BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ LÊ THÀNH TAM KHẢO SÁT KIẾN THỨC THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN VÀ CÁC CHỈ SỐ CÔN TRÙNG BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT CỦA HỘ DÂN TẠI HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨN[.]
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Các hộ gia đình có con em dưới 15 tuổi tại huyện Mang Thít
Từ tháng 02/2012 đến tháng 5/2012 Địa điểm: tại huyện Mang Thít.
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: trong đề tài này chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả
- n : là cở mẫu nhỏ nhất hợp lý
- p : tỷ lệ ước đoán trong quần thể = 0,5 (tỉ lệ có kiến thức đúng về phòng chống SD/SXHD [30] )
Vậy trong nghiên cứu này em làm tròn số là 400
Cỡ mẫu: Điều tra kiến thức, thực hành của hộ gia đình và các chỉ số côn trùng tại hộ gia đình là 400 hộ
Dựa vào quy định của CTMTQG-PC.SXH điều tra côn trùng là 50 hộ dân cho mỗi đơn vị xã
Trong nghiên cứu này, phương pháp ngẫu nhiên đơn đã được sử dụng để chọn 8 xã trong tổng số 13 xã của huyện Mỗi xã được điều tra với mẫu gồm 50 hộ gia đình nhằm khảo sát về kiến, thực hành và côn trùng Việc lựa chọn ngẫu nhiên giúp đảm bảo tính khách quan và độ đại diện của mẫu trong quá trình thu thập dữ liệu.
- Đồng ý trả lời các câu hỏi phỏng vấn
Những người có khiếm khuyết về thể chất hoặc tình trạng tinh thần không ổn định, chẳng hạn như do uống rượu hoặc thiếu bình tĩnh, có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của các câu trả lời Tình trạng sức khỏe tâm thần và thể chất của người tham gia đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo câu trả lời chính xác và tin cậy trong các khảo sát hoặc đánh giá Việc nhận diện và xử lý các yếu tố này giúp nâng cao chất lượng dữ liệu thu thập được.
- Người từ chối trả lời các câu hỏi phỏng vấn
- Người không có mặt tại hộ gia đình sau nhiều lần đến khảo sát
2.2.4 Các thông tin thu thập
2.2.4.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết
- Tuổi: Có giá trị - năm sinh
- Giới: (có 2 giá trị) Nam và nữ
- Trình độ học vấn : (4 giá trị)
2.2.4.2 Định nghĩa và liệt kê các biến số
- Các biến nghiên cứu thuộc về kiến thức, thực hành cá nhân có tác dụng bảo vệ không mắc SXHD trong vùng lưu hành bệnh:
+ Ngủ mùng kể cả ban ngày
+ Sử dụng các biện pháp xua đuổi và diệt muỗi trong nhà như đốt nhang muỗi, phun xịt hóa chất trừ muỗi
+ Đậy kín những vật chứa nước trong nhà
+ Xúc rửa thường xuyên các vật chứa nước sinh hoạt
+ Loại bỏ các vật dụng linh tinh chứa nước xung quanh nhà
Kiến thức về bệnh sốt xuất huyết Dengue: có 5 biến
- Nhận thông tin giáo dục sức khỏe về phòng chống SXHD:
Bạn đã từng nghe hoặc nhìn thấy các thông tin liên quan đến phòng chống sốc sản xuất huyết (SXHD), bao gồm các triệu chứng, dấu hiệu nhận biết triệu chứng nặng, biện pháp phòng ngừa và nguyên nhân gây bệnh Đánh giá tiêu chí này thường dựa trên hai giá trị chính: có hoặc không, giúp xác định mức độ hiểu biết và nhận thức của cộng đồng về phòng chống SXHD.
Trong nghiên cứu này, các nguồn cung cấp thông tin chính được liệt kê gồm truyền hình, đài phát thanh, báo chí, nhân viên y tế, người thân và các nguồn khác, giúp đa dạng hóa kênh truyền đạt kiến thức về phòng chống bệnh SXHD Mỗi đối tượng điều tra thường nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau cùng lúc, góp phần nâng cao hiểu biết và ý thức phòng tránh bệnh một cách toàn diện Việc ghi nhận tất cả các ý kiến phản hồi từ người dân giúp xác định hiệu quả của từng nguồn thông tin và tối ưu hóa chiến dịch truyền thông trong công tác phòng chống SXHD.
- Kiến thức về côn trùng truyền bệnh là muỗi vằn
+ Đúng: ý kiến cho rằng muỗi vằn là côn trùng trung gian truyền bệnh SXHD
+ Không đúng: ý kiến khác không phải do muỗi vằn
- Kiến thức về trung gian truyền bệnh SXHD là do muỗi vằn đốt
+ Đúng: Ý kiến cho rằng muỗi vằn đốt
+ Không đúng: ý kiến không do muỗi vằn đốt
- Kiến thức về thời gian hoạt động đốt người của muỗi vằn: có 2 giá trị
+ Đúng: ý kiến cho rằng muỗi vằn chủ yếu đốt người vào ban ngày cao điểm vào lúc sáng sớm và chạng vạng tối
+ Không đúng: muỗi vằn đốt vào ban đêm hoặc khác
- Kiến thức về nơi sinh sản của muỗi:
Muỗi đẻ trứng chủ yếu trên các dụng cụ chứa nước sinh hoạt trong nhà không có nắp đậy hoặc các vật dụng phế thải xung quanh Nhà như bình bông, chân chén… vì đây là nơi lý tưởng để muỗi sinh sản, góp phần gây dịch bệnh nếu không được kiểm soát.
+ Không đúng: cho rằng muỗi đẻ trứng ở cống rãnh, ao, hồ, sông rạch
- Kiến thức về triệu chứng cơ bản của bệnh SXHD: có 2 giá trị
Sốt cao liên tục trong ít nhất 2 ngày kết hợp với các dấu hiệu xuất huyết như chấm xuất huyết dưới da, chảy máu cam, chảy máu răng, đi cầu ra máu hoặc nôn ra máu là những triệu chứng quan trọng cần chú ý.
+ Không đúng: khi cho rằng chỉ có dấu hiệu sốt hoặc chỉ có dấu hiệu xuất huyết hoặc không rõ
- Kiến thức về dấu hiệu chuyển nặng của SXHD: có 2 giá trị
+ Đúng: Khi cho rằng có một trong các triệu chứng chân tay lạnh, đau bụng, bứt rứt, vật vã hay lừ đừ
+ Không đúng: khi trả lời không rõ bất kỳ dấu hiệu chuyển nặng nào
- Kiến thức chung về SXHD: có 2 giá trị
+ Đúng: khi biết đúng ít nhất 5 trong 6 kiến thức nêu trên
+ Không đúng: khi không biết hoặc chỉ biết đúng từ 1-4 kiến thức trong
6 kiến thức đã nêu trên
Thực hành phòng chống sốt xuất huyết Dengue: có 5 biến
- Ngủ mùng: có 2 giá trị
+ Đúng: ngủ mùng, kể cả ban ngày và ban đêm
+ Không đúng: chỉ ngủ mùng ban ngày hoặc ban đêm
- Đậy kín các dụng cụ chứa nước trong nhà
+ Đúng: Tất cả DCCN trong nhà đều có nắp đậy
+ Không đúng: Khi có ít nhất 1 DCCN trong nhà không có nắp đậy
- Cọ rữa vật chứa nước thường xuyên: có 2 giá trị
+ Đúng: khi tất cả vật chứa nước sinh hoạt trong nhà được cọ rửa thường xuyên (trong vòng 7 ngày)
+ Không đúng: khi tất cả vật chứa nước sinh hoạt trong nhà không được cọ rữa hoặc không thường xuyên (> 7 ngày)
- Sử dụng bình xịt hoặc nhang muỗi: có 2 giá trị
+ Đúng: có sử dụng bình xịt hoặc nhang trừ muỗi
+ Không đúng: Không sử dụng bình xịt hoặc nhang trừ muỗi
- Dẹp bỏ vật phế thải chứa nước xung quanh nhà: có 2 giá trị
+ Đúng: quan sát xung quanh nhà không thấy bất kỳ một vật phế thải, linh tinh nào có thể chứa nước
+ Không đúng: khi có vật phế thải có chứa nước xung quanh nhà
Một người có thực hành đúng các biện pháp phòng chống SXHD:
+ Đúng: khi thực hành cả 5 biện pháp nêu trên
+ Không đúng: khi thực hành không đúng 1 trong năm 5 biện pháp nêu trên
- Trong gia đình có người bệnh sốt xuất huyết
- Người bệnh sốt xuất huyết được chẩn đoán bởi:
+ Mức độ sốt xuất huyết bệnh viện chẩn đoán
+ Các xét nghiệm chẩn đoán
+ Trạm y tế, bác sĩ tư
+ Có dấu hiệu nào khi đưa cháu đi khám
- Có nghe nói hoặc biết bệnh sốt xuất huyết (SXH) không
- Các nguồn thông tin cung cấp kiến thức về bệnh XSH thường là:
+ Đài phát thanh (ra- đi- ô)
+ Sách báo, tài liệu tuyên truyền, tờ bướm,…
+ Qua nhân viên y tế, cộng tác viên,…
- Tỷ lệ hộ gia đình có lăng quăng: là tổng số hộ gia đình có lăng quăng trên tổng số hộ điều tra nhân với 100;
- Tỷ lệ dụng cụ chứa nước có lăng quăng: là số dụng cụ có lăng quăng trên tổng số dụng cụ quan sát nhân với 100;
- Tỷ lệ Bretaue: là tổng số dụng cụ chứa nước có lăng quăng trên 100 hộ gia đình;
- Tỷ lệ hộ gia đình có muỗi là số hộ gia đình có muỗi trên tổng số hộ gia đình quan sát nhân với 100;
- Mật độ muỗi cái: là số muỗi cái có trong hộ gia đình trên tổng số hộ gia đình quan sát
2.2.5 Phương pháp thu thập dữ kiện
Bộ câu hỏi với thông tin rõ ràng, dể hiểu
Liệt kê các biến thu thập qua bộ câu hỏi
2.2.5.2 Phỏng vấn a) Phương pháp: Phỏng vấn trực tiếp b) Công cụ: bộ câu hỏi c) Phỏng vấn viên: Cán bộ công nhân viên chức Trung tâm y tế huyện Mang Thít và cán bộ Trạm y tế xã
2.2.6 Kiểm soát sai lệch thông tin
+ Tập huấn kỹ các phỏng vấn viên
+ Bộ câu hỏi: soạn đơn giản dể hiểu, sử dụng câu hỏi đóng
+ Bộ câu hỏi sẽ được mã hóa bằng số
Số liệu sẽ được nhập và phần tích bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 18.0 Một số thống kê sẽ sử dụng trong phân tích số liệu:
- Tính tần số và tỉ lệ phần trăm đối với: giới, tuổi, nghề nghiệp
- Tần số và tỉ lệ phần trăm những cha (mẹ) có kiến thức, thái độ, thực hành đúng
Cha mẹ cần trang bị kiến thức về bệnh sốt xuất huyết (SXH) để hiểu rõ cách phòng ngừa hiệu quả Đồng thời, họ nên thực hành các biện pháp phòng chống như diệt muỗi, tiêu diệt lăng quăng, ngủ mùng cả ngày lẫn đêm để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh SXH đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe của trẻ và gia đình.
- Phân tích mối liên quan giữa kiến thức, thực hành với một số yếu tố như tuổi, giới, nghề, học vấn, chỉ số côn trùng.
Y đức
Đề tài tập trung khảo sát ý kiến của bố mẹ trẻ, đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu khoa học để bảo vệ quyền lợi của người tham gia Chúng tôi chỉ đặt ra các câu hỏi mang tính nghiệp vụ, tránh ảnh hưởng hoặc gây hại đến đối tượng phỏng vấn nhằm duy trì tính khách quan và đạo đức của nghiên cứu Toàn bộ dữ liệu thu thập được đều được giữ bí mật, nhằm bảo vệ quyền riêng tư của các phụ huynh và trẻ nhỏ, kể cả những người không hợp tác.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung
Bảng 3.1 Thông tin về tuổi
Nhóm tuổi Tần số Tỷ lệ (%)
Trong tổng số 400 đối tượng được nghiên cứu có tuổi từ dưới 30 đến trên
60 tuổi trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất là tuổi từ 30-39 (25,75%), 40-49 (25,75%), và thấp nhất là dưới 30 tuổi (9,5%)
Bảng 3.2 Thông tin về giới tính
Giới Tần số Tỷ lệ (%)
Trong đối tượng nghiên cứu Nam là 204 người chiếm 51 % và Nữ là
Bảng 3.3 Thông tin về nghề nghiệp
Nghề nghiệp Tần số Tỷ lệ (%)
Nghề nghiệp trong nhóm đối tượng nghiên cứu này chủ yếu là nông dân chiếm 48% kế đến là nội trợ 21,2% và thấp nhất là công chức chiếm 0,5%
Bảng 3.4 Thông tin về học vấn
Học vấn Tần số Tỷ lệ (%)
Trong số đối tượng được nghiên cứu có 41,5% trình độ cấp 2; 37,5% cấp 1 và có 2,2% là mù chữ
Bảng 3.5 Thông tin về nguồn nước sử dụng
Nguồn nước sử dụng Tần số Tỷ lệ (%)
Kết quả điều tra nguồn nước sử dụng trong 400 hộ gia đình cho thấy 48,2% hộ sử dụng nước máy để phục vụ sinh hoạt hàng ngày Ngoài ra, có tới 40% gia đình sử dụng nước sông làm nguồn nước chính, trong khi chỉ 0,8% hộ gia đình sử dụng kết hợp cả nước máy, nước sông và nước mưa Thống kê này phản ánh đa dạng nguồn cung cấp nước sinh hoạt và tiềm năng cần được quản lý phù hợp để đảm bảo an toàn và bền vững.
Kiến thức phòng chống SXHD
3.2.1 Tình trạng nhận thông tin về SXHD của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.6 Kiến thức của bố mẹ về phòng chống bệnh SXHD
Nghe thông tin về SXHD Tần số Tỷ lệ (%)
Có 99,7% trong đối tượng nghiên cứu có nghe nói về bệnh sốt xuất huyết và có 0,3% là chưa biết về bệnh sốt xuất huyết
3.2.2 Kiến thức có được từ những nguồn thông tin
Bảng 3.7 Tần số nguồn cung cấp thông tin SXHD
Nguồn thông tin Tần số Tỷ lệ (%)
- Xem truyền hình, Đài phát Thanh 358 89.5
Nguồn thông tin về bệnh sốt xuất huyết và các biện pháp phòng chống rất đa dạng, trong đó truyền hình chiếm tỷ lệ cao nhất với 89,5% Tiếp đến, các đối tượng tiếp nhận thông tin từ các ban ngành đoàn thể đạt 76,7%, trong khi sách báo, nhân viên y tế, tờ rơi chiếm từ 14% đến 70% Các nguồn khác chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chỉ khoảng 0,5%.
3.2.3 Kiến thức về nguyên nhân gây bệnh SXH
Bảng 3.8 Kiến thức về nguyên nhân gây bệnh SXHD
Nguyên nhân Tần số Tỷ lệ (%)
Số người hiểu được nguyên nhân nguyên nhân gây bệnh SXHD là do:
3.2.4 Kiến thức về trung gian truyền bệnh SXHD
Bảng 3.9 Tần số nguyên nhân gây bệnh SXHD
Tác nhân truyền bệnh Tần số Tỷ lệ (%)
Số người hiểu rằng, SXHD là do muỗi gây ra chiếm tỷ lệ 99,7% và có 0,3% là không phải do muỗi truyền bệnh
3.2.5 Kiến thức về loại muỗi truyền bệnh
Bảng 3.10 Tần số nhận biết loại muỗi truyền bệnh SXHD
Loại muỗi truyền bệnh SXHD Tần số Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về loài muỗi gây bệnh sốt xuất huyết là 93,5% bên cạnh đó có 6,5% hiểu chưa đúng
3.2.6 Kiến thức về thời gian hút máu của muỗi SXHD
Bảng 3.11 Tần số hiểu biết thời gian đốt của muỗi truyền bệnh SXHD
Thời gian hút máu của muỗi SXHD Tần số Tỷ lệ (%)
Theo khảo sát, có 12,8% người cho rằng muỗi vằn truyền bệnh sốt xuất huyết hoạt động chủ yếu vào ban ngày, trong khi đó 10% tin rằng chúng hút máu vào ban đêm Tuy nhiên, phần lớn người dân (77,2%) cho rằng muỗi vằn có hoạt động cả ngày lẫn đêm, gây khó khăn trong việc phòng tránh.
3.2.7 Kiến thức về nơi sinh sản của muỗi truyền bệnh SXHD:
Bảng 3.12 Tần số hiểu biết nơi sinh sản của muỗi truyền bệnh SXHD
Nơi sinh sản Tần số Tỷ lệ (%)
- Vật dụng chứa nước không kín
Theo kết quả điều tra, có đến 64,5% người cho rằng muỗi vằn truyền bệnh sốt xuất huyết sinh sản trong các vật chứa nước không đậy kín ở Lu Thấy rõ rõ ràng rằng việc kiểm soát các vật chứa nước không an toàn là biện pháp quan trọng để giảm thiểu sự phát triển của muỗi vằn và ngăn chặn dịch bệnh sốt xuất huyết Việc nâng cao nhận thức cộng đồng về cách phòng tránh muỗi vằn sinh sôi là yếu tố then chốt trong chiến lược phòng chống dịch bệnh hiệu quả.
3.2.8 Kiến thức về nơi trú đậu của muỗi truyền bệnh SXHD:
Bảng 3.13 Tần số nhận biết nơi trú đậu của muỗi truyền bệnh SXHD
Nơi trú đậu Tần số Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ số người cho rằng muỗi vằn truyền bệnh sốt xuất huyết thường trú đậu ở bên trong nhà 87,2% bên cạnh đó có 12,5% cho rằng bên ngoài nhà
3.2.9 Kiến thức về triệu chứng chủ yếu của bệnh SXHD:
Bảng 3.14 Tần số hiểu biết dấu hiệu trẻ bị bệnh SXHD
Triệu chứng của SXHD Tần số Tỷ lệ (%)
Hầu hết mọi người đều nhận thức rằng triệu chứng chủ yếu của bệnh sốt xuất huyết Dengue là sốt, với tỷ lệ lên đến 96,7% Trong khi đó, một số ít người (0,8%) cho rằng các triệu chứng chính của bệnh bao gồm sốt, ho và chảy mũi Việc nắm rõ các triệu chứng này giúp người dân nhận biết sớm và phòng tránh bệnh hiệu quả.
3.2.10 Kiến thức về dấu hiệu chuyển nặng của SXHD
Bảng 3.15 Tần số nhận biết triệu chứng chuyển nặng của bệnh SXHD
Dấu hiệu chuyển nặng của SXHD Tần số Tỷ lệ (%)
- Sốt, xuất huyết, ói, đau bụng
- Sốt, xuất huyết, ói, đau bụng, tay chân lạnh
Tỷ lệ số người nhận biết đúng đầy đủ các dấu hiệu chuyển nặng của bệnh sốt xuất huyết là 74,7%
3.2.11 Kiến thức về đối tượng có thể mắc bệnh SXHD
Bảng 3.16 Tần số nhận biết về đối tượng có thể mắc bệnh SXHD Đối tượng Tần số Tỷ lệ (%)
Số người hiểu và cho rằng đối tượng có thể mắc bệnh SXHD là tất cả mọi người chiếm tỷ lệ 65,3%
3.2.12 Kiến thức về bệnh SXHD là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm
Bảng 3.17 Tần số nhận biết về SXHD là bệnh nguy hiểm
Sốt xuất huyết Dengue Tần số Tỷ lệ (%)
Tổng 400 100 Đa số đều nhận biết bệnh SXHD là bệnh nguy hiểm: 99,7 %
3.2.13 Kiến thức về biện pháp phòng bệnh SXHD
Bảng 3.18 Tần số kiến thức về biện pháp phòng bệnh SXHD
Biện pháp Tần số Tỷ lệ (%)
Số người cho rằng biện pháp diệt muỗi 5,3%, diệt lăng quăng 7,2% và cả 2 biện pháp diệt muỗi và diệt lăng quăng chiếm 87,5%
3.2.14 Kiến thức nơi lăng quăng phát triển
Bảng 3.19 Tần số kiến thức về nơi lăng quăng phát triển
Vật chứa Tần số Tỷ lệ (%)
- Vật chứa nước trong, ngoài nhà
- Vật phế thải chứa nước ngoài nhà
Chỉ có 51,7% người dân có kiến thức về nơi lăng quăng phát triển, chủ yếu là trong các vật chứa nước trong và ngoài nhà cũng như các vật phế thải chứa nước ngoài nhà Tuy nhiên, vẫn còn 0,3% người chưa biết rõ về các nơi sinh trưởng của lăng quăng, cho thấy cần tăng cường công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng chống sốt xuất huyết.
3.2.15 Để tiêu diệt lăng quăng cần phải làm gì
Bảng 3.20 Tần số biện pháp tiêu diệt lăng quăng
Biện pháp Tần số Tỷ lệ (%)
- Đậy kín vật chứa nước
- Súc rửa lu mỗi tuần
- Thả cá vào vật chứa nước
Theo khảo sát, có 29% người cho rằng đậy kín vật chứa nước để tiêu diệt lăng quăng là biện pháp hiệu quả, trong khi đó, 57,7% người dân thực hiện súc rửa lu hàng tuần để loại bỏ lăng quăng Ngoài ra, phương pháp thả cá vào các dụng cụ chứa nước để diệt lăng quăng chiếm tỷ lệ 12,8%, phản ánh mức độ nhận thức và hành động của cộng đồng trong phòng chống sốt xuất huyết.
Bảng 3.21 Tần số đậy kín các dụng cụ chứa nước
Loại nắp đậy Tần số Tỷ lệ (%)
- Đậy nắp bằng ván, gỗ
- Đậy kín không còn khoảng trống
Kiến thức người dân hiểu biết cách đậy nắp các dụng cụ chứa nước là đậy kín không còn khoảng trống chiếm 72,5%
Bảng 3.22 Tần số súc rửa DCCN
Súc rửa DCCN Tần số Tỷ lệ (%)
Có 97,2% người dùng bàn chải để súc rửa DCCN sạch để làm cho trứng muỗi không còn bám theo thành vách lu khạp
Kiến thức Tần số Tỷ lệ (%)
Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về phòng chống bệnh sốt xuất huyết chiếm 76,7% và chưa đúng là 23,3%.
Thực hành phòng chống SXHD
3.3.1 Cho con ngủ mùng đúng
Bảng 3.24 thực hành ngủ mùng
Ngủ mùng Tần số Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ người dân thực hành ngủ mùng đúng chiếm 90,2% và có 9,8 chưa thực hành ngủ mùng đúng
3.3.2 Thực hành đậy nắp vật chứa
Bảng 3.25 Thực hành đậy nắp vật chứa Đậy nắp Tần số Tỷ lệ (%)
- Không đậy hoặc chỉ một số
Tỷ lệ người dân thực hành đậy nắp tất cả vật chứa nước 24,5%
3.3.3 Thực hành cọ rửa DCCN trong 2 tuần qua
Bảng 3.26 Tần số cọ rửa DCCN trong 2 tuần qua
Cọ rửa DCCN Tần số Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ người dân có rửa DCCN trong 2 tuần qua chiếm 94,5%
3.3.4 Thực hành đậy nắp DCCN đúng
Bảng 3.27 Tần số đậy nắp DCCN đúng Đậy nắp Tần số Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ người dân thực hành đậy nắp DCCN đúng chiếm 76,7%
3.3.5 Thực hành dẹp bỏ vật phế thải
Bảng 3.28 Tần số dẹp bỏ vật phế thải chứa nước
Dẹp bỏ vật phế thải Tần số Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ người dân có dẹp bỏ vật phế thải đúng, chiếm 25,75%
3.3.6 Thực hành thả cá DCCN
Bảng 3.29 Tần số thả cá DCCN
Thả cá Tần số Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ người dân có thả cá vào DCCN chiếm 26,5% và không có thả cá vào DCCN là 73,5%
Bảng 3.30 Thực hành chung
Thực hành Tần số Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ người dân thực hành đúng về phòng chống sốt xuất huyết chiếm 47,3%
Quan sát DCCN trong nhà
3.4.1 Tỷ lệ % các loại vật chứa nước
Bảng 3.31 Tần số các loại vật chứa nước
Loại vật chứa Tần số Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ người dân sử dụng lu, khạp để chứa nước chiếm 92,4%
3.4.2 Tỷ lệ % các loại vật chứa nước linh tinh
Bảng 3.32 Tần số các loại vật chứa nước linh tinh
Vật chứa linh tinh Tần số Số được xử lý Tỷ lệ (%)
- Bình bông, chén kê chân tủ thức ăn
Trong các vật dụng chứa nước linh tinh thì Bình bông, chén kê chân tủ thức ăn chiếm tỷ lệ là 41,1%.
3.4.3 Tỷ lệ % áp dụng các biện pháp xử lý DCCN trong nhà
Bảng 3.33 Tần số áp dụng các biện pháp xử lý DCCN trong nhà
Biện pháp Hồ, khuy Lu, khạp
Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ%
Tùy thuộc vào loại dụng cụ chứa nước lớn hay nhỏ, tỷ lệ người dân áp dụng các biện pháp xử lý các dụng cụ chứa nước trong nhà cũng khác nhau Để phòng tránh ô nhiễm, nhiều người dân đã đậy nắp cẩn thận cho các hồ chứa, phuy nước nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và ngăn chặn sự phát triển của các tác nhân gây bệnh Việc chủ động xử lý và bảo quản các dụng cụ chứa nước đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì nguồn nước sạch, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng.
(61,9%), lu, khạp (61,6%) Thả cá cho hồ, phuy (5,6%), lu, khạp (14,8%) Cọ rửa cho hồ, phuy (3,1%), lu, khạp (10,3%).
Quan sát vật phế thải xung quanh nhà
3.5.1 Tỷ lệ % hộ gia đình có vật phế thải
Bảng 3.34 Tần số hộ gia đình có vật phế thải
Phế thải Tần số Tỷ lệ (%)
Có 8,8% hộ gia đình có vật dụng cụ chứa nước phế thải xung quanh nhà
3.5.2 Tỷ lệ % các loại phế thải có tại hộ gia đình
Bảng 3.35 Tần số các loại phế thải có tại hộ gia đình
Phế thải Tổng số Tỷ lệ (%)
Trong các loại phế thải tại hộ gia đình người dân thì có 25% là chai lọ, tô bể, 20,7% là lon, hộp và 15,2% là gáo dừa.
Quan sát côn trùng
3.6.1 Hộ gia đình có lăng quăng
Bảng 3.36 Tỷ lệ hộ gia đình có Lăng quăng
Hộ gia đình Tần số Tỷ lệ (%)
- Hộ gia đình có LQ
- Hộ gia đình không có LQ
Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ hộ gia đình có lăng quăng chiếm 26,5%
3.6.2.Dụng cụ chứa nước có lăng quăng
Bảng 3.37 Tỷ lệ dụng cụ chứa nước có Lăng quăng
Dụng cụ chứa nước Tần số Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ dụng cụ chứa nước có lăng quăng chiếm 11,3 %
3.6.3 Số hộ gia đình có muỗi
Bảng 3.38 Tỷ lệ hộ gia đình có Muỗi
Hộ gia đình Tần số Tỷ lệ (%)
- Hộ gia đình có muỗi
- Hộ gia đình không có muỗi
Tỷ lệ hộ gia đình có Muỗi 17,3%
Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng chống bệnh sốt xuất huyết
3.7.1 Các yếu tố liên quan đến kiến thức phòng chống bệnh sốt xuất huyết
Bảng 3.39 Liên quan giữa kiến thức với nhóm tuổi:
Nhóm tuổi Kiến thức χ 2 ,P Đúng Chưa đúng
Kết quả phân tích cho thấy không có sự khác biệt giữa kiến thức đúng về phòng chống sốt xuất huyết theo nhóm tuổi (p=0,507)
Bảng 3.40 Liên quan giữa kiến thức với giới:
Giới Kiến thức χ 2 ,P Đúng Chưa đúng
Kết quả phân tích cho thấy, tỷ lệ nam giới có kiến thức chính xác về phòng chống sốt xuất huyết đạt 81,4%, cao hơn đáng kể so với nữ giới với tỷ lệ 71,9% Sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kế (p = 0,026), cho thấy nhận thức về phòng chống sốt xuất huyết của nam giới cao hơn so với nữ giới.
Bảng 3.41 Liên quan giữa kiến thức với học vấn:
Kiến thức χ 2 ,P Đúng Chưa đúng
Người có trình độ học vấn càng cao thì kiến thức đúng về phòng chống sốt xuất huyết càng nhiều, trong khi nhóm mù chữ chỉ đạt tỷ lệ 55.6%, còn nhóm tốt nghiệp cấp 3 trở lên lên tới 82.7% Sự khác biệt về kiến thức đúng phòng chống sốt xuất huyếttä giữa các nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê (p = 0,006), cho thấy trình độ học vấn và nhóm tuổi ảnh hưởng đáng kể đến hiểu biết về phòng chống bệnh này.
Bảng 3.42 Liên quan giữa kiến thức với nghề nghiệp:
Nghề nghiệp Kiến thức χ 2 ,P Đúng Chưa đúng
Nhóm nghề nội trợ có tỷ lệ kiến thức đúng về phòng chống sốt xuất huyết cao nhất là 87,9%, trong khi nhóm buôn bán chiếm tỷ lệ thấp nhất là 65,9% Sự khác biệt về kiến thức đúng giữa các nhóm nghề có ý nghĩa thống kê (p = 0,015), cho thấy mức độ hiểu biết về phòng chống sốt xuất huyết varies rõ rệt giữa các nhóm nghề.
Bảng 3.43 Liên quan giữa kiến thức với gia đình có lăng quăng:
Kiến thức χ 2 ,P Đúng Chưa đúng
Tỷ lệ hộ gia đình có lăng quăng trong nhóm có kiến thức đúng đạt 27,7%, trong khi nhóm có kiến thức chưa đúng chỉ là 22,6% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,328), cho thấy kiến thức về lăng quăng của các hộ gia đình không tác động rõ ràng đến mức độ phát triển của vấn đề.
Bảng 3.44 Liên quan giữa kiến thức với gia đình có muỗi cái:
Gia đình có muỗi cái
Kiến thức χ 2 ,P Đúng Chưa đúng
Theo nghiên cứu, tỷ lệ hộ gia đình có muỗi ở nhóm có kiến thức đúng là 18,2%, trong khi đó nhóm có kiến thức chưa đúng chỉ đạt 14% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với giá trị p = 0,341, cho thấy kiến thức chưa đúng không ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ hộ gia đình có muỗi.
3.7.2 Các yếu tố liên quan đến thực hành phòng chống bệnh sốt xuất huyết
Bảng 3.45 Liên quan giữa thực hành với nhóm tuổi:
Nhóm tuổi Thực hành χ 2 ,P Đúng Chưa đúng
Qua kết quả phân tích cho thấy chưa có sự khác biệt giữa thực hành đúng phòng chống sốt xuất huyết ở các nhóm tuổi (p=0,051)
Bảng 3.46 Liên quan giữa thực hành với giới:
Giới Thực hành χ 2 ,P Đúng Chưa đúng
Kết quả phân tích cho thấy tỉ lệ Nam thực hành đúng về phòng chống sốt xuất huyết là 54,4% và Nữ 39,8% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p
Bảng 3.47 Liên quan giữa thực hành với học vấn:
Thực hành χ 2 ,P Đúng Chưa đúng
Học vấn càng cao thì khả năng thực hành đúng càng tăng, trong khi nhóm mù chữ chỉ đạt tỷ lệ kiến thức đúng là 33,3% Ngược lại, nhóm có trình độ cấp 3 trở lên có tỷ lệ kiến thức đúng đạt 60,0%, thể hiện sự cải thiện rõ rệt Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p = 0,022), cho thấy trình độ học vấn ảnh hưởng đáng kể đến kiến thức và thực hành đúng.
Bảng 3.48 Liên quan giữa thực hành với nghề nghiệp:
Thực hành χ 2 ,P Đúng Chưa đúng
Trong khảo sát, có 68,2% người trong nhóm mua bán thực hành đúng các biện pháp phòng chống sốt xuất huyết, cao hơn so với 46,9% của nhóm nông dân và 37,6% của nhóm nội trợ Sự khác biệt về tỷ lệ thực hành đúng phòng chống sốt xuất huyết giữa các nhóm nghề nghiệp này thể hiện ý nghĩa thống kê (p = 0,001), cho thấy nhóm mua bán có ý thức phòng chống cao hơn rõ rệt.
Bảng 3.49 Liên quan giữa thực hành với gia đình có lăng quăng:
Thực hành χ 2 ,P Đúng Chưa đúng
Tỷ lệ hộ gia đình có lăng quăng ở nhóm thực hành đúng PC.SXH là 38,7%, thấp hơn nhiều so với 61,3% ở nhóm chưa thực hành đúng, cho thấy rõ tác dụng của việc thực hiện đúng các biện pháp phòng chống Sự khác biệt này trở nên có ý nghĩa thống kê với giá trị p = 0,039, khẳng định rằng việc áp dụng đúng các biện pháp phòng chống là yếu tố quan trọng trong việc giảm tình trạng lăng quăng trong cộng đồng.
Bảng 3.50 Liên quan giữa thực hành với gia đình có muỗi cái:
Gia đình có muỗi cái
Thực hành χ 2 ,P Đúng Chưa đúng
Trong gia đình, tỷ lệ có muỗi cái ở nhóm thực hành đúng đạt 15,3%, thấp hơn so với 19% ở nhóm chưa thực hiện đúng các biện pháp phòng chống muỗi, nhưng sự khác biệt này chưa đủ ý nghĩa về mặt thống kê (p = 0,340).
3.7.3 Liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng chống bệnh sốt xuất huyết
Bảng 3.51 Liên quan giữa kiến thức và thực hành đúng :
Thực hành χ 2 ,P Đúng Chưa đúng
Tỉ lệ thực hành đúng ở nhóm có kiến thức đúng là 48,5 % và ở nhóm có kiến thức chưa đúng là 43%, sự khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kê (p=0,350).
BÀN LUẬN
Đặc tính chung của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm đánh giá tổng quát về kiến thức và thực hành của các hộ gia đình có con em dưới 15 tuổi tại 8 xã thuộc huyện Mang Thít Mục tiêu của nghiên cứu là xác định mức độ nhận thức và các hành vi thực tiễn của người dân trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ nhỏ Kết quả sẽ cung cấp dữ liệu hữu ích để xây dựng các chiến lược nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ em địa phương Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện kiến thức và thay đổi hành vi của gia đình nhằm bảo vệ và phát triển trẻ nhỏ hiệu quả hơn.
Trong nghiên cứu điều tra kiến thức và thực hành, cỡ mẫu tính toán là 400 đối tượng, đảm bảo đủ đại diện cho cộng đồng Đặc biệt, trong nghiên cứu về côn trùng, cỡ mẫu khảo sát là 400 hộ gia đình có trẻ em dưới 15 tuổi, giúp thu thập dữ liệu chính xác và có giá trị nghiên cứu cao.
Trong tổng số 400 đối tượng nghiên cứu, độ tuổi phổ biến nhất nằm trong nhóm 30-39 tuổi và 40-49 tuổi, chiếm tỷ lệ lần lượt là 25,75%, trong khi nhóm dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất là 9,5% Giới tính của đối tượng phân bổ gần đều, với nam chiếm 51% (204 người) và nữ chiếm 49% (196 người) Các nghề nghiệp chủ yếu của đối tượng là nông dân chiếm 48%, nội trợ chiếm 21,2%, còn công chức chiếm tỷ lệ thấp nhất là 0,5% Trình độ học vấn không đồng đều, trong đó 37,5% có trình độ cấp I, 41,5% có trình độ cấp II, 18,8% có trình độ cấp III trở lên, và 2,2% là mù chữ, phản ánh đa dạng về trình độ học vấn trong cộng đồng nghiên cứu.
Kết quả điều tra nguồn nước sử dụng của 400 hộ gia đình cho thấy, gần một nửa số hộ dân chủ yếu sử dụng nước máy, chiếm tỷ lệ 48,2% Trong khi đó, 40% hộ gia đình sử dụng nước sông làm nguồn nước sinh hoạt chính Ngoài ra, có khoảng 0,8% hộ dân sử dụng kết hợp cả nước máy, nước sông và nước mưa để phục vụ sinh hoạt hàng ngày.
4.2 Kiến thức, thực hành phòng chống sốt xuất huyết
4.2.1 Kiến thức phòng chống SXHD
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 99,7% đối tượng đã nghe biết về bệnh sốt xuất huyết, trong khi chỉ 0,3% chưa biết về bệnh này, phản ánh sự phổ biến của các nguồn thông tin về bệnh sốt xuất huyết tại các khu vực thành phố và cộng đồng nông thôn Nghiên cứu của Lý Lê Lan tại Quận 5 TP.HCM năm 2004 cũng cho thấy 95,83% người dân đã nghe nói về sốt xuất huyết, chứng tỏ các chiến dịch truyền thông đã thành công trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng Nhờ vào công tác tuyên truyền hiệu quả trong nhiều năm qua, đa số người dân đều có thể nắm bắt kiến thức đúng về bệnh sốt xuất huyết và các biện pháp phòng tránh như giảm nguồn sinh sản của muỗi và hạn chế sự tiếp xúc với muỗi, góp phần nâng cao ý thức phòng bệnh trong cộng đồng.
Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống SXH đã triển khai từ năm
Trong giai đoạn 1999 đến 2012, chương trình tuyên truyền phòng chống sốt xuất huyết (SXH) đã được thực hiện rộng rãi qua các hình thức gián tiếp và trực tiếp nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng Hàng năm, Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống SXHD khu vực phía Nam phối hợp với Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh, Đài truyền hình, Đài phát thanh và Trung tâm giáo dục sức khỏe Bộ Y tế Việt Nam để phát sóng các sản phẩm truyền thông phù hợp, như các đoạn phim spot 1 phút có nội dung đặc thù cho khu vực phía Nam Các sản phẩm này còn có dạng băng cassette kể chuyện truyền thanh, nhằm truyền tải những thông điệp ngắn gọn, dễ hiểu, góp phần nâng cao ý thức phòng chống dịch bệnh trong cộng đồng.
Kể từ khi Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống sốt xuất huyết (SXH) chính thức được triển khai, đã có nhiều nghiên cứu và khảo sát về nguồn truyền thông liên quan đến SXH mà người dân tiếp cận Các chiến dịch truyền thông này đóng vai trò quan trọng trong nâng cao nhận thức cộng đồng về cách phòng tránh và kiểm soát dịch bệnh Thông qua các phương tiện truyền thông đa dạng, người dân ngày càng có ý thức hơn về việc phòng ngừa SXH hiệu quả Việc cập nhật thông tin chính xác qua các kênh truyền thông góp phần giảm thiểu tình trạng lơ là và nâng cao hiệu quả công tác phòng chống dịch bệnh trên diện rộng.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 89,5% đối tượng nhận thông tin về sốt xuất huyết từ truyền hình và đài phát thanh, trong đó truyền hình chiếm tỷ lệ cao nhất Ngoài ra, 76,7% người dân tiếp cận thông tin từ các ban ngành đoàn thể, phản ánh mức độ quan tâm và tiếp cận nguồn thông tin rộng rãi So với các nghiên cứu trước đây, như nghiên cứu của Trần Văn Hai tại xã Bình Thành, Thanh Bình, Đồng Tháp năm 2006, người dân vẫn chủ yếu dựa vào truyền hình (58,8%) và hệ thống loa đài phát thanh (48,7%) để tìm hiểu về phòng chống sốt xuất huyết, đây là các nguồn thông tin dễ tiếp cận và được ưa chuộng nhất.
Trong năm 2008, nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người dân tiếp nhận thông tin về phòng chống sốt xuất huyết chủ yếu qua các phương tiện truyền thông như truyền hình, đạt đến 80% [28] Điều này cho thấy tivi và đài phát thanh là các kênh truyền thông phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay của người dân, bởi hầu hết các gia đình đều có tivi và đài để sinh hoạt và giải trí Việc tận dụng các kênh này để truyền tải kiến thức phòng chống sốt xuất huyết mang lại hiệu quả cao, đặc biệt trong bối cảnh môi trường nông thôn và thành phố.
Nguồn thông tin phổ biến thứ hai là từ các ban ngành đoàn thể, chiếm tỷ lệ 76,7%, tiếp theo là từ nhân viên y tế với 70% Ngoài ra, một số người còn nhận thông tin về sản phẩm, dịch vụ qua đọc sách báo, tờ rơi, áp phích hoặc qua các ban ngành đoàn thể Tuy nhiên, nguồn tin từ nhân viên y tế và các đài phát thanh, truyền hình có tỷ lệ cao hơn so với các phương thức truyền thống như đọc sách báo hay tờ rơi.
Nguồn thông tin từ nhân viên y tế phản ánh hiệu quả công tác truyền thông giáo dục sức khỏe tại địa phương, cho thấy hoạt động này được quan tâm khá tốt và hiệu quả hơn so với phương thức truyền thống qua sách báo Nguyên nhân chính bao gồm nhân lực y tế mạnh, sự đầu tư phù hợp về phương tiện truyền thông, cùng với sự nhiệt huyết của đội ngũ nhân viên y tế Tuy nhiên, còn tồn tại những hạn chế như hoạt động của cộng tác viên chưa đủ mạnh do địa bàn rộng, ảnh hưởng đến việc tuyên truyền đến từng hộ gia đình, và thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa mạng lưới nhân viên y tế cộng đồng, cộng tác viên, với các ban ngành đoàn thể, gây khó khăn trong hoạt động truyền thông Ngoài ra, ý thức của người dân còn hạn chế trong việc tham gia các buổi nói chuyện chuyên đề hay truyền thông lồng ghép, khiến tỷ lệ tiếp cận thông tin từ các hoạt động phát tờ rơi, áp phích thấp, chưa đạt được hiệu quả mong muốn.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 75,5% đối tượng được điều tra biết rằng bệnh sốt xuất huyết (SXH) do virus gây ra, thể hiện mức độ nhận thức khá cao Hơn nữa, 99,7% người tham gia khảo sát biết muỗi là tác nhân truyền bệnh SXHD, cao gần như tương đương với kết quả của nghiên cứu tại Tiền Giang năm 2010 (97,02%) Điều này cho thấy công tác truyền thông và giáo dục sức khỏe trong thời gian qua tại huyện Mang Thít đã tác động tích cực đến ý thức của người dân về bệnh SXH Tuy nhiên, mức độ nhận thức này vẫn còn thấp hơn so với các địa phương khác, cho thấy cần tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác truyền thông để nâng cao ý thức cộng đồng về phòng chống bệnh SXH.
Theo kết quả nghiên cứu, có đến 93,5% đối tượng điều tra nhận biết muỗi vằn là loài muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết (SXHD) Tuy nhiên, vẫn còn 6,5% chưa hiểu đúng về đặc điểm và tác hại của loài muỗi này Kết quả này cho thấy mức độ nhận thức của cộng đồng về nguy cơ mắc bệnh sốt xuất huyết cao hơn so với nghiên cứu của Trương Ngọc Châu tại tỉnh Tiền Giang năm trước Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, nâng cao kiến thức để phòng tránh bệnh hiệu quả hơn.
Năm 2010, tỷ lệ nhận thức của người dân về vectơ truyền bệnh chỉ đạt 54,87%, cho thấy vẫn còn nhiều người chưa thực sự hiểu rõ về đặc tính sinh học của chúng Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả công tác phòng chống sốt xuất huyết, khi mà kiến thức hạn chế khiến việc phòng chống dịch bệnh trở nên khó khăn hơn Để nâng cao hiệu quả phòng chống SXHD, cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò của vectơ truyền bệnh và các biện pháp phòng tránh phù hợp.
Theo khảo sát, 12,8% người cho rằng muỗi vằn truyền bệnh sốt xuất huyết hoạt động chủ yếu vào ban ngày, trong khi 10% cho rằng hoạt động chính vào ban đêm Tuy nhiên, có tới 77,2% người tin rằng muỗi vằn hoạt động cả ngày lẫn đêm, điều này cao hơn nhiều so với kết quả nghiên cứu của Lý Lệ Lan tại quận 5 TP.HCM năm 2004, với tỷ lệ 25,3%.