Microsoft Word FINAL doc BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NGUYỄN THỊ YẾN NHI KHẢO SÁT KIẾN THỨC, HÀNH VI VỀ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ DÂN TỘC KHMER 18[.]
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang
Kết quả nghiên cứu về kiến thức, thái độ, niềm tin và thực hành (KABP) về HIV/STI tại cộng đồng tỉnh Vĩnh Long năm 2008 cho thấy tỷ lệ người có kiến thức đúng về phòng lây nhiễm HIV/AIDS chỉ đạt 28.8%, với mức tin cậy 95% và độ chính xác tuyệt đối 5%.
Chúng tôi chọn công thức tính cỡ mẫu ước lượng cho một tỷ lệ
Trong đó: n: Cỡ mẫu nghiên cứu
Z 1-/2: Hệ số tin cậy ở ngưỡng xác xuất = 0,05
P: tỷ lệ ước tính cỡ mẫu nghiên cứu q = 1-p, do vậy q = 0,712 d : sai lệch giữa tỷ lệ ước tính từ mẫu nghiên cứu so với tỷ lệ thật, chọn d = 0,05
Theo nghiên cứu của tỉnh Vĩnh Long năm 2008, tỷ lệ phần trăm người được hỏi có nhận thức đúng, hành vi đúng là 28,8%
Để đảm bảo độ chính xác của nghiên cứu, chúng tôi đã tính toán cỡ mẫu dựa trên công thức thống kê và thêm phần dự phòng 10% để hạn chế sai số do một số đối tượng vắng mặt hoặc không đồng ý tham gia Cụ thể, cỡ mẫu cần thiết là 346,5, sau khi làm tròn sẽ là 350 mẫu để đảm bảo đủ dữ liệu cho phân tích một cách chính xác và tin cậy.
Trong huyện Trà Ôn, có 4 xã có đông đồng bào dân tộc sinh sống, gồm xã Tân Mỹ, xã Thiện Mỹ, xã Trà Côn và xã Hựu Thành, đã tích cực tham gia nghiên cứu về các chủ đề liên quan đến cộng đồng địa phương.
- Lựa chọn các hộ gia đình tham gia nghiên cứu
Lập danh sách các hộ gia đình có người trong độ tuổi 18 - 49 ở 04 xã nghiên cứu theo thứ tự A,B,C
Chọn số lượng ĐTNC vào mẫu nghiên cứu ở từng xã theo tỷ lệ của đối tượng nghiên cứu ở xã đó
Chọn mẫu hệ thống các cá nhân trong bảng danh sách đã được thiết lập dựa trên số người từ 18-49 tuổi trung bình trong mỗi hộ gia đình tại các xã Có 350 cá nhân sẽ được lựa chọn ngẫu nhiên để tiến hành phỏng vấn, đảm bảo bao gồm tất cả nữ giới và nam giới trong độ tuổi này là thành viên của hộ gia đình, đủ điều kiện tham gia Quá trình tuyển chọn đảm bảo tính đại diện và phù hợp với các tiêu chí đã đề ra nhằm thu thập dữ liệu chính xác và toàn diện.
Chúng tôi chọn mẫu theo phương pháp xác xuất tỷ lệ với kích cỡ dân số theo phương pháp PPS (Probability Proprtionate to Size)
Bảng 2.1 Số lượng ĐTNC được chọn đưa vào nghiên cứu theo từng xã
TT Xã Số lượng ĐTNC Tỷ lệ % Số k
Tổng cộng 5215 100 % Ở từng xã, chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
Xác định số k của từng xã: k =N/n
Trong đó N: số ĐTNC của một xã n: số ĐTNC được chọn cho mẫu
Dựa vào bảng 2.1 chúng tôi tính được 4 xã có số k = 14
Chúng tôi lựa chọn ngẫu nhiên ĐTNC theo thứ tự A, B, C của xã dựa trên quy trình cụ thể Đầu tiên, chọn ĐTNC đầu tiên có số thứ tự nhỏ hơn 14; sau đó, ĐTNC thứ hai được chọn bằng cách cộng 14 vào số thứ tự của ĐTNC đầu tiên, tiếp tục như vậy cho các xã còn lại để đảm bảo đủ số lượng đối tượng nghiên cứu Trong trường hợp ĐTNC rơi vào tiêu chí loại trừ, chúng tôi sẽ thay thế bằng người có số thứ tự liền kề, đảm bảo quá trình chọn mẫu đúng quy định và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
Các cá nhân tham gia nghiên cứu đều là những người sống chung trong cùng một mái nhà Ví dụ, gia đình đã tách riêng hộ cho con cái khi lập gia đình nhưng vẫn sinh sống dưới cùng mái nhà vẫn được bao gồm trong phạm vi điều tra Điều này giúp đảm bảo tính toàn diện và chính xác của dữ liệu nghiên cứu về cấu trúc hộ gia đình.
2.2.4.1 Các đặc điể m dân s ố h ọ c, kinh t ế - văn hóa - xã h ộ i g ồ m 08 câu h ỏ i v ề :
- Tuổi: chúng tôi chia tuổi của ĐTNC theo 4 nhóm: 12 điểm Kiến thức đạt
- Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu [10]
Hành vi là cách ứng xử hàng ngày của cá nhân đối với các sự việc, hiện tượng, ý kiến hoặc quan điểm Hành vi hình thành, phát triển và thay đổi dưới ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái, môi trường, xã hội, văn hóa, kinh tế và chính trị Hiểu rõ về hành vi giúp cải thiện kỹ năng giao tiếp và nâng cao chất lượng cuộc sống trong môi trường đa chiều hiện nay.
Kiến thức đóng vai trò cần thiết và cực kỳ quan trọng trong việc thay đổi hành vi, bởi vì không thể thúc đẩy hành vi tích cực nếu đối tượng không có đủ hiểu biết về tác động tiêu cực của hành vi đó đối với sức khỏe Việc nắm vững kiến thức giúp người dân nhận thức rõ lợi ích của việc thay đổi hành vi, từ đó thúc đẩy họ hành động theo hướng có lợi cho bản thân và cộng đồng Trong quá trình thay đổi hành vi, việc trang bị kiến thức chính là chìa khóa để tạo ra những quyết định đúng đắn và bền vững.
Hành vi trong phòng, chống HIV/AIDS bao gồm các thói quen hàng ngày ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến công tác dự phòng lây nhiễm HIV, chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV Các hành động này đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu rủi ro lây nhiễm và nâng cao hiệu quả các biện pháp phòng chống HIV/AIDS Việc duy trì các thói quen an toàn như sử dụng bao cao su, kiểm tra xét nghiệm định kỳ, và tránh các hành vi nguy cơ là góp phần quan trọng trong chiến lược phòng chống HIV hiệu quả.
2.2.5 Kỹ thuật thu thập thông tin nghiên cứu
2.2.5.1 Thiết kế bộ câu hỏi phỏng vấn
- Bộ câu hỏi điều tra gồm 1 loại: dành cho người dân 18 - 49 tuổi
Bộ câu hỏi dành cho người dân từ 18 đến 49 tuổi gồm 3 phần chính: thông tin chung, hôn nhân và quan hệ tình dục, cùng các câu hỏi về sử dụng ma túy và kiến thức về HIV/AIDS Tổng cộng, nội dung khảo sát gồm 46 câu hỏi, giúp thu thập dữ liệu toàn diện về đời sống, sức khỏe và các yếu tố nguy cơ của người dân trong độ tuổi này Thời gian hoàn thành cuộc phỏng vấn ước tính khoảng 20 phút, đảm bảo sự thuận tiện và hiệu quả trong quá trình thu thập thông tin.
Mỗi bộ câu hỏi nghiên cứu đều bao gồm phần câu hỏi và phần chấp thuận tham gia, đã được thiết kế và chỉnh lý phù hợp với đặc điểm địa phương điều tra Việc này giúp đảm bảo tính chính xác và phù hợp của dữ liệu thu thập, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình khảo sát Điều chỉnh phù hợp với địa phương cũng nâng cao hiệu quả của nghiên cứu và tuân thủ các quy định về đạo đức trong nghiên cứu khoa học.
2.2.5.2 Tuyển chọn các điều tra viên và giám sát viên
- Chọn hai giám sát viên tuyến tỉnh để theo dõi cuộc điều tra tại địa phương
- Chọn điều tra viên là các cán bộ làm việc ở trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Vĩnh Long, Trung tâm Y tế huyện Trà Ôn, trạm Y tế ở 4 xã
- Cán bộ dẫn đường và phiên dịch được tuyển chọn từ các Xã Tân Mỹ,
Xã Hựu Thành, Xã Trà Côn, Xã Thiện Mỹ
2.2.5.3 Tổ chức tập huấn cho giám sát viên và điều tra viên
Chương trình tập huấn diễn ra trong 4 ngày, tập trung giới thiệu mục tiêu của cuộc điều tra và các kỹ năng phỏng vấn cần thiết để thu thập dữ liệu chính xác Người tham gia sẽ được hướng dẫn cách xem xét và thực hành sử dụng bộ câu hỏi trực tiếp trên thực địa, đảm bảo nắm vững phương pháp thu thập số liệu hiệu quả Các hoạt động đào tạo giúp nâng cao kỹ năng thực tiễn của đội ngũ, đáp ứng yêu cầu của cuộc điều tra.
Các điều tra viên sẽ được tập huấn về kỹ năng tuyển chọn người tham gia, kỹ năng phỏng vấn, khả năng thuyết phục và thay đổi quyết định từ chối của đối tượng Ngoài ra, họ còn được đào tạo về các quy trình thực địa nhằm đảm bảo quá trình thu thập dữ liệu hiệu quả và chính xác.
Các điều tra viên được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng tránh các câu hỏi dẫn dắt và trả lời định hướng nhằm thu thập thông tin nhạy cảm về quan hệ tình dục và sử dụng ma túy Họ cũng được hướng dẫn cách trình bày nội dung từng câu hỏi và kỹ thuật hỏi phù hợp trong bộ câu hỏi dành cho nhóm dân số từ 18 đến 49 tuổi.
Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện sau khi đề cương đã được hội đồng xét duyệt và phê duyệt tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ Đối tượng nghiên cứu hoàn toàn có quyền từ chối tham gia vào nghiên cứu để đảm bảo quyền tự do của người tham gia Các thông tin thu thập trong quá trình nghiên cứu sẽ được giữ bí mật tuyệt đối để bảo vệ quyền riêng tư của các đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu này nhằm giúp các cơ quan y tế đề xuất các giải pháp phòng, chống HIV/AIDS hiệu quả trong cộng đồng Các kết quả sẽ góp phần giảm tỷ lệ nhiễm HIV tại địa phương và giảm gánh nặng kinh tế liên quan đến dịch bệnh Việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa dựa trên nghiên cứu sẽ nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng, chống HIV/AIDS, đồng thời xây dựng các chiến lược phù hợp để kiểm soát dịch bệnh hiệu quả.
Thông tin thu thập được nhằm mục đích phục vụ nghiên cứu và định hướng xây dựng kế hoạch phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS tại địa phương Việc này không gây ảnh hưởng tiêu cực đến đối tượng nghiên cứu, đảm bảo bảo mật và an toàn trong quá trình thu thập dữ liệu Các dữ liệu này sẽ được sử dụng để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống HIV/AIDS, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Kết quả nghiên cứu
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm n Tỷ lệ (%)
Mức sống Khá giả, giàu 172 49,1
Nhóm tuổi ĐTNC từ 20-29 chiếm tỷ lệ 30,9%, trong khi nhóm 30-39 tuổi chiếm 37,7% và nhóm 40-49 tuổi chiếm 28,9%, cho thấy đặc điểm độ tuổi của đối tượng khá đa dạng Đối tượng nữ chiếm tỷ lệ 57,1%, cao hơn so với nam giới, với tỷ lệ nam giới là 42,9%, phản ánh sự chênh lệch giới tính trong nhóm tuổi này Trong các nghề nghiệp, làm ruộng, làm rẫy, làm vườn chiếm tỷ lệ cao nhất với 71,4%, tiếp theo là nghề tự do 8,9%, buôn bán 7,1%, và các nghề khác chiếm 6,6%, thể hiện phần lớn ĐTNC làm nông nghiệp và hoạt động tự do Về trình độ học vấn, tỷ lệ ĐTNC có trình độ trung học cơ sở chiếm 43,4%, tiểu học 35,7%, trung học phổ thông 13,1%, mù chữ 6,6%, và cao đẳng, đại học chỉ chiếm 1,1%, cho thấy phần lớn chưa có bằng cấp cao Về tình hình kinh tế, có 50,9% ĐTNC có hoàn cảnh khá giả, giàu, trong khi đó, 49,1% còn khó khăn, thể hiện sự phân hóa rõ ràng về điều kiện kinh tế trong nhóm đối tượng này.
2,0% Đạo phật Thờ ông, bà tổ tiên
Biểu đồ 3.1 Phân bố ĐTNC theo tôn giáo
Kết quả đạo Phật chiếm tỷ lệ 98%, thờ ông, bà tổ tiên chiếm tỷ lệ 2,0%
Biểu đồ 3.2 Khả năng nói, viết và đọc tiếng dân tộc
Theo kết quả khảo sát, tỷ lệ người dân tộc thành thạo tiếng dân tộc đạt 99,7%, trong đó có 11,1% biết đọc thành thạo và 12,0% biết viết thành thạo tiếng dân tộc.
Biểu đồ 3.3 Khả năng nói, viết và đọc tiếng phổ thông
Theo nghiên cứu, đại đa số cộng đồng dân cư dân tộc Khmer đều có khả năng đọc và viết tiếng Kinh thành thạo, lần lượt đạt tỷ lệ 55,4% và 55,1% Đặc biệt, khả năng sử dụng tiếng phổ thông của họ rất vượt trội, với tỷ lệ thành thạo lên tới 99,7% Đây cho thấy sự phát triển về kỹ năng ngôn ngữ tiếng Việt của cộng đồng dân tộc Khmer, góp phần nâng cao trình độ học vấn và hội nhập xã hội.
Hiểu biết kiến thức, hành vi về phòng lây nhiễm HIV/AIDS
3.2.1 Hiểu biết về các kênh truyền thông đại chúng của ĐTNC
Hàng ngày Ít hơn 1 lần trong tuần Ít nhất 1 lần trong tuần
Biểu đồ 3.4 cho thấy tỷ lệ người dân địa phương tiếp cận với báo và tạp chí là 53,1%, trong đó 36,9% đồng bào dân tộc đọc ít nhất một lần trong tuần Các tỷ lệ còn lại gồm 18,0% không đọc báo hay tạp chí trong tuần và chỉ có 2,0% người đọc hàng ngày, phản ánh mức độ tiếp cận thông tin qua các phương tiện truyền thông còn hạn chế trong cộng đồng này.
Hàng ngày Ít hơn 1 lần trong tuần Ít nhất 1 lần trong tuần
Theo biểu đồ 3.5, tỷ lệ người dân tiếp cận với Đài phát thanh ĐTNC ít nhất 1 lần trong tuần đạt 52,3%, trong khi đó có 25,7% nghe đài ít hơn 1 lần trong tuần Có khoảng 10,9% nghe đài hàng ngày, còn 11,1% không nghe đài chút nào.
Hàng ngày Ít hơn 1 lần trong tuần Ít nhất 1 lần trong tuần
Biểu đồ 3.6 Tiếp cận qua xem ti vi
Theo kết quả nghiên cứu, có đến 49,7% đối tượng xem truyền hình hàng ngày, cho thấy mức độ phổ biến của thói quen này Trong khi đó, 37,7% xem truyền hình ít hơn một lần trong tuần, còn 12,3% xem ít nhất một lần trong tuần Một tỷ lệ nhỏ hơn, 3,0%, không nghe hoặc xem truyền hình trong thời gian khảo sát.
3.2.2 Hiểu biết kiến thức về phòng lây nhiễm HIV/AIDS của ĐTNC
Kiến thức chung (đúng) Kiến thức chung (sai)
Biểu đồ 3.7 cho thấy kiến thức chung về HIV/AIDS của ĐTNC đạt tỷ lệ đúng là 60%, trong khi tỷ lệ kiến thức sai chiếm 40% Điều này cho thấy còn nhiều hạn chế trong nhận thức về HIV/AIDS, cần tăng cường công tác giáo dục để nâng cao kiến thức cho ĐTNC.
Có nghe nói về HIV/AIDS
Không nghe nói về HIV/AIDS
Biểu đồ 3.8 Nghe nói về HIV/AIDS của ĐTNC
Kết quả ĐTNC đã từng nghe nói về HIV/AIDS chiếm tỷ lệ 98,0%, không nghe nói về HIV/AIDS chiếm tỷ lệ 2,0%
Có KT hiểu biết về thuốc ARV
Không có KT về thuốc ARV
Biểu đồ 3.9 Hiểu biết về thuốc điều trị HIV (thuốc ARV)
Kết quả ĐTNC có hiểu biết và không hiểu biết về thuốc thuốc ARV tại Vĩnh Long là 87,7% và 12,3%
Có kiến thức về thuốc DPLTMC
Không có kiến thức về thuốc DPLTMC
Biểu đồ 3.10 Hiểu biết về thuốc điều trị DPLTMC
Kết quả ĐTNC có hiểu biết và không hiểu biết về thuốc DPLTMC tại Vĩnh Long là 89,7% và 10,3%
Bảng 3.2 Hiểu biết về đường lây truyền HIV/AIDS Đúng Sai
Hiểu biết về đường lây truyền
HIV/AIDS n % n % Đường máu 311 88,9 39 11,1 Đường tình dục 280 80,0 70 20,0 Đường mẹ truyền sang con 153 43,7 197 56,3
Trả lời đúng cả 3 đường 140 40,0 210 60,0
Hầu hết các ĐTNC đều nhận biết ba đường lây truyền HIV chính, bao gồm qua đường máu (không an toàn trong truyền máu), đường tình dục (88,7%) và từ mẹ sang con (43,7%) Tuy nhiên, tỷ lệ ĐTNC trả lời chính xác đầy đủ về cả ba đường lây truyền HIV/AIDS vẫn còn thấp, chỉ đạt 40,0%, cho thấy cần tăng cường công tác truyền thông nâng cao nhận thức về phòng ngừa lây nhiễm HIV.
Bảng 3.3 Hiểu biết về đường không lây truyền Đúng Sai
Hiểu biết về đường không lây truyền HIV/AIDS n % n %
Không lây qua muỗi đốt 153 43,7 197 56,3
Không lây qua ăn uống chung 96 27,4 254 72,6 Không dùng chung nhà vệ sinh 181 51,7 169 48,3 Không tiếp xúc với người mắc
Một bộ phận lớn người tham gia nghiên cứu vẫn có nhận thức sai lệch về cách lây truyền HIV, trong đó 72,6% nghĩ rằng HIV lây qua ăn uống chung với người nhiễm, 56,3% hiểu lầm về khả năng lây qua muỗi đốt, và cũng có những người cho rằng HIV lây khi tiếp xúc gần với người mắc AIDS (56,3%) hoặc khi dùng chung nhà vệ sinh (48,3%) Việc nâng cao kiến thức đúng về cách lây truyền HIV là cần thiết để giảm thiểu các hiểu lầm, góp phần phòng chống bệnh hiệu quả hơn.
Bảng 3.4 Hiểu biết về các biện pháp phòng lây nhiễm HIV/AIDS Đúng Sai
Hiểu biết về đường lây truyền
Có ít bạn tình hơn 83 23,7 267 76,3
Chung thủy một bạn tình 226 64,6 124 35.4
Kết quả ĐTNC cho thấy, có đến 64,6% người hiểu biết về chung thủy một bạn tình, trong khi tỷ lệ sử dụng bao cao su đạt 59,4% Ngoài ra, 56,0% người không quan hệ bừa bãi và 23,7% có số bạn tình ít hơn Đặc biệt, tỷ lệ không dùng chung bơm kim tiêm chiếm 8,9%, thể hiện awareness về phòng tránh các nguy cơ lây nhiễm qua đường tiêm chích.
3.2.3 Hành vi về phòng, lây nhiễm HIV/AIDS
Bảng 3.5 Tình trạng hôn nhân và người sống chung
Tình tr ạ ng hôn nhân n Tỷ lệ %
Thông tin t ừ đối tượ ng nghiên c ứ u (n50) Độc thân 4 1,4
Hiện đang có chồng/ vợ 234 81,0
Sống chung không kết hôn 17 5,9
Sống chung cùng với gia đình 311 88,9
Không sống cố định (lang thang) 2 6,0
Trong nghiên cứu, có đến 81,0% đối tượng đang có vợ hoặc chồng (đã kết hôn), trong khi 5,9% đang sống chung như vợ chồng Tỷ lệ những người ly dị hoặc ly thân là 8,0%, còn tỷ lệ người góa là 3,8% Đối tượng nghiên cứu thường sống cùng gia đình với tỷ lệ lên đến 88,9%, trong khi sống một mình chiếm 8,6%, sống lang thang là 6,0%, và sống cùng bạn bè chiếm 2,0%.
Bảng 3.6 Về quan hệ tình dục của đối tượng nghiên cứu
Kết quả điều tra n Tỷ lệ % Đã từng quan hệ tình dục 289 82.6
Kết quả biểu đồ 3.6 cho thấy nhóm đối tượng nghiên cứu hầu hết các đối tượng đã có QHTD 82,6%, tỷ lệ chưa quan hệ tình dục 17,4%
Bảng 3.7 Trung bình và trung vị tuổi quan hệ tình dục lần đầu Đặc trưng n
Trung bình tuổi quan hệ tình dục lần đầu 21,14
Trung vị tuổi quan hệ tình dục lần đầu 21
Việc bắt đầu quan hệ tình dục lần đầu càng sớm kéo dài thời gian đối diện với nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục Thông tin về tuổi QHTD lần đầu được thu thập qua khảo sát các nam giới và nữ giới trong nhóm tuổi 18-49 tại Vĩnh Long Kết quả cho thấy, trung bình tuổi QHTD lần đầu của người dân tộc trong khu vực này là 21 tuổi, cho thấy đây là mốc tuổi quan trọng liên quan đến sức khỏe sinh sản và nguy cơ lây nhiễm bệnh.
32,2% Đã từng sử dụng BCS Chưa từng sử dụng BCS
Biểu đồ 3.11 cho thấy tỷ lệ sử dụng bao cao su của ĐTNC trong các mối quan hệ tình dục khá thấp, với 66,8% đối tượng không sử dụng bao cao su Tuy nhiên, chỉ có 33,2% người thực sự sử dụng bao cao su khi quan hệ với vợ, chồng, người yêu hoặc bạn tình Điều này cho thấy mức độ nhận thức về an toàn tình dục còn hạn chế, cần tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục về việc sử dụng bao cao su để phòng tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và tránh mang thai ngoài ý muốn.
Bảng 3.8 Nguồn thông tin nhận được về bao cao su
Phòng kế hoạch hóa gia đình 28 31,1 62 68,9 Cộng tác viên/đồng đẳng viên 62 68,9 28 31,1
Theo khảo sát, đa số ĐTNC (73,3%) nhận nguồn thông tin về Bác sĩ chuyên khoa từ các cơ sở khác như nhà thuốc tây, trong khi 68,9% lấy từ các cơ sở y tế như bệnh viện, trung tâm y tế, trạm y tế Ngoài ra, 50,0% phản hồi rằng họ tiếp cận thông tin thông qua các phòng Kế hoạch hóa gia đình, cộng tác viên, và Đội Dân vận chiếm tỷ lệ 31,1%.
Bảng 3.9 Tư vấn xét nghiệm tự nguyện
Tư vấn xét nghiệm tự nguyện Đã làm XN 7 2,0
Tổng cộng 350 100 Đã làm xét nghiệm
Kết quả 98% ĐTNC chưa đến các cơ sở xét nghiệm tự nguyện làm xét nghiệm và 2,0% ĐTNC đã đến làm xét nghiệm HIV/AIDS
Kết quả cho thấy 2,0% ĐTNC đã tự nguyện đến làm xét nghiệm HIV, trong đó 98% không có nhu cầu làm xét nghiệm Điều này cho thấy việc nâng cao nhận thức về tình trạng nhiễm HIV giúp cá nhân có thể chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm HIV hiệu quả Việc hiểu rõ về tình trạng nhiễm HIV là yếu tố quan trọng để thúc đẩy thói quen kiểm tra sức khỏe định kỳ và phòng ngừa lây nhiễm trong cộng đồng.
Có hiểu biết về xét nghiệm HIV Không hiểu biết về xét nghiệm HIV
Biểu đồ 3.12 Hiểu biết về kết quả xét nghiệm HIV của ĐTNC
Kết quả đối tượng nghiên cứu có hiểu biết về kết quả xét nghiêm HIV gồm có kiến thức và không có kiến thức lần lượt là 71,4 % và 28,6%
Bảng 3.10 Cung cấp thông tin về tư vấn xét nghiệm tự nguyện
Trao đổi về nguy cơ nhiễm HIV 5 71,4 2 28,6 Ý nghĩa của kết quả XN 4 57,1 3 42,9
Nên làm gì khi biết kết quả XN 2 28,6 5 71,4
Kết quả ĐTNC khi đến phòng TVNTN có 71,4% được trao đổi về nguy cơ nhiễm HIV và trao đổi về các vấn đề xoay quanh phòng lây nhiễm HIV
Bảng 3.11 ĐTNC tự đánh giá hành vi nguy cơ
Kết quả 1,4% ĐTNC tự cho mình có hành vi nguy cơ, 98,6% không có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS.
Tiếp cận các nguồn thông tin về phòng lây nhiễm HIV/AIDS
Bảng 3.12 Tiếp cận các nguồn thông tin về phòng, chống nhiễm HIV/AIDS
Tiếp cận cá thông tin về tuyên truyền HIV/AIDS n % n %
Thông tin về HIV/AID 329 94,0 21 6,0
Thông tin về viêm gan 47 13,4 303 86,6
Thông tin về tiêm chủng an toàn chiếm ưu thế với 59% tổng số người được khảo sát, trong đó 16,9% phản hồi phù hợp Về vấn đề tình dục an toàn, có tới 97 người (27,7%) quan tâm, cho thấy rõ tầm quan trọng của giáo dục giới tính trong cộng đồng Thông tin về cai nghiện ma túy cũng có tỷ lệ cao với 92% người tham gia đã nhận được kiến thức cần thiết, phản ánh nỗ lực nâng cao nhận thức về phòng chống ma túy Ngoài ra, 86,3% người tỏ ra quan tâm đến giáo dục giới tính để phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục, trong khi đó, chỉ 6,6% quan tâm đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD), cho thấy các chiến dịch nâng cao kiến thức về bệnh lý này cần được chú trọng hơn.
Khoảng 94% người dân đã nhận được thông tin tuyên truyền về phòng chống HIV/AIDS, cho thấy hiệu quả trong công tác truyền thông về vấn đề này Ngoài ra, người dân còn tiếp cận các nguồn thông tin về viêm gan (13,4%), tiêm chích an toàn (16,9%), tình dục an toàn (27,7%), cai nghiện ma túy (8,0%), giáo dục giới tính (13,7%) và các bệnh lây truyền qua đường tình dục (6,6%) Những kết quả này phản ánh mức độ phổ biến và đa dạng của các hoạt động tuyên truyền về sức khỏe cộng đồng.
Bảng 3.13 Thông tin tiếp nhận sự hỗ trợ về phòng, chống HIV/AIDS
Thông tin tiếp nhận thông tin sự hỗ trợ về phòng, chống HIV/AIDS n % n %
Thăm hỏi của của các cơ quan đoàn thể tới gia đình người nhiễm
Kết quả ĐTNC cho thấy rằng nhận được bao cao su chiếm tỷ lệ 28,6%, phản ánh hiệu quả trong việc thúc đẩy sử dụng phương tiện bảo vệ Khám chữa các bệnh lây truyền qua đường tình dục chiếm tỷ lệ 9,1%, cho thấy công tác chăm sóc sức khỏe tình dục đang được ưu tiên Thông tin về thuốc điều trị HIV và xét nghiệm HIV cùng chiếm tỷ lệ 2,9%, thể hiện sự quan tâm đến việc phòng ngừa và điều trị HIV/AIDS Nhận được bơm kim tiêm chiếm tỷ lệ 2,0%, góp phần vào hoạt động phòng chống lây nhiễm qua đường tiêm chích Cuối cùng, sự thăm hỏi của các cơ quan đoàn thể chiếm tỷ lệ rất thấp là 0,3%, cho thấy còn nhiều hạn chế trong việc chăm sóc hậu phương xã hội.
Bảng 3.14 Tiếp cận với các nguồn thông tin phòng, chống HIV/AIDS
Tiếp cận các nguồn thông tin về tuyên truyền HIV/AIDS n % n %
Loa truyền thanh địa phương 87 24,9 263 75,1
Cuộc hợp của các Hội nông dân, PN 68 19,4 282 80,6
Trường học, thầy cô giáo 22 6,3 328 93,7
Bạn bè, người thân, hàng xóm 73 20,9 277 79,1
Kết quả khảo sát cho thấy, phần lớn ĐTNC biết về HIV/AIDS thông qua truyền hình, chiếm tỷ lệ 82,3% Ngoài ra, các nguồn thông tin khác như cán bộ y tế đạt tỷ lệ 51,1%, đài radio 35,1%, tờ rơi, tờ bướm 31,7%, loa truyền thanh địa phương 24,9%, và qua bạn bè, người thân, hàng xóm là 20,9% Các cuộc họp của Hội nông dân, phụ nữ cũng là nguồn nhận thức đáng kể, chiếm tỷ lệ 19,4%, thể hiện sự đa dạng trong các phương tiện tiếp cận kiến thức về HIV/AIDS của cộng đồng.
3.4 LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC VÀ HÀNH VI PHÒNG LÂY NHIỄM HIV/AIDS CỦA ĐTNC
Bảng 3.15 Mối liên quan về tuổi của các đối tượng nghiên cứu và kiến thức
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm ĐTNC có kiến thức đúng đạt tỷ lệ cao nhất ở nhóm tuổi 20-29 với 70,4%, tiếp theo là nhóm tuổi 30-39 với 62,9%, và thấp nhất là nhóm 40-49 tuổi với 47,5% Đặc biệt, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p0,05).
Bảng 3.17 Mối liên quan nghề nghiệp các ĐTNC và kiến thức HIV/AIDS
Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối tượng có nghề nghiệp buôn bán, công nhân, đang đi học có kiến thức đúng về HIV, tương tự như nhóm nông dân có kiến thức đúng về HIV Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm này với giá trị p>0,05, cho thấy kiến thức về HIV không phụ thuộc vào nghề nghiệp trong mẫu nghiên cứu.
Bảng 3.18 Liên quan trình độ học vấn các ĐTNC và kiến thức HIV/AIDS
Trung học phổ thông trở lên 40 (80,0%) 10 (20,0%)
Kết quả cho thấy những người có kiến thức từ Trung học cơ sở trở lên về HIV đều hiểu đúng các vấn đề liên quan, trong khi những người có kiến thức ở mức tiểu học hoặc mù chữ chỉ hiểu đúng một phần về HIV Sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê rất đáng kể (p