ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Từ tháng 7/2014 đến tháng 4/2015, tất cả các bệnh nhân chẩn đoán mắc bướu tiền liệt tuyến đều được chỉ định thực hiện phẫu thuật cắt đốt nội soi tại khoa Ngoại Niệu Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ, đảm bảo phương pháp điều trị tối ưu và an toàn cho người bệnh.
Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
Người bệnh được chẩn đoán là bướu tiền liệt tuyến nhưng không có chỉ định cắt đốt nội soi
Người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu
Những người bệnh không nói được, không nghe được
Những người bệnh có tri giác và tâm thần không bình thường.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Chọn mẫu thuận tiện là yếu tố quan trọng trong quá trình chẩn đoán bướu tiền liệt tuyến, đảm bảo tất cả người bệnh phù hợp tiêu chuẩn chọn mẫu sẽ được chỉ định cắt đột nội soi Các tiêu chuẩn này giúp xác định các trường hợp đủ điều kiện để thực hiện phương pháp điều trị, đảm bảo hiệu quả và an toàn cao Từ tháng 7/2014 đến tháng 4/2015, quy trình này đã được áp dụng rộng rãi, góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân.
2.2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm chung của người bệnh
- Tuổi: tính tròn năm, là biến định lượng liên tục
- Nghề nghiệp: là biến danh định, là công việc mang lại thu nhập chính cho bản thân Có 4 nhóm nghề nghiệp chính:
+ Trí thức + Hết tuổi lao động
- Nơi sống: là nơi cư trú thường xuyên có hộ khẩu thường trú theo quy định, là biến danh định Nơi sống được chia làm 2 nhóm:
+ Thành thị (thị trấn, thị xã, phường, thành phố)
2.2.3.2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
- Lý do nhập viện: là biến danh định, là triệu chứng khiến người bệnh phải nhập viện khám và điều trị bướu tiền liệt tuyến Gồm có 8 giá trị:
Tiểu khó là tình trạng gặp khó khăn khi đi tiểu, với đặc điểm phải rặn mạnh để đẩy nước tiểu ra ngoài, tia tiểu yếu và nhỏ giọt xuống chân Người bị tiểu khó thường kéo dài cảm giác chưa hết nước tiểu mặc dù đã đi vệ sinh xong, gây bất tiện và khó chịu trong sinh hoạt hàng ngày.
+ Tiểu máu: nhìn bằng mắt thường thấy nước tiểu có màu hồng hay đỏ thẵm
+ Tiểu gắt: lượng nước tiểu ít, vài giọt hay vài ml trong một lần đi tiểu + Tiểu buốt: là cảm giác đau rát niệu đạo khi đi tiểu
+ Tiểu đêm: là tình trạng người bệnh phải thức dậy nhiều lần trong đêm để đi tiểu, thường trên 2 lần
Bí tiểu là hiện tượng nước tiểu bị ứ đọng trong bàng quang, gây ra cảm giác mót tiểu dữ dội nhưng không thể đi tiểu được Khác với vô niệu, bí tiểu không phải do thận ngưng bài tiết nước tiểu mà do cơ thể gặp khó khăn trong quá trình thoát nước tiểu từ bàng quang ra ngoài.
Tiểu yếu là tình trạng tia nước tiểu nhỏ, lưu lượng ít, vận tốc thấp, gây khó chịu và ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của người bệnh Trong khi đó, tiểu không kiểm soát là hiện tượng nước tiểu tự rỉ ra mà người bệnh không kiểm soát hoặc không nhận thức được, gây bất tiện và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.
Bệnh lý kèm theo của người bệnh được ghi nhận dựa trên chẩn đoán ra viện, hỏi tiền sử bệnh hoặc qua các kết luận của bác sĩ chuyên khoa về các xét nghiệm bất thường Các bệnh lý này mang tính biến nhị giá, gồm hai giá trị là có và không, với tổng cộng 15 loại bệnh lý kèm theo khác nhau Việc xác định bệnh lý kèm theo giúp cung cấp một cái nhìn toàn diện về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân, từ đó hỗ trợ quá trình chẩn đoán và điều trị chính xác hơn.
+ Đái tháo đường + Tăng huyết áp
+ Tai biến mạch máu não
+ Lao phổi + Xuất huyết não + Viêm gan + Thiếu máu cơ tim + Bệnh trĩ
- Ước lượng trọng lượng tiền liệt tuyến: là biến định lượng Được ghi từ kết quả siêu âm.
- PSA máu: là biến định lượng, người bệnh được rút máu làm xét nghiệm PSA và ghi lại kết quả
2.2.3.3 Đánh giá kết quả chăm sóc điều dưỡng sau khi mổ cắt đốt nội soi
- Đau sau cắt đốt nội soi: thể hiện cảm giác đau của người bệnh sau mổ cắt đốt nội soi, là biến nhị giá, gồm có 2 giá trị:
- Mức độ đau: là biến danh định, có 5 giá trị:
+ Đau nhiều + Đau rất nhiều
- Vị trí đau: là vùng mà người bệnh có cảm giác đau, là biến danh định, có 4 giá trị:
+ Ngang thắt lưng + Vùng trung vị
Chăm sóc đau sau cắt đốt nội soi là hoạt động quan trọng do người điều dưỡng thực hiện để giúp người bệnh giảm đau và phục hồi nhanh chóng Quá trình này bao gồm các công việc chăm sóc định kỳ, nhằm đảm bảo sự an toàn, thoải mái và sự phục hồi tốt nhất cho người bệnh Chăm sóc đúng quy trình sau cắt đốt nội soi còn giúp giảm thiểu biến chứng và nâng cao chất lượng điều trị Trên thực tế, chăm sóc này thể hiện năm giá trị cốt lõi, đó là sự an toàn, tận tâm, chuyên nghiệp, thân thiện và hiệu quả Việc nhận thức rõ vai trò của chăm sóc đau sau cắt đốt nội soi sẽ góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và mang lại cảm giác yên tâm cho người bệnh trong quá trình hồi phục.
+ Hướng dẫn tư thế giảm đau
+ Hướng dẫn xoay trở, vận động nhẹ nhàng
+ Hướng dẫn chườm nóng để giảm đau
+ Bôi vaselin lên đầu dương vật
+ Thực hiện thuốc giảm đau
- Tình trạng dinh dưỡng: thể hiện tình trạng ăn uống của người bệnh sau mổ cắt đốt nội soi, là biến danh định, gồm có 3 giá trị:
+ Chán ăn, ăn không ngon miệng
- Người bệnh biết chế độ ăn sau CĐNS: là biến nhị giá, có 2 giá trị:
Điều dưỡng hướng dẫn chế độ ăn sau cắt đốt nội soi là một phần quan trọng trong quá trình phục hồi của người bệnh, giúp đảm bảo quá trình lành vết thương diễn ra thuận lợi Chế độ ăn sau phẫu thuật này bao gồm hai giá trị chính, nhằm cung cấp dinh dưỡng phù hợp và nâng cao sức đề kháng cho cơ thể Việc hướng dẫn chế độ ăn của điều dưỡng giúp bệnh nhân hiểu rõ các nguyên tắc lựa chọn thực phẩm an toàn và phòng tránh biến chứng sau mổ Áp dụng đúng chế độ ăn sau cắt đốt nội soi góp phần giảm nguy cơ nhiễm trùng, thúc đẩy quá trình hồi phục nhanh chóng và ổn định hơn.
- Tình trạng vận đông: là biến danh định, thề hiện tình trạng vận động của người bệnh sau mổ, gồm có 3 giá trị:
+ Ngồi dậy, đi lại vận động sớm trong vòng 24 giờ đầu
+ Vận động, xoay trở nhẹ tại giường trong ngày đầu sau mổ, ngày thứ 2 ngồi dậy, ngày thứ 3 có thể đi lại bình thường
+ Vận động, xoay trở khó khăn, đến ngày thứ 3 mới ngồi dậy được
- Người bệnh biết chế độ vận động sau cắt đốt nội soi: là biến nhị giá, có
- Hướng dẫn chế độ vận động sau mổ: là biến nhị giá, gồm có 3 giá trị:
- Màu sắc sonde tiểu khi về khoa sau cắt đốt nội soi: là biến danh định, có 4 giá trị:
Lượng nước tiểu trong 24 giờ đầu sau mổ là biến định lượng quan trọng, được đo bằng cách theo dõi lượng nước tiểu mỗi 2 giờ Người nhà người bệnh cần ghi lại lượng nước tiểu sau mỗi lần xả, sau đó cộng tất cả các giá trị trong 24 giờ để xác định tổng lượng nước tiểu trong ngày đầu sau mổ Quá trình này giúp đánh giá chức năng thận và tình hình hồi phục sau phẫu thuật, cung cấp 4 giá trị chính để theo dõi trạng thái bệnh nhân.
- Màu sắc sonde tiểu sau 24 giờ CĐNS: là biến danh định, có 4 giá trị: + Hồng nhạt
Chăm sóc ống thông tiểu là hoạt động quan trọng thể hiện trách nhiệm của người điều dưỡng trong việc duy trì sự lưu thông tiểu của bệnh nhân Công việc này bao gồm năm giá trị cốt lõi, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong quá trình chăm sóc Việc chăm sóc đúng cách giúp phòng ngừa các biến chứng, duy trì vệ sinh và tăng cường sự thoải mái cho người bệnh Nhờ đó, chăm sóc ống thông tiểu đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều trị và nâng cao chất lượng chăm sóc y tế.
+ Theo dõi màu sắc, độ trong, tính chất, thể tích lượng nước tiểu
+ Vệ sinh nơi đặt ống thông tiểu
+ Hướng dẫn vệ sinh khi có ống thông tiểu
+ Hướng dẫn cách tập tiểu, biến chứng khi lưu ống thông tiểu
- Thời gian lưu ống thông tiểu, là biến định lượng, là thời gian từ lúc đặt ống thông tiểu đến khi rút ống
- Biến chứng trong thời gian nằm viện; là biến danh định, gồm có 5 giá trị:
+ Bí tiểu sau rút ống
+ Nghẹt thông tiểu + Không có biến chứng
Chăm sóc tình trạng chảy máu thứ phát là một hoạt động quan trọng trong quá trình điều trị, nhằm kiểm soát và giảm thiểu hậu quả của tình trạng này Đây là các biện pháp điều dưỡng cần thực hiện khi người bệnh gặp phải chảy máu thứ phát, nhằm đảm bảo an toàn và phục hồi nhanh chóng cho người bệnh Quản lý chảy máu thứ phát bao gồm 6 giá trị cốt lõi quan trọng giúp nâng cao hiệu quả chăm sóc, giảm thiểu các biến chứng và hỗ trợ quá trình hồi phục Việc thực hiện đúng các bước chăm sóc này góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và tối ưu hóa kết quả điều trị cho người bệnh.
+ Cho người bệnh nằm yên tại giường, kiểm tra đường niệu, kiểm tra ống thông tiểu
+ Bơm căng bóng chèn, cố định tốt ống thông tiểu
+ Thực hiện bơm rửa bàng quang, ròng nước liên tục
+ Theo dõi mạch, huyết áp, nhịp thở, da niêm
+ Theo dõi màu sắc túi chứa nước tiểu
+ Báo bác sĩ xử trí
Chăm sóc tình trạng bí tiểu sau rút ống thông là một biến chứng thường gặp và cần được quản lý đúng cách để đảm bảo sức khỏe người bệnh Các công việc điều dưỡng bao gồm theo dõi chặt chẽ dấu hiệu sinh tồn, kiểm tra chức năng bàng quang, chăm sóc vùng sinh dục và hướng dẫn người bệnh tự chăm sóc tại nhà Quản lý tốt tình trạng này giúp giảm nguy cơ nhiễm trùng và các biến chứng khác, góp phần phục hồi nhanh chóng cho người bệnh Trong quá trình chăm sóc, việc tuân thủ các nguyên tắc vệ sinh và theo dõi tình trạng bí tiểu là vô cùng quan trọng để đảm bảo hiệu quả điều trị.
+ Hướng dẫn chườm ấm ở vùng bàng quang
+ Hướn dẫn người bệnh đi vào nhà vệ sinh để tiểu
+ Hướng dẫn nghe tiếng nước chảy, xối nước ấm vào chân để đi tiểu + Đặt ống thông tiểu
Chăm sóc nhiễm trùng niệu sau mổ là một công việc quan trọng trong quá trình điều trị, giúp kiểm soát và ngăn ngừa biến chứng Điều dưỡng đóng vai trò chính trong việc theo dõi và xử lý nhiễm trùng này, đảm bảo sự phục hồi nhanh chóng cho bệnh nhân Quản lý nhiễm trùng niệu bao gồm các bước như phát hiện sớm dấu hiệu nhiễm trùng, duy trì vệ sinh vùng kín, theo dõi các chỉ số sinh tồn, sử dụng thuốc kháng sinh đúng liều lượng và hướng dẫn bệnh nhân cách chăm sóc tại nhà Chính những hoạt động này góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, giảm thiểu rủi ro và đảm bảo sự an toàn cho người bệnh sau phẫu thuật.
+ Theo dõi màu sắc, độ trong, số lượng nước tiểu hằng ngày
+ Theo dõi mạch, huyết áp, nhiệt độ hẳng ngày
+ Thay ống sonde tiểu mới
+ Thực hiện thuốc theo y lệnh
- Chăm sóc khi nghẽn ống thông tiểu: là biến danh định Là những việc điều dưỡng sẽ làm khi người bệnh có nghẽn ống Gồm có 4 giá trị:
+ Kiểm tra hệ thống dẫn lưu nước tiểu
+ Theo dõi thể tích nước tiểu, tình trạng bàng quang
+ Đặt lại ống thông tiểu
Giải đáp thắc mắc là biến danh định, giúp điều dưỡng giải đáp những câu hỏi về bệnh trong quá trình điều trị sau cắt đốt nội soi Đây là phần quan trọng để cung cấp thông tin chính xác và hỗ trợ bệnh nhân hiểu rõ về quá trình điều trị Các câu hỏi thường liên quan đến tình trạng sức khỏe, cách chăm sóc sau khi điều trị, và những lưu ý cần thiết nhằm đảm bảo quá trình hồi phục diễn ra thuận lợi Việc cung cấp các câu trả lời phù hợp giúp nâng cao hiệu quả điều trị và giảm bớt lo lắng cho bệnh nhân.
+ Có, hướng dẫn rõ ràng
+ Có, nhưng mơ hồ, khó hiểu
Dưỡng tư vấn, động viên, an ủi khi người bệnh cảm thấy đau đớn và lo sợ trong quá trình điều trị sau cắt đốt nội soi là rất quan trọng, nhằm giúp họ vượt qua tâm lý lo lắng và tạo sự thoải mái về tinh thần Đây là biến danh định mang lại 3 giá trị cốt lõi: hỗ trợ tinh thần, giảm căng thẳng và thúc đẩy quá trình hồi phục nhanh chóng Việc tư vấn, động viên và an ủi đúng cách giúp người bệnh cảm thấy an tâm hơn, giảm thiểu cảm giác sợ hãi và nâng cao hiệu quả điều trị.
Thái độ xử trí những bất thường của người bệnh là yếu tố quan trọng trong quá trình chăm sóc y tế, phản ánh thái độ của điều dưỡng khi người bệnh báo cáo các triệu chứng bất thường Đây được gọi là biến danh định, thể hiện khả năng nhận biết và phản ứng phù hợp của điều dưỡng trước các dấu hiệu bất thường của bệnh nhân Việc xử trí đúng đắn giúp nâng cao chất lượng chăm sóc, đảm bảo an toàn và tạo sự yên tâm cho người bệnh Thái độ tích cực và chuyên nghiệp của điều dưỡng góp phần thúc đẩy quá trình hồi phục và giảm thiểu các rủi ro tiềm tàng liên quan đến tình trạng bất thường của bệnh nhân Các giá trị cốt lõi trong xử trí bất thường bao gồm sự nhanh nhạy, chính xác và nhân văn trong tiếp xúc và phản hồi với người bệnh.
+ Nhanh chóng, tức thời xử trí
+ Chậm chạp, chờ đợi lâu
+ Không xem xét gì hết
- Kết quả giải phẫu bệnh: là biến danh định Ghi nhận từ kết quả giải phẫu bệnh, có 2 giá trị:
+ Tăng sản lành tính tiền liệt tuyến
+ Ung thư tiền liệt tuyến
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của người bệnh
Biểu đồ 3.1: Tuổi của người bệnh bướu tiền liệt tuyến
Nhận xét: Nhóm 80-89 tuổi mắc bệnh nhiều nhất, chiếm 36% Độ tuổi trung bình là 75,31 tuổi, nhỏ nhất là 51 tuổi, lớn nhất là 94 tuổi
3.1.2 Nghề nghiệp và địa phương
Bảng 3.5 : Nghề nghiệp và địa phương Đặc điểm Số người bệnh Tỷ lệ (%)
Nghề nghiệp Hết tuổi lao động 139 92,7
Nghề khác 11 7,3 Địa phương Nông thôn 128 85,3
- Với tỷ lệ 92,7%, nhóm hết tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao nhất
- Đa số người bệnh sống ở nông thôn, chiếm tỷ lệ là 85,3%.
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
Biểu đồ 3.2: Lý do nhập viện Nhận xét: Lý do nhập viện thường gặp nhất là tiểu khó, chiếm 48,7%
Bảng 3.6: Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng Có/Không Số người bệnh Tỷ lệ (%)
Khó khi bắt đầu tiểu Có 139 92,7
Phải rặn khi bắt đầu Có 131 87,3
Nhận xét: Triệu chứng tiểu khó chiếm tỷ lệ cao 92,7%
3.2.3 Người bệnh bướu tiền liệt tuyến có bệnh lý kèm theo
Biểu đồ 3.3: Người bệnh bướu tiền liệt tuyến có bệnh lý kèm theo Nhận xét: Có 91/150 người bệnh có bệnh lý kèm theo, chiếm tỷ lệ 60,7%
3.2.4 Trọng lượng tiền liệt tuyến
Biểu đồ 3.4: Trọng lượng bướu tiền liệt tuyến Nhận xét:
- Trọng lượng bướu từ 30-50 gr chiếm nhiều nhất với 54,7%, 51-70 gr chiếm 34%
- Trọng lượng trung bình của bướu là 53,07 gr, trọng lượng nhỏ nhất là
25 gr, trọng lượng lớn nhất là trên 100 gr
3.2.5 Nồng độ PSA của người bệnh
Có 83 người bệnh được chỉ định có định lượng PSA
Biểu đồ 3.5: Nồng độ PSA Nhận xét:
- Chiếm tỷ lệ cao là nhóm dưới 4ng/ml với 37,3%, 4-10 ng/ml là 16,9%, trên 10 đến 20 ng/ml là 20,5%, trên 20 ng/ml là 25,3%
- Nồng độ PSA trung bình là 27,38 ng/ml
- Nồng độ cao trên 100 ng/ml và nhỏ nhất là 0,19 ng/ml
3.2.6 Ung thư tiền liệt tuyến
Biểu đồ 3.6: Ung thư tiền liệt tuyến
Nhận xét: Tăng sản lành tính tiền liệt tuyến chiếm tỷ lệ cao với 88,7%.
Đánh giá kết quả chăm sóc điều dưỡng sau cắt đốt nội soi
3.3.1 Chăm sóc đau sau cắt đốt nội soi
Bảng 3.7: Tình trạng đau sau cắt đốt nội soi
Kết quả Số người bệnh Tỷ lệ (%) Đau Có
Mức độ đau Đau rất nhẹ 37 97,4 Đau nhẹ 1 2,6
Nhận xét: Có 38/150 người bệnh đau, 97,4% là đau rất nhẹ
Biểu đồ 3.7: Vị trí đau Nhận xét: Đau vùng hạ vị chiếm chủ yếu với 42,1%
Bảng 3.8: Hướng dẫn phương pháp giảm đau Phương pháp Số người bệnh Tỷ lệ (%) Hướng dẫn xoay trở, vận động nhẹ nhàng 38 100
Hướng dẫn chườm nóng để giảm đau 27 71
Bôi vaselin lên đầu dương vật 14 36,8
Thực hiện thuốc giảm đau 1 2,6
Nhận xét: Phương pháp hướng dẫn xoay trở, vận động nhẹ nhàng chiếm 100%, hướng dẫn chườm nóng để giảm đau chiếm tỷ lệ 71%
3.3.2 Chăm sóc dinh dưỡng sau cắt đốt nội soi
Bảng 3.9: Tình trạng dinh dưỡng
Tình trạng ăn uống Số người bệnh Tỷ lệ (%)
Chán ăn, ăn không ngon miệng 18 12 Ăn uống bình thường 112 74,7 Ăn uống ngon miệng 20 13,3
Nhận xét: Tình trạng ăn uống bình thường chiếm 74,7%
Biểu đồ 3.8: Tỷ lệ người bệnh biết chế độ ăn uống Nhận xét: Có 95,3% người bệnh không biết chế độ ăn
Biểu đồ 3.9: Điều dưỡng hướng dẫn chế độ ăn uống
Nhận xét: Có 146 người bệnh được điều dưỡng hướng dẫn chế độ ăn
3.3.3 Chăm sóc vận động sau cắt đốt nội soi
Bảng 3.10: Tình trạng vận động
Tình trạng vận động Số người bệnh
Trong vòng 24 giờ đầu sau tai biến, chỉ có 26,7% bệnh nhân có thể ngồi dậy và vận động nhẹ tại giường, trong khi phần lớn (66%) bắt đầu vận động, xoay trở nhẹ trong ngày đầu và ngày thứ hai Chỉ có 7,3% bệnh nhân gặp khó khăn trong vận động và phải đến ngày thứ 3 mới có thể ngồi dậy, thể hiện quá trình phục hồi vận động chậm nhưng tích cực sau sự kiện.
Nhận xét: Vận động, xoay trở nhẹ tại giường trong ngày đầu, ngày thứ 2 ngồi dậy, ngày thứ 3 đi lại bình thường chiếm tỷ lệ cao nhất với 66%
Bảng 3.11: Chăm sóc vận động sau cắt đốt nội soi
Chăm sóc vận động Số người bệnh Tỷ lệ (%)
Người bệnh biết chế độ vận động
Hướng dẫn chế độ vận động
Nhận xét: Có 98,7% người bệnh không biết về chế độ vận động sau mổ cắt đốt nội soi.Có 94,7%, điều dưỡng có hướng dẫn chế độ vận động
3.3.4 Thể tích nước tiểu trong 24 giờ đầu sau cắt đốt nội soi
Biểu đồ 3.10: Thể tích nước tiểu trong 24 giờ đầu cắt đốt nội soi
Nhận xét: Thể tích nước tiểu trong 24 giờ sau cắt đốt nội soi, từ 1500-
1800 ml chiếm cao nhất với 38,7%
3.3.5 Màu sắc nước tiểu khi về khoa và sau 24 giờ đầu cắt đốt nội soi
Biểu đồ 3.11: Màu sắc nước tiểu khi về khoa Nhận xét: Khi về khoa sau cắt đốt nội soi nước tiểu màu hồng nhạt chiếm tỷ lệ cao 82%
Sau 24 giờ sau cắt đốt nội soi, màu sắc nước tiểu chủ yếu là vàng nhạt và vàng đậm, chiếm tỷ lệ lần lượt là 44% và 44,7% Điều này cho thấy đa phần bệnh nhân sau thủ thuật có màu nước tiểu ổn định, phản ánh quá trình hồi phục bình thường Việc theo dõi màu sắc nước tiểu sau cắt đốt nội soi là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự an toàn và hiệu quả của thủ thuật.
3.3.6 Chăm sóc ống thông tiểu
Bảng 3.12: Chăm sóc ống thông tiểu
Chăm sóc thông tiểu Số người bệnh Tỷ lệ (%)
Theo dõi màu sắc, độ trong, tính chất, thể tích nước tiều 150 100
Vệ sinh nơi đặt ống thông tiểu 150 100
Hướng dẫn vệ sinh khi có ống thông tiểu 150 100 Hướng dẫn cách tập tiểu, biến chứng khi lưu ống thông tiểu 130 86,7
Nhận xét: Có 86,7-100% người bệnh được chăm sóc ống thông tiểu
3.3.7 Thời gian lưu ống thông tiểu
Biểu đồ 3.13 cho thấy phần lớn bệnh nhân lưu ống thông tiểu từ 3 đến 5 ngày, chiếm tỷ lệ cao nhất là 92,7% Trong đó, thời gian lưu ống trung bình là 4 ngày, với 79 trên 150 bệnh nhân giữ ống trong khoảng này Điều này phản ánh rằng thời gian lưu ống thông tiểu thường kéo dài từ 3 đến 5 ngày trong quá trình điều trị.
3.3.8 Biến chứng sau cắt đốt nội soi
Biểu đồ 3.14 cho thấy có 21 trường hợp gặp biến chứng sau khi cắt đốt nội soi Trong đó, biến chứng nghẽn ống thông tiểu xảy ra với tỷ lệ cao nhất là 8,7%, tiếp theo là bí tiểu sau rút ống đạt 5,3%, và chảy máu thứ phát chiếm tỷ lệ 2,7% Các biến chứng này cần được theo dõi và xử lý phù hợp để giảm thiểu tác động tiêu cực đến bệnh nhân.
3.3.9 Chăm sóc chảy máu thứ phát
Bảng 3.13: Điều dưỡng chăm sóc chảy máu thứ phát
Chăm sóc chảy máu thứ phát Số người bệnh
Cho người bệnh nằm yên tại giường, kiểm tra đường niệu, ống thông tiểu 4 100
Bơm căng bóng chèn, cố định tốt ống thông 4 100 Thực hiện bơm rửa bàng quang, ròng nước liên tục 4 100 Theo dõi mạch, huyết áp, nhịp thở, da niêm 4 100
Theo dõi màu sắc túi chứa nước tiểu 4 100
Báo bác sĩ xử trí 4 100
Nhận xét: Tất người bệnh có chảy máu thứ phát đều được điều dưỡng chăm sóc
3.3.10 Chăm sóc nghẽn ống thông tiểu
Bảng 3.14: Điều dưỡng chăm sóc tình trạng nghẽn ống thông tiểu
Chăm sóc nghẽn ống Số người bệnh Tỷ lệ (%)
Kiểm tra hệ thống dẫn lưu nước tiểu 13 100
Theo dõi thể tích nước tiểu, tình trạng bàng quang 13 100
Bơm rửa bàng quang 13 100 Đặt lại ống thông tiểu 4 30,8
Nhận xét: Tất cả 13 người bệnh đều được chăm sóc nghẽn ống thông tiểu
Có 4/11 người bệnh có đặt ống thông tiểu mới
3.3.11 Chăm sóc nhiễm trùng niệu sau cắt đốt nội soi
Bảng 3.15: Điều dưỡng chăm sóc nhiễm trùng niệu
Chăm sóc nhiễm trùng niệu Số người bệnh Tỷ lệ (%)
Theo dõi màu sắc, độ trong, số lượng nước tiểu hằng ngày 1 100
Theo dõi mạch, huyết áp, nhiệt độ hằng ngày 1 100
Thay ống sonde tiểu mới 1 100
Thực hiện thuốc kháng sinh 1 100
Nhận xét: Có 1 trường hợp có nhiễm trùng niệu và người bệnh đã được điều dưỡng chăm sóc
3.3.12 Điều dưỡng chăm sóc tình trạng bí tiểu sau rút ống
Bảng 3.16: Chăm sóc tình trạng bí tiểu sau rút ống
Chăm sóc bí tiểu sau rút ống Số người bệnh Tỷ lệ (%)
Hướng dẫn chườm ấm ở vùng bàng quang 8 100
Hướng dẫn người bệnh đi vào nhà vệ sinh để tiểu 8 100
Hướng dẫn nghe tiếng nước chảy, xối nước ấm vào chân 1 12,5 Đặt ống thông tiểu 7 87,5
Nhận xét: Hướng dẫn chườm ấm ở vùng bàng quang và hướng dẫn đi vào nhà vệ sinh để tiểu được điều dưỡng hướng dẫn nhiều nhất cho người bệnh
3.3.13 Chăm sóc tinh thần cho người bệnh sau phẫu thuật
Bảng 3.17: Điều dưỡng chăm sóc tinh thần cho người bệnh
Kết quả Số người bệnh
Giải đáp thắc mắc của người bệnh
Có, giải đáp rõ ràng, dễ hiểu 107 71,3
Có, nhưng mơ hồ, khó hiểu 41 27,3
Tư vấn, động viên, an ủi khi người bệnh đau đớn, lo lắng
Thái độ xử trí khi người bệnh báo những bất thường
Gần 92% người bệnh nhận được xử trí nhanh chóng, tức thời khi gặp vấn đề, thể hiện sự phản ứng kịp thời của nhân viên y tế Trong khi đó, 8,7% phản hồi về việc xử trí chậm chạp, chờ đợi lâu, ảnh hưởng đến trải nghiệm của người bệnh Hầu hết (98,6%) người bệnh đều được giải đáp thắc mắc rõ ràng, còn 100% nhận được tư vấn, động viên và an ủi khi họ gặp đau đớn, lo lắng Thái độ xử trí khi bệnh nhân báo cáo các bất thường thể hiện sự chuyên nghiệp, nhanh chóng và tận tâm, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc y tế và sự hài lòng của người bệnh.
3.3.14 Kết quả chăm sóc trước khi xuất viện
Bảng 3.18: Bảng kết quả chăm sóc trước khi người bệnh xuất viện
Kết quả Số người bệnh Tỷ lệ (%)
Tình trạng dinh dưỡng Ăn uống tốt 97 64,7 Ăn uống khá 53 35,3
Kiến thức về chế độ dinh dưỡng sau mổ
Kiến thức về chế độ vận động sau mổ
Kết quả điều trị cho thấy 100% bệnh nhân không còn đau, 64,7% cải thiện chức năng ăn uống đáng kể, 96,7% có kiến thức về chế độ dinh dưỡng phù hợp để hỗ trợ phục hồi Ngoài ra, 94% bệnh nhân nắm vững kiến thức về chế độ vận động, giúp họ duy trì lối sống lành mạnh Phần lớn người bệnh (86%) hiểu rõ về bệnh của mình, từ đó nâng cao khả năng tự chăm sóc và phòng ngừa biến chứng Đặc biệt, 100% bệnh nhân không gặp phải biến chứng sau điều trị, chứng tỏ hiệu quả của phương pháp can thiệp và tư vấn chăm sóc.
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của người bệnh
4.1.1 Đặc điểm về tuổi Độ tuổi mắc bệnh trung bình là 75,31 tuổi, trong đó nhỏ nhất là 51 tuổi, lớn nhất là 94 tuổi Nhóm tuổi 80 - 89 có tỷ lệ cao nhất 36%, trong khi nhóm tuổi 60 - 69 là 26%, nhóm tuổi 70 -79 là 25,3%, nhóm tuổi < 60 là 7,3% Theo tác giả Trần Ngọc Sinh trung bình là 74,06 tuổi, thấp nhất là 53 tuổi, cao nhất là 91 tuổi [37]; Nguyễn Thanh Phong trung bình là 73.8 tuổi, nhỏ nhất là 52 tuổi, lớn nhất là 96 tuổi [29]; Thái Thị Hồng Nhung trung bình là 76,6 tuổi, nhỏ nhất là 55 tuổi, cao nhất là 97 tuổi
[25] Qua đó thấy rằng kết quả của chúng tôi phù hợp so với những nghiên cứu của các tác giả trên
4.1.2 Nghề nghiệp và địa phương
Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số người bệnh (92,7%) đã hết tuổi lao động và sinh sống chủ yếu ở vùng nông thôn, chiếm tỷ lệ 85,3%, cao hơn so với nghiên cứu của Thái Thị Hồng Nhung (79,6%) [25] Các nghiên cứu khác như của Trần Quốc Hùng cho thấy người bệnh tập trung nhiều ở nông thôn (54,5%) so với thành thị (43,2%) [22], còn tác giả Tô Quyền ghi nhận tỷ lệ người bệnh ở nông thôn chiếm 94,3% [31] Sự khác biệt trong kết quả của chúng tôi chủ yếu do phương pháp lấy mẫu và địa điểm lấy mẫu, nhưng nhìn chung, người bệnh có bướu tiền liệt tuyến tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn.
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
Hầu hết người bệnh đến khám vì các triệu chứng rối loạn đường tiểu dưới, trong đó tiểu khó là lý do phổ biến nhất ở bệnh nhân bướu tuyến tiền liệt Theo nghiên cứu của chúng tôi, triệu chứng tiểu khó chiếm tỷ lệ cao nhất trong các biểu hiện lâm sàng, phản ánh tầm quan trọng của việc chẩn đoán và điều trị sớm các vấn đề liên quan đến đường tiểu dưới ở bệnh nhân bướu TLT.
Dựa trên các nghiên cứu, các triệu chứng liên quan đến vấn đề tiểu tiện phổ biến gồm bí tiểu (khoảng 48,7%), tiểu nhiều lần trong ngày (24%), tiểu đêm (23,3%) và tiểu ra máu (4%) Thái Thị Hồng Nhung ghi nhận tỷ lệ tiểu khó là 54,4% và tiểu máu là 4,9%, trong khi Nguyễn Minh An cho biết tỷ lệ tiểu khó lên tới 57,6%, còn bí tiểu chiếm 40,89% Nguyễn Hải Âu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ tiểu khó là 53,3%, bí tiểu chiếm 40%, và tiểu máu là 4,4% Các số liệu này cho thấy các vấn đề về tiểu tiện khá phổ biến và cần được chú ý trong công tác chăm sóc sức khỏe.
[6] Kết quả nghiên cứu của chúng tôi là phù hợp với y văn trên
4.2.2 Triệu chứng than phiền của người bệnh
Qua khai thác tiền sử tỷ lệ các triệu chứng lâm sàng chủ yếu là tiểu khó 92,7% Theo nghiên cứu của Trần Quốc Hùng và cs, tiểu khó 81,8%,
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Tiến, có 76,66% người gặp khó khăn khi bắt đầu đi tiểu Trần Đức Hòe ghi nhận rằng trong nhóm bệnh nhân trên 80 tuổi, cảm giác tiểu không hết, tiểu sớm, tiểu khó và tiểu ngắt quãng đều đạt tỷ lệ 100%, phù hợp với các kết quả của Trần Quốc Hùng và Nguyễn Ngọc Tiến, cũng như các nghiên cứu trên y văn.
Theo thống kê của GS Nguyễn Bửu Triều, trong số 978 người bệnh, có 479 người mắc bệnh lý kèm theo, chiếm tỷ lệ 49% Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong cho thấy tỷ lệ bệnh kèm theo là 57,4%, trong khi theo Nguyễn Hải Âu, tỷ lệ này là 55,6% Trong nghiên cứu của chúng tôi, đã phát hiện 91 người bệnh có bệnh lý kèm theo, chiếm tỷ lệ 60,7%.
Tỷ lệ người bệnh bướu tiền liệt tuyến mắc kèm các bệnh lý khác luôn cao theo nhiều nghiên cứu, song mức độ không đồng đều giữa các nghiên cứu do yếu tố dịch tễ học, tuổi của bệnh nhân tại thời điểm nghiên cứu, hoặc phương pháp chọn mẫu khác nhau của các tác giả.
Hầu hết các bệnh nhân bướu TLT đều kèm theo các bệnh lý khác, do đó việc đánh giá các bệnh kèm theo và nguy cơ phẫu thuật là yếu tố quan trọng trong quyết định chỉ định phẫu thuật Theo Nguyễn Bửu Triều, phương pháp CĐNS được đánh giá là tối ưu cho các bệnh nhân già yếu, có nhiều bệnh mãn tính vì mang lại hiệu quả cao, an toàn, ít đau, thời gian nằm viện ngắn và thể hiện ưu điểm vượt trội so với các phương pháp khác.
4.2.4 Trọng lượng bướu tiền liệt tuyến
Kích thước của thể tích bướu tiền liệt tuyến trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 53,07 gr, thể tích TLT nhỏ nhất là 25 gr, lớn nhất là
Trong các nghiên cứu về kích thước và trọng lượng của tổn thương tuyến lệ (TLT), khối lượng trung bình ở người trưởng thành dao động từ khoảng 48,8 gr đến 56,2 gr Cụ thể, Vũ Sơn ghi nhận trung bình 48,8 gr dựa trên nghiên cứu 1.743 bệnh nhân, trong khi Nguyễn Thanh Phong cho biết trọng lượng trung bình là 56,2 gr, với tỷ lệ bệnh nhân có mức độ trung bình chiếm đến 41,7% Thái Hiền báo cáo trọng lượng trung bình là 46,2 gr ở 102 bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa Cần Thơ, trong đó 30-50 gr chiếm tỷ lệ cao nhất với 42,2% Ngoài ra, Nguyễn Hải Âu xác định trọng lượng trung bình của bướu TLT khoảng 53,13 gr, cho thấy sự biến đổi nhẹ trong kích thước và trọng lượng của tổn thương tuyến lệ trong các nghiên cứu khác nhau.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 83 trường hợp đo nồng độ PSA trước phẫu thuật 37,3% có nồng độ PSA < 4 ng/ml, 16,9% trường hợp 4-
Nồng độ PSA trung bình trong nhóm nghiên cứu là 27,38 ng/ml, với mức thấp nhất là 0,19 ng/ml và cao nhất lên đến 100 ng/ml Các nghiên cứu trước đó cho thấy, có khoảng 63,7% đến 65% bệnh nhân u tuyến tiền liệt có PSA trên 4 ng/ml, như Thái Hiền, Nguyễn Thanh Phong và Thái Thị Hồng Nhung đều báo cáo tỷ lệ này trên 60% Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân có PSA > 4 ng/ml là 62,7%, và tỷ lệ ung thư tiền liệt tuyến chiếm 11,3%, không có sự khác biệt đáng kể so với các nghiên cứu trước đó.
4.2.6 Ung thư tiền liệt tuyến
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả bệnh nhân đều được chỉ định phẫu thuật TLT bằng phương pháp cắt đốt nội soi để đảm bảo độ chính xác cao Sau phẫu thuật, các mẫu bệnh phẩm được gửi về khoa Giải phẫu bệnh để phân tích và đọc kết quả, giúp xác định chính xác tình trạng bệnh và hướng điều trị phù hợp Phương pháp cắt đốt nội soi là lựa chọn tối ưu trong việc điều trị và chẩn đoán các bệnh lý liên quan.
Theo GS Trần Văn Sáng, tỷ lệ ung thư tiềm ẩn ở người bệnh bướu tuyến giáp (TLT) không có dấu hiệu nghi ngờ ung thư là khoảng 10% Trong số các trường hợp nghiên cứu, người bệnh TLT không có triệu chứng chiếm tỷ lệ 88,7% (133/150), trong khi đó người bệnh UTTLT chiếm 11,3% (17/150) Thái Thị Hồng Nhung ghi nhận rằng 84,3% người bệnh tăng sinh lành tính tuyến giáp (TLT), còn lại 15,7% là các trường hợp u tuyến giáp ác tính (UTTLT).
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hải Âu, có 41/45 trường hợp TSLTTLT và 4/45 trường hợp UTTLT, trong khi Vũ Sơn ghi nhận trên 72 bệnh nhân điều trị bướu TLT bằng CĐNS, tất cả đều là TSLTTLT, có thể do khác biệt về đặc điểm dịch tễ, thời điểm chọn bệnh, phương pháp chọn mẫu và trình độ kỹ thuật.
Đánh giá kết quả chăm sóc sau cắt đốt nội soi
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 38/150 trường hợp mắc đau sau thủ thuật CĐNS, trong đó 97,4% là đau rất nhẹ và tất cả bệnh nhân đều không còn đau trước ngày xuất viện Đau chủ yếu tập trung ở vùng hạ vị (42,1%), đầu dương vật (36,8%), và ngang thắt lưng (21,1%) Nguyên nhân gây đau có thể bao gồm việc chọn ống thông không phù hợp với lỗ sáo, thủ thuật đặt ống thông còn thô bạo gây trầy xước da chân ống dẫn lưu, hoặc các vấn đề liên quan đến vùng hông lưng như dấu hiệu của vấn đề thận, hoặc co thắt bàng quang, dễ dẫn đến chảy máu và tắc dẫn lưu do cục máu đông Trong khảo sát của chúng tôi, hầu hết các bệnh nhân không cần dùng thuốc giảm đau, và hướng dẫn vận động nhẹ nhàng cùng xoay trở là các biện pháp hiệu quả để giảm đau cho 100% người bệnh, bên cạnh đó, chườm nóng cũng giúp giảm cảm giác khó chịu rõ rệt.
27/38; bôi vaselin lên đầu dương vật là 14/38 và tất cả người bệnh đều hết đau trong 24 giờ đầu sau cắt đốt nội soi
4.3.2 Tình trạng dinh dưỡng và chăm sóc dinh dưỡng
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 74,7% người bệnh cảm thấy ăn uống bình thường, 13,3% ăn ngon miệng, 12% có cảm giác chán ăn, ăn không ngon miệng
Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong phòng và điều trị bệnh, đặc biệt ở người cao tuổi và sau phẫu thuật Việc cung cấp chế độ ăn hợp lý giúp người bệnh nhanh chóng hồi phục sức khỏe sau phẫu thuật, giảm nguy cơ biến chứng Người bệnh thường gặp khó khăn trong việc ăn uống sau mổ do cảm giác chán ăn và thiếu thông tin về chế độ dinh dưỡng phù hợp Hướng dẫn chế độ ăn sớm, đầy đủ dinh dưỡng có thể nâng cao thể trạng và thúc đẩy quá trình hồi phục nhanh hơn Trong nghiên cứu của chúng tôi, có đến 97,3% người bệnh được hướng dẫn chế độ ăn sau phẫu thuật, tương tự như kết quả của Lưu Thị Kim Oanh và cộng sự với 95% người bệnh được hướng dẫn chế độ ăn, cho thấy tầm quan trọng của chăm sóc dinh dưỡng sau phẫu thuật trong quá trình hồi phục.
4.3.3 Tình trạng vận động và chăm sóc vận động
Theo nghiên cứu của chúng tôi, có đến 66% bệnh nhân vận động xoay trở nhẹ tại giường trong ngày đầu tiên sau phẫu thuật, và sau đó ngày thứ 2, họ bắt đầu ngồi dậy, đến ngày thứ 3 thì đi lại bình thường Ngoài ra, 26,7% bệnh nhân đã vận động sớm bằng cách ngồi dậy và đi lại trong vòng 24 giờ đầu tiên sau phẫu thuật, trong khi đó 7,3% gặp khó khăn trong vận động xoay trở và phải đến ngày thứ 3 mới bắt đầu ngồi dậy Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc thúc đẩy vận động sớm để nâng cao khả năng hồi phục của bệnh nhân sau phẫu thuật.
Sau phẫu thuật CĐNS, nhiều bệnh nhân thường hạn chế vận động do tuổi tác, ống thông hoặc tác dụng của thuốc mê gây tê, khiến việc hướng dẫn chế độ vận động đúng rất quan trọng để phòng tránh các biến chứng như chảy máu, tụt ống và biến chứng do nằm lâu tại giường Trong nghiên cứu của chúng tôi, có đến 94,7% bệnh nhân được hướng dẫn về chế độ vận động sau mổ, thể hiện trách nhiệm của nhân viên y tế trong việc đảm bảo phục hồi sức khỏe tốt nhất cho người bệnh Việc hướng dẫn đúng chế độ vận động sau phẫu thuật không những giúp giảm nguy cơ biến chứng mà còn thúc đẩy quá trình hồi phục nhanh chóng và an toàn.
NB tránh được một số biến chứng sau mổ có liên quan đến vận động
4.3.4 Tình trạng ống thông tiểu và chăm sóc ống thông tiểu
4.3.4.1 Thể tích nước tiểu trong 24 giờ đầu
Theo ghi nhận của chúng tôi, thể tích nước tiểu trong 24 giờ đầu sau cấy chỉ số từ 1500-1800ml chiếm tỷ lệ cao nhất với 38,7%, trung bình là 1644ml Mức thể tích này vượt quá mức sinh lý bình thường, có thể do người bệnh được hướng dẫn bổ sung nhiều nước, ăn nhiều canh, rau và trái cây tươi để hỗ trợ quá trình hồi phục.
Sau khi thực hiện cắt đốt nội soi, màu sắc nước tiểu chủ yếu là hồng nhạt (82%) và hồng sậm (16,7%), cho thấy sự ổn định của quá trình hồi phục Người bệnh vẫn tiếp tục ròng nước sau phẫu thuật, và sau 24 giờ, màu sắc nước tiểu chủ yếu là vàng nhạt (44,7%) và vàng trong (44%), chứng tỏ tình trạng cầm máu đã được cải thiện hiệu quả, hạn chế tối đa mất máu Phương pháp cắt đốt nội soi bướu tiền liệt tuyến mang lại nhiều ưu điểm, bao gồm khả năng kiểm soát tốt chảy máu và rút ngắn thời gian hồi phục.
4.3.4.3 Thời gian lưu ống thông và chăm sóc ống thông
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân lưu ống thông niệu đạo từ 3-5 ngày đạt 92,7%, cao nhất là 4 ngày với 52,7% Thời gian lưu ống ngắn nhất là 3 ngày, trong khi dài nhất là 9 ngày Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước, như của Nguyễn Ngọc Tiến, nơi tỷ lệ rút ống vào ngày thứ 4 là 58,33%.
Trong quá trình lưu ống, tất cả người bệnh đều được theo dõi màu sắc, độ trong, tính chất, thể tích nước tiểu, vệ sinh nơi đặt ống thông và kiểm tra hệ thống dẫn lưu hàng ngày, đồng thời nhân viên điều dưỡng hướng dẫn vệ sinh vùng chậu dưới cho người bệnh và người thân Tuy nhiên, có tới 13,3% bệnh nhân không nhận được hướng dẫn về cách tập tiểu và các biến chứng có thể gặp phải khi có lưu ống, điều này ảnh hưởng đến quá trình hồi phục Việc hướng dẫn tập tiểu là vô cùng quan trọng nhằm phòng tránh các biến chứng như liệt cơ bàng quang, bí tiểu hoặc chảy máu do kích thích bàng quang Nếu không được hướng dẫn phù hợp, người bệnh dễ gặp phải các rối loạn chức năng bàng quang, kéo dài thời gian điều trị và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.
4.3.5 Biến chứng sau cắt đốt nội soi và chăm sóc
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ biến chứng sau mổ chiếm 14%, với các biến chứng phổ biến gồm nghẽn thông tiểu chiếm 8,7%, bí tiểu sau rút ống là 5,3%, chảy máu thứ phát là 2,7%, và nhiễm trùng niệu là 0,7%.
Chảy máu sau cắt đốt nội soi là biến chứng phổ biến hàng đầu được nhiều nghiên cứu quan tâm, với tỷ lệ biến chứng dao động từ 2,7% đến 4,12% Cụ thể, theo các chuyên gia như Trần Ngọc Sinh, tỷ lệ này là 4,12%, trong khi Hồ Vũ Sang ghi nhận là 3,7%, Thái Thị Hồng Nhung đưa ra con số 3,9%, và Vũ Sơn cùng cộng sự báo cáo tỷ lệ 2,7% Các số liệu này cho thấy chảy máu sau cắt đốt nội soi vẫn là vấn đề cần được chú trọng trong quá trình điều trị để giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả phẫu thuật.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ biến chứng chảy máu sau cắt đốt là 2,7% với 4/150 trường hợp, chủ yếu xuất hiện trong vòng 24 giờ đầu sau thủ thuật Nguyên nhân chính gây chảy máu thường là do ống thông bị nghẽn bởi cục máu đông hoặc quá trình đốt không triệt để các mạch máu chảy, cùng với việc phát hiện trễ tình trạng nghẽn ống dẫn đến chảy máu Khi gặp hiện tượng máu đỏ qua đường tiểu, chúng tôi đã xử lý nhanh bằng cách nằm yên tại giường, kiểm tra đường niệu, bơm rửa lấy máu cục, kéo thông để cầm máu hiệu quả Việc theo dõi sát mạch, huyết áp, nhịp thở cũng như màu sắc của nước tiểu giúp phát hiện sớm và xử lý kịp thời các biến chứng chảy máu sau mổ, đóng vai trò quyết định trong việc giảm thiểu biến chứng Tỷ lệ biến chứng chảy máu của chúng tôi không khác nhiều so với các nghiên cứu khác trong lĩnh vực này.
Nhiễm khuẩn tiết niệu trước mổ không được điều trị có thể dẫn đến nguy cơ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật cao, gây ra vòng xoắn đe dọa tính mạng người bệnh do nhiễm khuẩn là yếu tố nguy cơ gây chảy máu Người bệnh bị nhiễm khuẩn sau phẫu thuật có thể xuất hiện các triệu chứng như sốt từ 38-39°C, lạnh run và dương tính với E.Coli qua cấy nước tiểu, cần được xử lý bằng bơm rửa bàng quang, thay sonde tiểu mới và theo dõi sát các chỉ số sinh tồn hàng ngày Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ nhiễm trùng niệu sau cắt đốt là 1/150 (0.7%), thấp hơn so với các nghiên cứu của Nguyễn Ngoc Tiến (8,3%), Hồ Vũ Sang (6,06%), Vũ Sơn (4,2%) và Thái Thị Hồng Nhung (3,9%), khả năng do chênh lệch mẫu, địa điểm lấy mẫu và điều kiện chăm sóc sau mổ.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nghẽn thông tiểu chiếm 8,7% với 13 trường hợp trong số 150 bệnh nhân, chủ yếu xảy ra trong 3 ngày đầu sau phẫu thuật cổ tử cung và buồng trứng Trong số này, có 4 trường hợp gây chảy máu thứ phát và 4 trường hợp buộc phải đặt lại thông mới để đảm bảo thông tiểu thông suốt Khi phát hiện có nghẽn, nhân viên y tế nhanh chóng kiểm tra đường ống và tiến hành bơm rửa bàng quang bằng dung dịch muối sinh lý, trong đó dịch rửa thường có máu cục Sau nhiều lần bơm rửa, tất cả các bệnh nhân đều hết nghẽn, và sau đó theo dõi thêm cho thấy tình trạng ổn định, không còn tái phát nghẽn tiểu.
4.3.5.4 Bí tiểu sau rút ống thông
Bí tiểu cấp ngay sau rút thông không phải là biến chứng nghiêm trọng nhưng gây lo lắng tâm lý cho người bệnh Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 8/150 trường hợp (chiếm 5,3%) bị bí tiểu sau rút thông khoảng 12 giờ, mặc dù đã áp dụng các biện pháp như chườm nóng vùng bụng trên bàng quang, đi vệ sinh đề tiểu, nghe tiếng nước chảy, nhưng chỉ có 1 người bệnh tự đi tiểu được Các trường hợp còn lại, 7/8 người cần đặt lại thông tiểu và bơm rửa bàng quang, nhận thấy có máu cục và mô thừa, sau khi bơm rửa kỹ và rút thông sau 24 giờ, người bệnh mới đi tiểu được Các nghiên cứu khác của Nguyễn Ngọc Tiến ghi nhận tỷ lệ bí tiểu sau rút ống thông là 5%, Hồ Vũ Sang là 8,82%, và Thái Thi Hồng Nhung là 2,9%, cho thấy kết quả của chúng tôi phù hợp với các tác giả khác.
4.3.6 Chăm sóc tinh thần cho người bệnh
Quá trình chăm sóc người bệnh đòi hỏi một cách toàn diện, không chỉ tập trung vào điều trị bệnh mà còn chú trọng đến chăm sóc tinh thần, giúp người bệnh cảm thấy an tâm và tin tưởng Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 98,6% người bệnh được giải đáp thắc mắc, trong đó 71,3% được giải thích rõ ràng, dễ hiểu, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị Ngoài ra, 100% người bệnh nhận được tư vấn, động viên và an ủi trong những thời điểm người bệnh đau, lo lắng, trong đó 71,3% thường xuyên nhận được sự hỗ trợ này Đồng thời, 91,3% người bệnh cảm thấy hài lòng vì đội ngũ điều dưỡng xử trí nhanh chóng và tức thời khi họ báo các bất thường, thể hiện chất lượng dịch vụ chăm sóc y tế toàn diện và tận tâm.