BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC CẦN THƠ ĐỖ THỊ HÀ TRÂM KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SINH CON THỨ BA TRỞ LÊN TẠI QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN[.]
Trang 1ĐỖ THỊ HÀ TRÂM
KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN
SINH CON THỨ BA TRỞ LÊN TẠI QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
NĂM 2013
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
CẦN THƠ – 2014
Trang 2ĐỖ THỊ HÀ TRÂM
KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN
SINH CON THỨ BA TRỞ LÊN TẠI QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
NĂM 2013
Người hướng dẫn khoa học Ths.Bs Dương Phúc Lam
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
CẦN THƠ – 2014
Trang 3Trong bốn năm học tập và quá trình nghiên cứu làm luận văn, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và truyền đạt kiến thức của quý Thầy, Cô giảng viên trường Đại học Y dược Cần Thơ
Trước hết tôi xin trân trọng cám ơn:
- Ban giám hiệu trường Đại học Y dược Cần Thơ
- Trạm y tế các phường thuộc quận Cái Răng: phường Hưng Phú,
phường Hưng Thạnh, phường Ba Láng
- Khoa Y tế công cộng, trường Đại học Y dược Cần Thơ
- Thư viện trường Đại học Y dược Cần Thơ
Và các bộ môn, khoa phòng liên quan của trường Đại học Y dược Cần Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Th.S Dương Phúc Lam, người thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cám ơn:
Trạm y tế các phường thuộc quận Cái Răng: phường Hưng Phú, phường Hưng Thạnh, phường Ba Láng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, thu thập thông tin số liệu để hoàn thành luận văn
Xin dành những tình cảm sâu sắc đến những người thân trong gia đình
đã cho tôi những tình yêu thương, nguồn động viên và khích lệ tôi trong suốt bốn năm học tập và hoàn thành luận văn này
Đỗ Thị Hà Trâm
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa có ai công bố trong công trình nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đỗ Thị Hà Trâm
Trang 5UBDS,GĐ&TE: Ủy ban Dân số, Gia đình & Trẻ em
Trang 6Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm địa lý- kinh tế- xã hội quận Cái Răng- TP Cần Thơ 3
1.2 Tình hình dân số và KHHGĐ 4
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá công tác dân số- KHHGĐ 14
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Thời gian nghiên cứu 19
2.3 Phương pháp nghiên cứu 19
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 29
3.2 Tình hình sinh con thứ 3 trở lên 30
3.3 Tình hình thực hiện các BPTT 36
3.4 Các yếu tố liên quan đến sinh con thứ 3 trở lên 37
Chương 4: BÀN LUẬN 44
4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 44
4.2 Tình hình sinh con thứ 3 trở lên 45
4.3 Các yếu tố liên quan đến sinh con thứ 3 trở lên 49
KẾT LUẬN 58
KIẾN NGHỊ 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng Tên bảng Trang
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 29
3.2 Phân bố các lý do sinh con thứ 3 trở lên 32
3.3 Phân bố tỷ lệ có con thứ 3 trở lên theo lý do muốn nhiều con 32
3.4 Phân bố tỷ lệ có con thứ 3 trở lên do vỡ kế hoạch theo BPTT 33
3.5 Phân bố nguyện vọng sinh con của đối tượng nghiên cứu 33
3.6 Phân bố tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên theo nguyện vọng sinh con 34
3.7 Phân bố số con mong muốn của đối tượng nghiên cứu 34
3.8 Phân bố tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo số con mong muốn 35
3.9 Phân bố tâm lý phải có con trai của đối tượng nghiên cứu 35
3.10 Phân bố tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo tâm lý phải có con trai 35
3.11 Phân bố sự hiểu biết về từng BPTT 36
3.12 Phân bố sự sử dụng các BPTT hiện đại 37
3.13 Phân bố tỷ lệ có con thứ 3 trở lên theo nhóm tuổi của bà mẹ 37
3.14 Phân bố tỷ lệ có con thứ 3 trở lên theo nhóm tuổi kết hôn 38
3.15 Phân bố tỷ lệ có con thứ 3 trở lên theo học vấn 38
3.16 Phân bố tỷ lệ có con thứ 3 trở lên theo nghề nghiệp 39
3.17 Phân bố tỷ lệ có con thứ 3 trở lên theo học vấn của chồng 39
3.18 Phân bố tỷ lệ có con thứ 3 trở lên theo nghề nghiệp chồng 40
3.19 Phân bố tỷ lệ có con thứ 3 trở lên theo tôn giáo 40
3.20 Phân bố tỷ lệ có con thứ 3 trở lên theo các thế hệ 41
3.21 Phân bố liên quan kinh tế gia đình với sinh con thứ 3 trở lên 41
3.22 Liên quan giữa kiến thức BPTT hiên đại với sinh con thứ 3 trở lên 42
3.23 Liên quan giữa thái độ sử dụng BPTT với sinh con thứ 3 trở lên 42
3.24 Liên quan giữa hành vi tránh thai với sinh con thứ 3 trở lên 43
Trang 8Biểu đồ Tên biểu đồ Trang
3.1 Phân bố tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 29
3.2 Phân bố số con của đối tượng nghiên cứu 30
3.3 Phân bố đặc điểm của việc sinh con thứ 3 trở lên 31
3.4 Phân bố lý do không thích sử dụng BPTT liên tục 36
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ:
Hoạt động sản xuất ra của cải vật chất là nhân tố quyết định sự tồn tại
và phát triển của xã hội loài người [5] Trong đó con người là nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Mặt khác, con người lại gắn với tình hình biến đổi dân số cho nên việc đảm bảo dân số ổn định là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước, cải thiện chất lượng cuộc sống của mỗi con người, của gia đình và của cộng đồng, góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng dân số để có cuộc sống ấm no, hanh phúc [9] Đây là yêu cầu đặt ra đối với các dân tộc và các quốc gia trên toàn thế giới
Việt Nam là một nước sớm nhận thức được nguy cơ của vấn đề gia tăng dân số quá nhanh và đã bắt đầu thực hiện chương trình Kế hoạch hóa gia đình từ khi có Quyết định số 216/CP ngày 26/12/1961 của Chính phủ về việc sinh đẻ có hướng dẫn cho nhân dân, “khuyến khích việc điều hòa sinh đẻ” [1] Đến nay chính sách Dân số- Kế hoạch hóa gia đình ngày càng hoàn thiện, nhất là khi triển khai thực hiện Nghị quyết TW 4- khóa VII của Đảng: “Công tác Dân số- Kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế- xã hội hàng đầu của nước ta, một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội” [2] Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách Dân số- Kế hoạch hóa gia đình là vấn đề rất quan trọng, nhạy cảm, thích ứng theo từng thời kỳ với những văn bản chỉ đạo thích hợp
Theo báo cáo của ngành Dân số- Kế hoạch hóa gia đình tại hội thảo các chuyên đề Dân số - Kế hoạch hoá gia đình năm 2012 của Tổng cục Dân số-
Kế hoạch hóa gia đình, số trẻ sinh ra trong 5 tháng đầu năm 2012 tăng 13,5% Trong khi đó, việc thực hiện các biện pháp tránh thai lại giảm đi so với cùng
Trang 10kỳ năm ngoái: số đặt vòng tránh thai giảm 5,8%; số triệt sản giảm 6% Tỉ số giới tính khi sinh tăng từ 111,9% lên 113% chỉ sau 5 tháng [24] Tuy nhiên, trong 5 tháng đầu năm 2012, số trẻ sinh ra là con thứ ba trở lên là 19,2%, tăng
so với cùng kỳ năm 2011 là [8] Nhận xét rằng, tình hình sinh con thứ 3 trở lên ở những năm gần đây chưa thật sự ổn định Chính vì vậy, số liệu liên quan đến tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên hàng năm là mối quan tâm lớn của các
cơ quan truyền thông dân số và kế hoạch hóa gia đình [4]
Trong 10 năm thực hiện Pháp lệnh Dân số, Thành ủy, Hội đồng nhân dân Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm thực hiện có hiệu quả Pháp lệnh Dân số Tỷ suất sinh thô năm 2012 là 13,9%o [22] Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên năm 2012 tính đến thời gian ngày 1/4/2012 là 8,24% tăng so với cùng kỳ năm 2011 là 7,9%, [34], [30] Tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng biện pháp tránh thai hiện đại năm 2012 là 84,04% [22] Số con trung bình của phụ nữ là 1,58 con năm 2012 [22] Tốc độ gia tăng dân số về cơ bản đã được kiểm soát và khống chế tuy nhiên cũng cần những giải pháp để thực hiện có hiệu quả lâu dài, ổn định về chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình [22] Vả lại, nhận xét được rằng, xu hướng giảm tỷ lệ sinh con thứ ba của phụ nữ đã góp phần quan trọng vào việc giảm tỷ lệ sinh con thứ ba của cả nước, tạo cơ hội ổn định dân số, giảm bớt gánh nặng phụ thuộc trẻ, tạo thời cơ thuận lợi cho Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế bền vững và chất lượng
Xuất phát từ những đặc điểm trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Khảo sát một số yếu tố liên quan đến sinh con thứ ba trở lên tại Quận Cái Răng Thành phố Cần Thơ năm 2013” với hai mục tiêu cụ thể như sau:
1 Xác định tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên của phụ nữ trong độ tuổi sinh
đẻ có chồng tại Quận Cái Răng- TP Cần Thơ
2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm địa lý- kinh tế- văn hóa- xã hội quận Cái Răng- TP Cần Thơ
Quận Cái Răng là một đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Cần Thơ, được thành lập theo Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 2 tháng 1 năm
2004 của Chính phủ, gồm 7 đơn vị hành chính cấp phường: Lê Bình, Ba Láng, Thường Thạnh, Hưng Phú, Hưng Thạnh, Tân Phú và Phú Thứ [11]
Quận Cái Răng là đơn vị "Cửa ngõ" của thành phố Cần Thơ, vị trí và tầm vóc của quận Cái Răng đã được xác định là vùng phát triển kinh tế trọng điểm của thành phố Cần Thơ trong tương lai Nên ngay đầu năm mới thành lập quận Cái Răng đã tập trung phát huy nội lực; nêu cao ý chí tự lực tự cường; tư duy sáng tạo, đầu tư đúng mức cho xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế, chủ động giải quyết các vấn đề xã hội Đặc biệt vai trò lãnh đạo nhất quán là yếu tố "khơi nguồn" động lực để Cái Răng vươn lên hoàn thành sớm các chỉ tiêu kinh tế xã hội [11]
Quận ở phía Đông Nam của thành phố Cần Thơ; Bắc giáp quận Ninh Kiều, ranh giới là sông Cần Thơ; Nam giáp huyện Châu Thành của tỉnh Hậu Giang; Tây giáp huyện Phong Điền và một phần của huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang; Đông giáp sông Hậu, ngăn cách với tỉnh Vĩnh Long [11], [10].Quận cách thành phố Cần Thơ 5km về phía Nam, có quốc lộ đi qua, với diện tích tự nhiên 6.253,43 ha [10], dân số là 77.918 người với 22.728 hộ dân [11] Thu nhập bình quân đầu người (theo giá hiện hành) đạt 42 triệu đồng/người/năm [3] Ngoài ra quận Cái Răng còn có các khu công nghiệp Hưng Phú I, II, khu dân cư mới Nam sông Cần Thơ, khu chế biến dầu thực vật Cái Lân, Cảng biển Cái Cui và nơi đây có cầu Cần Thơ đi qua, mở ra một
Trang 12vùng kinh tế đầy năng động, được sự quan tâm của lãnh đạo Thành uỷ, UBND, các sở, ban ngành thành phố, các phường và đặc biệt là nhân dân trong toàn quận, có truyền thống cách mạng lâu đời, cần cù trong lao động và sản xuất, thông minh sáng tạo, tiềm năng kinh tế rất dồi dào đó chính là những nhân tố tích cực đẩy nhanh tiến trình CNH-HĐH, tạo thêm tiền đề cho quận Cái Răng vững bước tiến lên [11]
Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, công tác bảo đảm an sinh xã hội được quan tâm đúng mức, gia đình chính sách, hộ nghèo, cận nghèo có hoàn cảnh khó khăn cơ bản được giải quyết về nhà ở; giải quyết việc làm đạt kế họach đề ra (giải quyết việc làm 5.000 lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề 43%, giảm 1% tỷ lệ hộ nghèo) Công tác chăm sóc sức khỏe đảm bảo chất lượng khám và điều trị; xây dựng bệnh viện đa khoa quận Cái Răng đạt 50 giường, 7/7 trạm y tế đạt 10 tiêu chuẩn quốc gia về y tế; vận
động các gia đình trong toàn quận không sinh con thứ ba [12]
1.2 Tình hình thực hiện kế hoạch hóa gia đình trên thế giới và trong nước:
1.2.1 Tình hình Dân số- Kế hoạch hóa gia đình trên thế giới và khu vực:
Theo báo cáo của Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA), tính đến cuối thế kỷ XX, dân số thế giới đã vượt qua ngưỡng 6 tỉ người, đạt 6,616 tỉ người vào năm 2007 Tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm trên thế giới là 1,2%, giảm 0,8% so với những năm thập kỷ 60 của thế kỷ XX Chỉ trong vòng 12 năm (1987- 1999), thế giới đã tăng thêm 1 tỉ người, là giai đoạn ngắn nhất trong lịch sử loài người để có thêm 1 tỉ và 1 tỉ tiếp theo sẽ đạt được sau 13 năm Theo dự báo, dân số thế giới sẽ tăng thêm 2,6 tỉ trong vòng 45 năm tới, tức đến năm 2050 dân số thế giới sẽ đạt 9,1 tỉ người và sẽ ổn định ở quy mô này [38]
Trang 13Theo thống kê của Liên hiệp quốc, trong giai đoạn 2000- 2005 hằng năm dân số thế giới tăng thêm khoảng 76 triệu người, trong đó 6 nước có số dân tăng thêm chiếm 45% là Ấn Độ (số dân tăng thêm chiếm 22%), Trung Quốc (11%), Pa-ki-xtan, Ni-gie-ri-a, Mỹ, Băng-la-đét (mỗi nước tăng 4%) Ngoài ra, 16 nước khác có dân số tăng thêm chiếm 25% Trong đó, In-đo-nê-xi-a (số dân tăng hàng năm 2,7 triệu), Băng-la-đét (2,6 triệu), Braxin (2,5 triệu), Ê-ti-ô-pi-a (1,8 triệu), Cộng hòa Công-gô (1,5 triệu), Philipin (1,5 triệu), Mê-hi-cô (1,4 triệu), Ai cập (1,3 triệu), Áp-ga-ni-xtan (1,2 triệu), Việt Nam (1,1 triệu), Thổ Nhĩ Kỳ (1 triệu), U-gan-đa (0,9 triệu), I-rắc (0,7 triệu), Kê-ni-a (0,7 triệu) Trong khi nhiều nước, đặc biệt là Châu Phi và Châu Á tiếp tục gia tăng trong 2 thập niên tới [38]
Hiện nay, dân số thế giới tăng lên 7,06 tỷ người vào giữa năm 2012 sau khi vượt mốc 7 tỷ vào năm 2011[13], [31], vấn đề ưu tiên lựa chọn là KHHGĐ ở các nước đang phát triển, giảm mức sinh là yếu tố quyết định hàng đầu của việc thực hiện công tác dân số mà TFR là mục tiêu chủ yếu của chính sách dân số Mặc dù, TFR giảm dần nhưng sự tăng lên hàng năm đối với dân
số của các nước đang phát triển còn lớn [36]
Tại Châu Á, với tổng dân số hiện tại 4,3 tỷ người và sẽ tăng thêm 1 tỷ vào năm 2050 Gia tăng dân số tương lai của châu Á chủ yếu tùy thuộc vào những diễn biến ở Trung Quốc và Ấn Độ, hai nước chiếm tới 60% tổng dân
số của toàn châu lục Tại Ấn Độ, các xu hướng sinh tại các bang đông dân nhất ở miền bắc chưa rõ ràng TFR ở các bang này là 3,5, cao hơn các bang miền nam TFR của châu Á hiện này 2,2 (là 2,5 nếu không tính Trung Quốc) 47% phụ nữ châu Á không sử dụng phương tiện tránh thai hiện đại (không tính Trung Quốc) Một số nước phát triển như Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan có TFR là 1,4 hoặc thấp hơn Ở Nhật, 24% dân số từ 65
Trang 14tuổi trở lên, con số này chắc chắn sẽ tăng Cho đến nay các nỗ lực của chính phủ Nhật nhằm nâng cao mức sinh đều không thành công [15]
1.2.2 Tình hình Dân số- Kế hoạch hóa gia đình tại Việt Nam:
1.2.2.1 Sơ lược các chủ trương, chính sách Dân số & KHHGĐ
Nhận thức được ý nghĩa của việc kiểm soát sự gia tăng dân số phù hợp
sẽ góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội bền vững, cải thiện cuộc sống của nhân dân và tăng phúc lợi gia đình
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III đã có ghi “khuyến khích việc điều hoà sinh đẻ” và Chính phủ Việt Nam cụ thể hóa thành Quyết định số 216/CP ngày 26/12/1961 về việc sinh đẻ có hướng dẫn
Trãi qua hơn 47 năm triển khai thực hiện chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình của Việt Nam, không ngừng bổ sung, hoàn thiện nhằm giảm tốc độ gia tăng quy mô dân số, phân bổ lại dân cư đến nay chương trình này có thể được chia thành các thời kỳ như sau [36]
* Thời kỳ từ năm 1961 -1975: Những nỗ lực ban đầu
Giai đoạn này do sự hạn chế về sự hiểu biết các biện pháp tránh thai nên việc tuyên truyền vận động cộng đồng sử dụng các biện pháp tránh thai còn chủ yếu tập trung vào biện pháp đặt dụng cụ tử cung (còn gọi là vòng tránh thai) được Nhà nước cấp toàn bộ, còn bao cao su và triệt sản nữ có tuyên truyền nhưng tỷ lệ dùng thấp
Mục tiêu của cuộc vận động này là hướng tới quy mô gia đình 3 con Thông qua: Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III khoá III; Quyết định số 216/CP ngày 26/12/1961 của Hội đồng Chính phủ về sinh đẻ có hướng dẫn; Chỉ thị số 99/TTg ngày 16/10/1963 của Thủ tướng Chính phủ về công tác hướng dẫn sinh đẻ; Quyết định số 94/CP ngày 13/5/1970 của Hội đồng Chính phủ về cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch [36], [25]
Trang 15* Thời kỳ từ năm 1975 -1984: Phong trào mở rộng trên toàn quốc
Công tác Dân số - KHHGĐ được triển khai trên phạm vi rộng cả nước
và là thời kỳ nêu ra sự cần thiết phải có nhiều biện pháp tránh thai khác nhau
để đáp ứng nhu cầu cho người sử dụng, phù hợp với từng người, từng vùng nhưng thực tế dụng cụ tử cung vẫn đứng hàng đầu, tiếp theo là bao cao su và đình sản nữ Xu hướng của thời kỳ nầy là đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trên phạm vi rộng hơn, thông qua: Chỉ thị số 265/HĐBT ngày 19/10/1978 của Hội đồng Bộ trưởng về đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ
có kế hoạch trong phạm vi cả nước; Chỉ thị số 29/HĐBT ngày 12/8/1981 của Hội đồng Bộ trưởng về đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch 5 năm (1981-1985) [36]
Tại Đại hội Đảng toàn quốc khóa IV năm 1976 với mục tiêu được xác định cụ thể là hạ thấp tỷ lệ phát triển dân số xuống còn 1,7%, và được nhắc lại tại Đại hội Đảng khóa V năm 1981 với chỉ tiêu vận động đẻ ít (từ 2-3 con), đẻ muộn (từ 22 tuổi trở lên), đẻ thưa (cách nhau từ 3-5 năm), tiếp tục đa dạng hóa các biện pháp tránh thai [36]
* Thời kỳ từ năm 1985 - 2000: Sự chuyển biến toàn diện
Mục tiêu tổng quát của chính sách dân số là: “Thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh, tạo điều kiện để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc” và mục tiêu cụ thể là “Mỗi gia đình chỉ có 1 hoặc 2 con; để tới năm 2015 bình quân trong toàn xã hội, mỗi gia đình (một cặp vợ chồng) có hai con nhằm tập trung mọi
nổ lực tạo chuyển biến rõ rệt ngay trong thập kỷ 90 này [20], [25]
* Thời kỳ từ năm 2001-2011: Tiếp nối những thành công
Mục tiêu tổng quát của chính sách dân số là: Thực hiện gia đình ít con, khoẻ mạnh, tiến tới ổn định qui mô dân số ở mức hợp lý để có cuộc sống ấm
no, hạnh phúc, nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất
Trang 16lượng cao đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước [36]
Mục tiêu cụ thể: Duy trì mức sinh thay thế và phấn đấu đạt chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức trung bình tiên tiến thế giới vào năm 2010 Thông qua: Quyết định số 147/2000/QĐ-TTg về chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010; Chỉ thị số 10/2001/CT - TTg, Đại hội Đảng lần thứ IX
đã định hướng cơ bản về chính sách dân số; Nghị định số 94/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 quy định về UBDS, GĐ & TE; Pháp lệnh dân số 06/2003/PL-UBTVQH ngày 9/1/2003 [39]; Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/2/2003 của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học; Nghị định 104/2003/NĐ-CP ngày 16/9/2003 hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số [36]
*Giai đoạn 2011-2015:
- Kiên trì thực hiện gia đình ít con khoẻ mạnh, chủ động điều chỉnh mức sinh phù hợp với từng vùng, miền nhằm duy trì tổng tỷ suất sinh bình quân trong toàn quốc ở mức 1,9 con vào năm 2015 [27]
- Nâng cao chất lượng dân số, tập trung triển khai các loại hình dịch vụ
tư vấn và kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân; sàng lọc trước sinh, sơ sinh Thí điểm các mô hình chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng Xây dựng cơ sở vật chất và mạng lưới tổ chức để thực hiện các dịch vụ này
- Đấy mạnh thực hiện các biện pháp để hạn chế đà tăng của tỷ số giới tính khi sinh
- Thực hiện toàn diện các nội dung chăm sóc sức khoẻ sinh sản Tập trung mọi nỗ lực để tăng cường khả năng tiếp cận và nâng cao chất lượng dịch vụ CSSKSS, tăng cường gắn kết các dịch vụ KHHGĐ với chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, chú trọng vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn và vùng biển, đảo và ven biển
Trang 17- Đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, giáo dục chuyển đổi hành vi, duy trì bền vững các hành vi lành mạnh về SKSS, SKTD
- Thực hiện các biện pháp để các ngành, các cấp khai thác, sử dụng dữ liệu điện tử chuyên ngành vào hoạch định chính sách và lập kế hoạch phát triển [18]
* Giai đoạn 2016-2020:
- Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện giai đoạn 2011-2015, điều chỉnh chính sách phù hợp, triển khai toàn diện các giải pháp, nhiệm vụ
- Tập trung triển khai các hoạt động can thiệp nâng cao chất lượng dân
số, chăm sóc toàn diện sức khoẻ sinh sản, chăm sóc người cao tuổi
- Duy trì và phát huy các biện pháp có hiệu quả kiểm soát và giảm tỷ số giới tính khi sinh
- Đẩy mạnh khai thác, sử dụng dữ liệu điện tử về DS-KHHGĐ vào công tác kế hoạch hoá, quản lý hành chính và cung cấp dịch vụ công [18]
1.2.2.2 Tình hình Dân số & Kế hoạch hóa gia đình ở nước ta
Dân số Việt Nam năm 2010 là 87 triệu người, ít hơn 2 triệu người so với mục tiêu đặt ra trong Chiến lược Dân số 2001-2010 [27]; năm 2011 là 87,84 triệu người, năm 2012 là 88,78 triệu người [33], ước năm 2013 là 89,57
và dự kiến dân số năm 2015 là 91,3 triệu người, đạt mục tiêu đề ra dưới 93 triệu người
Tốc độ tăng dân số bình quân năm thời kỳ 2011-2013 là 1,05%, dự kiến đến năm 2015 khoảng 1% đạt mục tiêu đề ra
Tổng tỷ suất sinh giảm 2,03 con (1/4/2009) xuống còn 2,01 con (1/4/2010), 1,99 con (1/4/2011) [29], 2,05 con (1/4/2012) [33], ước năm 2013
là 2,02 con [23], đạt mục tiêu duy trì mức sinh thay thế Dự kiến đến năm
2015 là 1,9 con đạt mục tiêu đề ra [23], [37]
Trang 18Năm 2011 có 29/63 tỉnh, thành phố chưa đạt mức sinh thay thế, năm
2012 còn 26/63 tỉnh, thành phố, ước năm 2013 là 23/63 tỉnh, thành phố dự kiến đến năm 2015 chỉ còn 17/63 tỉnh, thành phố, đạt mục tiêu đề ra [23]
Tỷ suất sinh thô giảm từ 17,6‰ (1/4/2009), xuống 17,1‰ (1/4/2010), xuống 16,6‰ (1/4/2011), 16,9‰ (1/4/2012), ước năm 2013 là 16,8‰ Mức giảm tỷ lệ sinh trong 2 năm 2011-2012 là 0,2‰, bình quân mỗi năm giảm 0,1‰ Dự kiến đến năm 2015 là 16,6‰ đạt mục tiêu mức giảm tỷ lệ sinh bình quân là 0,1‰ [23]
Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có xu hướng giảm nhanh, từ 16,1% (1/4/2009) [35], xuống 15,1% (1/4/2010), xuống 14,7% (1/4/2011) và đạt 14,2% (1/4/2012)
Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT) của cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tiếp tục ở mức cao 78,0% (1/4/2010), 78,2% (1/4/2011), 76,2%(1/4/2012) Tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại tiếp tục tăng từ 67,5% (1/4/2010), tăng lên 68,6% (1/4/2011), xuống còn 66,6% (1/4/2012), ước năm 2013 là 69%, chưa đạt mục tiêu đề ra của năm 2012 Dự kiến đến năm
2015 sẽ đạt 71% đạt mục tiêu đề ra
Tỷ số giới tính khi sinh (số bé trai/100 số bé gái) tiếp tục tăng từ 110,5 (1/4/2009) lên 111,2 (1/4/2010), lên 111,9 (1/4/2011) và 112,3 (1/4/2012), ước năm 2013 là 112,6 Song tốc độ tăng tỷ số giới tính khi sinh giảm, giai đoạn 2006-2008 tốc độ tăng là 1,15 điểm/năm, giai đoạn 2008-2010 là 0,7 điểm/năm, giai đoạn 2010-2012 là 0,4 điểm/năm Đạt mục tiêu khống chế tốc
độ tăng nhanh tỷ số giới tính khi sinh Dự kiến năm 2005 tỷ số giới tính khi sinh khoảng 113, đạt mục tiều đề ra
Tuy nhiên, nhiều địa phương chưa đạt mức sinh thay thế, thậm chí còn
ở mức cao Mức sinh còn biến động khó lường
Trang 19Năm 2011 có 29/63 tỉnh, thành phố chưa đạt mức sinh thay thế, đến năm 2012 còn 26/63 tỉnh, thành phố chưa đạt mức sinh thay thế tập trung vào Tây Nguyên, Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung và Trung du miền núi phía bắc Một số tỉnh có mức sinh còn cao, như 3,16 con (Kon Tum), 2,78 con (Hà Giang)… Một số tỉnh có mức sinh đã tăng trở lại sau khi đạt mức sinh thay thế trước năm 2009 như Thanh Hóa tăng từ 1,89 con (14/2009) tăng lên 2,22 con (1/4/2012), Ninh Bình từ 2,04 con tăng lên 2,66 con, Bắc Kạn từ
1,84 con tăng lên 2,30 con [23]
1.2.2.3 Tình hình sinh con thứ 3 trở lên ở nước ta
Trong năm thập kỷ qua, Việt Nam thực thi chính sách giảm sinh thông qua chương trình dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản bao gồm cả kế hoạch hóa gia đình Quy mô gia đình nhỏ đang được khuyến khích Cùng với việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, rất nhiều các hoạt động tuyên truyền vận động, truyền thông chuyển đổi hành vi được tổ chức nhằm trang bị các kiến thức và khuyến khích các cặp vợ chồng thực hiện mục tiêu kế hoạch hóa gia đình Chính vì vậy, số liệu liên quan đến
tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên hàng năm là mối quan tâm lớn của các cơ quan truyền thông dân số và kế hoạch hóa gia đình [4]
Tỷ lệ phụ nữ 15 - 49 tuổi sinh con thứ ba trở lên ở Việt Nam từ năm
2005 đến năm 2009 chia theo thành thị và nông thôn [4] Số liệu cho thấy, trong thời gian qua tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên trên phạm vi cả nước giảm từ 20,8% năm 2005 xuống còn 16,1% năm 2009 xuống 15,1% (1/4/2010), xuống 14,7% (1/4/2011) và đạt 14,2% năm 2012 [23], [30], [26], [35] Tỷ lệ phụ nữ thôi không sinh thêm con sau khi có từ 1 đến 2 con ở cả khu vực thành thị và nông thôn đều tăng lên, đặc biệt ở khu vực thành thị góp phần tích cực làm giảm mức sinh ở Việt Nam Xu hướng này giúp Việt Nam
có cơ hội ổn định dân số, giảm bớt gánh nặng phụ thuộc, tạo thời cơ thuận lợi
Trang 20cho Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế bền vững và chất lượng [4]
Có sự khác biệt về tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên theo vùng địa lý Những vùng có tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 thấp là Đông Nam Bộ (10,9%), Đồng bằng sông Cửu Long (12,4%) và Đồng bằng sông Hồng (13,2%) Tỷ lệ này cao nhất là ở Tây Nguyên (27,4%), Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung (21,1%) Có thể rút ra được quy luật đó là ở những nơi có trình độ phát triển cao thì tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba càng thấp, và ngược lại ở những nơi
xa xôi, hẻo lánh, cuộc sống còn có nhiều khó khăn thì tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 càng cao [4]
Trong những năm qua tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba có xu hướng giảm trên tất cả các vùng địa lý, riêng vùng Trung du và miền núi phía Bắc (Đông Bắc và Tây Bắc) và Tây Nguyên là có chiều hướng gia tăng Vì thế, trong thời gian tới Việt Nam cần tập trung giải quyết tình trạng phụ nữ sinh con thứ ba ở những khu vực này, đồng thời tiếp tục duy trì xu hướng giảm sinh trên các vùng địa lý khác để đạt được sự giảm bền vững tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba [4]
Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên có liên quan chặt chẽ với trình độ học vấn của phụ nữ Theo số liệu điều tra năm 2007, tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ
ba trở lên trong số phụ nữ chưa đi học tới 43,1%, giảm xuống còn 28,1% đối với phụ nữ chưa tốt nghiệp tiểu học, 19,4% đối với phụ nữ tốt nghiệp tiểu học, 15,3% đối với phụ nữ tốt nghiệp trung học cơ sở và chỉ còn 4,5% đối với phụ nữ có trình độ học vấn trung học phổ thông trở lên [4]
Như vậy, người phụ nữ có trình độ càng cao thì tỷ lệ sinh con thứ ba càng thấp Học vấn cao nên họ nhận thức được rằng con cái sinh ra phải được chăm sóc và nuôi dạy cho tốt nên tất yếu họ không có nhu cầu sinh nhiều con Thêm vào đó, có thể do khả năng nhận thức và sử dụng các biện pháp tránh
Trang 21thai hiệu quả hơn ở những người có trình độ học vấn cao nên tỷ lệ sinh con thứ ba ở những nhóm người này là thấp hơn so với những nhóm người không
có trình độ học vấn Bởi vậy, muốn thay đổi hành vi sinh con nhiều, chương trình kế hoạch hóa gia đình cần tập trung tuyên truyền cho các phụ nữ có trình
độ học vấn thấp Đây cũng thường là những người có thu nhập thấp, sống tại nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa Vì thế, hình thức tuyên truyền và kênh tuyên truyền cần thiết kế thích hợp với nhóm đối tượng này [4]
Có thể nhận thấy, Việt Nam đã rất nỗ lực trong việc vận động cặp vợ chồng không sinh con thứ ba Việt Nam đã đạt được thành tựu trong việc giảm tốc độ gia tăng dâm số, tuy nhiên vẫn còn tình trạng các cặp vợ chồng sinh con thứ ba, đặc biệt ở một số vùng tỷ lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ ba lại có chiều hướng gia tăng Nhiều nguyên nhân liên quan đến công tác dân số
kế hoạch hóa gia đình ở địa phương như: có sự thỏa mãn với những thành tích đạt được; có sự buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân số; hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác dân số kế hoạch hóa chưa đủ mạnh và quá tải về công việc; việc tuyên truyền, giáo dục, cung cấp dịch vụ và xây dựng chính sách, chế độ còn nhiều bất cập [4]
1.2.3 Tình hình Dân số- Kế hoạch hóa gia đình và sinh con thứ ba tại
Cần Thơ
1.2.3.1 Tình hình chung
Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung ương, nằm ở vị trí trung tâm của vùng đồng bằng sông Cửu Long Vốn được mệnh danh là Tây Đô – Thủ phủ của miền Tây Nam bộ từ hơn trăm năm trước, giờ đây Cần Thơ đã trở thành đô thị loại I và là một trong 4 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm của vùng đồng bằng sông Cửu Long và là vùng kinh tế trọng điểm thứ tư của Việt Nam [14]
Trang 22Đơn vị hành chính của thành phố Cần Thơ gồm 5 quận (Ninh Kiều, Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt) và 4 huyện (Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thới Lai) với 85 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn ( 5 thị trấn, 36 xã, 44 phường) Diện tích 1.409 km2
, tổng số dân năm 2013 là 1.222.400 người [16]
1.2.3.2 Tình hình kế hoạch hóa gia đình và tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên
Trong 10 năm thực hiện Pháp lệnh Dân số, Thành ủy, HĐND, UBND thành phố đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm thực hiện có hiệu quả Pháp lệnh Dân số Các địa phương, ban, ngành, đoàn thể trên địa bàn thành phố đã tích cực triển khai thực hiện Pháp lệnh Dân số với mục tiêu giảm mức sinh, không sinh con thứ 3 trở lên, tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân, sàng lọc trước sinh và sơ sinh… nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Qua đó, góp phần tạo chuyển biến căn bản về nhận thức, hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong việc thực hiện Pháp lệnh Dân số Điều này có thể thấy rõ ở một số chỉ tiêu cơ bản về dân số, kế hoạch hóa gia đình trong 10 năm qua
Đa số người dân trong thành phố đã chấp nhận mô hình gia đình ít con, tập trung giải quyết căn bản vấn đề qui mô dân số trên cơ sở giảm nhanh mức sinh Tỷ suất sinh thô từ 15,3%o năm 2003 giảm xuống còn 13,9%o năm
2012 [22] Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên năm 2012 tính đến thời gian ngày 1/4/2012 là 8,24% tăng so với cùng kỳ năm 2011 là 7,9% [34], [30] Tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng biện pháp tránh thai hiện đại năm 2003
là 71,2% đến năm 2012 là 84,04% Số con trung bình của phụ nữ từ 1,7 con năm 2003 giảm xuống còn 1,58 con năm 2012 Tốc độ gia tăng dân số về cơ bản đã được kiểm soát và khống chế, nhờ đó áp lực của quy mô dân số đối với sự phát triển kinh tế, xã hội đã được giảm nhẹ Báo cáo 10 năm thực hiện pháp lệnh dân số đã nêu ra một số vấn đề trong quá trình thực hiện Pháp lệnh
Trang 23Dân số tại cơ sở; giải pháp thực hiện hiệu quả chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ của nhân dân đã tác động tích cực đến việc thực hiện các chỉ tiêu dân số, kế hoạch hóa gia đình, từ
đó nâng cao được chất lượng cuộc sống của nhân dân, giảm áp lực tăng dân
số cho thành phố [22]
1.3 Các tiêu chí đánh giá công tác Dân số- Kế hoạch hóa gia đình
1.3.1 Kế hoạch hóa gia đình là gì?
Kế hoạch hóa gia đình là nỗ lực của Nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợpvới chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình [36]
Có 2 phương pháp triệt sản:
Triệt sản nữ bằng phương pháp thắt và cắt vòi tử cung là một phẫu thuật làm gián đoạn vòi tử cung, không cho tinh trùng gặp noãn để thực hiện thụ tinh Triệt sản nữ là biện pháp tránh thai vĩnh viễn, hiệu quả tránh thai rất cao (trên 99%) và không ảnh hưởng đến sức khỏe, quan hệ tình dục Triệt sản
Trang 24nữ không phòng tránh được nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS [7]
Triệt sản nam bằng phương pháp thắt và cắt ống dẫn tinh là BPTT vĩnh viễn dành cho nam giới bằng cách làm gián đoạn ống dẫn tinh dẫn đến không
có tinh trùng trong mỗi lần xuất tinh Đây là biện pháp thực hiện một lần có tác dụng tránh thai suốt đời vì thế khách hàng cần được tư vấn kỹ trước khi quyết định thực hiện Đây là một thủ thuật ngoại khoa đơn giản và an toàn Hiệu quả tránh thai rất cao (trên 99,5 %) và triệt sản nam không có ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt tình dục Triệt sản nam không phòng tránh được các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS [7]
1.3.2.2 Dụng sụ tử cung
Dụng cụ tránh thai trong tử cung (DCTC) còn gọi là vòng tránh thai là một BPTT tạm thời và hiệu quả DCTC hiện có 2 loại: DCTC chứa đồng (TCu-380A và MLCu-375) được làm từ một thân plastic với các vòng đồng hoặc dây đồng, và DCTC giải phóng levonorgestrel có một thân chữ T bằng polyethylen chứa 52 mg levonorgestrel, giải phóng 20 μg hoạt chất/ngày
DCTC TCu-380A có tác dụng trong 10 năm và DCTC giải phóng levonorgestrel có tác dụng tối đa 5 năm Khách hàng nhiễm HIV hay có bạn tình nhiễm HIV có thể sử dụng DCTC nhưng cần lưu ý là BPTT này không giúp ngăn ngừa nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS [7]
1.3.2.3 Bao cao su
Bao cao su là một BPTT tạm thời, hiệu quả, an toàn và rẻ tiền Bao cao
su là BPTT có tác dụng bảo vệ kép: vừa có tác dụng tránh thai vừa giúp phòng nhiễm khuẩn qua đường tình dục và HIV/AIDS
Trang 25Khách hàng nhiễm HIV hoặc có bạn tình nhiễm HIV nên sử dụng bao cao su để tránh thai và phòng nhiễm khuẩn qua đường tình dục và HIV/AIDS Bao cao su có hai loại: loại sử dụng cho nam và loại sử dụng cho nữ [7]
1.3.2.4 Biện pháp tránh thai bằng hóc-môn:
- Viên thuốc tránh thai kết hợp là BPTT tạm thời, chứa 2 loại nội tiết là estrogen và progestin Sử dụng viên thuốc tránh thai kết hợp đòi hỏi khách hàng phải uống thuốc đều đặn Khách hàng nhiễm HIV hay có bạn tình nhiễm HIV có thể sử dụng viên thuốc tránh thai kết hợp nhưng cần lưu ý là BPTT này không giúp ngăn ngừa nhiễm khuẩn qua đường tình dục và HIV/AIDS Viên thuốc tránh thai chỉ có progestin là BPTT tạm thời, chứa một lượng nhỏ progestin, không có estrogen Sử dụng viên thuốc tránh thai chỉ có progestin đòi hỏi khách hàng phải uống thuốc đều đặn và đúng giờ Khách hàng nhiễm HIV hay có bạn tình nhiễm HIV có thể sử dụng viên thuốc chỉ có progestin nhưng cần lưu ý là BPTT này không giúp ngăn ngừa nhiễm khuẩn qua đường tình dục và HIV/AIDS [7]
- Thuốc tiêm tránh thai là BPTT tạm thời, chứa nội tiết progestin Thuốc tiêm tránh thai hiện có hai loại: DMPA (depot medroxygenprogesteron acetat) liều 150 mg, có tác dụng tránh thai 3 tháng, và NET-EN (norethisteron enantat) liều 200 mg, có tác dụng tránh thai 2 tháng Khách hàng nhiễm HIV hay có bạn tình nhiễm HIV có thể sử dụng thuốc tiêm tránh thai nhưng cần lưu ý là BPTT này không giúp ngăn ngừa nhiễm khuẩn qua đường tình dục và HIV/AIDS [7]
- Thuốc cấy tránh thai là BPTT tạm thời có chứa progestin Hiện nay thuốc cấy tránh thai có hai loại: Norplant: gồm 6 nang mềm, vỏ bằng chất dẻo sinh học, mỗi nang chứa 36 mg levonorgestrel, và (ii) Implanon: chỉ có một nang, chứa 68 mg etonogestrel Norplant có tác dụng kéo dài 5 năm (hoặc đến
Trang 267 năm với những phụ nữ có trọng lượng dưới 70 kg tại thời điểm đặt và trong quá trình sử dụng) và Implanon có tác dụng 3 năm [7]
Khách hàng nhiễm HIV hay có bạn tình nhiễm HIV có thể sử dụng thuốc cấy tránh thai nhưng cần lưu ý là BPTT này không giúp ngăn ngừa nhiễm khuẩn qua đường tình dục và HIV/AIDS [7]
1.3.2.5 Các biện pháp tự nhiên:
* BPTT bằng cách xuất tinh ngoài âm đạo
- Khi cảm thấy sắp xuất tinh thì rút dương vật ra, phóng tinh ở ngoài
âm đạo
- Không để tinh dịch rỉ ra khi dương vật còn trong âm đạo và không để
tinh dịch đã phóng ra ngoài rơi trở lại âm đạo [7]
* BPTT tính theo vòng kinh
- Căn cứ vào số ngày mỗi vòng kinh của phụ nữ, có thể tính được ngày
dự kiến sẽ có kinh lần sau: Từ ngày dự kiến có kinh lùi lại 14 ngày là ngày có thể phóng noãn trong vòng kinh
- Trong vòng 5 ngày trước và 4 ngày sau khi phóng noãn là những ngày
không an toàn, cần kiêng giao hợp hoặc nếu giao hợp thì cần dùng BPTT hỗ trợ [7]
* Biện pháp cho con bú:
Biện pháp cho bú vô kinh là một BPTT tạm thời dựa vào việc cho bú
mẹ hoàn toàn sau sinh khi chưa có kinh trở lại và con dưới 6 tháng tuổi Biện pháp cho bú vô kinh là BPTT hiệu quả không cao, không nên khuyến cáo cho những khách hàng sẽ có nguy cơ cao khi mang thai Biện pháp cho bú vô kinh không nên sử dụng cho những khách hàng nhiễm HIV hoặc có bạn tình nhiễm HIV và không giúp ngăn ngừa nhiễm khuẩn qua đường tình dục, HIV/AIDS [7], [17]
Trang 27Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Dân số chọn mẫu
Đối tượng nghiên cứu là bao gồm những phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 15-49 có chồng tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2013 (những phụ nữ sinh từ tháng 6 năm 1964 đến tháng 6 năm 1998), tại quận Cái Răng, TP Cần Thơ
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Là phụ nữ 15-49 tuổi có chồng
- Đồng ý tham gia phỏng vấn
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Phụ nữ mắc bệnh tâm thần không đủ minh mẫn để trả lời các câu hỏi phỏng vấn
- Đối tượng từ chối tham gia phỏng vấn
- Đến nhà nhiều lần nhưng vắng mặt
2.2 Thời gian nghiên cứu
Bắt đầu từ tháng 8 năm 2013 đến tháng 11 năm 2013
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.3.2 Chọn cỡ mẫu nghiên cứu
Áp dụng công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể:
Trang 28Trong đó:
n: cỡ mẫu tối thiểu cần chọn
: Giá trị nhận được từ bảng Z tương ứng với đã chọn
Hệ số tin cậy (độ chính xác mong muốn của ước lượng) ở mức xác suất 0,05 (độ tin cậy 95%) Giá trị tương ứng là =1,96 (khi chọn
=0,05)
p: Trong nghiên cứu quần thể này, chỉ nghiên cứu chỉ số quan trọng về
tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên và các yếu tố liên quan đến việc sinh con thứ ba trở lên nhằm đánh giá hiệu quả của việc thực hiện chương trình KHHGĐ để định hướng trong tương lai về công tác Dân số và KHHGĐ
Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên ở các phụ nữ có chồng diện tuổi từ 18-49 Theo số liệu báo cáo của UBDS, GĐ & TE Quốc gia được kiểm chứng qua kết quả Điều tra biến động Dân số- KHHGĐ 1/4/2012, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên tại Cần Thơ là 8,24% [30] Như vậy, chọn p= 0,0824 làm giá trị ước đoán
: Độ chính xác mong muốn Trong nghiên cứu này, ta chọn d= 0,05
Như vậy, cỡ mẫu nghiên cứu:
Trong quá trình điều tra, để hạn chế sai số hệ thống, chọn hệ số thiết kế
= 3 Như vậy, cỡ mẫu nghiên cứu là n= 348,54 lấy tròn 350 phụ nữ
2.3.3 Kỹ thuật chọn mẫu:
Chọn mẫu chùm theo phương pháp PPS (Xác suất tỷ lệ với cỡ mẫu quần thể) [6]
Trang 29 Giai đoạn 1: Chọn 3 phường trong 7 phường (Phường Ba Láng, Phường Thường Thạnh, Phường Lê Bình, Phường Hưng Phú, Phường Hưng Thạnh, Phường Phú Thứ, Phường Tân Phú) của quận Cái Răng bằng phương pháp ngẫu nhiên đơn Như vậy, ta chọn được 3 phường đại diện đưa vào mẫu nghiên cứu:
- Phường Ba Láng
- Phường Hưng Phú
- Phường Hưng Thạnh
Giai đoạn 2: Chọn các khu vực cho mỗi phường
Bằng phương pháp ngẫu nhiên đơn ta chọn các khu vực đại diện cho mỗi phường đưa vào mẫu nghiên cứu như sau:
- Phường Ba Láng: ta chọn được 2 khu vực trong 5 khu vực: I, III
- Phường Hưng Phú: ta chọn được 5 khu vực trong 11 khu vực: II, III,
- Đi tới trung tâm khu vực được chọn để thực hiện phỏng vấn
- Chọn hướng một cách ngẫu nhiên: quay một cái chai dưới đất cho hướng
mà cổ chai đã chỉ ra
- Đi theo hướng cổ chai đã chỉ và vào những nhà thứ 3 cho tới khi có đủ
số lượng mẫu của từng khu vực Trường hợp đã đi hết đường mà chưa có đủ
số lượng mẫu thì quay lại trung tâm khu vực, đi về hướng đối diện với hướng vừa đi cho tới khi đủ số lượng phụ nữ cần được phỏng vấn cho từng khu vực
Trang 302.3.3.1 Các bước chọn mẫu nghiên cứu
Bước 1: Chọn cỡ mẫu cho từng khu vực
Dùng mẫu xác suất tỷ lệ với kích thước, dựa vào tổng số phụ nữ 15-49 tuổi có chồng của mỗi khu vực và cả 10 khu vực, tính số lượng đối tượng ở mỗi khu vực được đưa vào mẫu nghiên cứu theo công thức:
Trong đó:
x: số phụ nữ cần được điều tra ở mỗi khu vực
n: Cỡ mẫu đã chọn, n=350
N: Tổng số phụ nữ 15-49 tuổi có chồng ở tất cả 10 khu vực: N=4391 X: Số phụ nữ 15-49 có chồng ở mỗi khu vực đã đưa vào mẫu, X là:
Trang 31+ Số phụ nữ trong diện sinh đẻ có chồng ở từng phường cần điều tra như sau, x là:
Bước 2: Chọn đối tượng nghiên cứu vào nghiên cứu
Dựa vào các bước chọn mẫu hệ thống
Chọn hướng một cách ngẫu nhiên: đi tới trung tâm khu vực cần thực hiện phỏng vấn và quay một cái chai dưới đất cho hướng mà cổ chai đã chỉ ra
Đi theo hướng cổ chai đã chỉ và vào những nhà thứ 3 cho tới khi có đủ số lượng mẫu của từng khu vực Trường hợp đã đi hết đường mà chưa có đủ số lượng mẫu thì quay lại trung tâm khu vực, đi về hướng đối diện với hướng vừa đi cho tới khi đủ số lượng phụ nữ cần được phỏng vấn cho từng khu vực
2.3.4 Kỹ thuật và tiến hành thu thập thông tin
Đây là phương pháp nghiên cứu dựa trên phương pháp dịch tễ học cắt ngang mô tả trên quần thể phụ nữ 15-49 tuổi có chồng tại quận Cái Răng và
mô tả các biến có mối liên quan đến việc sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng
Trang 32có chồng đang sống của quần thể trên cho nên căn cứ mục tiêu nghiên cứu để xây dựng và xác định các biến số cần thu thập thông tin
2.3.4.1 Một số thông tin về đối tƣợng nghiên cứu
* Một số tiêu chuẩn đánh giá:
+ Đánh giá kinh tế gia đình, nghèo giàu dựa trên chuẩn nghèo quy định của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTG ngày 30 tháng
01 năm 2011, về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn
2011-2015 [21] mà các địa phương tại quận Cái Răng đã thực hiện và xác định các đối tượng hộ nghèo là:
Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống
Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng
+ Đánh giá về các yếu tố KHHGĐ, tâm lý xã hội tác động đến việc sinh con thứ 3 trở lên: Các đối tượng chưa sinh con hoặc vô sinh, hầu hết đều có nguyện vọng sinh con và các yếu tố KHHGĐ, tâm lý xã hội ít ảnh hưởng kế hoạch sinh đẻ của họ Do đó, chủ yếu khai thác các đối tượng có sinh từ 1 đến
2 con và 3 con trở lên nhằm tìm hiểu các yếu tố liên quan giữa KHHGĐ và tâm lý với việc sinh con thứ 3 trở lên trong tương lai Trên cơ sở đó:
- Đánh giá sự hiểu biết các BPTT, dựa vào kiến thức hiểu biết của đối tượng sinh con về từng loại BPTT theo 2 loại:
Kiến thức tốt: hiểu biết ít nhất 1 BPTT
Kiến thức chưa tốt: không hiểu biết BPTT nào
Để giúp làm rõ thêm kiến thức hiểu biết, ngoài câu hỏi chính ta hỏi các câu hỏi thêm về mục đích của từng biện pháp như: Chị biết DCTC là như thế nào? Hình dáng, nó giúp chị dùng để làm gì?
Trang 33- Đánh giá thái độ thích sử dụng và hành vi thực hiện BPTT thì ngoài câu hỏi chính ta cần hỏi thêm: Chị có thấy thích BPTT (nào đó) không?
Vì sao? Cảm giác như thế nào khi chị sử dụng nó? Có liên tục hay không?
- Đánh giá tâm lý mong muốn sinh nhiều con, quan niệm về giới (trọng nam khinh nữ và muốn có con trai), nhất là các đối tượng có từ trên 1 con với việc sinh con thứ 3 trở lên
*Phân nhóm biến số nghiên cứu:
+ Các đặc trƣng thuộc thông tin chung:
- Họ và tên, năm sinh nhằm xác định tuổi đời, phường xã, dân tộc, tôn giáo
- Các thông tin về sinh con nhằm xác định tỷ lệ có con thứ 3 trở lên:
o Số lần sinh, số con hiện sống
o Số lượng, đặc điểm, nguyên nhân của sinh con thứ 3 trở lên
o Mối liên hệ các yếu tố đặc trưng cá nhân với việc sinh con thứ 3 trở lên
+ Một số yếu tố tác động đến việc sinh con thứ 3 trở lên:
Từ các đặc trưng của đối tượng phối hợp với các yếu tố khác ta xác định vào các nhóm tác động:
- Nhóm về các đặc trƣng cá nhân:
o Tuổi đời được xếp vào 4 nhóm: 18-24, 25-34, 35-44, >44
o Tôn giáo: Phật giáo, Cao Đài, Công giáo, không tôn giáo
- Trung cấp, cao đẳng, đại học
o Nghề nghiệp bao gồm các nghề chính hiện nay:
Trang 34o Đánh giá kiến thức của đối tượng về BPTT hiện đại
o Tìm hiểu thái độ của đối tượng với các BPTT
o Tìm hiểu nguyên nhân của đối tượng không thích sử dụng các BPTT hiện đại
o Tìm hiểu hành vi tránh thai của đối tượng
o Xác định tỷ lệ sử dụng các BPTT hiện đại
o Xác định thông tin về sinh con thứ 3 trở lên do vỡ kế hoạch nhằm tìm hiểu thông tin về đối tượng bị vỡ kế hoạch do không sử dụng BPTT hay sử dụng không đúng phương pháp và lý do không hút điều hòa hay nạo phá thai…
- Nhóm môi trường, xã hội: gồm các yếu tố về gia đình, xã hội và tâm
o Mối liên quan giữa tâm lý mong muốn sinh con, quan niệm về giới với việc sinh con thứ ba trở lên của đối tượng
Trang 35o Tìm hiểu lý do sinh con do tâm lý muốn có thêm con, do vỡ kế hoạch hay do muốn có đủ trai, gái hay do bố mẹ chồng, chồng bắt sinh hay một nguyên nhân nào khác Nếu do muốn có đông con thì tìm hiểu thêm vì sao đối tượng lại muốn sinh con thứ ba trở lên…
2.3.5 Phương pháp thu thập thông tin
để tránh sai lệch thông tin
2.3.6 Công cụ thu thập số liệu
Thu thập trực tiếp qua công cụ là bộ câu hỏi phỏng vấn (xem phụ lục) Công cụ phỏng vấn là bảng câu hỏi: ba loại câu hỏi được sử dụng trong thiết kế;
- Câu hỏi mở (nêu ra câu hỏi còn câu trả lời tùy thuộc người được hỏi)
- Câu hỏi đóng (có sẵn các câu trả lời được chuẩn bị trước)
- Câu hỏi mở ở cuối (dạng phối hợp cả 2 loại trên)
Bảng câu hỏi phải dựa trên căn cứ mục tiêu để khai thác một số thông tin về đối tượng
2.3.7 Kiểm soát sai lệch thông tin
Sai lệch thông tin của điều tra viên:
- Tập huấn cho các điều tra viên, giám sát viên để thống nhất về nội dung điều tra, kỹ thuật chọn khu vực, chọn hộ ngẫu nhiên
Sai lệch thông tin của đối tượng nghiên cứu:
- Tổ chức điều tra thử 10 hộ để rút kinh nghiệm sau khi tập huấn
- Hiệu chỉnh bộ câu hỏi, trước khi tiến hành điều tra chính thức
Trang 36o Biến phụ thuộc: Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu
o Biến độc lập: tất cả các biến về các yếu tố liên quan đến việc sinh con thứ 3 trở lên
Phân tích số liệu này nhằm mục đích tìm các mối liên quan giữa các yếu tố tác động với tình hình sinh con thứ 3 trở lên của phụ nữ 15-49 tuổi có chồng
và dùng toán học để xem xét ý nghĩa thống kê của các mối liên quan đó
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu
Trên cơ sở tiến hành đề tài để thu thập những dữ liệu cần thiết và để đảm bảo vấn đề y đức chúng tôi chỉ đưa ra những câu hỏi mang tính nghiệp
vụ và dữ liệu thu thập được giữ kín, nhằm bảo vệ cho đối tượng được phỏng vấn kể cả những người từ chối không tham gia trong quá trình điều tra
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Tôn giáo Không theo đạo
Có theo đạo
209
141
59,7 40,3
Kinh tế gia đình Thuộc diện nghèo
Không thuộc diện nghèo
32
318
9,1 90,9
- Nhóm tuổi < 35 chiếm 67,4% Đa số là dân tộc Kinh, chiếm 97,1%
- Hơn 70% phụ nữ được nghiên cứu có trình độ học vấn dưới THPT
- Hơn 60% phụ nữ được nghiên cứu có nghề nghiệp thuộc nhóm lao
động chân tay Hơn 90% không thuộc diện nghèo
- Gần 60% phụ nữ được nghiên cứu không theo tôn giáo
- Hơn 70% phụ nữ được nghiên cứu sống trong gia đình 2 thế hệ
Trang 383.2 Tình hình sinh con thứ 3 trở lên
3.2.1 Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên
Biểu đồ 3.1 Phân bố tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên
Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của phụ nữ diện sinh đẻ có chồng tại quận Cái Răng chiếm 10,3% (36/350 phụ nữ)
3.2.2 Tình hình sinh con của đối tƣợng nghiên cứu
Tỷ lệ %
Biểu đồ 3.2 Phân bố số con của đối tƣợng nghiên cứu
Trang 39Biểu đồ 3.2 cho thấy phụ nữ có chồng ở quận Cái Răng sinh chủ yếu là
từ 1 đến 2 con, chiếm hơn 80% (87,8%) Số con trung bình của đối tượng nghiên cứu là = 1,68 ± 0,757
3.2.3 Đặc điểm của lần sinh con thứ 3 trở lên
Tỷ lệ %
Biểu đồ 3.3 Phân bố đặc điểm sinh con thứ 3 trở lên
Trong số 36 phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên, chiếm hơn 3/4 là tỷ lệ phụ
nữ sinh con thứ 3 (77,8%)
Trang 403.2.4 Một số lý do sinh con thứ 3 trở lên
Bảng 3.2 Phân bố các lý do sinh con thứ 3 trở lên
3.2.4.1 Lý do muốn có nhiều con
Bảng 3.3 Phân bố tỷ lệ có con thứ 3 trở lên theo lý do muốn nhiều con