỗi Aesdes sinh sản quanh năm, cao nhất vào những tháng sau mùa mưa và liên quan đến việc tích trữ nước trong bể, chum vại, cống rãnh hoặc nước ở đồ phế thải (chai lọ, vỏ đồ hộp,…) Trong thời điểm có dịch, bệnh SXHD có khả năng phát tán rộng là do muỗi mang virus hoặc người đang bị bệnh đi theo đường giao thông (máy bay, tàu hỏa, ô tô,…) đến các nơi từ tỉnh này đến tỉnh khác

1.4 Các biện pháp phòng chống sốt xuất huyết Dengue

1.4.1 Vắc xin dự phòng

Vắc xin dự phòng SXHD đã được khám phá trên 60 năm, nhưng qua thử nghiệm chưa công bố hiệu quả chống lại vi rút Dengue; một loại vắc xin phòng ngừa nhiễm 4 type vi rút cũng đã được thử nghiệm tại nhiều nước trên thế giới, cho đến nay Tổ chức Y tế Thế giới vẫn chưa cho phép lưu hành vắc xin phòng SXHD trên thị trường

Tại Việt Nam, theo Bộ Y tế thì đến nay bệnh SXHD chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh, vì vậy diệt véc tơ đặc biệt là diệt

bọ gậy (lăng quăng) với sự tham gia tích cực của cộng đồng là biện pháp hiệu quả nhất trong phòng chống SXHD

1.4.2 Phòng chống véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue

1.4.2.1 Sử dụng hóa chất

Việc giải quyết véc tơ truyền bệnh vẫn là biện pháp chủ yếu trong phòng chống SXHD hiện nay; ngoài các biện pháp cơ học, sinh học, biện pháp hóa

Trang 19

học cũng đóng một vai trò quan trọng nhất là khi dịch có nguy cơ bùng phát Các hóa chất diệt côn trùng được sản xuất dưới nhiều dạng khác nhau như bột mịn, bột hòa nước, hạt, nhũ dầu, dung dịch, dạng để phun khí dung ULV…từ

đó công dụng khác nhau, cách sử dụng khác nhau, nồng độ và liều lượng hữu hiệu của mỗi loại hóa chất cũng khác nhau

Nhằm phát huy triệt để tác dụng của hóa chất được sử dụng, đồng thời hạn chế sử dụng bừa bãi dẫn đến sự xuất hiện tính đề kháng ở côn trùng cũng như tránh được sự ô nhiễm môi trường và gây ngộ độc cho người và gia súc; khi sử dụng hóa chất diệt côn trùng phải đảm bảo các quy định kỹ thuật và tùy theo các đặc điểm sinh lý, sinh thái của từng loài côn trùng mà sử dụng những hóa chất thích hợp, biện pháp phun thích hợp

Muỗi Aedes aegypti có quan hệ gần gũi với con người và là loài muỗi sống chủ yếu trong nhà, hơn 90% muỗi trưởng thành đậu nghỉ trong nhà trên những bề mặt không thể phun thuốc được như quần áo, mùng màn…Vì thế biện pháp phun tồn lưu hóa chất không được khuyến khích để diệt loài muỗi này Để diệt muỗi Aedes aegypti, biện pháp phun không gian hiệu quả nhất là phun khí dung ULV, với đường kính hạt thuốc phun ra cực nhỏ (< 50) Hạt khí dung đảm bảo các yêu cầu sau: thời gian bay lơ lững trong không khí phải

đủ mức độ di chuyển và xâm nhập vào vùng cần phun để diệt muỗi trưởng thành; tác dụng của phun khí dung ULV là tiêu diệt trong một thời gian ngắn một số lượng lớn muỗi trưởng thành trên diện rộng nhưng không gây ô nhiễm môi trường và không có tác dụng tồn lưu, vì các hạt thuốc nhỏ li ti được phun

ra sẽ mất hết trong không khí sau một thời gian ngắn, khoảng 30 phút

Qua nhiều vụ dịch cho thấy sau 20 – 30 ngày, mật độ muỗi Aedes aegypti trở lại bình thường như trước khi phun khí dung ULV, do lăng quăng trong các vật chứa nước tiếp tục nở ra Vì thế, chỉ nên áp dụng phun khi phun khí dung ULV để diệt khẩn cấp muỗi trưởng thành Aedes aegypti nhằm ngăn

Trang 20

chặn sự bùng phát của dịch, để nâng cao hiệu quả của biện pháp phun khí dung ULV, cần phải đồng thời triển khai các biện pháp phối hợp khác như vận động người dân diệt lăng quăng

1.4.2.2 Động vật ăn bọ gậy

Ở Việt Nam, nghiên cứu cá ăn bọ gậy muỗi được áp dụng có kết quả tốt trong phòng chống SXHD và Sốt rét nhiều năm nay Nhiều công trình nghiên cứu tác giả nhận thấy các loại cá sẵn có ở địa phương như cá sóc, cá bảy màu,

cá thia thia, cá rô phi…đều có thể sử dụng để diệt bọ gậy Aedes aegypti Nhất

là cá rô phi dễ nhân nuôi và khả năng ăn bọ gậy rất cao (1200 bọ gậy tuổi 1, 2 hoặc 300 bọ gậy tuổi 3, 4 trong vòng 24h); các nghiên cứu đều ghi nhận là các loại cá trên vùng nuôi để ăn bọ gậy, không gây ảnh hưởng trong các dụng cụ chứa nước (DCCN) sinh hoạt

Tuy nhiên biện pháp này chỉ áp dụng được ở các dụng cụ chứa nước có thể tích lớn, còn các loại dụng cụ nhỏ và các vật phế thải không áp dụng được trong khi các dụng cụ chứa nước nhỏ và các vật phế thải như vỏ đồ hộp, khạp, chân chén, lọ hoa, lốp xe hỏng, vỏ dừa…là nơi có thể trở thành bọ gậy Aedes aegypti rất đáng ngại Vì vậy chúng ta cần phải áp dụng song song giữa thả cá

ở dụng cụ chứa nước lớn với các biện pháp vệ sinh môi trường làm giảm nguồn sinh sản của muỗi, thông qua giáo dục Y tế và sự tham gia của cộng đồng

1.4.2.3 Biện pháp phòng chống kết hợp

Đây không phải là vấn đề mới trong việc phòng chống véc tơ truyền bệnh nói chung và trong phòng chống SXHD, nó đã được đưa ra từ thế kỉ XI khi vai trò truyền bệnh của véc tơ được khẳng định Đặc biệt được lưu ý khi biện pháp diệt véc tơ bằng hóa chất tỏ ra kém hiệu quả bởi sự kháng lại hóa chất của côn trùng và sự ô nhiễm môi trường ngày một tăng, giá thành lại quá đắt Vì vậy, việc áp dụng nhiều biện pháp cùng một lúc đã được đặt ra với

Trang 21

mục đích làm giảm thiểu véc tơ truyền bệnh; các biện pháp kết hợp liên hoàn

sẽ làm bổ sung, hỗ trợ cho nhau để mang lại hiệu quả mong muốn Đối với véc tơ SXHD, biện pháp kết hợp đã được áp dụng thành công tại nhiều quốc gia như Singapore năm 1986, sử dụng các biện pháp giảm nguồn sinh sản của muỗi là chủ yếu; thông qua giáo dục y tế để cộng đồng có kiến thức phòng chống, kết hợp với bắt buộc của pháp luật Các biện pháp giáo dục y tế và áp dụng biện pháp sinh học dựa vào sự tham gia của cộng đồng đã áp dụng ở một số quốc gia, khu vực đã làm giảm đáng kể tỷ lệ nhà có muỗi Aedes aegypti từ 8% xuống 4% mà không cần hóa chất để phun diệt

Tại Việt Nam, biện pháp kết hợp trong phòng chống véc tơ truyền bệnh SXHD đã áp dụng từ những năm đầu thập kỉ 70 và đã mang lại kết quả cao trong phòng chống dịch bệnh và đang duy trì được kết quả phòng chống dịch tốt Một nghiên cứu ứng dụng sử dụng một số loại cá ăn bọ gậy của Nguyễn Văn Chí và cộng sự đã đề xuất thả cá ăn bọ gậy ở các dụng cụ chứa nước lớn, kết hợp với làm vệ sinh môi trường có sự giám sát của y tế mới duy trì được hiệu quả truyền bệnh SD/SXHD Mặc dù vậy, hiện nay các nghiên cứu đầy đủ

về lĩnh vực này còn ít và chưa đầy đủ để đưa ra các biện pháp hữu hiệu hoặc các mô hình chuẩn cho công tác phòng chống véc tơ truyền bệnh nói chung và SXHD nói riêng

1.4.3 Quản lý tổ chức mô hình phòng chống sốt xuất huyết Dengue tại phường xã

1.4.3.1 Các bước triển khai

- Thành lập và tập huấn cho Ban chỉ đạo bao gồm ít nhất 3 thành phần: Chính quyền, Y tế và Giáo dục nhằm huy động cộng đồng và xã hội hóa công tác y tế Kinh nghiệm hoạt động tại nhiều địa phương cho thấy sự phối hợp của 3 thành phần Chính quyền, Y tế và Nhà trường địa phương có hiệu quả cao trong tổ chức hoạt động và huy động cộng đồng tham gia

Trang 22

- Xây dựng mạng lưới công tác viên: Những người có thời gian, nhiệt tình, uy tín, có trách nhiệm với công việc, có kiến thức và khả năng tuyên truyền vận động người dân thực hiện phòng chống SXHD Mỗi cộng tác viên được phân công phụ trách khoảng 40 hộ gia đình

- Tập huấn cho mạng lưới công tác viên, giáo viên, học sinh nhà trường

về bệnh SXHD và các biện pháp phòng chống, loại trừ nơi sinh sản của véc

- Làm giảm nguồn sinh sản của véc tơ:

Bọ gậy Aedes có thể phát triển tốt ở cả hai loại nước sạch và nước giàu chất hữu cơ; vì vậy, quản lí các DCCN để làm giảm nguồn sinh sản là biện pháp tốt nhất trong phòng chống Aedes aegypti và Aedes albopictus

Quản lý các DCCN cần phải xét tới việc sử dụng các DCCN của chủ nhà; nếu các DCCN là có ích hoặt dang sử dụng như lu, kiệu, hồ, phuy, chậu hoa cây cảnh… thì biện pháp thực hiện sẽ là ngăn ngừa sự sinh sản của Aedes (đậy nắp thật kín, phóng thả Mesocyclops); nếu thấy rằng các DCCN là không

có ích như vỏ xe hỏng, các mảnh vụn , vật dụng gia đình bỏ không dùng thì thu dọn và phá hủy là mục tiêu thực hiện; đối với các ổ tự nhiên như hốc cây,

Trang 23

kẻ lá, gốc tre cần được loại bỏ, lấp kín, chọc thủng hoặc làm biến đổi để ngăn ngừa sự sinh sản của Aedes

+ Loại trừ ổ bọ gậy: phá hủy hoặc loại bỏ các ổ nước tự nhiên hay nhân tạo trong và ngoài nhà ở là thực sự tham gia làm giảm quần thể muỗi Aedes Thu dọn rác bao gồm kể cả các DCCN nhân tạo hoặc tự nhiên, cho vào túi nhựa chuyển tới nơi vận chuyển rác của địa phương, nếu không có hệ thống thu gom vận chuyển rác thì các vật phế thải được chôn; úp các dụng cụ để ở ngoài vườn không sử dụng đến xô, chậu, máng nước cho gia cầm…; lấp các hốc cây bằng cát, xử lý các kẻ lá cây bằng cách chọc thủng; dọn sạch các phần còn lại sau thu hoạch như vỏ dừa, tát cạn nước trong ghe, xuồng hoặc lật

úp khi không sử dụng

+ Ngăn ngừa muỗi đẻ trứng trong các dụng cụ tích trữ nước: Dụng cụ chứa nước có hình dạng và kích thước khác nhau như lu, kiệu, hồ là nơi dự trữ nước chủ yếu cho cuộc sống hằng ngày, đặc biệt ở những nơi nước không được cung cấp đầy đủ Ở những nơi này hứng nước mưa từ mái nhà qua máng xối vào lu, hồ là phổ biến; biện pháp xử lý là đậy thật kín hoặc dùng vải, lưới che hồ, lu hứng nước mưa không cho muỗi vào đẻ; thả Mesocyclops để diệt

1.5 Các chỉ số giám sát véc tơ truyền bệnh

1.5.1 Giám sát muỗi trưởng thành

Trang 24

Giám sát muỗi trưởng thành bằng phương pháp soi bắt muỗi đậu nghỉ trong nhà bằng ống tuýp hoặc máy hút cầm tay Người điều tra chia thành nhóm, mỗi nhóm hai người soi bắt muỗi cái đậu nghỉ trên quần áo, chăn màn, các đồ vật trong nhà vào buổi sáng, mỗi nhà soi bắt muỗi trong 15 phút Số nhà điều tra cho mỗi điểm là 30 nhà, điều tra 1 lần/tháng:

Những chỉ số sử dụng để theo dõi muỗi Aedes aegypti, Aedes albopictus (tính theo từng loài)

a Chỉ số mật độ (CSMĐ) muỗi là số muỗi cái trung bình trong một gia đình điều tra [7], [23]

CSMĐ (con/nhà) = Số muỗi cái bắt được

Trang 25

b Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy (CSDCBG) là tỷ lệ phần trăm dụng cụ chứa nước có bọ gậy Aedes:

Riêng khu vực miền Bắc chỉ số mật độ muỗi cao (≥ 0.5 con/nhà) hoặc chỉ số BI ≥ 20 là yếu tố nguy cơ cao

1.6 Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống sốt xuất huyết

1.6.1 Kiến thức

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hồng Hoa (2008), có 98,32% bà mẹ biết muỗi vằn là trung gian truyền bệnh SD/SXH Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Quân với nghiên cứu: “Nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống sốt xuất huyết của các bà mẹ tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh”, cho thấy có 41,3% các bà mẹ có kiến thức đúng Nghiên cứu của

Lê Thành Tài và Nguyễn Thị Kim Yến (2007): “Kiến thức, thái độ, thực hành

và một số yếu tố liên quan đến phòng chống sốt xuất huyết Dengue của người dân xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ năm 2007, có

Trang 26

85% người dân có kiến thức đúng Nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt xuất huyết của người dân quận 5 năm 2004” của Lý Lệ Lan

và Lê Hoàng Minh, kết quả cho thấy có 92,2% biết tác nhân truyền bệnh SXH

là muỗi, 61,6% biết đó là muỗi vằn, 54% biết triệu chứng cơ bản của bệnh, có

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn, dân tộc với kiến thức chung về bệnh SXH [13], [26], [29]

Trần Văn Hai và Lê Thành Tài với nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng sốt Dengue/Sốt xuất huyết Dengue của người dân xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp năm 2006” đã chỉ ra tỉ lệ người dân có kiến thức tốt, thái độ đúng và thực hành đúng về phòng chống sốt xuất huyết là 50% [11]

Theo nghiên cứu của 2 tác giả Tống Thị Bích Chuẩn và Cao Ngọc Nga (2006) có 60,47% biết nơi sinh sản của muỗi gây SXH, 82,56% biết các biện pháp phòng chống muỗi đốt [5]

1.6.2 Thái độ

Theo nghiên cứu của 2 tác giả Tống Thị Bích Chuẩn và Cao Ngọc Nga (2006) có 68,80% có thái độ đồng ý đậy kín dụng cụ chứa nước Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Quân với nghiên cứu: “Nghiên cứu kiến thức, thái

độ và thực hành phòng chống sốt xuất huyết của các bà mẹ tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh”, cho thấy có 66,6% các bà mẹ có thái độ đồng ý chung về các biện pháp phòng chống SXH Nghiên cứu của Lê Thành Tài và Nguyễn Thị Kim Yến (2007): “Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng chống sốt xuất huyết Dengue của người dân xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2007, có 56,55% người dân có thái độ đúng [5], [26], [29]

Trần Văn Hai và Lê Thành Tài với nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng sốt Dengue/Sốt xuất huyết Dengue của người dân xã Bình

Trang 27

Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp năm 2006) đã chỉ ra tỉ lệ người dân có thái độ đúng về phòng chống sốt xuất huyết còn thấp là 57% Theo nghiên cứu của 2 tác giả Tống Thị Bích Chuẩn và Cao Ngọc Nga (2006) có 68,80% có thái độ đồng ý đậy kín dụng cụ chứa nước [5], [11]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Quân với nghiên cứu: “Nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống sốt xuất huyết của các bà mẹ tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh”, cho thấy có 66,6% các bà mẹ có thái độ đồng ý chung về các biện pháp phòng chống SXH [26]

Lê Thành Tài và Nguyễn Thị Kim Yến (2007): “Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng chống sốt xuất huyết Dengue của người dân xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ năm 2007,

có 56,55% người dân có thái độ đúng [29] Theo nghiên cứu của 2 tác giả Tống Thị Bích Chuẩn và Cao Ngọc Nga (2006) có 68,80% có thái độ đồng ý đậy kín dụng cụ chứa nước [5]

1.6.3 Thực hành

Trần Văn Hai và Lê Thành Tài với nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng sốt Dengue/Sốt xuất huyết Dengue của người dân xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp năm 2006) đã chỉ ra tỉ lệ người dân có thực hành đúng về phòng chống sốt xuất huyết là 26%, tất cả vật chứa nước không được đậy kín và không được súc rửa thường xuyên đều có chứa

bọ gậy muỗi Aedes, có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức và thực hành phòng chống SD/SXHD Theo nghiên cứu của 2 tác giả Tống Thị Bích Chuẩn và Cao Ngọc Nga (2006) có 68,75% thực hành đậy nắp dụng cụ chứa nước Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hồng Hoa (2008) có 82,62% các gia đình áp dụng các biện pháp vệ sinh nhà cửa và môi trường xung quanh để phòng chống sốt xuất huyết [5], [11], [13]

Trang 28

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Quân với nghiên cứu: “Nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống sốt xuất huyết của các bà mẹ tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh”, cho thấy có 77,96% các bà mẹ thực hành đúng phòng chống sốt xuất huyết và có mối liên quan giữa nghề nghiệp, trình độ văn hóa với thực hành phòng chống sốt xuất huyết Nghiên cứu của

Lê Thành Tài và Nguyễn Thị Kim Yến (2007): “Kiến thức, thái độ, thực hành

và một số yếu tố liên quan đến phòng chống sốt xuất huyết Dengue của người dân xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2007, có 21,1% người dân thực hành đúng có mối liên quan giữa kiến thức và thái độ phòng chống SXH của người dân Theo nghiên cứu của 2 tác giả Tống Thị Bích Chuẩn và Cao Ngọc Nga (2006) có 68,75% người dân thực hành đậy nắp dụng cụ chứa nước [5], [26], [29]

1.7 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Phường Mỹ Phước, Thành Phố Long Xuyên, tỉnh An Giang là một Phường vừa nội ô, vừa ngoại ô, khí hậu nhiệt đới, quanh năm có 02 mùa (mùa mưa và mùa khô) Đa số nhân dân nơi đây sinh sống bằng nghề tiểu thủ công nghiệp, mặt bằng dân trí tương đối, hạ tầng cơ sở đang từng bước đô thị hóa, còn một số vùng sâu, xa khu vực thành phố sử dụng nước bề mặt, sử dụng nhiều dụng cụ chứa nước đặc biệt là nước mưa, vứt vật phế thải, rác bừa bãi,…

Số liệu cơ bản Phường Mỹ Phước:

- Dân số: 31.519

- Số hộ: 5494

- Số khóm: 10

Trang 29

Bảng 1.1 Tình hình mắc bệnh SXHD Phường Mỹ phước trong 05 năm

03 đợt chiến dịch diệt lăng quăng đột xuất tại các khóm trọng điểm có số cas mắc sốt xuất huyết tăng trong tuần và tháng đó Ngoài ra, còn thực hiện mô hình Cộng tác viên điểm phòng chống Sốt xuất huyết cho 70 cộng tác viên điểm tại địa bàn, mô hình đội đặc nhiệm xử lý ổ dịch nhỏ….nhưng số ca mắc sốt xuất huyết vẫn gia tăng trên địa bàn phường, gây trăn trở cho ngành y tế

và các cấp chính quyền tại địa phương

Trang 30

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Người dân Phường Mỹ Phước, Thành Phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu

Người dân sống ở Phường Mỹ Phước, Thành Phố Long Xuyên, tỉnh An Giang năm 2012, không phân biệt giới tính, dân tộc, nghề nghiệp, trình

độ văn hóa

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

- Các hộ gia đình đi vắng trong thời gian tiến hành nghiên cứu

- Những hộ gia đình có thời gian cư ngụ tại địa phương dưới 3 tháng tính

từ lúc bắt đầu tiến hành nghiên cứu

- Những hộ gia đình bỏ ngang phỏng vấn

- Những người không thể trả lời phỏng vấn như mất trí nhớ do quá cao

tuổi, bệnh tâm thần, câm điếc

2.1.4 Địa điểm nghiên cứu

Phường Mỹ Phước, Thành Phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

2.1.5 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ 1/2013 đến 03/2013

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích

2.2.2 Cỡ mẫu

Sử dụng công thức cỡ mẫu ước lượng cho một tỉ lệ

Trang 31

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu ngẫu nhiên đơn

) 2 / 1 ( 2

.

d

q p

z − 

Trong đó:

n: Cỡ mẫu

Z: Hệ số trong bảng phân phối chuẩn, Z= 1,96 khi α = 0,05

(hệ số tin cậy ở mức sác suất 95% tương đương 1,96)

Thay số vào công thức: Ta được n = 384

Để tránh mất mẫu và giảm sai số nên chúng tôi làm tròn số mẫu chọn là

❖ Mỗi hộ chọn chủ hộ hoặc người đại diện thỏa tiêu chí chọn mẫu

Ở mỗi khóm mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống

Bước 1: Lập danh sách các hộ gia đình theo thứ tự bảng chữ cái tên của

chủ hộ

Bước 2: Tính khoảng cách mẫu k <=

Với: N: tổng số hộ gia đình trong khóm;

Trang 32

2.2.4 Nội dung nghiên cứu

2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng

- Giới tính: được chia làm 02 nhóm:

+ Nam + Nữ

- Tuổi: được chia thành 02 nhóm:

- Kinh tế gia đình: chia 02 nhóm:

+ Hộ nghèo: Khu vực nông thôn đồng bằng có thu nhập dưới 500.000đ/người/tháng (công bố chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 của bộ LĐ

và XH)

+ Hộ không nghèo

- Hộ gia đình có trẻ < 5 tuổi

Trang 33

- Hộ gia đình từng có người mắc bệnh SXHD: Trong vòng 05 năm trở lại đây

2.2.4.2 Kiến thức về SXHD của người dân

- Đã từng nghe nói về bệnh sốt xuất huyết

- Dấu hiệu nhận biết về bệnh SXHD:

+ Đúng: khi người dân trả lời được ít nhất 2 trong các dấu hiệu sau: sốt cao liên tục, xuất huyết

+ Không

- Dấu hiệu bệnh chuyển từ nhẹ sang nặng:

+ Đúng: khi người dân trả lời được ít nhất 3 trong các dấu hiệu sau: tay chân lạnh, bứt rứt, ói mửa nhiều, đau bụng, da nổi bông, chảy máu bất cứ chỗ nào

+ Không

- Biết đường lây truyền của bệnh:

+ Đúng: khi người dân trả lời được ít nhất 3 trong các dấu hiệu sau: tay chân lạnh, bứt rứt, ói mửa nhiều, đau bụng, da nổi bông, chảy máu bất cứ chỗ nào

+ Không

- Biết muỗi vằn là trung gian truyền bệnh:

+ Đúng + Không

- Thời điểm muỗi đốt:

+ Đúng: khi người dân trả lời được thời điểm muỗi đốt là sáng sớm và chiều tối

+ Không

- Biết nơi đẻ trứng của muỗi Aeds:

Trang 34

+ Đúng: khi người dân biết được ít nhất 3 trong các vấn đề sau: muỗi vằn thường đẻ trứng ở: lu, khạp, phuy chứa nước; bình cắm hoa; cù lao chân; tủ chén; gáo dừa; lốp xe cũ

+ Không

- Hiểu biết SXHD có thể phòng tránh:

+ Đúng + Không

- Biết biện pháp phòng chống SXHD:

+ Đúng: khi người dân biết được ít nhất 2 biện pháp sau: diệt muỗi, diệt bọ gậy

+ Không

- Biết biện pháp phòng tránh muỗi đốt:

+ Đúng: Ngủ mùng, dùng nhan trừ muỗi, dùng hóa chất diệt muỗi, dùng vợt điện để giết muỗi, mặc quần áo dài tay cho trẻ

+ Không

- Biết biện pháp diệt bọ gậy: là biến nhị phân

+ Đúng: khi người dân biết được ít nhất 3 trong các biện pháp sau: đậy kín các DCCN, cọ rửa DCCN, thường xuyên thay nước bình cắm hoa, không vứt các vật dụng có thể chứa nước bừa bãi, thả cá ăn lăng quăng vào các DCCN

+ Không

- Kiến thức đúng chung: Là khi người dân có từ 6 trở lên kiến thức đúng trong phần kiến thức phòng chống SXHD nêu trên

2.2.4.3 Thái độ về phòng, chống SXHD của người dân

- Thái độ lựa chọn các biện pháp phòng chống SXHD:

+ Đúng: khi nhận thức được việc làm thường xuyên diệt muỗi, diệt bọ gậy là biện pháp hiệu quả để phòng chống bệnh SXHD

Trang 35

+ Chưa đúng

- Quan điểm về kiểm soát muỗi, bọ gậy:

+ Đúng: Khi nhận thức được diệt muỗi, bọ gậy do nhà nước và nhân dân cùng làm

- Súc rửa các VDCN:

+ Có + Không

- Súc rửa định kỳ các DCCN:

+ Đúng: khi trả lời giữa 02 lần súc rửa không quá 7 ngày + Không

- Loại bỏ phế liệu:

+ Đúng: khi người dân có thực hiện 1 trong 2 biện pháp sau: Vứt

ra sân và úp lại, cho vào thùng rác và thực tế quan sát thấy đúng

+ Không đúng

Trang 36

- Sử dụng các biện pháp xua, diệt muỗi:

+ Đúng: khi người dân có thực hiện 1 trong 3 biện pháp sau: quạt máy, nhang muỗi, thuốc xịt muỗi

+ Không đúng

- Vệ sinh nhà ở:

+ Đạt + Không đạt

- Vệ sinh môi trường quanh nhà:

+ Đạt + Không đạt

- Đậy kín các DCCN:

+ Đúng: là tất cả DCCN luôn đậy nắp trừ lúc lấy nước và thực tế quan sát thấy đúng

+ Không đúng

- Không có bọ gậy ở hộ gia đình:

+ Có: khi quan sát thấy có bọ gậy ở bất kỳ DCCN và VDPT + Không

- Thực hành đúng chung: Là khi người dân có từ 6 câu thực hành đúng trong phần thực hành phòng chống SXHD nêu trên

2.2.4.5 Kênh truyền thông người dân tiếp cận:

- Tivi

- Nhân viên y tế

- Đài phát thanh

- Sách, báo, tạp chí

- Người thân quen

- Thầy thuốc tư

- Chính quyền địa phương, Ban ngành, đoàn thể

Trang 37

- Khác

- Kênh truyền thông thích tiếp cận nhất

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

+ Bảng câu hỏi có cấu trúc bao gồm thông tin cá nhân, các câu hỏi đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành, nguồn thông tin SXH tiếp cận

+ Bảng kiểm đánh giá thực hành phòng chống SXH tại hộ gia đình

2.2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu

Bước 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu

Xây dựng bộ câu hỏi: các câu hỏi do học viên tự xây dựng dựa vào các khái niệm, đặc điểm dịch tễ, triệu chứng lâm sàng của bệnh SD/SXHD và các biện pháp phòng chống bệnh SD/SXHD Thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu: khi bộ câu hỏi được xây dựng xong, điều tra thử 20 chủ hộ với bộ câu hỏi này, chỉnh sửa nội dung của bộ câu hỏi cho phù hợp sau đó in thành

400 bộ phục vụ cho điều tra và tập huấn

Bước 2: Tập huấn (nội dung thu thập số liệu)

- Đối tượng tập huấn: Tổng số 4 người là các cán bộ trong Trạm y tế Phường đã có nhiều năm kinh nghiệm trong hoạt động phòng chống SXH

- Nội dung tập huấn:

+ Kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phỏng vấn và điều tra kiến thức, thực hành và làm việc với cộng đồng

+ Thực hành điều tra kiến thức, thái độ, thực hành của người dân

Bước 3: Điều tra, giám sát

- Chuẩn bị: Sau khi tập huấn, học viên liên hệ với Trạm y tế phường và

Ủy ban nhân dân phường Mỹ Phước để nhận danh sách chủ hộ trên địa bàn,

và trao đổi kế hoạch làm việc

- Nhân lực: Dự kiến 4 người, chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 2 người Luân phiên giữa học viên và CTV của nơi đến

Trang 38

- Tiến hành điều tra: Các nhóm nhận biểu mẫu và kế hoạch điều tra Học viên trực tiếp đi cùng các CTV, quan sát phỏng vấn 5 hộ gia đình để hỗ trợ kịp thời những thiếu sót trong quá trình điều tra

Bước 4: Thu thập phiếu điều tra

Sau 5 ngày điều tra các nhóm nộp phiếu cho học viên Học viên ghi nhận phiếu điều tra về số, chất lượng về bộ câu hỏi và kiểm tra xác suất một số bà

mẹ có con dưới 5 tuổi được phỏng vấn nếu không đạt yêu cầu điều tra lại Tìm hiểu sự thay đổi về kiến thức của người dân về bệnh SD/SXHD, sự nguy hiểm của bệnh, đường lây và véc tơ truyền bệnh; thái độ hưởng ứng của người dân đối với các biện pháp phòng chống và hành vi của họ trong thực tế vào các thời điểm trước và sau khi triển khai hoạt động phòng chống SXH + Người dân có kiến thức đúng khi:

- Biết biểu hiện của bệnh SXH: Sốt cao liên tục 3 – 7 ngày, mệt mỏi, đau cơ…

- Biết mắc bệnh SXH là do muỗi đốt

- Biết muỗi truyền bệnh SXH là muỗi vằn

- Biết muỗi vằn thường đốt người vào ban ngày

- Biết nơi trú đậu của muỗi vằn là nơi treo quần áo, chăn màn và các đồ dùng trong nhà

- Biết bọ gậy của muỗi vằn thường sống trong các DCCN sinh hoạt, lọ hoa, vật dụng phế thải có đọng nước…

+ Người dân có thái độ đúng khi đồng ý thả Mesocyclops vào các DCCN

để diệt bọ gậy

+ Người dân thực hành phòng chống SXH tốt khi:

- Thực hành phòng chống muỗi đốt bằng biện pháp ít tốn kém, hiệu quả

và không độc, đó là ngủ mùng kể cả ban ngày

Trang 39

- Thực hành diệt bọ gậy bằng cách đậy kín nắp, cọ rửa DCCN, thay nước

lọ hoa mỗi tuần, phóng thả Mesocyclops ăn bọ gậy

2.2.6 Phương pháp kiểm soát sai số

2.2.6.1 Kiểm soát sai lệch do chọn lựa

Hẹn trở lại hôm sau phỏng vấn, nếu bệnh nhân đi vắng lúc đến nhà điều tra

2.2.6.2 Kiểm soát sai lệch thông tin

* Sai lệch thông tin của điều tra viên

- Cán bộ điều tra được tập huấn chi tiết và thống nhất về nội dung điều tra cần thu thập

- Tổ chức điều tra thử để rút kinh nghiệm

- Điều tra viên phỏng vấn phải khách quan không gợi ý

- Kiểm tra tính hoàn tất của từng bộ câu hỏi ngay sau khi phỏng vấn

* Sai lệch thông tin của đối tượng của đối tượng nghiên cứu

Giám sát viên sẽ giám sát trong quá trình thu thập thông tin Kiểm tra lại ngẫu nhiên 5% số phiếu thu thập

2.2.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

- Thu thập số liệu qua phiếu phỏng vấn loại bỏ các phiếu không đạt yêu cầu theo nội dung tập huấn và tiến hành phỏng vấn thêm cho đạt cở mẫu

- Mã hóa dữ kiện và sử dụng phần mềm SPSS 18.0 để nhập vào máy vi tính để xử lý và phân tích

Trang 40

- Tìm hiểu mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành đúng với các đặc tính của đối tượng nghiên cứu (tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp….) sử dụng phép kiểm test X, chọn P < 0,05 là có ý nghĩa thống kê (α

= 0,05) để khảo sát mối liên quan có ý nghĩa về mặt thống kê

2.3 Đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành sau khi Hội đồng đạo đức trường Đại học Y Dược Cần Thơ đồng ý bằng văn bản

- Bộ câu hỏi không có các vấn đề nhạy cảm, riêng tư nên không ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe của đối tượng nghiên cứu

- Các HGĐ có quyền từ chối cuộc phỏng vấn và quan sát (nếu họ không muốn) Mọi thông tin nhạy cảm được bảo mật

- Các HGĐ tham gia sẽ được tư vấn về phòng chống SD/SXHD

- Khi triển khai thu thập thông tin có xin ý kiến chấp thuận của chính quyền địa phương

Ngày đăng: 22/08/2023, 19:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Thị Vân Anh, Trần Như Dương (2011), “Công tác phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue tại miền Bắc Việt Nam, 2011”, Tạp chí Y học dự phòng, tập XXII số 4 (131) (43 – 51) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue tại miền Bắc Việt Nam, 2011
Tác giả: Đinh Thị Vân Anh, Trần Như Dương
Nhà XB: Tạp chí Y học dự phòng
Năm: 2011
2. Bộ Y tế, Cục Y tế dự phòng (2011), Truyền thông phòng chống sốt xuất huyết lồng ghép với họp cộng đồng, Nhà xuất bản Y, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông phòng chống sốt xuất huyết lồng ghép với họp cộng đồng
Tác giả: Bộ Y tế, Cục Y tế dự phòng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y
Năm: 2011
3. Đăng Văn Chính (2010), “Đánh giá chương trình giám sát và kiểm soát sốt xuất huyết các tỉnh phía Nam”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, tập 14 phụ bản số 2 (2010), (38 – 43) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chương trình giám sát và kiểm soát sốt xuất huyết các tỉnh phía Nam”, "Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Đăng Văn Chính (2010), “Đánh giá chương trình giám sát và kiểm soát sốt xuất huyết các tỉnh phía Nam”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, tập 14 phụ bản số 2
Năm: 2010
4. Bạch Thị Chính, Lê Công Minh, Tạ Quốc Đạt (2010), “Hiệu quả truyền thông GDSK nâng cao kiến thức – thực hành đúng phòng chống sốt xuất huyết của người dân tại xã Vĩnh Hựu, huyện Gò Công Tây tỉnh Tiền Giang năm 2009”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, tập 14, phụ bản số 2 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả truyền thông GDSK nâng cao kiến thức – thực hành đúng phòng chống sốt xuất huyết của người dân tại xã Vĩnh Hựu, huyện Gò Công Tây tỉnh Tiền Giang năm 2009”, "Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Bạch Thị Chính, Lê Công Minh, Tạ Quốc Đạt
Năm: 2010
5. Tống Thị Bích Chuẩn, Cao Ngọc Nga (2007), “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt xuất huyết của các bà mẹ có con từ 2 – dưới 15 tuổi tại thị trấn La Gi, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận năm 2006”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, tập 11, phụ bản số 1 năm 2007, (74 – 99) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt xuất huyết của các bà mẹ có con từ 2 – dưới 15 tuổi tại thị trấn La Gi, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận năm 2006”," Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Tống Thị Bích Chuẩn, Cao Ngọc Nga
Năm: 2007
6. Lê Tiến Dũng (2009), “Nghiên cứu kiến thức và hành vi thực hành phòng chống sốt xuất huyết tại xã Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang”, Luận văn chuyên khoa cấp I, Đại học Y dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kiến thức và hành vi thực hành phòng chống sốt xuất huyết tại xã Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang”, "Luận văn chuyên khoa cấp I
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Năm: 2009
7. Thẩm Chí Dũng, Nguyễn Nhật Cảm (2005), “Sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue tại Thành Phố Hà Nội, 2003”, Tạp chí Y học dự phòng 2005, tập XV, số 1 (73) (21 – 25) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue tại Thành Phố Hà Nội, 2003
Tác giả: Thẩm Chí Dũng, Nguyễn Nhật Cảm
Nhà XB: Tạp chí Y học dự phòng
Năm: 2005
8. Vũ Trọng Dược, Đinh Thị Vân Anh và cộng sự (2012), “Điều tra kiến thức và thực hành về phòng chống sốt xuất huyết Dengue tại 11 tỉnh miền núi phía Bắc, 2011”, Tạp chí Y học dự phòng, tập XXII, số 4 (131), (53-61) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra kiến thức và thực hành về phòng chống sốt xuất huyết Dengue tại 11 tỉnh miền núi phía Bắc, 2011”, "Tạp chí Y học dự phòng, tập XXII
Tác giả: Vũ Trọng Dược, Đinh Thị Vân Anh và cộng sự
Năm: 2012
9. Phạm Ngọc Đính (2005), “Một số đặc điểm dịch tễ bệnh sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam năm 2005”, Tạp chí Y học dự phòng 2006, tập XVI, số 2 (81) (86 – 89) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ bệnh sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam năm 2005”, "Tạp chí Y học dự phòng 2006
Tác giả: Phạm Ngọc Đính
Năm: 2005
10. Lê Thanh Hà (2011), “Đặc điểm dịch tễ sốt Dengue, sốt xuất huyết Dengue ở Nghệ An và biện pháp phòng chống”, Hoạt động KH – CN số 1/2011, thông tin KH – CN Nghệ An, (13 – 16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ sốt Dengue, sốt xuất huyết Dengue ở Nghệ An và biện pháp phòng chống”," Hoạt động KH – CN số 1/2011
Tác giả: Lê Thanh Hà
Năm: 2011
11. Trần Văn Hai, Lê Thành Tài (2006), “Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống SD/SXHD của người dân xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp”, Y học Thành phố Hồ Chí Minh Tập 12, Phụ bản của số 4, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống SD/SXHD của người dân xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp"”, Y học Thành phố Hồ Chí Minh Tập 12
Tác giả: Trần Văn Hai, Lê Thành Tài
Năm: 2006
12. Trần Văn Hiền (2008), “Diễn tiến tình hình vật chứa nhiễm bọ gậy Aedes và mối liên quan giữa các chỉ số giám sát bọ gậy hàng tháng với số mắc sốt Dengue, sốt xuất huyết Dengue tại các huyện, thị trong tỉnh Long An”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, tập 12 số 2 2008, (97 – 100) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn tiến tình hình vật chứa nhiễm bọ gậy Aedes và mối liên quan giữa các chỉ số giám sát bọ gậy hàng tháng với số mắc sốt Dengue, sốt xuất huyết Dengue tại các huyện, thị trong tỉnh Long An”, "Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Văn Hiền
Năm: 2008
13. Nguyễn Hồng Hoa (2008), “ Kiến thức và thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về phòng chống sốt xuất huyết tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Y học TP.HCM Tập 12, Phụ bản của số 4, 2088 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức và thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về phòng chống sốt xuất huyết tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, "Y học TP.HCM Tập 12
Tác giả: Nguyễn Hồng Hoa
Năm: 2008
14. Trần Kim Long (2009), “Nghiên cứu tình hình phòng chống sốt xuất huyết tại xã Vĩnh Thuận Đông, huyện Long Mỹ, Tỉnh Hậu Giang”, Luận án chuyên khoa II, Trường Đại Học Y Dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình phòng chống sốt xuất huyết tại xã Vĩnh Thuận Đông, huyện Long Mỹ, Tỉnh Hậu Giang”, "Luận án chuyên khoa II
Tác giả: Trần Kim Long
Năm: 2009
15. Lý Phi Long (2010), “Nghiên cứu kết quả phòng chống sốt xuất huyết Dengue dựa vào cộng đồng tại xã Trường Khánh huyện Long Phú tỉnh Sóc Trăng năm 2009”, Luận văn chuyên khoa cấp II, Đại học Y dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kết quả phòng chống sốt xuất huyết Dengue dựa vào cộng đồng tại xã Trường Khánh huyện Long Phú tỉnh Sóc Trăng năm 2009”, "Luận văn chuyên khoa cấp II
Tác giả: Lý Phi Long
Năm: 2010
16. Nguyễn Lâm, Nguyễn Hồng Hoa (2007), “Mô hình xử lý ổ dịch nhỏ trong phòng chống sốt Dengue /sốt xuất huyết Dengue tại huyện Châu Thành tỉnh Kiên Giang”, Y học TP.HCM Tập 12, Phụ bản của số 4, 2088 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình xử lý ổ dịch nhỏ trong phòng chống sốt Dengue /sốt xuất huyết Dengue tại huyện Châu Thành tỉnh Kiên Giang”, "Y học TP.HCM Tập 12
Tác giả: Nguyễn Lâm, Nguyễn Hồng Hoa
Năm: 2007
18. Vũ Sinh Nam, Phan Trọng Lân (2011), “Đánh giá hiệu quả mô hình phòng chống chủ động vectơ sốt xuất huyết bằng rèm tẩm hóa chất và sử dụng tác nhân sinh học mesocyclops trong cộng đồng tại thực địa tỉnh Long An, năm 2011”, Tạp chí Y học thực hành (767), số 6/2011 (20 – 24) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả mô hình phòng chống chủ động vectơ sốt xuất huyết bằng rèm tẩm hóa chất và sử dụng tác nhân sinh học mesocyclops trong cộng đồng tại thực địa tỉnh Long An, năm 2011”, "Tạp chí Y học thực hành (767)
Tác giả: Vũ Sinh Nam, Phan Trọng Lân
Năm: 2011
19. Vũ Sinh Nam, Trần Vũ Phong (2009), “Đánh giá hiệu quả và tính bền vững của mô hình cộng đồng sử dụng tác nhân sinh học mesocyclops trong phòng chống sốt xuất huyết tại Việt Nam”, Tạp chí Y học dự phòng, tập XIX, số 2 (101) (90 – 100) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả và tính bền vững của mô hình cộng đồng sử dụng tác nhân sinh học mesocyclops trong phòng chống sốt xuất huyết tại Việt Nam”, "Tạp chí Y học dự phòng
Tác giả: Vũ Sinh Nam, Trần Vũ Phong
Năm: 2009
20. Huỳnh Văn Nguyên (2010), “Khảo sát kiến thức thực hành phòng chống sốt xuất huyết của các bà mẹ tại xã biển Bạch Đông, Thới Bình, Cà Mau”, Luận văn chuyên khoa cấp I, Đại học Y dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát kiến thức thực hành phòng chống sốt xuất huyết của các bà mẹ tại xã biển Bạch Đông, Thới Bình, Cà Mau”," Luận văn chuyên khoa cấp I
Tác giả: Huỳnh Văn Nguyên
Năm: 2010
21. Trần Văn Nhật, Phan Thị Hòa (2002), “Huy động sự tham gia của cộng đồng và sử dụng tác nhân sinh học Mesocyclops để phòng chống vectơ sốt xuất huyết”, Tạp chí Y học thực hành, số 6/2002 (23 – 25) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động sự tham gia của cộng đồng và sử dụng tác nhân sinh học Mesocyclops để phòng chống vectơ sốt xuất huyết”, "Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Trần Văn Nhật, Phan Thị Hòa
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm