1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

2568 Khảo Sát Tình Hình Nhiễm Hiv Và Kiến Thức Thực Hành Đúng Về Phòng Lây Nhiễm Hiv Ở Người Nghiện Chích Ma Túy Tại Huyện Long Hồ Bình Minh Và Tp Vĩnh Lon.pdf

91 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Tình Hình Nhiễm HIV Và Kiến Thức Thực Hành Đúng Về Phòng Lây Nhiễm HIV Ở Người Nghiện Chích Ma Túy Tại Huyện Long Hồ Bình Minh Và Tp Vĩnh Long
Tác giả Võ Văn Tấn Hùng
Người hướng dẫn PGS. TS Phạm Hùng Lực
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y Tế Công Cộng
Thể loại Luận văn chuyên khoa cấp I y tế công cộng
Năm xuất bản 2012
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ VÕ VĂN TẤN HÙNG KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM HIV VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH ĐÚNG VỀ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV Ở NGƯỜI NGHIỆN CHÍCH MA TÚY TẠI HUYỆN LONG HỒ[.]

Trang 1

VÕ VĂN TẤN HÙNG

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM HIV VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH ĐÚNG VỀ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV Ở NGƯỜI NGHIỆN CHÍCH MA TÚY TẠI HUYỆN

LONG HỒ, BÌNH MINH VÀ THÀNH PHỐ VĨNH LONG,

TỈNH VĨNH LONG NĂM 2012

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP I Y TẾ CÔNG CỘNG

CẦN THƠ, 2012

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

VÕ VĂN TẤN HÙNG

KHẢO SÁTTÌNH HÌNH NHIỄM HIV VÀ KIẾNTHỨC, THỰC HÀNH ĐÚNG VỀ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV Ở NGƯỜI NGHIỆN CHÍCH MA TÚY TẠI HUYỆN LONG HỒ,BÌNH MINH VÀ THÀNH PHỐ VĨNH LONG

TỈNH VĨNH LONG NĂM 2012

Chuyên ngành: Y TẾ CÔNG CỘNG

Mã số: 60 72 76 CK

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP I Y TẾ CÔNG CỘNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS- TS PHẠM HÙNG LỰC

CẦN THƠ, 2012

Trang 4

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Võ Văn Tấn Hùng

Trang 5

Với tình cảm chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu, qúy thầy cô khoa Y Tế Công Cộng, Phòng đào tạo sau đại học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ, các thầy cô đã giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành tốt khoá học

Cảm ơn thầy Phạm Hùng Lực, PGS TS đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn nầy

Đồng thời, cảm ơn Lãnh đạo Trung Tâm Bảo Trợ Xã Hội, Ban Giám Đốc và cán bộ viên chức Trung Tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Vĩnh Long, Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Thành Phố Vĩnh Long, Huyện Long Hồ và Huyện Bình Minh đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện tốt đề tài nghiên cứu nầy

Mặc dù đã có nhiều cố gằng trong quá trình thực hiện luận văn Song

do trình độ và khả năng có hạn nên những hạn chế và thiếu sót của luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi

Trân trọng chúc sức khỏe và kính chào

Cần Thơ, tháng 7 năm 2012

Võ Văn Tấn Hùng

Trang 6

Trang

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Lịch sử và nguồn gốc của HIV 3

1.1.1 Lịch sử 3

1.1.2 Nguồn gốc HIV 5

1.2 Tình hình nhiễm HIV 6

1.2.1 Tình hình nhiễm HIV trên thế giới 6

1.2.2 Tình hình nhiễm HIV ở Việt Nam 8

1.2.3 Tình hình nhiễm HIV ở Vĩnh Long 11

1.2.4 Đặc điểm tình hình của địa bàn nơi nghiên cứu 13

1.3 Dịch tễ học nhiễm HIV/AIDS 14

1.4 Các nghiên cứu trước đây về HIV/AIDS 20

1.5 Các chương trình hành động đã được tiến hành tại Vĩnh Long 21

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 22

2.1.3 Tiêu chuẩn chọn vào 22

2.1.4 Tiêu chuẩn loại trừ 22

2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 23

2.2.2 Cỡ mẫu 23

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 24

Trang 7

2.2.6 Các bước tiến hành thu thập số liệu 26

2.2.7 Biện pháp kiểm soát sai số 28

2.2.8 Xử lý và phân tích số liệu 28

2.3 Đạo đức trong nhiên cứu 29

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

3.1 Các đặc điểm dân số xã hội ở nhóm NCMT trên ĐBNC 31

3.2 Kiến thức, thực hành về HIV/AIDS ở nhóm nghiện chích ma túy

trên địa bàn nghiên cứu 37

3.3 Tỉ lệ nhiễm HIV ở người NCMT trên địa bàn nghiên cứu 42

3.4 Mối liên quan giữa nhiễm HIV và một số yếu tố ở nhóm NCMT trên địa bàn nghiên cứu 44

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 51

KẾT LUẬN 64

KIẾN NGHỊ 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

AIDS : Acquired Immune Deficiency Syndrome ( Hội chứng suy giảm

miễn dịch mắc phải do HIV gây ra ) BCS : Bao cao su

BKT : Bơm kim tiêm

BM : Bình Minh

ĐBNC : Địa bàn nghiên cứu

GMD : Gái mại dâm

GSTĐ : Giám sát trọng điểm

HIV : Human Immunodeficiency Virus (Virus gây suy giảm miễn

dịch ở người HTLV III : Human T-Lymphotropic Virus type III (Virus hướng lympho

bào T của người) KTC : Khoảng tin cậy

LAV : Lymphadenopathy Associated Virus (Virus có liên quan với sự

Trang 9

TCMT : Tiêm chích ma túy

TPVL : Thành phố Vĩnh Long

UN-AIDS : United Nation Acquired Immuno Deficiency Syndrome

(Cơ quan điều phối HIV/AIDS của Liên Hiệp Quốc)

Trang 10

Bảng 3.1 Đặc điểm giới tính, dân tộc và tôn giáo 31

Bảng 3.2 Đặc điểm về học vấn, tình trạng gia đình, nơi cư trú 32

Bảng 3.3 Hành vi liên quan đến truyền thông và uống rượu bia 33

Bảng 3.4 Một số đặc tính về tiêm chích ma túy ở nhóm NCMT 34

Bảng 3.5 Đặc điểm QHTD ở nhóm nghiện chích ma túy 35

Bảng 3.6 Đặc điểm bạn tình của người nghiện chích ma túy 36

Bảng 3.7 Kiến thức về phòng ngừa nhiễm HIV/AIDS 37

Bảng 3.8 Thực hành về việc sử dụng BKT phòng ngừa nhiễm HIV/AIDS 38

Bảng 3.9 Thực hành về phòng lây nhiễm HIV cho người khác 39

Bảng 3.10 Xét nghiệm và kết quả xét nghiệm HIV 42

Bảng 3.11 Kết quả xét nghiệm HIV(+) phân theo địa bàn nghiên cứu 42

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa nhiễm HIV & kiến thức chung về HIV/AIDS 44 Bảng 3.13 Mối liên quan giữa nhiễm HIV và kiến thức về cách phòng HIV/AIDS 44

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa nhiễm HIV & thái độ, hành vi trong phòng ngừa lây nhiễm HIV/AIDS 45

Bảng 3.15 Phân bố nhiễm HIV và thời gian tiêm chích ma túy 45

Bảng 3.16 Phân bố nhiễm HIV & hành vi sử dụng chung BKT 46

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa nhiễm HIV và tình trạng hôn nhân 46

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa nhiễm HIV & quan hệ tình dục 47

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa nhiễm HIV& số lượng bạn tình 47

Bảng 3.20 Mối liên quan giữa nhiễm HIV & quan hệ tình dục với GMD của người NCMT 48

Bảng 3.21 Mối liên quan giữa nhiễm HIV & việc sử dụng BCS trong quan hệ tình dục với GMD của người NCMT 48

Trang 11

Bảng 3.3 Mối liên quan giữa nhiễm HIV và thói quen xem ti vi

của người NCMT 49 Bảng 3.24 Mối liên quan giữa nhiễm HIV và thói quen nghe đài

của người NCMT 50

Trang 12

Biểu đồ 3.1 Nơi mua/ nhận BKT ở nhóm NCMT trên ĐBNC 34

Biểu đồ 3.2 Tần suất TCMT ở nhóm NCMT trên ĐBNC 35

Biểu đồ 3.3 Thực hành về việc sử dụng BCS ở nhóm NCMT 40

Biểu đồ 3.4 Lý do không sử dụng BCS ở nhóm NCMT 40

Biểu đồ 3.5 Nơi mua nhận BCS ở nhóm NCMT trên ĐBNC 41

Biểu đồ 3.6 Tần suất sử dụng BCS với các loại bạn tình/12tháng qua ở nhóm NCMT trên ĐBNC 41

Biểu đồ 3.7 Số người NCMT có HIV(+) phân theo nhóm tuổi 43

Biểu đồ 3.8 Tỉ lệ nhiễm HIV theo nhóm tuổi ở người NCMT 43

Trang 13

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đại dịch HIV/AIDS đang là nỗi lo của toàn nhân loại và đang trở thành vấn đề xã hội hết sức nghiêm trọng trên toàn cầu Không một châu lục, một quốc gia, một cộng đồng hay một cá nhân nào không bị HIV/AIDS đe dọa Tuy mới xuất hiện từ năm 1981 nhưng HIV/AIDS đã nhanh chóng lan rộng khắp toàn cầu

và tấn công vào mọi đối tượng cũng như mọi dân tộc trên thế giới Dịch HIV/AIDS không chỉ ảnh hưởng đến các vấn đề về sức khỏe và tính mạng của con người, mà còn gây tác hại đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và giống nòi

Việt Nam, từ những ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào năm 1990 tại Thành Phố Hồ Chí Minh, HIV/AIDS đã nhanh chóng lan tràn khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước Theo số liệu báo cáo của Cục phòng chống HIV/AIDS Việt Nam, tích lũy các trường hợp nhiễm HIV tính đến 30/9/2011, số nhiễm HIV còn sống là 193.350 trường hợp, số chuyển sang AIDS 17.030, và số tử vong 51.306 cas [7]

Tỉnh Vĩnh Long, tính đến ngày 2/11/2011 tổng số nhiễm HIV được phát hiện là 2089 cas, trong đó 1.095 cas chuyển sang giai đoạn AIDS và 651 trường hợp tử vong 8/8 huyện thị đều có người nhiễm HIV, nhiều nhất là Thành phố Vĩnh Long, Huyện Bình Minh và Huyện Long Hồ Đối tượng nhiễm cao nhất là người nghiện chích ma túy [29]

Vấn đề đặt ra là, tại sao số nhiễm HIV được phát hiện tập trung nhiều ở Thành phố Vĩnh Long, huyện Long Hồ Và Huyện Bình Minh? và tại sao lại tập trung trong nhóm Nghiện chích ma túy? các yếu tố nào đã góp phần làm gia tăng

Trang 14

tình trạng nhiễm HIV ở các địa phương trên? Đây là một vấn đề mới, và chưa từng có nghiên cứu nào được thực hiện tại Vĩnh Long để lý giải các vấn đề trên

Từ thực tế đó cho thấy Việc khảo sát kiến thức, hành vi về phòng HIV ở người nghiện chích ma túy, qua đó xác định tỉ lệ kiến thức, hành vi đúng cũng như tìm hiểu các yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV trong nhóm người nghiện chích ma túy ở Thành phố Vĩnh Long, huyện Bình Minh và huyện Long Hồ là rất cần thiết, làm cơ sở đề xuất những hoạt động can thiệp và dự phòng lây nhiễm HIV phù hợp hơn trong thời gian tới ở 3 huyện/Thành phố trên nói riêng

và tỉnh Vĩnh Long nói chung

Với yêu cầu đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Khảo sát tình

hình nhiễm HIV và kiến thức, thực hành đúng về phòng lây nhiễm HIV ở người Nghiện chích ma túy tại huyện Long Hồ, Bình Minh và Thành Phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long năm 2012”, với các mục tiêu sau

1 Xác định tỉ lệ kiến thức, thực hành đúng về phòng lây nhiễm HIV ở người nghiện chích ma túy tại huyện Long Hồ, Bình Minh và Thành Phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long năm 2012

2 Xác định tỉ lệ nhiễm HIV ở người tiêm chích ma túy tại huyện Long

Hồ, Bình Minh và Thành Phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long năm 2012

3 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV đối với người tiêm chích ma túy tại huyện Long Hồ, Bình Minh và Thành Phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long năm 2012

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Lịch sử và nguồn gốc của HIV/AIDS

1.1.1 Lịch sử

Bệnh nhân có hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải lần đầu tiên trên thế giới được CDC phát hiện ngày 5/6/1981 tại Los- Angeles Mỹ Đến tháng 5/1983 Luc Montagnier và công sự ở Viện Pasteur Paris Pháp phát hiện ra virus có liên quan đến viêm hạch ở một bệnh nhân đồng tính luyến ái nam có tên là Frederic Brugière 33 tuổi bị sưng hạch cổ kéo dài và đặt tên là LAV [30]

Một năm sau đó, tức năm 1984, Rober Gallo và cộng tác viên ở Viện nghiên cứu ung thư quốc gia Mỹ đã phân lập được virus có ái tính với tế bào Lympho T của người và đặt tên là HTLV type III [28]

Đến năm 1986 Hội nghị danh pháp quốc tế đã có cuộc họp và thống nhất tên gọi cho loại virus nầy là HIV1 (virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người), đây là loại virus gây bệnh ở hầu hết các châu lục trên thế giới Cũng cùng năm nầy, Luc Montagnier và cộng sự lại phân lập được virus mới ở Ghinea- Bissau (Tây phi), loại virus nầy có nhiều đặc tính giống SIV (virus gây suy giảm miễn dịch ở loài khỉ xanh) và đặt tên là HIV2, loại nầy thường gây bệnh ở Châu phi, có phương thức lây truyền giống HIV1 nhưng thời gian ủ bệnh kéo dài hơn [12]

Tuy HIV được phân lập từ năm 1983, nhưng khi thử lại huyết thanh của những bệnh nhân đã đựơc lưu trữ ở Zaire từ những năm 1959 đã cho thấy có dương tính với HIV1, điều nầy chứng tỏ HIV đã xuất hiện từ những thập kỷ 60-

70 nhưng mãi đến thập kỷ 80 mới bùng phát đại dịch

Trang 16

Có thể nói lịch sử đại dịch HIV/AIDS trên thế giới có thể chia làm 3 thời kỳ:

* Thời kỳ yên lặng ( 1970- 1981):

HIV đã lây truyền âm thầm trong suốt khoảng thời gian nầy, nhưng nhân loại không hề hây biết Hàng vạn trường hợp AIDS sau nầy là kết quả của nhiễm HIV trong thời kỳ nầy

* Thời kỳ phát hiện AIDS (1981-1985)

Năm 1981, Bác sĩ Michael Gottlieb báo cáo lên Trung tâm kiểm

soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) 3 trường hợp AIDS đầu tiên tại Hoà Kỳ và cũng là đầu tiên chính thức được ghi nhận trên thế giới Năm 1983 Giáo sư Luc Montagnier tìm ra HIV1 trong hạch của bệnh nhân đồng tính luyến ái nam Năm

1985 xét nghiệm kháng thể kháng HIV ra đời Nhờ vậy, mới biết rằng số người nhiễm HIV trên thế giới gấp hàng trăm lần số bệnh nhân AIDS được phát hiện

* Thời kỳ động viên toàn thế giới chống AIDS ( 1985 đến nay):

AIDS cướp đi nhiều sinh mạng, đặc biệt là người ở độ tuổi 20- 40, những người vừa là trụ cột gia đình vừa là lực lượng lao động chính của xã hội Mất mát đó không chỉ gây tổn thất nặng nề cho gia đình mà còn đe doạ nghiêm trọng đến phát triển kinh tế và xã hội Hơn nữa sự sợ hãi và không hiểu biết có thể dẫn đến sự kỳ thị, loại trừ người nhiễm HIV ra khỏi gia đình và cộng đồng, gây nên những bất ổn trong xã hội và ảnh hưởng đến Chính trị, văn hoá, truyền thống của các nước Trên bình diện quốc tế, sự kỳ thị vì sợ hãi AIDS có thể làm thu hẹp giao lưu ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các quốc gia

Vì thế, AIDS thật sự trở thành kẻ thù chung của tất cả các dân tộc, quốc gia trên thế giới Năm 1985 Chiến lược AIDS toàn cầu ra đời, chọn ngày 1/12 hàng năm làm ngày thế giới phòng chống AIDS, mở ra thời kỳ mới, thời kỳ toàn thế giới tập trung mọi nổ lực ngăn chặn và tấn công HIV/AIDS [26]

Trang 17

1.1.2 Nguồn gốc HIV

Hiện nay nguồn gốc của HIV đang là một vấn đề còn tranh cãi Có tác giả cho rằng HIV xuất hiện đầu tiên ở Châu phi lan sang vùng Caribe, đặc biệt là Haiiti rồi đến Mỹ và lan sang các nước Châu âu Giả thuyết nầy dựa trên HIV có hình dạng giống với một loài virus tìm thấy được ở một số loài khỉ xanh ở Châu Phi

HIV2 hình như có nguồn gốc từ Tây phi (do virus nầy chỉ lưu hành ở Miền Tây của Châu phi) và do đó có giả thuyết cho rằng sự lan truyền từ Khỉ sang người qua vết cắn, hơn nữa có một số bộ tộc ở Châu phi có phong tục chích máu khỉ để bổ dưởng cơ thể, nên góp phần làm lan truyền virus nầy

HIV1: một loại virus quan trọng nhất gây bệnh AIDS và lan truyền gần như khắp thế giới, thì nguồn gốc của nó gần như bí ẩn HIV2 khác HIV1 do đó không thể nói HIV1 là đột biến từ HIV2 sang

Có giả thuyết cho rằng, do con người tạo ra trong phòng thí nghiệm Điều nầy không đúng, vì khi Luc Montagnier tìm ra virus HIV vào năm 1983 thì thế giới mới hồi cứu lại các mẫu máu bảo quản ở Zaire từ những năm 1959- 1970 đã tìm thấy kháng thể kháng HIV lưu hành trong đó rồi Điều nầy cho thấy, HIV thật ra đã xuất hiện từ thập kỷ 60 – 70, mà lúc đó đứng về mặt di truyền học con người chưa có khả năng tạo ra một loài virus mới

Do vậy vào năm 1987, tổ chức y tế thế giới đã tuyên bố: “HIV là một loài virus xảy ta tự nhiên và có nguồn gốc địa dư không xác định” Như vậy HIV và bệnh do nó gây ra không phải là mới, mà điều mới và làm cho nhân loại phải đối phó hiện nay là dịch AIDS [28]

Trang 18

1 2 Tình hình nhiễm HIV

1.2.1 Tình hình nhiễm HIV trên thế giới

Kể từ năm 1981, khi những bệnh nhân AIDS đầu tiên được phát hiện tại

Mỹ, đến nay HIV/AIDS đã thực sự trở thành đại dịch với những diển biến phức tạp và nghiêm trọng Theo báo cáo của chương trình phòng chống AIDS Liên Hiệp quốc (UNAIDS) cho thấy đã có khoảng 33,3 triệu người đang sống chung với HIV vào cuối năm 2009, số nhiễm mới trong năm 2009 là 2,6 triệu người, tỉ

lệ hiện nhiễm HIV ở người lớn trong độ tuổi từ 15-49 là 0,8%, và tử vong do AIDS ở người lớn và trẻ em là 1,8 triệu người [35],[40]

Khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là Châu phi cận Sahara, nơi tập trung đến 67% số ca nhiễm HIV trên toàn thế giới và 72% số ca chết do AIDS[35],[40]

Dịch HIV/AIDS hiện nay đang tạm ổn định ở các nước công nghiệp phát triển như: Tây âu, Úc, Niudilân, Bắc Mỹ nhưng lại phát triển mạnh trong nhóm NCMT ở Trung- Đông âu và Đông Nam Á [40]

HIV/AIDS đã bắt đầu chuyển trọng điểm từ Châu phi sang Nam á và Đông nam á Đông nam á là khu vực mà hiện nay và trong những thập niên tiếp theo có sự tăng trưởng kinh tế, thương mại, du lịch nhanh, quá trình đô thị hoá, phân hoá giàu nghèo, gia tăng tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn NCMT và mại dâm với tình trạng phụ nử và trẻ em ít có khả năng tự bảo vệ trước địch bệnh HIV/AIDS [32],[37]

Đặc biệt nghiêm trọng hơn, vùng Đông, Nam và Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của vị trí địa lý bởi nhiều nước nằm gần Tam giác vàng, nơi sản xuất ra Heroin Trong những năm đầu của thế kỷ 21, khu vực nầy sẽ phải đương đầu

Trang 19

khốc liệt với nạn buôn bán, vận chuyển và sử dụng ma túy, một nguyên nhân quan trọng góp phần làm lây truyền HIV/AIDS

Dịch HIV/AIDS trong nhóm người NCMT bùng nổ ở thủ đô Băng Cốc Thái Lan vào cuối những năm 1988 (chiếm tỉ lệ 32%) và tăng lên 35 % vào cuối năm 1994 [38]

Ở Bắc Mỹ và Tây Âu, những người nhiễm HIV đầu tiên là những người TCMT và QHTD giống như Châu Mỹ la tinh, HIV hiện đã lan rộng ra ngoài nhóm nầy Ở Châu Âu QHTD khác giới là nguyên nhân của 11% số trường hợp AIDS vào năm 1990 Tỷ lệ nầy tăng lên 17% vào năm 1995 Tuy nhiên ở Châu

Âu và Bắc Mỹ số ca AIDS nhìn chung đã giảm Ví dụ Hoà Kỳ vào năm 1997 số

ca AIDS giảm xuống 2/3 so với năm 1995, sự thay đổi nầy chủ yếu là do kết quả của việc sử dụng các loại thuốc mới có tên là thuốc ức chế men Protease có tác dụng làm chậm quá trình phát triển từ HIV sang AIDS [32],[40]

Khu vực có những nước đông dân nhất thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ những năm gần đây cho thấy, dịch AIDS cũng xảy ra rất trầm trọng, 10 triệu người có thể bị nhiễm HIV vào năm 2010 nếu không có hành động can thiệp có hịêu quả [40]

HIV liên quan đến ma túy ở Trung Quốc đang ở mức báo động Gần 44%

số người đang sống chung với HIV/AIDS được cho là nhiễm do tiêm chích ma túy [40]

Bên cạnh hành vi dùng chung BKT, thì việc QHTD không an toàn làm tăng nguy cơ lây lan HIV trong quần thể người NCMT Một nghiên cứu trên nhóm NCMT tại Estonia cho thấy tỉ lệ dùng chung BKT trong 4 tuần qua là 29%

và chỉ 38,4% là luôn sử dụng BCS trong các lần QHTD [41]

Trang 20

Một nghiên cứu khác tại Nepal cho thấy tỉ lệ dùng chung BKT trong quần thể người TCMT trong tuần qua là 45,5%, 13% người NCMT có QHTD với phụ

nữ mại dâm, trong khi chỉ có 54% là luôn sử dụng BCS với PNMD khi quan hệ tình dục[41]

1.2.2 Tình hình nhiễm HIV ở Việt Nam

Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 12/1990 ở Thành phố Hồ Chí Minh, tính đến cuối năm 2010 đã có 350.970 trường hợp nhiễm HIV, 112.227 cas chuyển sang giai đoạn AIDS và 104.701 trường hợp đã

tử vong Lũy tích các trường hợp nhiễm HIV/AIDS và tử vong do AIDS giai đoạn 2003 – 2010 như sau: [2]

HIV 165.444 185.757 19.500 207.375 256.185 284.277 315.568 350.970 AIDS 30.755 39.340 48.864 59.400 70.941 83.516 97.175 112.227

Tử

vong

27.135 35.047 44.102 54.132 65.171 77.228 90.346 104.701

Tình hình dịch HIV/AIDS ở Việt Nam có một số đặc điểm như sau

* Dịch HIV tiếp tục có chiều hướng gia tăng: Có thể chia diễn biến dịch

ở Việt Nam thành 3 thời kỳ

- Từ 1990- 1993: Dịch tập trung ở một số tỉnh với số nhiễm HIV phát hiện dưới 1.500 trường hợp mỗi năm

- Từ 1994- 1998: Dịch lan ra toàn quốc với số nhiễm HIV phát hiện hàng năm dưới 5.000 trường hợp

- Từ 1999- 2002: số nhiễm HIV phát hiện trên 10.000 trường hợp mỗi năm

và dịch có xu hướng lan rộng đến các xã, phường Giám sát trọng điểm HIV cho

Trang 21

thấy, tỷ lệ nhiễm HIV có chiều hướng tiếp tục gia tăng trong nhóm đối tượng có nguy cơ cao như NCMT và mại dâm [2],[6]

* Hình thái lây nhiễm HIV chủ yếu qua tiêm chích ma túy

- Đa số người nhiễm HIV là người NCMT (khoảng 60%) Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT tăng từ 9,4%/ năm 1996 lên 29,34%/2002, ở một số địa phương tỉ lệ nầy cao hơn 50% Các tỉnh miền Bắc, miền Trung, lây truyền HIV qua tiêm chích ma túy cao hơn khu vực phía Nam

- Nguy cơ lây nhiễm HIV qua tiêm chích ma túy ở mức cao là do: tình trạng NCMT gia tăng, đặc biệt là tầng lớp trẻ tuổi, tình trạng dùng chung BKT vẫn còn phổ biến; người đã nhiễm HIV tiếp tục tiêm chích ma túy và dùng chung BKT với bạn chích; tỷ lệ gái mại dâm có tiêm chích ma túy khá cao (điều tra hành vi cho thấy hơn 40% gái mại dâm Hà Nội có TCMT) Vì vậy việc ngăn chặn lây nhiễm HIV trong nhóm TCMT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc khống chế sự lan tràn HIV ở Việt Nam [2],[6]

* Đối tượng nhiễm HIV có xu hướng ngày càng trẻ hoá rõ rệt

- Tỷ lệ người nhiễm HIV ở lứa tuổi 20- 29 là 15% vào năm 1993 đã tăng lên đến 62% vào cuối năm 2002

- Người nhiễm HIV ở lứa tuổi 15- 49 chiếm 95% các trường hợp nhiễm

- Nhiễm HIV ở lứa tuổi vị thành niên ( từ 10- 19 tuổi) chiếm 8,3% các trường hợp nhiễm [2]

* Lây nhiễm HIV qua QHTD có xu hướng gia tăng và dao động

- Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm gái mại dâm tiếp tục gia tăng hàng năm từ

0,6% / năm 1999 lên tới 6%/ 2002

- Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm bệnh nhân mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng tăng qua các năm và lên đến 2,1% vào năm 2001

Trang 22

- Nguy cơ lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục tiếp tục tăng và khả năng lây nhiễm HIV ra cộng đồng là rất lớn, do gia tăng tỷ lệ nghiện chích ma túy trong nhóm gái mại dâm; người NCMT; người nhiễm HIV tiếp tục có quan hệ với gái mại dâm và tỷ lệ sử dụng BCS khi quan hệ tình dục với gái mại dâm là rất thấp [2]

* Dịch HIV/AIDS đã có dấu hiệu lan ra cộng đồng

Mức độ lây lan của dịch từ nhóm nguy cơ ra cộng đồng biểu hiện qua tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong nhóm phụ nữ mang thai và nhóm thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự Tỷ lệ thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự tăng đến 0,93% vào năm 2001; phụ nữ mang thai 0,34% / 2002 Đã phát hiện 373 trường hợp trẻ

em dưới 5 tuổi nhiễm HIV do lây truyền từ mẹ sang con

* Đối tượng nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam đa dạng, có ở mọi địa phương, và diễn biến phức tạp

Đối tượng nhiễm HIV ở Việt Nam không còn tập trung trong một nhóm nguy cơ cao mà đã xuất hiện trong nông dân, học sinh, sinh viên, tân binh, thậm chí trong giới công chức cũng đã có người nhiễm HIV Cả 64 tỉnh Thành phố trong cả nước đều có người nhiễm HIV, 93% số quận huyện và 49% số xã phường đã phát hiện các trường hợp nhiễm HIV Nhiều tỉnh Thành phố có 100%

xã phường đã có người nhiễm HIV/AIDS

Mặc dù chưa có điều tra đầy đủ, ước tính có khoảng 20-50% trại viên tại các trại 05-06 nhiễm HIV, trong số đó có nhiều trường hợp đã tiến triển thành AIDS và tử vong do AIDS [2],[6]

Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/AIDS (IBBS) tại Việt Nam 2005 – 2006 do Bộ Y tế thực hiện đã nhận định: Mặc dù đã được hạn chế bởi những cam kết mạnh mẽ và các chương trình dự

Trang 23

phòng rộng rãi, nhưng vẫn có những bằng chứng cho thấy sự lan truyền của HIV vẫn tiếp diễn, đặc biệt trong những nhóm quần thể trẻ và có nguy cơ cao Sự lan truyền nhanh chóng của HIV trong những người NCMT trẻ tuổi và có thời gian tiêm chích ít hơn 1 năm tại Thành Phố HCM là một ví dụ [3]

1.2.3 Tình hình nhiễm HIV ở Vĩnh Long

Vĩnh Long tính từ ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 9/1993 đến 30/10/2011 toàn tỉnh đã phát hiện 2079 trường hợp nhiễm HIV, 1092 cas đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 656 trường hợp đã tử vong Đã có 97% số xã/ phường và 100% số huyện/ Thành phố trong tỉnh có người nhiễm HIV Thành phố vĩnh Long là địa phương có người nhiễm HIV cao nhất 846 người (chiếm 40,7%), kế đến là huyện Bình Minh 291 người (chiếm 14%), Long Hồ 252 người (chiếm 12%) Tuy nhiên, đây chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, số nhiễm HIV/AIDS thật sự trong cộng đồng chắc chắn sẽ còn cao hơn nhiều [29]

Đối tượng nhiễm HIV/AIDS rất đa dạng Tuy nhiên số nhiễm HIV được phát hiện nhiều nhất vẫn là nhóm NCMT chiếm tỉ lệ 54%, người hành nghề mại dâm 4,8% [34]

Lũy tích các trường hợp nhiễm HIV/AIDS và tử vong do AIDS giai đoạn

2004 – 10/2011như sau: [29]

HIV 1008 1242 1422 1600 1734 1820 1939 2079 AIDS 448 545 655 737 837 915 954 1092

Tử

vong

284 352 410 457 520 552 591 656

Trang 24

Kết quả giám sát trọng điểm HIV trong nhóm NCMT từ 2003- 2010 được

ghi nhận như sau

Thực tế tình hình nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long các năm qua cho thấy; 100% các huyện- Thành phố đều có người nhiễm HIV, nhiều nhất

là Thành phố Vĩnh Long, huyện Long Hồ và huyện Bình Minh Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT qua giám sát trọng điểm năm 2010 chiếm tỉ lệ cao nhất (22,7%) trong các nhóm GSTĐ [29]

Báo cáo công tác phòng chống tệ nạn xã hội ngày 13/7/2011 của Ban chỉ đạo phòng chống tội phạm Vĩnh Long cho thấy; trên địa bàn nghiên cứu hiện có

693 đối tượng NCMT có hồ sơ quản lý (nam 649, nữ 44) Tuy nhiên theo thảo luận của nhóm GDVĐĐ ma tuý, thì con số nầy còn cao hơn nhiều [24]

Do vậy, việc khảo sát kiến thức, hành vi đúng về phòng HIV ở nhóm NCMT tại huyện Long Hồ, Bình Minh và Thành Phố Vĩnh Long là rất cần thiết Qua đó xác định các yếu tố liên quan đến việc lây nhiễm HIV trong nhóm NCMT, làm cơ sở đề xuất những hoạt động can thiệp và dự phòng lây nhiễm HIV phù hợp hơn trong thời gian tới ở 3 huyện trên nói riêng và tỉnh Vĩnh Long nói chung

Trang 25

1.2.4 Đặc điểm tình hình của địa bàn nơi nghiên cứu

Thành phố Vĩnh Long là trung tâm văn hoá chính trị xã hội của Tỉnh Vĩnh Long Diện tích 47,93 Km2

, mật độ dân số 2.576 người/ km2

Tính đến 10/2011Thành phố Vĩnh Long đã phát hiện 855 trường hợp nhiễm HIV (chiếm 41% số nhiễm HIV đã phát hiện trong toàn tỉnh), trong đó 379 cas đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 253 trường hợp đã tử vong Đa số người nhiễm HIV được phát hiện là người nghiện chích ma túy 342 trường hợp (chiếm tỉ lệ 40%) Địa bàn Thành phố có 32 giáo dục viên đồng đẳng ma túy - mại dâm đang hoạt động, và

có 10 tụ điểm tiêm chích ma túy [11],[21]

Huyện Bình Minh có diện tích 244,41 km2 , mật độ dân số 722 người/ km2 Bình Minh là một huyện tiếp giáp với Cần Thơ, địa hình phức tạp, đối tượng NCMT và GMD luôn di biến động Khi cầu Cần thơ đi vào hoạt động, tình trạng lưu thông được dễ dàng hơn Do vậy, mỗi khi công tác phòng chống tệ nạn xã hội ở Cần thơ được đẩy mạnh thì đối tượng lại chuyển về Bình Minh để hoạt động và ngược lại Tính đến tháng 10/2011 Bình Minh đã phát hiện 291 người nhiễm HIV, 132 ca đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 84 trường hợp đã tử vong Trong số 291 cas nhiễm HIV được phát hiện có 118 cas là người NCMT (chiếm

tỉ lệ 40,5%) Địa bàn huyện Bình Minh có 5 tụ điểm TCMT [11],[19]

Huyện Long hồ, có diện tích 192,99 km2, mật độ dân số 784 người/km2

Là huyện nằm bao quanh Thành phố Vĩnh Long, do vậy tình hình tệ nạn xã hội nơi đây cũng rất phức tạp Tính đến tháng 10/2011, toàn huyện đã phát hiện 252 trường hợp nhiễm HIV, 163 cas đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 100 trường hợp đã tử vong Trong số 252 cas nhiễm HIV được phát hiện có 103 trường hợp

do tiêm chích ma túy (chiếm tỉ lệ 40,9%) Địa bàn Huyện Long Hồ có 4 tụ điểm TCMT [11],[20]

Trang 26

là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm virus HIV [23],[33]

Hội chứng là một nhóm các biểu hiện (triệu chứng) như: sốt, tiêu chảy, sụt

cân, ngứa do một căn bệnh nào đó gây ra [27]

Suy giảm miễn dịch là tình trạng hệ miễn dịch bị suy sụp hoặc yếu kém đi

Nói nom na, hệ miễn dịch là hàng rào hay hệ thống phòng ngự bảo vệ cơ thể chống lại các mầm bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể

Mắc phải là không do di truyền, mà do bị lây hay do bị mắc trong cuộc

sống [27]

1.3.2 Tác nhân gây bệnh

Tác nhân gây bệnh là do virus HIV; HIV có đặc điểm chung của họ Retroviridae, hạt virus hoàn chỉnh có cấu trúc gồm 3 lớp:

Lớp vỏ ngoài ( vỏ Peplon): Là một màng Lipid kép có kháng nguyên chéo

với màng sinh tế bào, trên bề mặt màng này có các gai nhú, đó là các phân tử glycoprotein với thân gai là gp 120 và chân gai là gp 41 Đây là kháng nguyên dể biến đổi nhất, gây khó khăn cho phản ứng bảo vệ của cơ thể và chế tạo Vaccin phòng chống [10]

Trang 27

Lớp vỏ trong (vỏ Capsid ): gồm 2 lớp Protein; lớp ngoài hình cầu cấu tạo

bởi Protein có trọng lượng phân tử 18 Kilodalton Lớp trong hình trụ có cấu tạo bởi các phân tử protein có trọng lượng phân tử 24 kilodalton, đây là kháng nguyên rất quan trọng để chẩn đoán nhiễm HIV

Lõi: Là những thành phần bên trong lớp Capsid, có hình ống chứa bộ gien

của virus là 2 sợi ARN gắn với men phiên mã ngược RT ( Reverse transcriptase)

RT là enzym ARN- Dependent-ADN polymerase dạng hoạt động của nó là P.66/51 ở HIV1 và P.58 ở HIV2 RT đảm nhiệm sao mã bộ gien virus thành ADN bổ sung RT được ứng dụng phát hiện HIV trong phương pháp xét nghiệm PCR và rất có ý nghĩ để chẩn đoán nhiễm HIV giai đoạn cửa sổ hoặc bệnh nhi dưới 18 tháng tuổi

Có hai loại virus HIV1 và HIV2, ở Việt Nam lưu hành phổ biến nhất là HIV1 [10]

1.3.3 Kiểu hình của HIV

Kiểu hình 1: Kiểu hình này hay gặp nhất và thường có 3 giai đoạn

* Giai đoạn nhiễm HIV cấp ( giai đoạn cửa số): Là thời kỳ mà các xét

nghiệm kháng thể kháng HIV không thể phát hiện được một người nhiễm HIV, xảy ra khi nhiễm HIV vài tuần đến vài tháng Khoảng 30% những người nhiễm HIV có thể có biểu hiện lâm sàng nhẹ thoáng qua như sốt, mệt mõi, sưng hạch, nổi mẩn đỏ ở da và tự khỏi Nhìn chung, kháng thể sẽ hình thành trong máu 4-

8 tuần sau khi HIV xâm nhập cơ thể Nhưng trong một số trường hợp, thời kỳ này có thể kéo dài hơn

* Giai đoạn mang HIV không triệu chứng: Giai đoạn này người nhiễm

HIV hoàn toàn khỏe mạnh không có bất kỳ triệu chứng nào liên quan đến HIV

Trang 28

Thời kỳ này kéo dài trung bình 8-10 năm Những người nhiễm HIV không triệu chứng nhiều gấp hàng trăm lần so với bệnh nhân AIDS vì vậy khó có thể kiểm soát được họ Những người này đóng vai trò rất quan trọng về mặt dịch tể học,

có thể âm thầm lây truyền HIV sang người khác

* Giai đoạn toàn phát (AIDS): Thường kéo dài 2 năm Người bệnh có

thể có các triệu chứng lâm sàng nhẹ là các bệnh có liên quan đến HIV (không đe doạ tính mạng) đến nặng hơn là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, điển hình là AIDS và có nguy cơ tử vong, gồm các triệu chứng nhiễm trùng cơ hội nặng và ung thư [8]

Kiểu hình 2: Trạng thái nhiễm HIV thầm lặng, kéo dài và không có kháng

thể kháng HIV trong máu, kiểu hình này có thể chuyển thành nhiễm virus hoạt động do tác động của môi trường

Kiểu hình 3: Ở kiều hình này, sau giai đoạn nhiễm HIV không triệu

chứng, trong các dịch của cơ thể không còn kháng thể và kháng nguyên của HIV Virus HIV tồn tại ở dạng tiền virus, kiểu hình này ít gặp

1.3.4 Tần suất lây truyền

Nguy cơ lây truyền HIV trên thế giới và Việt Nam có những nét riêng biệt Tuy vậy, nguy cơ nhiễm HIV qua một lần tiếp xúc chiếm tỷ lệ cao nhất là truyền máu ( > 90% ), sau đó là mẹ mang thai truyền cho con (20-30% ), tiêm chích ma túy( 0,5 – 1% ), qua đường tình dục(0,01- 1% ), rủi ro nghề nghiệp ( 0,3- 0,5% )

Tỷ lệ người nhiễm HIV qua đường tiêm chích trên thế giới là 7%, nhưng ở Việt Nam là 62% Ngược lại tỉ lệ người nhiễm HIV qua QHTD trên thế giới là 80-90%, trong khi ở Việt Nam là 29,88% [28]

Trang 29

1.3.5 Nguồn truyền nhiễm, khối cảm thụ và yếu tố trung gian truyền nhiễm

Bệnh nhân AIDS và người nhiễm HIV là nguồn truyền nhiễm tất cả mọi người đều có khả năng cảm thụ với HIV HIV được phân lập từ máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo, nước bọt, nước mắt, sửa mẹ, nước tiểu và các dịch khác của cơ thể Trong đó máu, tinh dịch và dịch tiết âm đạo đóng vai trò quan trọng trong việc lây truyền HIV

1.3.6 Nguy cơ nhiễm HIV/AIDS

* Các hành vi nguy cơ: Ai cũng có thể nhiễm HIV nếu có các hành vi không an toàn Tuy nhiên những hành vi dưới đây có thể coi là yếu tố nguy cơ trong lây nhiễm HIV: QHTD không an toàn, nhất là QHTD với gái mại dâm mà không dùng BCS đúng cách Tiêm chích rạch da, nhất là tiêm chích ma tuý bằng các dụng cụ không được khử trùng hoặc khử trùng không đúng cách Những sinh hoạt tình dục bất thường, QHTD đồng tính luyến ái Mẹ nhiễm HIV mang thai lây truyền HIV cho con [30]

* Nguy cơ lây nhiễm HIV qua tiêm chích ma túy

Ma túy tạo điều kiện lây truyền và phát triển mạnh HIV/AIDS Khi HIV nhiễm vào nhóm tiêm chích ma túy thì nguy cơ lây truyền cho người dùng chung BKT là rất lớn, cao hơn và nhanh hơn bất cứ nhóm hành vi nguy cơ nào khác Bản thân người nhiễm HIV NCMT dùng chung BKT sẽ làm cho sự lây lan HIV/AIDS mạnh hơn

* Nguy cơ lây nhiễm HIV qua đường tình dục

QHTD không an toàn là nguy cơ lây nhiễm HIV, đặc biệt khi người NCMT có QHTD với GMD nhưng không dùng BCS Theo nghiên cứu của Moses và các tác giả khác năm 1991 ở Nairobi, Kênia trên 500 GMD, 80% trong

Trang 30

số đó đã bị nhiễm HIV Một GMD trung bình có 4 bạn tình/ ngày, sau khi can thiệp phát BCS và điều trị STDs miễn phí cho số phụ nữ đó, thì việc sử dụng BCS tăng từ 10% đến 80%, ngăn chặn được khoảng 10.200 trường hợp nhiễm mới trong một năm

* Các yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm HIV/AIDS

- Sinh học: Người mắc STDs có khả năng bị nhiễm HIV cao hơn người

bình thường 2-9 lần Viêm loét do hẹp bao qui đầu dễ bị các bệnh STIs và nguy

cơ lây nhiễm HIV cao hơn Ngoài ra, giai đoạn nhiễm HIV cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng lây truyền: Nguy cơ lây nhiễm rất cao sau khi bị nhiễm HIV ở giai đoạn cửa sổ và giai đoạn AIDS ( có khoảng 3.000 virus HIV/ml máu), giai đoạn nhiễm HIV không triệu chứng, số lượng HIV chỉ khoảng 20-40 virus/ 1ml máu

- Hành vi: Vai trò của nam và nữ trong QHTD, lối sống nhiều bạn tình,

phương thức QHTD ( miệng, hậu môn ), tiêm chích ma túy, xăm trổ thẩm mỹ

- Dân số học: Tuổi trẻ (tỉ lệ nhiễm HIV cao ở tuổi 15-49), biến động dân

số, sự gia tăng giao lưu thương mại, du lịch trong mỗi nước và giữa các quốc gia trên thế giới

- Văn hoá, kinh tế, xã hội: Sự kém hiểu biết về HIV/AIDS, tác hại của

ma túy, yếu tố kinh tế như: nghèo đói, không đủ nguồn lực để đương đầu với AIDS, yếu tố chính trị như: Thái độ của xã hội, luật pháp với ma túy, nhóm nguy

cơ cao

1.3.7 Đường lây truyền HIV

Các nghiên cứu cho thấy, mặc dù HIV có mặt ở mọi mô và dịch của người

bị nhiễm, song tập trung nhiều nhất trong máu và dịch tiết của cơ quan sinh dục

Trang 31

Chính vì vậy HIV chỉ lây qua 3 đường: đường máu, tình dục và mẹ nhiễm HIV truyền sang cho con Chưa thấy bằng chứng về phương thức lây truyền khác

* HIV lây truyền theo đường QHTD

Đây là phương thức lây quan trọng và phổ biến nhất trên thế giới Nguy cơ lây nhiễm HIV qua một lần QHTD với một người nhiễm khoảng 1% Nhiễm HIV có mối quan hệ chặt chẽ với STIs STIs làm tăng cảm nhiễm và tăng nguy

cơ lây nhiễm HIV hơn 20 lần và làm tăng tiến triển của nhiễm HIV thành AIDS

* Lây truyền theo đường máu

Nguy cơ lây HIV qua đường truyền máu là rất cao( trên 90% ), HIV truyền qua dụng cụ tiêm chích không được tiệt trùng, qua việc cấy ghép các cơ quan phủ tạng và cho tinh dịch mà không được kiểm tra cẩn thận, qua các dịch

ở các nước công nghiệp phát triển, 25-48% ở các nước đang phát triển [5]

1.3.8 Các giai đoạn của dịch HIV/AIDS

Dựa vào 2 tiêu chí chính là mức độ lây nhiễm HIV trong nhóm người bị coi là có hành vi nguy cơ cao và sự lây nhiễm HIV có tràn sang những nhóm người được coi là có nguy cơ thấp hơn, người ta chia dịch AIDS thành 3 giai đoạn:

• Giai đoạn sơ khai: Tỷ lệ hiện nhiễm HIV < 5% trong các nhóm nguy

cơ cao mà thông tin được thu thập đầy đủ

Trang 32

• Giai đoạn tập trung: Tỷ lệ nhiễm HIV vượt 5% trong một hoặc nhiều

nhóm nguy cơ cao, nhưng tỷ lệ này trong nhóm phụ nữ khám thai ở các nhà hộ sinh tại khu vực đô thị vẫn dưới 5%

• Giai đoạn lan rộng: HIV lan truyền vượt ra ngoài nhóm nguy cơ cao

và hiện bị nhiễm nặng nề Tỷ lệ hiện nhiễm trong số phụ nữ khám thai

ở các nhà hộ sinh tại khu vực đô thị từ 5% trở lên

1.3.9 Hậu quả của nhiễm HIV/AIDS đối với cơ thể

Nhiễm HIV/AIDS có ít nhất 2 tác động trực tiếp đe doạ, đó là suy giảm miễn dịch và phá hủy hệ thống thần kinh trung ương Thương tổn miễn dịch nghiêm trọng xảy ra do thiếu hụt một loại tế bào miễn dịch đặc hiệu (tề bào Lympho TCD4 ) Sự phá hủy tế bào Lympho TCD4 bởi HIV làm tê liệt nhiều hệ thống miễn dịch, cơ thể bị suy giảm miễn dịch hoặc không còn khả năng chống

đỡ với hàng loạt mầm bệnh HIV có thể tấn công hệ thần kinh trung ương, phá hủy các mô não và tủy sống Sự phá hủy này tăng dần dẫn tới rối loạn nghiêm trọng chức năng vận động và nhận thức

Nhiễm HIV còn gây suy mòn nặng, tử vong có thể xảy ra do các nhiễm trùng cơ hội, hậu quả của thiếu hụt miễn dịch hoặc suy giảm chức năng hệ thần kinh trung ương

1.4 Các nghiên cứu trước đây về HIV/AIDS

Kết quả khảo sát tỷ lệ nhiễm HIV và kiến thức, thái độ, hành vi (KABP) liên quan đến HIV/AIDS của cộng đồng tại tỉnh Vĩnh Long năm 2007 cho thấy

tỷ lệ người dân có kiến thức cần thiết về HIV ( chỉ số 21 của Quốc gia) và thái

độ tích cực với người nhiễm HIV (chỉ số 22 của Quốc gia) lần lượt là 38,4% và 55,6% [36]

Trang 33

1.5 Các chương trình hành động đã được tiến hành tại tỉnh Vĩnh Long

Ngày 23/02/2005 Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Vĩnh Long ban hành Quyết Định

số 328/2005/QĐ.UB về việc Phê duyệt Chiến lược phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 của tỉnh Vĩnh Long, với 9 chương trình hành động như sau

1 Chương trình thông tin giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS; phối hợp với các chương trình phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm để ngăn ngừa lây nhiễm HIV/AIDS

2 Chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS

3 Chương trình chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS

4 Chương trình giám sát HIV/AIDS, theo dõi, đánh giá chương trình

5 Chương trình tiếp cận điều trị HIV/AIDS

6 Chương trình dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS từ mẹ sang con

7 Chương trình quản lý và điều trị các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục

8 Chương trình an toàn truyền máu

9 Chương trình tăng cường năng lực và hợp tác quốc tế trong phòng, chống HIV/AIDS [34]

Ngoài ra tỉnh Vĩnh Long cũng đã triển khai Dự án “Dự phòng và chăm sóc HIV/AIDS tại Việt Nam LIFE GAP giai đoạn (2001-2006), (2007- 2012) Dự án

“Phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam” do Ngân hàng thế giới tài trợ

Trang 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ người nghiện chích ma túy chưa bị

phát hiện nhiễm HIV ở 3 huyện Long Hồ, Bình Minh và Thành phố Vĩnh Long tỉnh Vĩnh Long tính đến thời điểm điều tra

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

* Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành thu thập số liệu, xử

lý số liệu và phân tích viết báo cáo từ 01/ 2 /2012 đến 20/6/2012

* Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành ở huyện Long Hồ,

Bình Minh và Thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long

2.1.3 Tiêu chuẩn chọn vào

- Là người đã từng sử dụng các loại ma túy (không phải thuốc y tế kê theo đơn) bằng cách tiêm trong vòng 3 tháng qua, đang sống và sinh hoạt ngoài cộng đồng tại huyện Long Hồ, Bình Minh và Thành phố Vĩnh Long

- Sống và cư trú ít nhất 6 tháng tại địa điểm nghiên cứu (có hoặc không có

hộ khẩu)

- Đồng ý tham gia cuộc nghiên cứu

2.1.4 Tiêu chuẩn loại trừ

- Những người nghiện chích ma túy trong các Trại giam, Trung Tâm giáo dục lao động xã hội

- Người NCMT đã bị nhiễm HIV

- Mắc các chứng bệnh không đủ minh mẫn (rối loạn tâm thần, câm, điếc )

để trả lời các câu hỏi phỏng vấn

Trang 35

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:

Thực hiện phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả

2.2.2 Cỡ mẫu:

Dựa vào kết quả điều tra năm 2007 của Dự án phòng, chống HIV/AIDS do Ngân hàng thế giới tài trợ thực hiện tại Vĩnh Long cho thấy, tỉ lệ kiến thức cần thiết về HIV/AIDS(chỉ số 21 của Quốc gia) và hành vi đúng trong phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS(chỉ số 22 của Quốc gia) của người dân tại tỉnh Vĩnh Long lần lượt là 38,4 % và 55,6% với độ tin cậy 95% và độ chính xác tuyệt đối là 5%[36]

Công thức tính trong nghiên cứu nầy là công thức tính cở mẫu trong ước lượng 1 tỉ lệ, và công thức được tính như sau: [14],[25],[27]

Z2 (1- α/ 2) x p ( 1- p)

n =

d2 Giá trị các thông số sau đây sẽ được xác định:

n : cỡ mẫu nghiên cứu cần có

Z2 ( 1- α/ 2 ) = 1,96 Hệ số tin cậy ở ngưỡng xác suất α = 0,05

p : Tỉ lệ % người NCMT có kiến thức cần thiết về HIV là 38,4% [36]

d : sai số được chấp nhận d= 0,05

1,962 x 0,384 (1- 0,384) 0,909 Thay vào công thức trên ta có n = = = 363,5

0,052 0,0025

Vậy số mẫu nghiên cứu n = 363,5, làm tròn 365 mẫu

Trang 36

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên đơn Dựa vào kết quả vẽ bản đồ địa dư đã được tiến hành cho nhóm NCMT tại huyện Long Hồ, Bình Minh, Thành phố Vĩnh Long năm 2009 Tất cả các thông tin về tụ điểm cũng như kích

cỡ quần thể được xác định tại từng địa điểm sẽ được tập hợp lại để xây dựng khung mẫu

Tại mỗi tụ điểm lập danh sách tất cả các đối tượng TCMT sau đó dùng phương pháp “bốc thăm” ngẫu nhiên để chọn các cá thể vào mẫu Cuộc điều tra

sẽ tiến hành cho đến khi đạt tổng số 365 thì dừng [14],[25]

2.2.4 Nội dung nghiên cứu

- Tình trạng hôn nhân hoặc sống chung không hôn nhân

+ Tuổi kết hôn lần đầu

+ Tuổi quan hệ tình dục lần đầu

+ Sống với người hôn phối hoặc bạn tình khác

- Tiền sử về cuộc sống lứa đôi

+ Số và loại bạn tình

+ Tần số quan hệ tình dục

+ Sử dụng bao cao su

Trang 37

- Tiền sử về sử dụng ma túy

+ Tần suất tiêm chích

+ Tuổi bắt đầu tiêm chích, thời gian tiêm chích

+ Dùng chung bơm kim tiêm

- Kiến thức, thực hành

+ Kiến thức về HIV/AIDS: biết cả 6 kiến thức đúng sau

1 Chỉ quan hệ tình dục với một bạn tình chung thủy và không nhiễm HIV

CÓ làm giảm lây nhiễm HIV

2 Dùng bao cao su CÓ làm giảm được lây nhiễm HIV

3 Một người nhìn khỏe mạnh CÓ THỂ bị nhiễm HIV

4 Muỗi đốt KHÔNG lây truyền HIV

5 Ăn chung với người nhiễm KHÔNG bị lây HIV

6 Không dùng chung BKT CÓ làm giảm lây nhiễm HIV

+ Hành vi có liên quan đến HIV

- Hành vi tự bảo vệ chống lây nhiễm HIV: Không sử dụng chung BKT và luôn

sử dụng BCS đúng cách khi quan hệ tình dục với GMD và bạn tình bất chợt

- Hành vi phòng lây nhiễm HIV cho người khác: Không đưa BKT cũ mà mình

đã sử dụng cho người khác

+ Tự lượng giá nguy cơ lây nhiễm HIV

* Sơ đồ biến số nghiên cứu : (phụ lục 1)

2.2.5 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu

2.2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu

Thành lập nhóm điều tra sẽ gồm người phát thư mời, người tiếp đón, giám sát viên địa phương, điều tra viên, người dẫn đường (điều tra viên và người dẫn đường là các Giáo dục viên đồng đẳng, thông thạo địa bàn và được đối tượng tin

Trang 38

cậy), tất cả đã qua tập huấn Nhóm điều tra sẽ đến điểm điều tra được chọn gặp người NCMT, giải thích mục đích, ý nghĩa và qui trình nghiên cứu Nhấn mạnh rằng việc tham gia vào cuộc điều tra là tự nguyện và tất cả thông tin mà người tham gia cung cấp, được giữ bí mật hoàn toàn

Nếu người NCMT đồng ý tham gia cuộc nghiên cứu thì điều tra viên sẽ tiến hành phỏng vấn bằng bộ câu hỏi phỏng vấn cá nhân, đảm bảo tính khách quan, bí mật, tế nhị, tạo không khí thoải mái, tin tưởng cho người được phỏng vấn để họ tự tin trả lời Khẳng định lại với người tham gia nghiên cứu là các thông tin họ cung cấp sẽ được giữ bí mật hoàn toàn

Trong bộ câu hỏi sẽ có một phần đề cập các vấn đề liên quan đến bản thân

và cuộc sống riêng tư của nghiện chích ma túy

Sau khi kết thúc phỏng vấn, người tham gia nghiên cứu sẽ được lấy máu xét nghiệm kháng thể kháng HIV và nhận một khoảng tiền bồi dưởng nhỏ cho thời gian tham gia phỏng vấn hoặc chi phí đi lại đến nơi phỏng vấn

Để tránh phỏng vấn lập lại một người, phỏng vấn viên cần hỏi người được phỏng vấn trước khi tiến hành phỏng vấn, liệu anh/chị đã được phỏng vấn trước đây cho nghiên cứu nầy chưa Nếu họ chưa được phỏng vấn, cuộc phỏng vấn sẽ được thực hiện, còn nếu họ đã được phỏng vấn rồi thì từ chối và cám ơn

2.2.5.2 Công cụ thu thập số liệu

Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi: ( phụ lục 2) [4],[8]

2.2.6 Các bước tiến hành thu thập số liệu

Bước 1: Cập nhật bản đồ địa dư xã hội

Trước khi tiến hành điều tra thực tế trên thực địa Việc xác định các tụ điểm TCMT, số lượng người NCMT tại mỗi tụ điểm sẽ được xác định thông qua việc cập nhật lại bản đồ địa dư xã hội đã thực hiện trong năm 2009 ở các địa

Trang 39

điểm nghiên cứu Tất cả các thông tin về tụ điểm, kích cỡ quần thể được xác

định, sẽ được tập hợp lại để xây dựng khung mẫu

Lập danh sách tất cả các đối tượng NCMT có mặt trong thời điểm điều tra

và bốc thăm ngẫu nhiên để chọn đối tượng tham gia nghiên cứu

Trao đổi với chính quyền địa phương và các đơn vị có liên quan về mục đích, ý nghĩa của cuộc nghiên cứu để được sự đồng thuận và cho phép cuộc nghiên cứu được tiến hành thuận lợi

Bước 2: Tiến hành thu thập số liệu

Mỗi huyện/Thành phố tổ chức ít nhất 1 điểm điều tra Mỗi điểm được chia thành 2 nhóm

Nhóm 1 (nhóm phát phiếu mời): gồm nhân viên phát phiếu sẽ phối hợp

cùng giáo dục viên đồng đẳng ma túy, tiến hành phát phiếu mời cho người NCMT dựa trên danh sách chọn mẫu ngẫu nhiên đã được xác định trong quá trình cập nhật bản đồ địa dư xã hội

Nhóm 2 (nhóm điều tra): gồm có nhân viên tiếp đón, cán bộ điều tra và

giám sát viên Tại điểm điều tra, khi người NCMT đến, họ sẽ đăng ký tại bàn tiếp nhận Nhân viên tiếp đón sẽ sàng lọc, lựa chọn những người đủ tiêu chuẩn tham gia cuộc điều tra và giải thích cho họ về mục đích cuộc điều tra Khi đối tượng NCMT đã hiểu đầy đủ và đồng ý tham gia cuộc điều tra, họ sẽ ký vào biên bản thoả thuận tham gia điều tra Sau đó nhân viên tiếp đón sẽ giúp người tham gia di chuyển sang khu vực phỏng vấn để điều tra viên tiến hành phỏng vấn, thu thập thông tin bằng bộ câu hỏi phỏng vấn cá nhân

Sau khi kết thúc cuộc phỏng vấn Người NCMT sẽ được lấy 5ml máu tỉnh mạch để xét nghiệm kháng thể kháng HIV Người NCMT có HIV sẽ được giới thiệu hoặc hướng dẫn đến Phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện hay phòng điều trị

Trang 40

ngoại trú ARV của tỉnh để tiếp tục được tư vấn, điều trị, chăm sóc thích hợp, miễn phí

2.2.7 Biện pháp kiểm soát sai số

- Tập huấn kỹ cho điều tra viên về các kỹ năng: tiếp cận đối tượng, kỹ năng khai thác thông tin theo đúng yêu cầu của bộ câu hỏi, kỹ năng ghi chép chi tiết để tránh sai lệch thông tin Các điều tra viên cũng được đào tạo về làm cách nào để tránh các câu hỏi và trả lời định hướng để có thể thu thập các thông tin

nhạy cảm về vấn đề Quan hệ tình dục, sử dụng ma túy…

- Tiến hành phỏng vấn thử: Mỗi điều tra viên sẽ phỏng vấn thử 5 đối tượng nhằm thực hành bộ câu hỏi, qua đó xem xét những vấn đề cần thiết điều chỉnh cho phù hợp với thực tế

- Giám sát các đối tượng đã tham gia điều tra để tránh một đối tượng có thể tham gia nhiều lần

- Đối tượng không đến điểm hẹn theo giấy mời thì cần tiếp xúc lại, thuyết phục họ tham gia điều tra

- Vào cuối ngày, các điều tra viên sẽ họp lại để rà soát và điều chỉnh, bổ sung những thông tin thu thập được nhưng còn thiếu hoặc sai lệch

2.2.8 Xử lý và phân tích số liệu

2.2.8.1 Phân tích số liệu

Làm sạch số liệu trước khi nhập vào máy tính Số liệu được nhập vào máy tính, phân tích và báo cáo số liệu, dùng phần mềm EPI INFO 6.04d (CDC Atlanta 2001)

2.2.8.2 Xử lý số liệu

- Tỷ lệ % và phân bố tần suất sẽ được dùng để mô tả các biến định tính

Ngày đăng: 22/08/2023, 19:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Nguyễn Thanh Long (2010), Đánh giá hành vi và xác định tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy trên địa bàn triển khai dự án phòng chống HIV/AIDS tỉnh Cao Bằng do Ngân hàng thế giới tài trợ, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hành vi và xác định tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy trên địa bàn triển khai dự án phòng chống HIV/AIDS tỉnh Cao Bằng do Ngân hàng thế giới tài trợ
Tác giả: Nguyễn Thanh Long
Năm: 2010
16. Nguyễn Thanh Long (2010), Hành vi nguy cơ lây nhiễm và tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy tại khu vực nông thôn miền núi tỉnh BắcGiang năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi nguy cơ lây nhiễm và tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy tại khu vực nông thôn miền núi tỉnh BắcGiang năm 2010
Tác giả: Nguyễn Thanh Long
Năm: 2010
17. Nguyễn Thanh Long (2009), Kiến thức, thái độ, hành vi liên quan đến HIV/AIDS của người nghiện chích ma túy tại 7 tỉnh/ thành phố Việt Nam sau 5 năm triển khai họat động can thiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, hành vi liên quan đến HIV/AIDS của người nghiện chích ma túy tại 7 tỉnh/ thành phố Việt Nam sau 5 năm triển khai họat động can thiệp
Tác giả: Nguyễn Thanh Long
Năm: 2009
18. Trương Tấn Minh (2008), Điều tra kiến thức thái độ hành vi về phòng chống nhiễm HIV/AIDS và đánh giá tỉ lệ nhiễm HIV/AIDS trên nhóm NCMT tại Khánh Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra kiến thức thái độ hành vi về phòng chống nhiễm HIV/AIDS và đánh giá tỉ lệ nhiễm HIV/AIDS trên nhóm NCMT tại Khánh Hoà
Tác giả: Trương Tấn Minh
Năm: 2008
19. Phòng y tế huyện Bình Minh ( 2011), Báo cáo công tác phòng chống HIV/AIDS năm 2011, phương hướng nhiệm vụ năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác phòng chống HIV/AIDS năm 2011, phương hướng nhiệm vụ năm 2012
Tác giả: Phòng y tế huyện Bình Minh
Năm: 2011
20. Phòng y tế huyện Long Hồ ( 2011), Báo cáo công tác phòng chống HIV/AIDS năm 2011, phương hướng nhiệm vụ năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác phòng chống HIV/AIDS năm 2011, phương hướng nhiệm vụ năm 2012
Tác giả: Phòng y tế huyện Long Hồ
Năm: 2011
21. Phòng y tế Thành phố Vĩnh Long (2011), Báo cáo công tác phòng chốn HIV/AIDS năm 2011, phương hướng nhiệm vụ năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác phòng chốn HIV/AIDS năm 2011, phương hướng nhiệm vụ năm 2012
Tác giả: Phòng y tế Thành phố Vĩnh Long
Năm: 2011
22. Hoàng Huy Phương (2009), Tỷ lệ nhiễm HIV và nhận thức, thái độ, hành vi về HIV/AIDS của nhóm nghiện chích ma túytỉnh Ninh Bình2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ nhiễm HIV và nhận thức, thái độ, hành vi về HIV/AIDS của nhóm nghiện chích ma túy tỉnh Ninh Bình
Tác giả: Hoàng Huy Phương
Năm: 2009
24. Sở Lao Động Thương Binh &amp; Xã Hội tỉnh Vĩnh Long (2011), Báo cáo công tác phòng chống tệ nạn xã hội năm 2011, kế hoạch năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác phòng chống tệ nạn xã hội năm 2011, kế hoạch năm 2012
Tác giả: Sở Lao Động Thương Binh & Xã Hội tỉnh Vĩnh Long
Năm: 2011
25. Nguyễn Thị Kim Tiến và cộng sự (2010), “Các phương pháp lấy mẫu nghiên cứu và cách tính cỡ mẫu”, Dịch tể học cơ bản, NXB Y Học, Hà Nội, tr 98 – 107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tể học cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Tiến, cộng sự
Nhà XB: NXB Y Học
Năm: 2010
26. Nguyễn Vũ Thượng (2007), Tác động của các yếu tố môi trường đến hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở người nghiện chích ma túy tại tỉnh Vĩnh Long năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của các yếu tố môi trường đến hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở người nghiện chích ma túy tại tỉnh Vĩnh Long năm 2007
Tác giả: Nguyễn Vũ Thượng
Năm: 2007
27. Trung tâm truyền thông Gíao Dục Sức Khỏe Thành phố Hồ Chí Minh (2007), Cẩm nang phòng chống AIDS, tr 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang phòng chống AIDS
Tác giả: Trung tâm truyền thông Gíao Dục Sức Khỏe Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2007
28. Trung tâm phòng chống AIDS tỉnh Vĩnh Long (2008), AIDS nỗi lo của nhân loại, tr 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: AIDS nỗi lo của nhân loại
Tác giả: Trung tâm phòng chống AIDS tỉnh Vĩnh Long
Năm: 2008
34. Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Vĩnh Long (2005), Chiến lược phòng chống HIV/AIDS Tỉnh Vĩnh Long đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phòng chống HIV/AIDS Tỉnh Vĩnh Long đến năm 2010 và tầm nhìn 2020
Tác giả: Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Vĩnh Long
Năm: 2005
39. Ruben, Granich. MD, M.P.H. Jonathan Menin MD. M.D.H (2004), HIV sức khỏe và cộng đồng, NXB y học, tr 46- 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: HIV sức khỏe và cộng đồng
Tác giả: Granich Ruben, Jonathan Menin
Nhà XB: NXB y học
Năm: 2004
41. United Nations (2004), HIV prevention among young injecting drug users United Nation Publication Sách, tạp chí
Tiêu đề: HIV prevention among young injecting drug users
Tác giả: United Nations
Nhà XB: United Nation Publication
Năm: 2004
29. Trung tâm phòng chống AIDS tỉnh Vĩnh Long (2011), Báo cáo công tác phòng chống HIV/AIDS năm 2011, phương hướng nhiệm vụ 2012 Khác
30. Trung tâm phòng chống AIDS Vĩnh Long (2008), Tôi Quan Tâm Đến AIDS 31. Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ (2010), Thống kê y học Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w