BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC CẦN THƠ LIÊU HOÀNG BÃO KHẢO SÁT TÌNH HÌNH BÁN LẺ THỰC PHẨM CHỨC NĂNG TẠI CÁC NHÀ THUỐC CỦA QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ[.]
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Tất cả các loại TPCN đang đƣợc kinh doanh tại các nhà thuốc trong quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tính đến hết tháng 12 năm 2014
2.1.2 Đối tƣợng trực tiếp phỏng vấn
- Nhân viên trực tiếp bán thuốc hoặc dƣợc sĩ phụ trách nhà thuốc tại các nhà thuốc đƣợc nghiên cứu
- Khách hàng đến mua tại các nhà thuốc đƣợc nghiên cứu
Từ tháng 04 năm 2014 đến tháng 06 năm 2015
Tất cả các nhà thuốc có địa chỉ đăng ký kinh doanh tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ được thành lập trước 31/12/2014
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang
2.2.2.1 Đối với các loại TPCN được kinh doanh
Trong nghiên cứu này, toàn bộ các loại Thực phẩm chức năng (TPCN) được kinh doanh tại các nhà thuốc trên địa bàn Cần Thơ đều đã được khảo sát Theo danh sách từ Phòng Quản lý hành nghề Y Dược Sở Y tế thành phố Cần Thơ, tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2014, quận Ninh Kiều có tổng cộng 239 nhà thuốc Sau quá trình loại trừ các nhà thuốc ngừng hoạt động, không hợp tác hoặc không có địa chỉ rõ ràng, còn lại 201 nhà thuốc phù hợp để tham gia nghiên cứu Do đó, cỡ mẫu nghiên cứu gồm 201 nhà thuốc.
2.2.2.2 Đối với người bán TPCN
Trong nghiên cứu này, tất cả các nhân viên trực tiếp bán thuốc hoặc Dược sĩ quản lý nhà thuốc tại các nhà thuốc được khảo sát Số người bán Thực phẩm Chức năng, Có hiệu quả (TPCN) được xác định bằng số nhà thuốc tham gia nghiên cứu, tương ứng với 201 người bán TPCN Như vậy, cỡ mẫu người bán TPCN trong nghiên cứu là 201 người, đảm bảo tính đại diện và chính xác của dữ liệu thu thập.
Trong đề tài này, chúng tôi chọn công thức tính cỡ mẫu ƣớc lƣợng cho một tỉ lệ trong quần thể
Trong đó: n: Cỡ mẫu hợp lý
Z: giá trị phân phối chuẩn tùy thuộc vào mức độ tin cậy mong muốn của ƣớc lượng, với mức tin cậy là 95% tương ứng Z = 1,96 với α = 0,05 (xác suất sai lầm loại I) p: Tỉ lệ ước tính người tiêu dùng TPCN từ mẫu nghiên cứu Chọn p = 0,5 để đƣợc số lƣợng mẫu là lớn nhất d: Mức chính xác của nghiên cứu, là sự khác biệt giữa tỉ lệ p thu đƣợc trên mẫu và tỉ lệ p thật trong quần thể, chọn d = 0,05 [15], [25]
Vậy cỡ mẫu hợp lý sẽ là:
- TPCN: chọn mẫu toàn bộ
- Nhà thuốc: chọn mẫu toàn bộ
- Người bán thuốc: Mỗi nhà thuốc phỏng vấn một nhân viên bán thuốc hoặc dƣợc sĩ phụ trách nhà thuốc
Trong Quận Ninh Kiều, có 13 phường, mỗi phường được lựa chọn ngẫu nhiên 10 nhà thuốc từ danh sách các nhà thuốc tại địa phương (xem phụ lục 1) Tại mỗi nhà thuốc được chọn, tiến hành chọn ngẫu nhiên 3 người mua để phát phiếu khảo sát, nhằm thu thập dữ liệu chính xác và phản ánh đa dạng ý kiến của khách hàng trong khu vực.
- Các nhà thuốc không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Các nhà thuốc không kinh doanh TPCN
Nhiều nhà thuốc đã ngừng hoạt động hoặc nộp đơn xin tạm ngưng hoạt động do không tìm thấy địa chỉ đăng ký chính xác với Sở Y tế Cần Thơ Việc này ảnh hưởng đến cung cấp thuốc và dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại địa phương Các nhà thuốc cần cập nhật và xác minh thông tin đăng ký để đảm bảo hoạt động thuận lợi và tuân thủ quy định của cơ quan quản lý y tế.
- Những người không trả lời đầy đủ các câu hỏi trong bảng câu hỏi phỏng vấn nghiên cứu [27].
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.3.1 Khảo sát thực tế bán lẻ các loại TPCN tại các nhà thuốc trên địa bàn quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ năm 2014
- Tỉ lệ nhà thuốc đƣợc phân theo số lƣợng chủng loại TPCN bán tại nhà thuốc
- Tỉ lệ nhà thuốc phân theo tỉ lệ TPCN so với thuốc và mỹ phẩm đƣợc bày bán
- Tỉ lệ TPCN phân theo nhóm tác dụng
- Tỉ lệ TPCN sản xuất trong nước và ngoài nước
- Tỉ lệ các dạng bào chế của TPCN
- Tỉ lệ TPCN phân theo giá bán lẻ.
2.3.2 Khảo sát nhận thức của người bán và người mua về TPCN
2.3.2.1 Nhận thức của người bán TPCN
Tỉ lệ nhân viên bán TPCN hiểu đúng về TPCN về các vấn đề sau:
- Việc bán TPCN có cần kê đơn không
- TPCN có đƣợc phép bày bán tự do không
- TPCN có tác dụng phụ hay không
- Có thể sử dụng TPCN thường xuyên không
- TPCN có thể thay thế thuốc trị bệnh đƣợc không
2.3.2.2 Nhận thức của người mua về TPCN
- Tỉ lệ người mua bị nhầm lẫn trong sử dụng TPCN
- Tỉ lệ người mua hiểu biết về TPCN
- Tỉ lệ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua TPCN
- Tỉ lệ các nguồn cung cấp thông tin về TPCN
- Tỉ lệ các thị hiếu về địa điểm mua TPCN của người tiêu dùng.
PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
2.4.1 Khảo sát thực tế bán lẻ các loại TPCN tại các nhà thuốc trên địa bàn quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ năm 2014
Chúng tôi sẽ đến các nhà thuốc trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ để xin các số liệu về các sản phẩm TPCN bao gồm:
2.4.1.1 Số lượng chủng loại TPCN được bán tại các nhà thuốc
Thống kê số lƣợng của các TPCN ở các nhà thuốc, sau đó phân thành 4 nhóm nhà thuốc nhƣ sau:
- Nhóm bán dưới 50 loại TPCN
- Nhóm bán từ 51 đến 100 loại TPCN
- Nhóm bán từ 101 đến 150 loại TPCN
- Nhóm bán trên 150 loại TPCN
2.4.1.2 Tỉ lệ mặt hàng TPCN so với thuốc và mỹ phẩm được bán tại các nhà thuốc
Chúng tôi đếm số lƣợng các mặt hàng là thuốc và mỹ phẩm rồi tính tỉ lệ TPCN/thuốc và mỹ phẩm Sau đó, phân nhà thuốc thành 5 nhóm:
- Nhóm có tỉ lệ từ 15% trở xuống
- Nhóm có tỉ lệ trên 15% đến 20%
- Nhóm có tỉ lệ trên 20% đến 25%
- Nhóm có tỉ lệ trên 25% đến 30%
- Nhóm có tỉ lệ trên 30%
2.4.1.3 Tỉ lệ TPCN phân theo nhóm tác dụng được bán tại các nhà thuốc
Chúng tôi sẽ phân TPCN thành 5 nhóm tác dụng sau:
- Nhóm bổ sung vitamin và khoáng chất
- Nhóm làm đẹp, chống lão hóa (giảm cân, đẹp da, đẹp tóc)
- Nhóm tăng sức đề kháng, giảm sự căng thẳng
- Nhóm hỗ trợ sinh lý nam, nữ
- Nhóm hỗ trợ điều trị bệnh [36]
2.4.1.4 Tỉ lệ TPCN sản xuất trong nước và ngoài nước được bán tại các nhà thuốc
Chúng tôi xem trên bao bì các sản phẩm để xác định sản phẩm đƣợc sản xuất ở nước nào Sau đó phân TPCN thành 2 nhóm:
- Nhóm được sản xuất trong nước
- Nhóm được sản xuất ở nước khác
2.4.1.5 Tỉ lệ các dạng bào chế của TPCN được bán tại các nhà thuốc
Chúng tôi xác định dạng bào chế của TPCN bằng cách xem trên bao bì sản phẩm rồi phân thành các dạng bào chế sau:
2.4.1.6 Tỉ lệ TPCN phân theo giá bán lẻ tại các nhà thuốc
Chúng tôi khảo sát để rút ra kết luận về tình hình chung dựa vào bảng niêm yết giá của các nhà thuốc, phân loại theo 5 nhóm mức giá:
- Nhóm từ 101.000 đồng đến 300.000 đồng
- Nhóm từ 301.000 đồng đến 600.000 đồng
- Nhóm từ 601.000 đồng đến 1.000.000 đồng
2.4.2 Khảo sát nhận thức của người bán và người mua về TPCN
2.4.2.1 Nhận thức của người bán TPCN
Liên hệ các nhà thuốc trên địa bàn quận Ninh Kiều để tiến hành phỏng vấn nhân viên bán thuốc, nhằm thu thập thông tin chính xác và đáng tin cậy Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn đã được thiết kế và hoàn thiện trong phụ lục 3 để hướng dẫn quá trình khảo sát Quá trình phỏng vấn nhằm đánh giá kiến thức, thái độ và kỹ năng của nhân viên bán thuốc tại các nhà thuốc, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng.
Sau khi hoàn thành phỏng vấn, tiến hành đánh giá kết quả dựa trên các tiêu chuẩn trong bộ câu hỏi phỏng vấn để xác định tỷ lệ nhân viên hiểu đúng về các nội dung quan trọng Nhân viên bán TPCN cần biết rằng việc bán TPCN không yêu cầu kê đơn của bác sĩ và TPCN được bán bình thường mà không cần đơn thuốc, nhằm đảm bảo họ nắm rõ quy định pháp luật liên quan Họ cũng phải hiểu rằng TPCN không chỉ có thể bán tại nhà thuốc mà còn được bán tự do ở các siêu thị, tiệm tạp hóa, nhà thuốc đông y và các cửa hàng chuyên bán TPCN, nhằm khẳng định rằng không chỉ có nhà thuốc mới được phép bán TPCN.
Việc sử dụng TPCN có thể đi kèm với tác dụng phụ, và nhân viên bán hàng cần hiểu rõ điều này để tư vấn khách hàng đúng cách Tác dụng phụ của TPCN có thể khác nhau ở từng người và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cơ địa của người dùng hoặc thành phần trong sản phẩm, chẳng hạn như chất bảo quản Do đó, người tiêu dùng cần cân nhắc và hiểu rõ các rủi ro tiềm ẩn khi sử dụng TPCN để đảm bảo an toàn cho sức khỏe.
Bạn có thể tự sử dụng thực phẩm chức năng (TPCN) thường xuyên, nhưng nhân viên cần hiểu rằng lạm dụng TPCN quá mức không có lợi cho sức khỏe Thay vào đó, nên duy trì chế độ ăn uống hợp lý kết hợp tập luyện thể thao đều đặn để duy trì sức khỏe tốt và đảm bảo an toàn khi sử dụng TPCN [15].
+ TPCN có thể thay thế thuốc trị bệnh đƣợc không Nhân viên phải biết TPCN không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh [13]
2.4.2.2 Nhận thức của người mua về TPCN
Chúng tôi sẽ sử dụng bộ câu hỏi đã được thiết kế và hoàn thiện trong phụ lục 4 để tiến hành phỏng vấn nhằm đánh giá mức độ hiểu biết của người mua về các nội dung quan trọng Quá trình này giúp xác định rõ nhu cầu, sở thích và kiến thức của khách hàng, từ đó nâng cao hiệu quả chiến lược marketing và cung cấp các giải pháp phù hợp Việc khảo sát này là bước quan trọng để hiểu rõ hơn về hành vi tiêu dùng, từ đó tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng và thúc đẩy doanh số bán hàng.
- Tỉ lệ người mua bị nhầm lẫn trong sử dụng TPCN:
+ Xác định tỉ lệ người tưởng TPCN là thuốc
+ Xác định tỉ lệ người tưởng TPCN là thực phẩm thông thường
- Tỉ lệ người mua hiểu biết về TPCN: Xác định tỉ lệ người mua hiểu đúng các nội dung sau:
+ TPCN vẫn có thể có tác dụng phụ
+ Không nên lạm dụng TPCN quá mức
+ TPCN đƣợc bán ở nhiều cửa hàng khác chứ không chỉ riêng ở nhà thuốc mới đƣợc bán
+ Bác sĩ không đƣợc kê đơn TPCN
+ Người tiêu dùng mua TPCN bình thường tại nơi bán [15]
- Tỉ lệ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua TPCN: các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua TPCN của người tiêu dùng chia làm 5 nhóm:
+ Do uy tín của nhà sản xuất
+ Do người bán hàng giới thiệu
+ Do thành phần hoạt chất
+ Do những công dụng in trên bao bì sản phẩm
+ Do bạn bè, người thân giới thiệu [15]
- Tỉ lệ các nguồn cung cấp thông tin về TPCN: Nguồn cung cấp thông tin về TPCN cho người tiêu dùng chia làm 6 nhóm:
+ Quảng cáo trên tivi radio hay internet
+ Thông tin truyền miệng từ bạn bè, người thân
+ Từ nhân viên tiếp thị sản phẩm
+ Từ nhân viên nhà thuốc
- Tỉ lệ các thị hiếu về địa điểm mua TPCN của người tiêu dùng: Chia làm 5 nhóm:
+ Do bác sĩ kê đơn
+ Nhân viên bán hàng đa cấp
PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
2.5.1 Sử dụng thông tin có sẵn
Danh sách các nhà thuốc trên địa bàn quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ của Phòng Quản lý hành nghề Y Dƣợc, Sở Y Tế Thành phố Cần Thơ
2.5.2 Điều tra bằng bộ câu hỏi in sẵn
Trong quá trình khảo sát, việc sử dụng bảng câu hỏi được thiết kế hoàn chỉnh trước khi tiến hành phỏng vấn giúp đảm bảo tính chính xác và đầy đủ thông tin Các câu hỏi trong bộ câu hỏi phỏng vấn gồm có ba loại chính: câu hỏi đóng, câu hỏi mở và câu hỏi kết hợp, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu thập dữ liệu từ đối tượng khảo sát Phỏng vấn trực tiếp và quan sát thực tế là các phương pháp quan trọng để thu thập thông tin chân thực, sâu sắc hơn về đối tượng nghiên cứu.
Câu hỏi đóng là dạng câu hỏi có nhiều câu trả lời đã được chuẩn bị sẵn, giúp người được hỏi lựa chọn dễ dàng Người trả lời bắt buộc phải chọn ít nhất một trong các câu trả lời có sẵn và không được trả lời những câu không nằm trong danh sách Loại câu hỏi này thường được sử dụng để thu thập dữ liệu nhanh chóng và chính xác trong khảo sát hoặc nghiên cứu Việc sử dụng câu hỏi đóng giúp giảm thiểu sự mơ hồ và tăng tính khách quan trong quá trình khảo sát Đây là phương pháp hiệu quả để dễ dàng phân tích và tổng hợp kết quả.
Câu hỏi mở là dạng câu hỏi cho phép người được phỏng vấn trả lời tự do, không bị giới hạn hay dẫn dắt, giúp ghi nhận ý kiến chân thực của đối tượng Loại câu hỏi này không cung cấp sẵn câu trả lời nào để người được hỏi lựa chọn, tạo điều kiện để họ thể hiện suy nghĩ, cảm xúc một cách tự nhiên và phong phú hơn Việc sử dụng câu hỏi mở trong phỏng vấn giúp thu thập thông tin đa dạng, đầy đủ hơn về quan điểm, trải nghiệm của người trả lời Đây là kỹ thuật quan trọng trong các cuộc trao đổi nhằm khám phá sâu hơn về chủ đề cần tìm hiểu.
- Câu hỏi kết hợp là loại câu hỏi kết hợp cả hai loại trên
Sau khi nghiên cứu và xây dựng bộ câu hỏi phỏng vấn kỹ lưỡng (phụ lục 2, 3, 4), tác giả đã đến trực tiếp địa điểm thu thập số liệu và gặp gỡ đối tượng phỏng vấn để thu thập thông tin chân thực và chính xác cho nghiên cứu của mình.
XỬ LÝ SỐ LIỆU
- Các phiếu điều tra sau khi đƣợc phỏng vấn xong sẽ đƣợc kiểm tra tính phù hợp Dữ liệu đƣợc mã hóa và nhập vào máy vi tính
Việc tính tỷ lệ đạt được được thực hiện dễ dàng thông qua phần mềm Microsoft Excel, giúp tối ưu quá trình xử lý dữ liệu Tỷ lệ này được tính dựa trên từng loại biến số cụ thể, phản ánh tỷ lệ trên tổng số cá thể, sản phẩm hoặc giá trị thực tế của thực phẩm chức năng (TPCN) Việc sử dụng Excel không chỉ nâng cao độ chính xác mà còn giúp dễ dàng theo dõi và phân tích kết quả một cách tiện lợi, phù hợp với các yêu cầu của nghiên cứu và đánh giá mức độ thành công của các chiến lược thực hiện.
- Trình bày số liệu và kết quả bằng phần mềm Microsoft Word.
SAI SỐ VÀ CÁCH KHẮC PHỤC
2.7.1 Những sai số có thể mắc phải
- Người được phỏng vấn ngại tiếp xúc và đưa ra thông tin không chính xác
- Do phỏng vấn không đúng đối tƣợng trực tiếp lấy số liệu
Thời gian phỏng vấn tại các nhà thuốc thường có hạn chế, khiến đối tượng được phỏng vấn không nắm rõ vấn đề và dẫn đến trả lời sai hoặc không đầy đủ Điều này gây ra những sai sót trong thông tin thu thập, ảnh hưởng đến độ chính xác của dữ liệu nghiên cứu Đề xuất các biện pháp tăng cường đào tạo và chuẩn bị kỹ lưỡng cho nhân viên y tế để cải thiện chất lượng phỏng vấn và đảm bảo dữ liệu chính xác hơn.
- Do người phỏng vấn đặt câu hỏi chưa rõ ràng, đối tượng có thể không hiểu, hoặc hiểu lầm dẫn đến trả lời không chính xác
2.7.2 Cách khắc phục sai số
- Gửi bảng câu hỏi tại nhà thuốc và hẹn lấy sau nếu người được phỏng vấn có việc bận không phỏng vấn trực tiếp đƣợc
- Thiết kế bộ câu hỏi mang tính đặc trƣng dựa theo nguyên tắc:
+ Đƣợc kiểm tra theo chuyên môn
Phiếu câu hỏi được soạn thảo dựa trên tham khảo ý kiến của các chuyên gia và người có kinh nghiệm thực tế trong cộng đồng, nhằm đảm bảo tính chính xác và phù hợp Quá trình hoàn thiện phiếu câu hỏi diễn ra qua các bước cụ thể, từ việc xác định mục tiêu, thiết kế câu hỏi phù hợp, đến kiểm tra và chỉnh sửa để nâng cao chất lượng Việc này giúp đảm bảo phiếu câu hỏi phản ánh đúng thực trạng và thuận tiện cho quá trình thu thập dữ liệu, góp phần nâng cao độ tin cậy của nghiên cứu.
+ Xác định loại câu hỏi sẽ sử dụng
+ Lựa chọn cách thu thập cho từng biến số
+ Viết nháp phiếu câu hỏi
+ Tiến hành đánh giá, hiệu chỉnh và hoàn thiện bộ câu hỏi
- Mã hóa và xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel
- Đối chiếu và kiểm tra trong quá trình nhập số liệu.
Y ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu nhằm khảo sát tình hình giá bán và mức độ hiểu biết về TPCN tại các nhà thuốc ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, giúp các cơ quan chức năng có cái nhìn tổng thể về thực trạng thị trường Dữ liệu thu thập sẽ hỗ trợ xây dựng các phương hướng và kế hoạch cụ thể để hoàn thiện công tác quản lý kinh doanh TPCN Công tác này nhằm đảm bảo quyền lợi và an toàn cho người tiêu dùng, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động kinh doanh TPCN chặt chẽ hơn.
Tất cả thông tin khảo sát trong đề tài này chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học và được bảo mật tuyệt đối Danh sách các đối tượng tham gia khảo sát đều được mã hóa để đảm bảo quyền riêng tư và sự an toàn của người tham gia Việc bảo vệ dữ liệu là ưu tiên hàng đầu trong quá trình thực hiện nghiên cứu, giúp duy trì tính khách quan và độ tin cậy của kết quả.
KẾT QUẢ
KHẢO SÁT THỰC TẾ BÁN LẺ CÁC LOẠI THỰC PHẨM CHỨC NĂNG TẠI CÁC NHÀ THUỐC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NINH KIẾU THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2014
3.1.1 Tỉ lệ nhà thuốc đƣợc phân theo số lƣợng chủng loại TPCN bán tại nhà thuốc
Bảng 3.1 Số lƣợng chủng loại TPCN đƣợc bán tại các nhà thuốc
Số lƣợng chủng loại TPCN Số lƣợng nhà thuốc Tỉ lệ %
Từ 50 loại TPCN trở xuống 105 52,2
Kết quả khảo sát ở các nhà thuốc trên địa bàn quận Ninh Kiều có 201 nhà thuốc có bán TPCN
Có tổng cộng 105 nhà thuốc bán dưới 50 loại TPCN, chiếm tỷ lệ cao nhất lên đến 52,2% Các nhà thuốc này chủ yếu phân bố rải rác ở các khu vực xa trung tâm thành phố, mặc dù vẫn có một số nằm trong trung tâm.
Số nhà thuốc bán từ 150 loại TPCN trở lên có 27 nhà thuốc chiếm tỉ lệ thấp nhất 13,5%
3.1.2 Tỉ lệ nhà thuốc phân theo tỉ lệ TPCN so với thuốc và mỹ phẩm đƣợc bán
Bảng 3.2 Tỉ lệ mặt hàng TPCN trong nhà thuốc
Tỉ lệ TPCN tại nhà thuốc Số lƣợng nhà thuốc Tỉ lệ %
Bảng 3.2 cho thấy trong tổng số 201 nhà thuốc có bán TPCN, phần lớn nhà thuốc có tỷ lệ TPCN từ 25% trở xuống Trong đó, nhóm nhà thuốc có tỷ lệ TPCN từ 20% đến 25% chiếm số lượng lớn nhất với 67 nhà thuốc.
3.1.3 Tỉ lệ TPCN phân theo nhóm tác dụng
Bảng 3.3 Tỉ lệ TPCN theo nhóm tác dụng đƣợc bán tại các nhà thuốc
Nhóm TPCN Số loại Tỉ lệ%
Bổ sung vitamin và khoáng chất 52 12,6
Làm đẹp, chống lão hóa (giảm cân, đẹp da, đẹp tóc) 112 27,0
Tăng sức đề kháng, giảm sự căng thẳng 101 24,4
Hỗ trợ sinh lý nam, nữ 16 3,9
Hỗ trợ điều trị bệnh (gan, thận, tim mạch, tiểu đường, cơ xương khớp, hô hấp, tiêu hóa…) 133 32,1
Hiện tại, có 414 loại Thực phẩm chức năng (TPCN) được lưu hành tại các nhà thuốc, trong đó nhóm TPCN hỗ trợ điều trị các bệnh mãn tính chiếm tỉ lệ cao nhất với 133 loại, tương đương 32,1% Ngược lại, nhóm TPCN hỗ trợ sinh lý nam nữ có số lượng thấp nhất, chỉ 16 loại, chiếm tỉ lệ 3,9%.
3.1.4 Tỉ lệ TPCN sản xuất trong nước và ngoài nước
Bảng 3.4 Tỉ lệ TPCN sản xuất trong nước và ngoài nước
Nguồn gốc TPCN Số loại Tỉ lệ %
Trong tổng số 414 loại thực phẩm chức năng (TPCN) được khảo sát, có đến 57,5% sản phẩm do các công ty trong nước sản xuất và đang lưu hành trên thị trường, thể hiện sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp nội địa Ngược lại, 42,5% còn lại là các sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài, cho thấy sự đa dạng và mở rộng nguồn cung cấp thực phẩm chức năng tại địa phương.
3.1.5 Tỉ lệ các dạng bào chế của TPCN
Bảng 3.5 Tỉ lệ các dạng bào chế của các TPCN Dạng bào chế Số loại TPCN Tỉ lệ %
Viên tròn, viên bao đường 17 4,1
Bảng 3.5 cho thấy hầu hết các loại TPCN được bán tại các nhà thuốc đều có dạng viên, chiếm tỷ lệ 84,8%, trong đó viên nang cứng chiếm tỷ lệ cao nhất với 42,5% Trong khi đó, dạng trà lại có tỷ lệ thấp nhất chỉ 1,9%, phản ánh xu hướng phổ biến của các dạng TPCN trên thị trường.
3.1.6 Tỉ lệ TPCN phân theo giá bán lẻ
Bảng 3.6 Tỉ lệ TPCN phân theo giá bán lẻ
Giá sản phẩm Số loại TPCN Tỉ lệ %
Theo Bảng 3.6, phần lớn các TPCN có giá bán từ 300 nghìn đồng trở xuống, trong đó nhóm TPCN có giá dưới 100 nghìn đồng chiếm tỷ lệ cao nhất với 37% Điều này cho thấy phân khúc giá rẻ của các sản phẩm TPCN chiếm ưu thế trên thị trường.
KHẢO SÁT NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI BÁN VÀ NGƯỜI MUA VỀ THỰC PHẨM CHỨC NĂNG
3.2.1 Tỉ lệ nhân viên bán TPCN hiểu đúng về TPCN
Không thể thay thế thuốc chữa bệnh
Bán bình thường không cần kê đơn
TPCN đƣợc phép bày bán tự do
Về việc sử dụng thường xuyên TPCN
Về tác dụng phụ của TPCN
Tỉ lệ nhân viên hiểu đúng
Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ nhân viên bán TPCN hiểu biết đúng về TPCN
Biểu đồ 3.1 cho thấy tỷ lệ nhân viên bán hàng hiểu đúng về tác dụng phụ của thực phẩm chức năng còn khá thấp, điều này dễ dẫn đến sự hiểu lầm và cung cấp thông tin không chính xác cho khách hàng Tuy nhiên, phần lớn nhân viên đã nhận thức rõ rằng thực phẩm chức năng không thể thay thế thuốc chữa bệnh, góp phần nâng cao mức độ hiểu biết và truyền đạt đúng đắn về công dụng của sản phẩm.
3.2.2 Khảo sát sự hiểu biết của người mua về TPCN
3.2.2.1 Tỉ lệ người mua bị nhầm lẫn trong sử dụng TPCN
Bảng 3.7 Tỉ lệ người mua bị nhầm lẫn trong sử dụng TPCN
Nội dung Tầng số (trong 385 người khảo sát) Tỉ lệ %
Tưởng là thực phẩm, nước giải khát thông thường 71 18,4
Theo khảo sát thực tế trên 385 người mua hàng, có đến 31,7% người tiêu dùng nhầm lẫn giữa Thực phẩm chức năng (TPCN) với thuốc hoặc các loại thực phẩm, nước giải khát thông thường Cụ thể, 13,3% số người khảo sát cho rằng TPCN là thuốc, trong khi 18,4% lại nghĩ rằng TPCN là thực phẩm thông thường Điều này cho thấy nhận thức của người tiêu dùng về vai trò và phân biệt của Thực phẩm chức năng còn hạn chế, gây ảnh hưởng đến quyết định sử dụng và tín nhiệm đối với các sản phẩm này.
3.2.2.2Tỉ lệ người mua hiểu biết đúng về TPCN
Bảng 3.8 Tỉ lệ người mua hiểu biết đúng về TPCN
Nội dung Số người Tỉ lệ %
Hiểu rằng TPCN vẫn có tác dụng phụ 174 45,2
Hiểu rằng không nên tự sử dụng TPCN thường xuyên mỗi ngày
Hiểu rằng TPCN đƣợc phép bán tự do 166 43,1
Mua TPCN không cần đơn của bác sĩ 258 67,0
Chưa đủ nhiều người mua hiểu rõ về tác dụng phụ của TPCN cũng như cách sử dụng đúng đắn Tuy nhiên, đa số vẫn biết rằng việc mua TPCN bình thường không yêu cầu có đơn của bác sĩ Điều này cho thấy cần nâng cao kiến thức của người tiêu dùng về an toàn và hiệu quả của thực phẩm chức năng để đảm bảo sử dụng đúng cách và tránh các rủi ro không mong muốn.
3.2.2.3 Tỉ lệ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua TPCN
Bảng 3.9 Tỉ lệ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua TPCN
Yếu tố Tầng số chọn Tỉ lệ %
Do bạn bè, người thân giới thiệu 93 24,2
Do người bán hàng giới thiệu 62 16,1
Những công dụng in trên bao bì 155 40,3
Do uy tín của nhà sản xuất 183 47,5
Bảng 3.9 cho thấy rằng hai yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định của người tiêu dùng là Thành phần hoạt chất và Uy tín của nhà sản xuất, chiếm tỷ lệ cao trong các yếu tố được khảo sát Ngược lại, yếu tố do người bán hàng giới thiệu chiếm tỷ lệ thấp nhất, cho thấy khách hàng ít dựa vào lời giới thiệu từ người bán trong quá trình lựa chọn sản phẩm.
3.2.2.4 Tỉ lệ các nguồn cung cấp thông tin về TPCN
Bảng 3.10 Tỉ lệ các nguồn cung cấp thông tin về TPCN Nguồn cung cấp thông tin Tầng số chọn Tỉ lệ %
Quảng cáo trên tivi, radio, internet 328 85,2
Thông tin truyền miệng từ bạn bè người thân 157 40,8
Từ nhân viên tiếp thị sản phẩm 131 34,0
Từ nhân viên nhà thuốc 57 14,8
Bảng 3.10 cho thấy rằng quảng cáo trên tivi, radio, internet là hình thức tiếp cận phổ biến nhất, giúp 85,2% người biết đến TPCN Trong khi đó, tiếp cận qua nhân viên nhà thuốc lại chiếm tỷ lệ thấp nhất, chỉ 14,8% Điều này cho thấy các kênh truyền thông đại chúng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về TPCN.
3.2.2.5 Tỉ lệ các thị hiếu về địa điểm mua TPCN của người tiêu dùng
Bảng 3.11 Tỉ lệ các thị hiếu về địa điểm mua TPCN của người tiêu dùng
Nơi mua TPCN Tầng số chọn Tỉ lệ %
Siêu thị, tiệm tạp hóa 108 28,1
Do bác sĩ giới thiệu 84 21,8
Nhân viên bán hàng đa cấp 43 11,2
Dựa trên Bảng 3.11, có 385 người được phỏng vấn, trong đó tỷ lệ cao nhất (83,9%) chọn mua thực phẩm chức năng (TPCN) tại nhà thuốc, cho thấy các nhà thuốc là kênh tiêu thụ chính của người tiêu dùng Ngược lại, chỉ có 11,2% số người mua TPCN từ nhân viên bán hàng đa cấp, phản ánh mức độ phổ biến thấp của kênh này trong thị trường hiện nay.
BÀN LUẬN
THỰC TẾ BÁN LẺ CÁC LOẠI THỰC PHẨM CHỨC NĂNG TẠI CÁC NHÀ THUỐC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NINH KIẾU THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2014
Từ khi xuất hiện, TPCN luôn là vấn đề nóng được quan tâm và bàn luận nhiều, với nhiều ý kiến trái chiều về hiệu quả và chất lượng của sản phẩm Thị trường TPCN ghi nhận sự gia tăng nhanh chóng về chủng loại và số lượng sản phẩm đăng ký Trong sáu tháng đầu năm 2014, đã có 2.576 sản phẩm TPCN được cấp số đăng ký, trung bình mỗi tháng có từ 400 đến 500 mặt hàng mới gia nhập thị trường.
4.1.1 Tỉ lệ nhà thuốc đƣợc phân theo số lƣợng chủng loại TPCN bán tại nhà thuốc
Dựa trên khảo sát thực tế, có thể xác định có ít nhất 414 mặt hàng thực phẩm chức năng (TPCN) được bán lẻ tại các nhà thuốc, ngoài ra còn nhiều kênh phân phối khác như siêu thị, tiệm tạp hóa, cửa hàng chuyên biệt và các công ty bán hàng đa cấp Theo nghiên cứu của Đỗ Quang Dương năm 2009 tại tỉnh Bình Dương, số loại TPCN bán lẻ là 317 mặt hàng, cho thấy thị trường có sự đa dạng lớn Tuy nhiên, phần lớn các nhà thuốc chỉ bán dưới 50 mặt hàng TPCN, chiếm tới 52,2% trong tổng số 105 nhà thuốc khảo sát, chủ yếu là các mặt hàng quen thuộc với người tiêu dùng và có lượng tiêu thụ ổn định trong những năm gần đây Điều này phản ánh sự chênh lệch giữa số lượng mặt hàng trên thị trường và số mặt hàng phổ biến tại các nhà thuốc địa phương.
Hiện tại, chỉ có 27 nhà thuốc trên địa bàn cung cấp trên 150 loại TPCN tại quầy, cho thấy nguồn cung vẫn còn hạn chế so với nhu cầu thị trường Mặc dù các loại thực phẩm chức năng ngày càng đa dạng hơn về chủng loại, nhưng số mặt hàng TPCN được bày bán tại các nhà thuốc khảo sát vẫn còn khá ít so với số lượng lớn các loại sản phẩm trên thị trường Điều này phản ánh sự cần thiết mở rộng phạm vi cung cấp các sản phẩm TPCN để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng.
TPCN đang có trên thị trường Điều này có thể làm giảm khả năng cạnh tranh của nhà thuốc với các kênh bán lẻ khác
4.1.2 Tỉ lệ nhà thuốc phân theo tỉ lệ TPCN so với thuốc và mỹ phẩm
Tỉ lệ TPCN/thuốc và mỹ phẩm khác nhau giữa các nhà thuốc, trong đó nhóm nhà thuốc có tỉ lệ từ 20-25% chiếm tỷ lệ cao nhất (33,3%) Ngược lại, nhóm nhà thuốc có tỉ lệ TPCN/thuốc và mỹ phẩm trên 30% lại chiếm tỷ lệ thấp nhất (6,5%), chủ yếu tập trung tại các nhà thuốc tư nhân gần chợ và các trung tâm trong thành phố.
Nhóm nhà thuốc có tỷ lệ TPCN/thuốc và mỹ phẩm dưới 15% chiếm 25,4%, chủ yếu tập trung tại các địa điểm xa chợ và trung tâm thành phố Những nhà thuốc này thường kinh doanh chủ yếu các loại thuốc và TPCN do doanh nghiệp cung ứng, ít mua hàng hóa từ các công ty khác để tối ưu hóa nguồn cung cấp.
Tỉ lệ TPCN/thuốc và mỹ phẩm trung bình tại các nhà thuốc khảo sát là 20,3%, cho thấy sự phổ biến của các sản phẩm này trong thị trường dược phẩm Trong một nghiên cứu năm 2011 của tác giả Nguyễn Minh Tùng tại 96 nhà thuốc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ này là 19%, phản ánh xu hướng tương tự trong khu vực.
4.1.3 Tỉ lệ TPCN phân theo nhóm tác dụng
Thị trường thực phẩm bổ sung (TPCN) hiện nay rất phong phú và đa dạng, đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng người tiêu dùng ở các độ tuổi, giới tính và tình trạng sức khỏe khác nhau Các sản phẩm TPCN hỗ trợ điều trị bệnh mãn tính, giảm cholesterol, làm bền chắc thành mạch cho người mắc bệnh tim mạch, cũng như các loại thực phẩm dành cho người gầy hoặc trà giảm cân cho người thừa cân, béo phì đang ngày càng phổ biến.
Nhóm thực phẩm chức năng (TPCN) chiếm tỷ lệ cao nhất (32,1%) trong việc hỗ trợ điều trị các bệnh mãn tính Các sản phẩm này phù hợp với người tiêu dùng trung niên và cao tuổi, giúp cải thiện các bệnh mãn tính phổ biến như tiểu đường, huyết áp, các bệnh tim mạch và vấn đề về xương khớp.
Nhóm thực phẩm chức năng (TPCN) có tác dụng làm đẹp và chống lão hóa đang chiếm tỷ lệ cao thứ hai với 27% Hiện nay, các sản phẩm TPCN làm đẹp đang được quan tâm nhất, với các công ty tập trung khai thác các dòng sản phẩm giúp cải thiện làn da, tóc và hỗ trợ giảm cân.
4.1.4 Tỉ lệ TPCN sản xuất trong nước và ngoài nước
Hiện nay, trên thế giới có nhiều quốc gia sản xuất thực phẩm chức năng (TPCN), nhưng do sự chậm trễ trong việc phát triển và phổ biến TPCN tại Việt Nam so với các nước phát triển, chỉ có một số quốc gia nhập khẩu TPCN vào Việt Nam.
Các mặt hàng TPCN sản xuất trong nước chiếm 57,5% thị trường trên địa bàn, trong khi các mặt hàng ngoại nhập chiếm 42,5%, chủ yếu từ Anh, Mỹ, Pháp, Úc, Nhật, Hàn Quốc và Trung Quốc Các sản phẩm ngoại nhập thường có giá thành cao do nguyên liệu quý hiếm, đắt tiền và chi phí vận chuyển, thuế nhập khẩu cũng làm tăng giá bán, đồng thời phân phối qua nhiều trung gian Tuy nhiên, chất lượng và xuất xứ của các sản phẩm ngoại nhập khó xác định rõ ràng, vì vậy người tiêu dùng cần thận trọng, kiểm tra kỹ các sản phẩm chưa được Cục ANTP cấp số đăng ký và tránh mua hàng qua các kênh bán hàng đa cấp hoặc từ các cá nhân, đơn vị nhỏ lẻ thiếu uy tín để đảm bảo an toàn cho sức khỏe.
4.1.5 Tỉ lệ các dạng bào chế của TPCN
Các TPCN chủ yếu được bào chế ở dạng viên như viên nén, viên nang, viên sủi, viên tròn, viên bao, chiếm tới 84,8% tổng số loại TPCN khảo sát, phản ánh thực tế do đối tượng sử dụng chủ yếu là người trưởng thành với sức khỏe ổn định và khả năng tự uống thuốc viên Dạng viên được ưa chuộng nhờ tính tiện lợi, dễ vận chuyển và bảo quản, đồng thời mang lại trải nghiệm sử dụng nhanh chóng và đẹp mắt cho người tiêu dùng.
Trên thị trường có các dạng chế phẩm như siro, dung dịch uống, bột, cốm và trà, mang lại nhiều lợi ích khác nhau Các sản phẩm dạng lỏng dễ uống, phù hợp cho người già hoặc những người gặp khó khăn khi nuốt viên thuốc Trà thảo dược thường có tác dụng thanh nhiệt, mát gan, giảm mụn nhọt và làm dịu cơn nóng trong người Trong khi đó, dạng cốm và bột (7,0%) ít phổ biến hơn do tính bất tiện khi cần hòa vào nước trước khi sử dụng, phù hợp hơn cho trẻ em hoặc người khó nuốt viên thuốc, góp phần nâng cao trải nghiệm sử dụng các sản phẩm chăm sóc sức khỏe.
4.1.6 Tỉ lệ TPCN phân theo giá bán lẻ
Các loại TPCN trên thị trường Việt Nam thường có mức giá cao so với thu nhập của người dân, với 73% sản phẩm có giá trên 100 nghìn đồng Theo nghiên cứu của Đỗ Quang Dương tại Bình Dương, khoảng 50% các loại TPCN được khảo sát có giá dưới 100 nghìn đồng, cho thấy sự phân bổ về giá cả đa dạng Giá cả đóng vai trò ảnh hưởng lớn đến quyết định lựa chọn sử dụng TPCN của người tiêu dùng Đặc biệt, giá bán của các sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài thường cao hơn, ảnh hưởng đến ngân sách của người tiêu dùng Việt Nam khi lựa chọn các loại thực phẩm chức năng.
Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc có mức giá cao hơn các sản phẩm cùng loại sản xuất ở Việt Nam [15]
Sự gia tăng các sản phẩm TPCN trên thị trường đã gây ra tình trạng hỗn loạn về giá cả do nhà nước quản lý giá không chặt chẽ như đối với thuốc Các sản phẩm nội địa có giá thành thường dưới 300 nghìn đồng nhờ vào nguồn nguyên liệu phong phú, nguồn nhân lực dồi dào và công nghệ tiên tiến, đồng thời vẫn đảm bảo chất lượng nhờ uy tín của các nhà sản xuất lớn trong nước và quản lý chặt chẽ từ các cơ quan chức năng Mặc dù giá thành không cao hơn hàng ngoại nhập, nhưng chi phí quảng cáo và phân phối khiến giá bán lẻ của TPCN thường cao hơn.
NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI BÁN VÀ NGƯỜI MUA VỀ THỰC PHẨM CHỨC NĂNG
4.2.1 Nhận thức của người bán TPCN Đa số các nhân viên bán thuốc đều nhận biết rằng TPCN không thể thay thế thuốc trị bệnh (chiếm tỉ lệ 90,6%) Các nhân viên bán thuốc nhận biết, phân biệt giữa thuốc và TPCN qua dòng chữ “thực phẩm chức năng” in trên bao bì sản phẩm Thực tế còn một số mặt hàng TPCN trên bao bì không có dòng chữ “thực phẩm chức năng” hoặc “Thực phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh” điều này khiến cho nhân viên bán thuốc và người tiêu dùng khó nhận biết đó là thuốc hay TPCN [13]
Mặc dù tỉ lệ nhân viên bán thuốc hiểu rằng TPCN bán không cần đơn là 73,1%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 21,5% trong nghiên cứu của Đỗ Quang Dương tại Bình Dương năm 2009, nhưng kiến thức về tác dụng phụ và cách sử dụng TPCN vẫn còn rất thấp, chỉ khoảng 23,1% đến 35% Hiện nay, nhiều sản phẩm không công bố rõ ràng các tác dụng phụ và điều cấm kỵ, gây nhầm lẫn cho người bán và người tiêu dùng, đặc biệt khi nhiều người hiểu lầm rằng dùng càng nhiều TPCN càng tốt Tuy nhiên, một chế độ ăn cân đối vẫn là cách tốt nhất để duy trì sức khỏe thay vì lạm dụng TPCN không kiểm soát TPCN là các chế phẩm từ thực phẩm đã qua chế biến nhằm tăng cường tác dụng sinh lý và hỗ trợ sức khỏe ngoài việc cung cấp dinh dưỡng cơ bản Các thành phần của TPCN, như dược thảo hoặc các chế phẩm nguồn gốc thực phẩm, thường không gây dị ứng, nhưng các dược chất hoặc chất bảo quản có thể gây dị ứng nặng hoặc phản ứng không mong muốn, giống như thuốc Do đó, các TPCN đều chứa tá dược và chất bảo quản, làm tăng khả năng gây dị ứng như các loại thuốc thông thường.
4.2.2 Nhận thức của người mua về TPCN
4.2.2.1 Tỉ lệ người mua bị nhầm lẫn trong sử dụng TPCN
Khảo sát trên 385 người mua tại các nhà thuốc cho thấy có tới 31,7% người mua nhầm lẫn TPCN với thuốc và thực phẩm thông thường, trong khi nghiên cứu tại Bình Dương của Đỗ Quang Dương năm 2009 cho thấy tỉ lệ này lên tới 78% [15] Ranh giới giữa TPCN và thuốc hiện nay còn chưa rõ ràng do hình dạng đóng gói và cách sử dụng của TPCN giống như thuốc, dễ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng Đặc biệt, các TPCN hỗ trợ điều trị bệnh mãn tính, như nhóm TPCN gan mật, có hình thức và công dụng gần như thuốc, thường bán kèm khiến người tiêu dùng và nhân viên nhà thuốc dễ nhầm lẫn [19] Nhiều sản phẩm còn thiếu dòng cảnh báo bắt buộc trên bao bì như: “Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh”, khiến người tiêu dùng khó phân biệt giữa thuốc và TPCN Điều này thể hiện rõ TPCN là sự giao thoa giữa thực phẩm và thuốc, mang đặc trưng giống thực phẩm về bản chất, hình thức giống thuốc nhưng khác về nội dung và mục đích sử dụng [17].
4.2.2.2 Tỉ lệ người mua hiểu biết về TPCN
Khoảng 45,2% người mua được khảo sát hiểu được tác dụng phụ của thực phẩm chức năng (TPCN), mức hiểu biết này phù hợp với nghiên cứu của Đỗ Quang Dương trên 384 người tại Bình Dương (46,8%), cho thấy đa số người tiêu dùng vẫn chưa nhận thức rõ về các tác dụng phụ của TPCN Trên thị trường hiện nay, có nhiều loại TPCN được quảng cáo hấp dẫn, nhằm đánh vào tâm lý người tiêu dùng nhờ vào những lợi ích cho sức khỏe Tuy nhiên, do TPCN thuộc nhóm thực phẩm, chúng ít bị kiểm soát chặt chẽ bởi các quy định luật pháp như thuốc, dẫn đến các tác dụng phụ và những điều cấm kỵ không được đề cập rõ ràng Vì vậy, TPCN không hoàn toàn vô hại và người tiêu dùng cần thận trọng khi sử dụng.
Một phần lớn người mua (38,2%) cho rằng không nên tự sử dụng TPCN hàng ngày, cho thấy họ chưa hiểu rõ cách sử dụng đúng đắn của sản phẩm Nguyên nhân chính có thể là do tên gọi “thực phẩm chức năng” khiến người tiêu dùng nhầm lẫn rằng chúng an toàn như thức ăn, thức uống hàng ngày Tuy nhiên, không phải tất cả các TPCN đều vô hại, khiến người tiêu dùng băn khoăn về hiệu quả và độ an toàn của sản phẩm khi tự ý sử dụng.
Việc sử dụng thực phẩm chức năng (TPCN) đòi hỏi thời gian để cơ thể tiếp nhận và cảm nhận hiệu quả rõ ràng Nhiều người tiêu dùng chưa hiểu rõ công dụng thực sự của TPCN và dễ nhầm lẫn rằng chúng có thể điều trị bệnh Nhà sản xuất thường xuyên thiết kế thông tin quảng cáo phản ánh quá mức thật trạng, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng Hiện nay, các cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý và tuyên truyền về TPCN do hạn chế trong kiến thức của cộng đồng về sản phẩm này [36].
Theo khảo sát, có đến 67% người tiêu dùng hiểu rõ rằng thực phẩm bổ sung chức năng (TPCN) không cần đơn thuốc của bác sĩ Trong quá trình điều trị, các bác sĩ không được phép ghi TPCN trên đơn thuốc, đảm bảo sự rõ ràng và chính xác trong chẩn đoán, điều trị y tế Hiểu biết đúng về vai trò của TPCN giúp người tiêu dùng sử dụng sản phẩm an toàn, đúng mục đích và phù hợp với hướng dẫn của các chuyên gia y tế.
4.2.2.3 Tỉ lệ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua TPCN
Bảng 3.9 cho thấy yếu tố dựa vào thành phần hoạt chất đã biết có lợi cho sức khỏe chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 50,9%, trong các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua TPCN của người tiêu dùng.
Trong các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua TPCN, uy tín của nhà sản xuất chiếm tỷ lệ lớn đến 47,5% theo nghiên cứu năm 2009, trong khi đó tại tỉnh Bình Dương cùng năm, yếu tố này chỉ chiếm 14% Các chuyên gia dinh dưỡng nhấn mạnh rằng uy tín nhà sản xuất và phù hợp với mục tiêu sức khỏe là hai yếu tố quan trọng hàng đầu mà người tiêu dùng xem xét Ngoài ra, người tiêu dùng cần chú ý đến đặc điểm dinh dưỡng của sản phẩm, hàm lượng thành phần ghi trên nhãn và so sánh giá cả giữa TPCN và thực phẩm thông thường để đưa ra lựa chọn phù hợp.
40,3% người tiêu dùng lựa chọn TPCN dựa trên các công dụng ghi trên bao bì, đây là cơ sở để họ đưa ra quyết định nếu nội dung này được trung thực và kiểm định bởi cơ quan chức năng Tuy nhiên, nhiều nhà sản xuất thường quảng cáo quá mức, thêm các công dụng không rõ ràng cho sản phẩm, như ghi nhãn sản phẩm dành cho người tiểu đường, huyết áp, tim mạch là có thể thay thế phần lớn hoặc toàn bộ khẩu phần ăn hàng ngày, dù thực tế đây chỉ là các lợi ích được chứng nhận một phần Họ cố tình ghi thêm các công dụng như ngừa bệnh tiểu đường, ung thư, loãng xương, giúp trẻ lâu để gây hiểu lầm cho người tiêu dùng về tác dụng thực sự của TPCN Điều này khiến nhiều người nhầm lẫn TPCN với thuốc và nghĩ rằng chúng có thể thay thế thuốc chữa bệnh, dẫn đến những hiểu lầm tai hại về vai trò của các sản phẩm này.
Chỉ có 16,1% người tiêu dùng mua TPCN dựa trên sự giới thiệu của người bán hàng, trong khi đó 24,2% lại nhấn mạnh họ mua theo lời giới thiệu từ bạn bè, người thân Điều này cho thấy yếu tố truyền miệng và giới thiệu từ người quen chưa thực sự đủ sức thuyết phục người tiêu dùng tin tưởng và quyết định mua TPCN.
4.2.2.4 Tỉ lệ các nguồn cung cấp thông tin về TPCN
Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, nguồn cung cấp thông tin về TPCN chủ yếu là quảng cáo trên tivi, radio và internet, chiếm tỷ lệ 85,2%, phù hợp với nghiên cứu tại tỉnh Bình Dương với tỷ lệ 82,7% Quảng cáo trên báo giấy và tạp chí cũng đóng vai trò quan trọng, chiếm 49,4%, nhưng là nguồn thông tin chưa chính xác, dễ gây hiểu lầm cho người sử dụng do vi phạm phổ biến về nội dung thành phần và công dụng của sản phẩm Theo điều tra của Cục An Toàn Thực Phẩm năm 2011, cứ 10 quảng cáo TPCN trên truyền hình thì có 2 quảng cáo không có giấy phép, chiếm tỷ lệ 20%.
Cứ 10 quảng cáo đã có giấy phép nhƣng có 5 quảng cáo còn sai về nội dung so với công bố tiêu chuẩn (50%) [16]
Nguồn thông tin đáng tin cậy từ tài liệu khoa học chỉ chiếm tỷ lệ 27,5%, thấp do nhiều người chưa có điều kiện tiếp cận các tài liệu này Ngoài ra, nguồn thông tin về TPCN từ người thân, bạn bè chiếm tỷ lệ cao, lên đến 40,8%, vì khi họ đã sử dụng hiệu quả sẽ giới thiệu loại TPCN đó, trở thành nguồn thông tin phổ biến hiện nay.
Nguồn thông tin về TPCN chủ yếu được cung cấp bởi nhân viên tiếp thị sản phẩm, chiếm tỷ lệ 34%, nhấn mạnh vai trò của các công ty bán TPCN trong việc chủ động tiếp cận khách hàng Trong khi đó, nhân viên nhà thuốc chỉ chiếm 14,8%, vì họ chủ yếu bán hàng theo yêu cầu của khách hàng và ít tham gia cung cấp thông tin sản phẩm Khoảng thời gian khách hàng đến nhà thuốc thường là khi đã tự tìm hiểu về TPCN qua các nguồn khác, nên họ chỉ mua sản phẩm mà không cần hỏi thêm nhân viên Điều này cho thấy khách hàng ngày càng chủ động trong việc tìm hiểu thông tin trước khi mua TPCN, làm giảm vai trò của nhân viên tại các nhà thuốc trong việc cung cấp kiến thức về sản phẩm.
4.2.2.5 Tỉ lệ các thị hiếu về địa điểm mua TPCN của người tiêu dùng
Bảng 3.11 cho thấy người mua chọn mua TPCN tại nhà thuốc với tỷ lệ cao nhất đạt 83,9%, vì nhà thuốc được xem là kênh phân phối chất lượng và uy tín Hiện nay, số lượng nhà thuốc tư nhân tăng nhanh để đáp ứng nhu cầu sử dụng thuốc của người dân Từ ngày 01/01/2011, tất cả các nhà thuốc trên toàn quốc đều phải đạt chuẩn GPP (thực hành tốt nhà thuốc), giúp các nhà thuốc dễ dàng hơn trong việc kinh doanh TPCN và thu hút lượng khách hàng lớn nhất.