BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ TRƯƠNG THỊ DIỄM PHƯƠNG KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SỨC KHỎE, NHU CẦU CHĂM SÓC ĐIỀU DƯỠNG TẠI NHÀ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜ[.]
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của bệnh nhân đái tháo đường
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân đái tháo đường (n = 196) Đặc điểm Tần số Tỷ lệ %
Tình trạng hôn nhân Đã lập gia đình 147 75
Cơ sở y tế gần gia đình nhất
Dân số trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ lớn, đạt 56,1%, trong đó phần lớn là nữ giới với 78,6% Trình độ học vấn của họ chủ yếu là cấp 1 (56,6%), tiếp theo là cấp 2 (21,5%) và tỷ lệ mù chữ chiếm 11,7% Đa số đã lập gia đình, chiếm 75%, và phần lớn người cao tuổi sinh sống gần trạm y tế nhất, với tỷ lệ 84,2%.
Biểu đồ 3.1 Thời gian từ nhà bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất
Nhận xét: Phần lớn thời gian đến cơ sở y tế gần nhất dưới 30 phút chiếm 84,2%
Biểu đồ 3.2 Thu nhập hàng tháng của bệnh nhân
Nhận xét: Thu nhập hàng tháng ≥1 triệu đồng là chủ yếu chiếm 91,8%
Biểu đồ 3.3 Số thành viên trong gia đình bệnh nhân đái tháo đường
Nhận xét: Đa số các hộ gia đình có số thành viên ≥4 chiếm tỷ lệ 69,9%
Thực trạng sức khỏe và ảnh hưởng của tình trạng bệnh lên chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường
Bảng 3.2 Phân bố bệnh nhân đái tháo đường theo bảo hiểm y tế
Tham gia BHYT Tần số Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Đa số các bệnh nhân có tham gia BHYT chiếm tỷ lệ 79,6%
Biểu đồ 3.4 Thời gian bệnh nhân phát hiện mình bị đái tháo đường
Nhận xét: Phần lớn các bệnh nhân được khảo sát có thời gian phát hiện bệnh là 1 - 5 năm (42,9%), tiếp theo là 5 - 10 năm (33,7%)
Bảng 3.3 Phân bố bệnh nhân đái tháo đường theo tiến tình điều trị bệnh và việc sử dụng thuốc
Tiến tình điều trị bệnh Tần số Tỷ lệ (%) Điều trị liên tục 140 71,4 Điều trị từng đợt 32 16,3
Thuốc điều trị Tần số Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Tiến trình điều trị đa số là điều trị liên tục chiếm tỷ lệ 71,4%, các người bệnh chủ yếu dùng thuốc uống để điều trị bệnh chiếm 92,9%
Bảng 3.4 Phân bố bệnh nhân đái tháo đường theo việc phải đến cơ sở y tế để khám và điều trị bệnh trong vòng 3 tháng qua
Và điều trị bệnh Tần số Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Có 65,3% bệnh nhân phải đến khám và điều trị do bệnh đái tháo đường trong vòng 3 tháng, trong đó 0,05), cho thấy tình trạng hôn nhân không ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu chăm sóc người cao tuổi trong nghiên cứu.
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa nhu cầu CSĐDTN của bệnh nhân đái tháo đường với số thành viên trong gia đình
Số thành viêng trong gia đình
Trong phân tích, không có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm có và không có nhu cầu CSĐDTN về số thành viên trong gia đình ≥4, với tỷ lệ lần lượt là 41,6% và 58,4% Kết quả này cho thấy rằng, mặc dù có sự chênh lệch về tỷ lệ, nhưng sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (P=0,143 > 0,05), phản ánh rằng nhu cầu CSĐDTN không liên quan rõ ràng đến số lượng thành viên trong gia đình.
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa nhu cầu CSĐDTN của bệnh nhân đái tháo đường với thu nhập hàng tháng
Kết quả cho thấy, thu nhập trung bình từ 1 triệu đồng trở lên mỗi tháng giữa nhóm có nhu cầu và nhóm không có nhu cầu có sự chênh lệch rõ rệt, lần lượt là 37,2% và 62,8% Tuy nhiên, sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê với giá trị P=0,314 > 0,05, cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về thu nhập giữa hai nhóm.
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa nhu cầu CSĐDTN của bệnh nhân đái tháo đường với tình trạng tham gia BHYT
Tỷ lệ bệnh nhân có nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) là 39,7%, trong khi đó, nhóm không có nhu cầu chiếm 60,3% Kết quả phân tích cho thấy, mối quan hệ giữa nhu cầu chăm sóc dài hạn (CSĐDTN) và việc tham gia BHYT không có ý nghĩa thống kê rõ ràng, gợi ý rằng mức độ nhu cầu CSĐDTN không ảnh hưởng đáng kể đến quyết định tham gia BHYT của bệnh nhân.
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa nhu cầu CSĐDTN của bệnh nhân đái tháo đường với tiến trình điều trị bệnh
Tiến tình điều trị bệnh
Có Không n % n % N % Điều trị liên tục 55 39,3 85 60,7 140 100
Trong số các bệnh nhân có nhu cầu chăm sóc đặc biệt đối tượng người truy cập trung cao (CSĐDTN), chỉ có 39,3% trải qua quá trình điều trị liên tục, trong khi đó, 60,7% không có nhu cầu này Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai nhóm này không mang ý nghĩa thống kê, cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tiến trình điều trị liên tục giữa nhóm có và không có nhu cầu CSĐDTN.
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa nhu cầu CSĐDTN của bệnh nhân đái tháo đường với tình trạng sử dụng thuốc điều trị
Trong số các bệnh nhân có nhu cầu chăm sóc đặc biệt đối tượng điều trị nội trú, tỷ lệ chỉ sử dụng thuốc uống chiếm 37,9%, trong khi nhóm không có nhu cầu này là 62,1% Sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê, cho thấy không có sự khác biệt rõ ràng về tỷ lệ sử dụng thuốc giữa hai nhóm.
Bảng 3.19 thể hiện mối liên quan giữa nhu cầu chăm sóc đái tháo đường của bệnh nhân với tần suất đến khám và điều trị tại cơ sở y tế trong vòng 3 tháng qua Kết quả cho thấy rằng, bệnh nhân có nhu cầu chăm sóc cao thường xuyên đến khám và điều trị nhiều hơn, phản ánh mức độ kiểm soát bệnh và thói quen chăm sóc sức khỏe Việc hiểu rõ mối liên hệ này giúp nâng cao việc quản lý bệnh đái tháo đường hiệu quả hơn, đồng thời cải thiện chất lượng dịch vụ y tế cho bệnh nhân Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi chặt chẽ số lần khám và điều trị để đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc của bệnh nhân đái tháo đường.
Nhu cầu chăm sóc sức khỏe đòi hỏi điều trị và khám bệnh khác nhau giữa các nhóm người Cụ thể, tỷ lệ người có nhu cầu CSĐDTN cần khám và điều trị từ 3 lần trở lên chiếm 36,5%, trong khi nhóm có nhu cầu thấp hơn (dưới 3 lần) là 53,1% Ngược lại, nhóm không có nhu cầu CSĐDTN có tỷ lệ khám và điều trị từ 3 lần trở lên là 63,5%, còn nhóm cần ít hơn 3 lần chiếm 46,9% Điều này cho thấy mối liên hệ rõ rệt giữa mức độ nhu cầu chăm sóc sức khỏe và số lần khám, điều trị cần thiết.
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa nhu cầu CSĐDTN của bệnh nhân đái tháo đường với tình trạng biến chứng của bệnh
Tỷ lệ biến chứng trong nhóm có nhu cầu CSĐDTN là 40,6%, thấp hơn đáng kể so với nhóm không có nhu cầu, đạt 59,4% Trong số các bệnh nhân không gặp biến chứng, tỷ lệ có nhu cầu CSĐDTN là 36%, trong khi nhóm còn lại chiếm đến 64% Những số liệu này cho thấy có mối liên hệ giữa nhu cầu CSĐDTN và tỷ lệ biến chứng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và giảm thiểu các rủi ro y tế.
Bảng 3.21 thể hiện rõ mối liên quan giữa nhu cầu chăm sóc đái tháo đường của bệnh nhân với tác động của bệnh lên kinh tế gia đình Nhu cầu CSĐDTN cao khiến các gia đình phải chi tiêu nhiều hơn cho điều trị và quản lý bệnh, làm tăng gánh nặng tài chính Tác động này ảnh hưởng đáng kể đến ngân sách gia đình, gây áp lực về mặt tài chính và giảm khả năng đầu tư cho các nhu cầu khác của gia đình Các yếu tố liên quan này đều cho thấy bệnh đái tháo đường không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế cá nhân và gia đình.
Giảm đáng kể nhưng vẫn có khả năng chi trả
Phải vay, mượn khi khám và điều trị bệnh
Nhận xét cho thấy có sự khác biệt giữa nhu cầu chăm sóc của khách hàng đối tượng đặc thù và ảnh hưởng của bệnh lên kinh tế gia đình Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với giá trị P = 0,781 (P > 0,05), cho thấy các yếu tố này không có ảnh hưởng rõ ràng đến nhau trong nghiên cứu.
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa nhu cầu CSĐDTN của bệnh nhân đái tháo đường với ảnh hưởng của bệnh lên tin thần Ảnh hưởng lên tinh thần
Lo lắng vì gánh nặng chi phí
Không muốn sống thêm nữa