ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán chính xác mắc UTVMH dựa trên kết quả xét nghiệm mô bệnh học Những trường hợp này đã được điều trị tại khoa Ngoại 1, Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ trong khoảng thời gian từ tháng 6/2014 đến tháng 5/2015.
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn đối tượng
- Thuộc mọi độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp và nơi cư trú
- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định là UTVMH dựa vào kết quả mô bệnh học trên mô sinh thiết lấy từ vòm
- Ung thư vòm mũi họng chưa điều trị
- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
- Bệnh nhân không giao tiếp được
2.1.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015 Địa điểm nghiên cứu: khoa Ngoại 1, Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Chúng tôi chọn tất cả các bệnh nhân khám tại khoa Ngoại 1, Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ, đáp ứng các tiêu chuẩn chọn mẫu trong khoảng thời gian từ tháng 6/2014 đến tháng 5/2015 Trong giai đoạn này, có tổng cộng 36 bệnh nhân được chẩn đoán xác định mắc UTVMH, và chúng tôi tiến hành khảo sát trên toàn bộ số mẫu này để đảm bảo tính toàn diện và chính xác của nghiên cứu.
Tiến hành cuộc điều tra tại Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ với nội dung:
2.2.3.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân ung thư vòm mũi họng tại khoa Ngoại 1, Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ
* Giới tính bệnh nhân: ghi nhận một trong hai giá trị: nam, nữ
Nhóm tuổi của bệnh nhân được tính theo tuổi dương lịch, dựa trên năm sinh và năm phỏng vấn Cách xác định tuổi là lấy năm phỏng vấn trừ đi năm sinh để có tuổi chính xác theo năm dương lịch Phương pháp này giúp phân loại bệnh nhân theo các nhóm tuổi khác nhau, từ đó hỗ trợ trong việc phân tích dữ liệu y tế và lập kế hoạch chăm sóc phù hợp Việc chia nhóm tuổi dựa trên phương pháp này đảm bảo tính chính xác và dễ dàng trong quá trình thống kê và nghiên cứu bệnh lý.
6 nhóm tuổi như: ≤30 tuổi, 31-40 tuổi, 41-50 tuổi, 51-60 tuổi, 61-70 tuổi và
Nghề nghiệp là các công việc mà bệnh nhân thực hiện thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày Đối với những người đã hết tuổi lao động, chúng tôi ghi nhận công việc họ đã làm trước đây để đánh giá toàn diện tình trạng sức khỏe Chúng tôi phân chia nghề nghiệp thành 5 nhóm chính nhằm thuận tiện trong quá trình phân loại và phân tích, từ đó hỗ trợ chẩn đoán và điều trị tối ưu cho bệnh nhân.
Nông dân là những người lao động ở vùng nông thôn, tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp như làm ruộng, trồng trọt và chăm sóc vườn cây, sử dụng các công cụ thô sơ hoặc máy móc hiện đại để phát triển sản phẩm nông nghiệp Họ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu thực phẩm cho nền kinh tế, đồng thời góp phần duy trì và phát triển các hoạt động nông nghiệp bền vững Sự lao động chân chính của nông dân không chỉ giúp ổn định cuộc sống mà còn thúc đẩy sự phát triển của khu vực nông thôn và toàn bộ đất nước.
Công nhân bao gồm các người thợ tiện, thợ hàn, thợ cơ khí, thợ làm đá và thợ hồ làm việc trong các cơ sở sản xuất của nhà nước và tư nhân Họ đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng, sản xuất và bảo trì các công trình, sản phẩm công nghiệp Công nhân có kỹ năng chuyên môn cao, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xây dựng nền công nghiệp vững mạnh.
- Cán bộ công nhân viên và sinh viên, học sinh: gồm những người làm việc bàn giấy và học sinh, sinh viên
- Nội trợ: gồm tất cả những người không có công việc cụ thể, chỉ làm những công việc trong gia đình
- Khác: gồm những việc làm như buôn bán, thợ làm tóc, tài xế, phu khuân vác và một số nghề khác không thuộc các nhóm trên
* Nơi cư trú của bệnh nhân UTVMH: là nơi cư trú thường xuyên của bệnh nhân, được chia làm hai vùng:
- Thành thị: là phần lãnh thổ thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã và thị trấn
Nông thôn là khu vực không thuộc nội thành, nội thị của các thành phố, thị xã, thị trấn Khu vực này được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở của Ủy ban nhân dân xã, góp phần phát triển nông nghiệp và giữ gìn đặc trưng văn hóa địa phương.
2.2.3.2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân ung thư vòm mũi họng điều trị tại khoa Ngoại 1, Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ
Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân ung thư vòm mũi họng
Triệu chứng khó chịu nhất khiến bệnh nhân phải nhập viện bao gồm các dấu hiệu như nổi hạch cổ, đau đầu, ù tai, chảy máu mũi, nghẹt mũi hoặc các triệu chứng khác liên quan Những dấu hiệu này cần được theo dõi và xử lý kịp thời để đảm bảo an toàn sức khỏe.
* Các triệu chứng lâm sàng: ghi nhận các triệu chứng lâm sàng lúc bệnh nhân vào viện Ghi nhận một trong hai giá trị: có hay không
+ Nghẹt mũi: là cảm giác của người bệnh do sự thiếu luồng không khí qua mũi bởi sự hiện diện của vật cản trong mũi
+ Chảy máu mũi: là tình trạng chảy máu từ vòm ra cửa mũi trước hoặc chảy ra cửa mũi sau xuống họng
Ù tai là hiện tượng có tiếng ồn trong tai, có thể xuất hiện liên tục hoặc gián đoạn, với đặc điểm đa dạng về tính chất và cường độ Nguyên nhân chính là do khối u chèn ép vào vòi nhĩ, gây ảnh hưởng đến chức năng nghe và tạo cảm giác khó chịu cho người bệnh.
+ Nghe kém: khối u chèn ép vòi nhĩ gây rối loạn chức năng nghe của tai giữa, chức năng nghe của bệnh nhân giảm hơn trước
+ Lồi mắt: do khối u xâm lấn vào hậu nhãn cầu làm cho mắt bệnh nhân lồi ra ngoài hốc mắt nhiều hơn bình thường
+ Mờ mắt: bệnh nhân mất hay giảm khả năng nhìn độ sắc nét và rõ chi tiết của vật
Nhức đầu là cảm giác đau ở bất kỳ vị trí nào trong vùng đầu cổ, có thể kéo dài hoặc từng cơn, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống hàng ngày Trong khi đó, liệt dây thần kinh khu trú là tình trạng khối u gây tổn thương dây thần kinh nhất định, dẫn đến liệt hoặc mất chức năng vận động trong vùng dây thần kinh đó chi phối Việc nhận biết các triệu chứng này rất quan trọng để chẩn đoán chính xác và có phương pháp điều trị phù hợp.
Triệu chứng hạch thường xuất hiện khi bệnh nhân ngồi hoặc nằm ngữa để lộ vùng cổ và ngực Người khám cần đứng phía trước hoặc sau lưng bệnh nhân khi bệnh nhân ngồi, hoặc bên phải bệnh nhân khi bệnh nhân nằm Quá trình khám bao gồm quan sát và sử dụng các ngón tay, đặc biệt là đầu ngón tay để sờ các hạch dưới hàm, dưới cằm, trước và sau tai, hai bên cổ và hố thượng đòn Trong quá trình khám, cần ghi nhận rõ liệu có sự hiện diện của hạch hay không, sau đó xác định nhóm hạch và đánh giá đặc điểm của chúng để đưa ra chẩn đoán chính xác.
+ Nhóm hạch: ghi nhận một trong hai giá trị: có, không Khám các nhóm hạch di căn vùng cổ theo Robbins [17], [41]
Nhóm I: nhóm dưới cằm, dưới hàm
Nhóm II: nhóm hạch cảnh trên
Nhóm III: nhóm hạch cảnh giữa
Nhóm IV: nhóm hạch cảnh dưới
Nhóm V: nhóm hạch thuộc tam giác cổ sau
Nhóm VI: nhóm hạch thuộc tam giác cổ trước
Mật độ của hạch ghi nhận một trong các giá trị sau: cứng, chắc hay mềm
Sự di động của hạch ghi nhận một trong các giá trị sau: di động hay không di động
* Xếp loại TNM bệnh nhân theo AJCC 2010 [27]
T1 Khối u khu trú tại vòm hoặc lan rộng đến phần mềm của họng và/hoặc hốc mũi không có xâm lấm khoang cận hầu
T2 Có xâm lấn khoang cận hầu
Khối u được phân loại T3 khi xâm lấn vào cấu trúc xương và/hoặc các xoang cạnh mũi, cho thấy mức độ tiến triển của bệnh nặng hơn so với các giai đoạn trước Trong khi đó, khối u ở mức T4 gây xâm lấn vào nội sọ, các dây thần kinh sọ não, hố thái dương, hạ họng hoặc hốc mắt, phản ánh mức độ xâm lấn nghiêm trọng, đòi hỏi các phương pháp điều trị đặc biệt và nguy cơ tiên lượng trở nên phức tạp hơn.
N1 (Nhiều) hạch cùng bên, đường kính lớn nhất ≤6cm, trên hố thượng đòn
N2 (Nhiều) hạch hai bên, đường kính ≤6cm, trên hố thượng đòn N3 N3a: Đường kính lớn nhất >6cm
Dựa trên đánh giá TNM, các giai đoạn được xếp như sau:
IVC Bấy kỳ T, bất kỳ N, M1
Đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân ung thư vòm mũi họng
Các cận lâm sàng trong nghiên cứu được thực hiện tại khoa Chẩn đoán hình ảnh - Xét nghiệm và khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ Các xét nghiệm cơ bản bao gồm các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như MRI, CT scan, và siêu âm, giúp đánh giá chính xác tình trạng bệnh Ngoài ra, các xét nghiệm sinh thiết và phân tích mô học tại khoa Giải phẫu bệnh cung cấp thông tin chi tiết về đặc điểm mô bệnh học của bệnh nhân Các phương pháp cận lâm sàng này đóng vai trò quan trọng trong quá trình chẩn đoán, lên kế hoạch điều trị và theo dõi hiệu quả điều trị ung thư tại Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ.
* Nội soi vòm: ghi nhận các hình ảnh nội soi đánh giá về VMH ở bệnh nhân gồm hình dạng và vị trí khối u
- Hình dạng của khối u ghi nhận một trong các giá trị sau: sùi, loét, dưới niêm mạc hay thể hỗn hợp
Vị trí tổn thương bao gồm thành bên, trần vòm, với hình ảnh khối u lan rộng đến cửa mũi sau và xuống họng miệng Việc ghi nhận kết quả dựa trên khả năng phát hiện các hình ảnh này là rất quan trọng trong chẩn đoán Trong một số trường hợp, bệnh nhân có hình ảnh khối u rõ ràng, trong khi ở những trường hợp khác, không phát hiện được hình ảnh này Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của các kỹ thuật hình ảnh trong việc đánh giá phạm vi tổn thương và lập kế hoạch điều trị phù hợp.
Mô bệnh học của VMH được xác định dựa trên phân tích mẫu sinh thiết, chia thành ba loại chính: carcinôm tế bào gai sừng hóa, carcinôm tế bào gai không sừng hóa, và carcinôm biểu mô không biệt hóa Các kết quả này giúp đánh giá mức độ tiêu biến tế bào và xác định phương pháp điều trị phù hợp Việc nhận biết chính xác loại mô bệnh học đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán và dự đoán tiên lượng bệnh.
* Chụp CT-Scan đáy sọ và não: ghi nhận các hình ảnh về vị trí tổn thương và kích thước khối u
Vị trí tổn thương có thể nằm ở thành bên, trần vòm, hình ảnh lan cửa mũi sau, xâm lấn sàn sọ hoặc di căn hạch, giúp xác định mức độ và phạm vi của bệnh Việc ghi nhận kết quả có hay không các hình ảnh bất thường là yếu tố quan trọng trong chẩn đoán và lên kế hoạch điều trị Có thể bệnh nhân có hình ảnh tổn thương rõ ràng hoặc không xuất hiện các hình ảnh này, ảnh hưởng đến quá trình chẩn đoán chính xác.
- Kích thước: ghi nhận kích thước lớn nhất của khối u, đo trên CT-Scan tính bằng centimet, được chia thành 3 nhóm: 4cm
Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành sau khi nhận sự phê duyệt từ Hội đồng Nghiên cứu Khoa học của Trường, Ban giám hiệu Trường và Ban giám đốc Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ Quá trình nghiên cứu được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cán bộ chuyên môn, có sự đồng ý của bác sĩ điều trị và sự chấp thuận của bệnh nhân, đảm bảo tuân thủ các quy định an toàn và đạo đức nghiên cứu.
Những bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều bình đẳng với nhau và được giải thích rõ mục đích của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn
Việc phỏng vấn chỉ được tiến hành khi tình trạng sức khỏe của bệnh nhân ổn định, đảm bảo khả năng tham gia hiệu quả Đồng thời, tất cả các thông tin cá nhân của người tham gia nghiên cứu đều được giữ bí mật tuyệt đối để bảo vệ quyền riêng tư và tuân thủ các quy định về nghiên cứu y tế.
KẾT QUẢ
Đặc điểm chung của bệnh nhân ung thư vòm mũi họng
3.1.1 Nhóm tuổi của bệnh nhân UTVMH
Biểu đồ 3.1 Phân bố nhóm tuổi của bệnh nhân UTVMH (n6)
- Nhóm tuổi mắc bệnh cao nhất là 41-60 tuổi chiếm 52,8%
- Độ tuổi mắc bệnh trung bình là 49,7 ± 12,2 tuổi, người nhỏ tuổi nhất là
25 tuổi và lớn nhất là 73 tuổi
3.1.2 Giới tính của bệnh nhân UTVMH
Biểu đồ 3.2 Phân bố giới tính của bệnh nhân UTVMH (n6)
Nhận xét: Nam giới chiếm 63,9%, tỷ lệ nam/nữ là 1,8
3.1.3 Phân bố nghề nghiệp của bệnh nhân UTVMH
Bảng 3.1 Phân bố nghề nghiệp của bệnh nhân UTVMH
Nghề nghiệp Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Cán bộ, công chức, sinh viên, học sinh 2 5,6
Nhận xét: Lao động chân tay chiếm tỷ lệ cao: nông dân chiếm 52,8%, công nhân 11,1% Cán bộ, công chức, sinh viên, học sinh chiếm tỷ lệ thấp 5,6%
3.1.4 Nơi cư trú của bệnh nhân UTVMH
Bảng 3.2 Phân bố nơi cư trú của bệnh nhân UTVMH
Nơi cư trú Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Nhận xét: Bệnh nhân sống ở vùng nông thôn chiếm tỷ lệ 72,2% cao hơn thành thị 27,8%.
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân ung thư vòm mũi họng
3.2.1 Lý do vào viện của bệnh nhân UTVMH
Bảng 3.3 Lý do vào viện của bệnh nhân UTVMH Triệu chứng Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Nhận xét: Bệnh nhân vào viện vì nhiều lý do, trong đó nổi hạch cổ là thường gặp nhất chiếm 72,2%, ít nhất là chảy máu mũi chiếm 2,8%
3.2.2 Triệu chứng ở mũi của bệnh nhân UTVMH
Bảng 3.4 Triệu chứng ở mũi của bệnh nhân UTVMH
Triệu chứng ở mũi Số bệnh nhân
Nghẹt mũi + chảy máu mũi 8 22,2
Nhận xét: Triệu chứng ở mũi thường gặp nhất là nghẹt mũi chiếm 33,3%
3.2.3 Triệu chứng ở tai của bệnh nhân UTVMH
Bảng 3.5 Triệu chứng ở tai của bệnh nhân UTVMH
Triệu chứng ở tai Số bệnh nhân
Nghe kém 3 8,3 Ù tai + nghe kém 11 30,6
Nhận xét: Triệu chứng ở tai chiếm tỷ lệ cao nhất là ù tai 47,2%
3.2.4 Triệu chứng ở mắt của bệnh nhân UTVMH
Bảng 3.6 Triệu chứng ở mắt của bệnh nhân UTVMH
Triệu chứng ở mắt Số bệnh nhân
Nhận xét: Mờ mắt thường gặp nhất 27,8%
3.2.5 Triệu chứng thần kinh của bệnh nhân UTVMH
Bảng 3.7 Triệu chứng thần kinh của bệnh nhân UTVMH
Triệu chứng thần kinh Số bệnh nhân
Nhức đầu + liệt dây thần kinh khu trú 4 11,1
Nhận xét: Nhức đầu chiếm tỷ lệ cao nhất 72,2%
3.2.6 Triệu chứng hạch của bệnh nhân UTVMH
3.2.6.1 Nhóm hạch cổ của bệnh nhân UTVMH
Biểu đồ 3.3 Phân bố nhóm hạch cổ của bệnh nhân UTVMH (n6)
Nhận xét: Hạch nhóm II chiếm tỷ lệ cao nhất 72,2%
Nhóm I Nhóm II Nhóm III Nhóm IV Nhóm V Nhóm VI
3.2.6.2 Đặc điểm hạch của bệnh nhân UTVMH
Bảng 3.8 Đặc điểm hạch của bệnh nhân UTVMH Đặc điểm hạch Số bệnh nhân
Nhận xét: 86,1% bệnh nhân có hạch cổ, hạch ở 2 bên chiếm 61,1%, với mật độ chắc 75% và 63,9% còn di động
3.2.7 Sự phối hợp các triệu chứng lâm sàng và giai đoạn của bệnh nhân UTVMH theo AJCC 2010
3.2.7.1 Phân bố bệnh nhân UTVMH theo sự phối hợp các triệu chứng lâm sàng
Qua nghiên cứu chúng tôi ghi nhận được 5 nhóm triệu chứng chính: triệu chứng ở mũi, tai, mắt, thần kinh và hạch
Bảng 3.9 Phân bố bệnh nhân UTVMH theo sự phối hợp các nhóm triệu chứng lâm sàng
Số lượng triệu chứng Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Nhận xét: Đa phần bệnh nhân có ≥3 nhóm triệu chứng chiếm 91,7%
3.2.7.2 Sự phân bố giai đoạn TNM của bệnh nhân UTVMH theo AJCC 2010
Bảng 3.10 Phân bố giai đoạn T, N của bệnh nhân UTVMH (AJCC 2010)
Giai đoạn Số bệnh nhân
Nhận xét: Giai đoạn thường gặp nhất là T2 (47,2%) và N2 (52,8%)
Bảng 3.11 Phân bố giai đoạn của bệnh nhân UTVMH (AJCC 2010)
Giai đoạn (GĐ) Số bệnh nhân Tỷ lệ %
GĐ IVC Bất kỳ T và N, M1 4 11,1
Nhận xét: Giai đoạn III và IV chiếm tỷ lệ cao 88,9%
3.2.7.3 Tỷ lệ và vị trí di căn xa của bệnh nhân UTVMH
Bảng 3.12 Tỷ lệ và vị trí di căn xa của bệnh nhân UTVMH
Di căn xa Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Nhận xét: 11,1% bệnh nhân có di căn xa, di căn xương đơn thuần là thường gặp nhất 50%
3.2.8 Đặc điểm khối u qua nội soi vòm mũi họng
Bảng 3.13 Đặc điểm khối u qua nội soi VMH Đặc điểm khối u Số bệnh nhân
- Tổn thương ở vị trí trần vòm và thành bên đều chiếm 66,7%
- 100% bệnh nhân được khảo sát có khối u dạng sùi
3.2.9 Đặc điểm khối u trên CT-Scan đáy sọ và não của bệnh nhân UTVMH
Bảng 3.14 Đặc điểm khối u trên CT-Scan đáy sọ và não của bệnh nhân UTVMH Đặc điểm khối u Số bệnh nhân Tỷ lệ %
- Tổn thương thành bên 80,6% và di căn hạch chiếm 80,6%
- Kích thước khối u thường gặp nhất là nhóm ≥2cm chiếm 76%
3.2.10 Đặc điểm mô bệnh học của bệnh nhân UTVMH
Bảng 3.15 Đặc điểm mô bệnh học của bệnh nhân UTVMH
Mô bệnh học Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Carcinôm tế bào gai sừng hóa 0 0
Carcinôm tế bào gai không sừng hóa 20 55,6
Carcinôm biểu mô không biệt hóa 16 44,4
Nhận xét: Carcinôm tế bào gai không sừng hóa chiếm tỷ lệ 55,6%
Một số yếu tố liên quan đến bệnh ung thư vòm mũi họng
3.3.1 Tiền sử gia đình mắc bệnh UTVMH
Bảng 3.16 Tiền sử gia đình mắc bệnh UTVMH
Tiền sử gia đình mắc bệnh UTVMH Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Nhận xét: Không ghi nhận tiền sử gia đình mắc bệnh UTVMH ở bệnh nhân nghiên cứu
3.3.2 Thói quen ăn cá muối và thực phẩm lên men thường xuyên của bệnh nhân UTVMH
Bảng 3.17 Thói quen ăn cá muối và thực phẩm lên men thường xuyên của bệnh nhân UTVMH
Thói quen ăn thường xuyên Số bệnh nhân
Cá muối + thực phẩm lên men 1 2,8
Nhận xét: 25% bệnh nhân có thói quen ăn cá muối thường xuyên
3.3.3 Thói quen thuốc lá và uống rượu của bệnh nhân UTVMH
Bảng 3.18 Thói quen hút thuốc lá và uống rượu của bệnh nhân UTVMH
Thói quen hút thuốc lá và uống rượu
Số bệnh nhân (n6) Tỷ lệ %
Hút thuốc lá + uống rượu 12 33,3
Nhận xét: Bệnh nhân vừa hút thuốc vừa uống rượu chiếm 33,3%; số bệnh nhân hút thuốc lá đơn thuần chiếm 13,9%
3.3.4 Tiền sử tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật của bệnh nhân UTVMH
Biểu đồ 3.4 Tiền sử tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật của bệnh nhân UTVMH (n6)
Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật chiếm 55,6%
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của bệnh nhân ung thư vòm mũi họng
4.1.1 Nhóm tuổi của bệnh nhân UTVMH
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sự phân bố tuổi theo quy luật phân phối chuẩn, tỷ lệ mắc bệnh tăng cao sau tuổi 30 và đạt đỉnh ở nhóm 41-60 tuổi (52,8%), sau đó giảm dần Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu trong nước như của Nguyễn Đình Giang và cộng sự (2003) với 54,87% bệnh nhân trong nhóm 40-59 tuổi; Trần Đức Thương (2014) và Phan Thanh Thuấn (2014) tại Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ ghi nhận tỷ lệ bệnh trong nhóm 41-60 tuổi lần lượt là 56,76% và 53,3% Ngoài ra, các nghiên cứu quốc tế như của Jain và cộng sự (2002) cũng chỉ ra rằng nhóm tuổi 40-60 là nhóm mắc bệnh thường xuyên nhất, chiếm tới 47,9% Trung bình tuổi mắc bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi là 49,7 tuổi, trong khoảng từ 25 đến 73 tuổi Các nghiên cứu của Trần Minh Thông (2011) tại Bệnh viện Chợ Rẫy và của Nguyễn Trọng Minh (2011) đều xác định tuổi trung bình mắc bệnh là khoảng 47-49 tuổi, không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê.
(2014) là 51,3 tuổi với p = 0,437 (>0,05) [23] Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có độ tuổi mắc bệnh trung bình cao hơn nghiên cứu của tác giả Wang W
Năm 2014, nghiên cứu ghi nhận độ tuổi trung bình mắc bệnh là 45 tuổi với giá trị p = 0,028 ( 0,05).
4.2.3 Triệu chứng ở tai của bệnh nhân UTVMH
Kết quả nghiên cứu về các triệu chứng tai cho thấy ù tai đơn thuần chiếm tỷ lệ cao nhất với 47,2%, trong khi đó, triệu chứng kết hợp giữa ù tai và nghe kém cũng khá phổ biến, chiếm 30,6% Chỉ có 8,3% bệnh nhân ghi nhận triệu chứng nghe kém đơn thuần Những phát hiện này phù hợp với nghiên cứu của tác giả Trần Minh Thông (2011), trong đó triệu chứng ù tai chiếm tỷ lệ cao nhất là 49,6%, cho thấy ù tai là triệu chứng phổ biến và cần được chú trọng trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý tai.
Theo Nguyễn Lan Phương và cộng sự (2012), triệu chứng ù tai xuất hiện ở 66,7% số bệnh nhân nghiên cứu, cho thấy tầm quan trọng của việc chẩn đoán và điều trị sớm triệu chứng này Nghiên cứu của Trần Đức Thương (2014) tại Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ cũng ghi nhận ù tai ở 48,6% các bệnh nhân, phản ánh tỷ lệ khá cao của vấn đề này trong các nhóm bệnh nhân mắc bệnh ung bướu.
4.2.4 Triệu chứng ở mắt của bệnh nhân UTVMH
Trong nghiên cứu của chúng tôi, triệu chứng mờ mắt đơn thuần là phổ biến nhất với tỷ lệ 27,8%, trong khi các triệu chứng khác như mờ mắt kết hợp với lồi mắt chiếm 2,8% Đặc biệt, lồi mắt đơn thuần rất hiếm gặp với tỷ lệ chỉ 2,8%, và chưa ghi nhận trường hợp nào xuất hiện triệu chứng lác mắt (bảng 3.6) Nghiên cứu của tác giả Phan Thanh Thuấn (2014) tại Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ ghi nhận tỷ lệ lác mắt chỉ chiếm 6,7% [22], cho thấy triệu chứng này ít phổ biến trong các bệnh lý về mắt.
4.2.5 Triệu chứng thần kinh của bệnh nhân UTVMH
Nghiên cứu cho thấy triệu chứng nhức đầu đơn thuần chiếm tỷ lệ cao nhất trong các triệu chứng về thần kinh, đạt 72,2%, trong đó nhức đầu và liệt dây thần kinh khu trú chiếm 11,1% Chưa ghi nhận trường hợp nào bệnh nhân bị liệt dây thần kinh khu trú đơn thuần Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó như của Nguyễn Lan Phương (2012) với tỷ lệ nhức đầu là 51,3%, của Phan Thanh Thuấn (2014) với 43,3%, và của Trần Đức Thương (2014) là 45,9%, cho thấy đau đầu là triệu chứng phổ biến nhất trong các bệnh liên quan đến thần kinh.
4.2.6 Triệu chứng hạch của bệnh nhân UTVMH
Theo nghiên cứu của chúng tôi, hạch cổ chiếm tỷ lệ cao nhất trong các triệu chứng lâm sàng 86,1% (bảng 3.8) Nghiên cứu của Nguyễn Lan Hương
Hạch cổ chiếm tỷ lệ cao trong các nghiên cứu, với 79,6% theo kết quả năm 2012, 91,9% theo Trần Đức Thương năm 2014 và 93,3% theo Phan Thanh Thuấn cùng năm, phản ánh mức độ phổ biến của triệu chứng này Nguyên nhân chính là do vùng VMH có hệ thống bạch huyết phong phú, khiến sự di căn hạch diễn ra sớm trong quá trình bệnh lý.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có đến 80,6% bệnh nhân nhập viện khi có từ hai hạch trở lên, trong khi chỉ 5,6% đến khám khi chỉ có một hạch Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của tác giả Trần Đức Thương (2014), khi xác định rằng 75,7% bệnh nhân đến khám bệnh khi xuất hiện từ hai hạch trở lên.
Trong nghiên cứu về vị trí hạch ở bệnh nhân UTVMH, chỉ có 25% bệnh nhân ghi nhận có hạch ở một bên cổ, trong khi phần lớn bệnh nhân có hạch ở cả hai bên cổ, chiếm tỉ lệ 61,1%.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, kích thước của hạch cổ lớn nhất trên siêu âm phổ biến nhất là nhóm hạch dưới 4cm, chiếm 66,7% tổng số ca Tiếp theo là nhóm hạch từ 4-6cm, chiếm 16,7%, trong khi nhóm hạch trên 6cm có tỷ lệ thấp nhất chỉ 2,8% Có thể thấy, kích thước hạch cổ dưới 4cm là loại phổ biến nhất theo kết quả siêu âm.
Trong nghiên cứu về tính chất hạch cổ của bệnh nhân UTVMH, chúng tôi ghi nhận hạch có mật độ chắc chiếm đến 75%, trong khi mật độ mềm chỉ chiếm 2,8% (bảng 3.8), tương tự với kết quả của tác giả Trần Đức Thương (2014) là 88,2% hạch chắc và chỉ 2,9% hạch mềm [23] Ngoài ra, 74,2% hạch cổ còn di động, trong khi 25,8% không di động, phù hợp với nghiên cứu của ông Trần Đức Thương khi thấy tỷ lệ hạch di động là 79,4% và không di động là 20,6% [23].
Dựa trên biểu đồ 3.3, hạch nhóm II chiếm tỷ lệ cao nhất với 72,2%, tiếp theo là hạch nhóm III với 36,1%, hạch nhóm IV và V đều chiếm 22,2%, trong khi không ghi nhận trường hợp nào có hạch nhóm VI Nghiên cứu của Phan Thanh Thuấn (2014) cũng xác nhận rằng hạch nhóm II là thường gặp nhất, chiếm tới 86,7%, tiếp đó là hạch nhóm III với 60%, cho thấy xu hướng đồng thuận trong các kết quả nghiên cứu về phân bố hạch trong ung thư Tại Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ, tác giả Trần Đức Thương (2014) ghi nhận hạch nhóm II chiếm tỷ lệ cao nhất là 89,2%, tiếp theo là hạch nhóm III với 51,4%, còn hạch nhóm IV và V lần lượt là 32,4% và 21,6%, không có trường hợp nào với hạch nhóm VI, điều này giúp làm rõ các khu vực thường bị ảnh hưởng trong quá trình di căn ung thư.
4.2.7 Sự phối hợp các triệu chứng lâm sàng và giai đoạn TNM của bệnh nhân UTVMH theo AJCC 2010
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận giai đoạn T2 là phổ biến nhất, chiếm 47,2%, tiếp theo là T4 với 27,8%, T3 chiếm 19,4%, và T1 chiếm 5,6% Các nghiên cứu của Trần Đức Thương (2014) và Phan Thanh Thuấn (2014) tại Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ cũng xác nhận rằng giai đoạn T2 là giai đoạn thường gặp nhất (45,9% và 50%) Tuy nhiên, nghiên cứu của Leung và cộng sự năm 2013 lại cho thấy bệnh được phát hiện chủ yếu ở giai đoạn T1, chiếm 41,7% Ngoài ra, bảng 3.10 cho thấy giai đoạn N2 và N3 chiếm tỷ lệ cao nhất, lên tới 75%, phù hợp với kết quả của Trần Đức Thương về tần suất gặp các giai đoạn N2 và N3.
(2014) [23] và Phan Thanh Thuấn (2014) [22] với giai đoạn N2 và N3 lần lượt là 56,7% và 56,6% Nhưng với nghiên cứu của Leung và cs (2013) thì giai đoạn
N0 và N1 thường gặp hơn với 51,4% [34] Những bệnh nhân trong nghiên cứu của Leung và cs (2013) được chẩn đoán ở giai đoạn sớm nhiều hơn trong nghiên cứu của chúng tôi
Qua nghiên cứu 36 bệnh nhân UTVMH, chúng tôi ghi nhận rằng đa số bệnh nhân đến khám khi đã có phối hợp từ 3 triệu chứng của bệnh, chiếm tới 91,7% Chỉ có 2,8% bệnh nhân xuất hiện với 1 nhóm triệu chứng, trong khi bệnh nhân phối hợp 2 nhóm triệu chứng chiếm 5,6% Kết quả này phù hợp với phân loại giai đoạn của bệnh nhân trong nghiên cứu, khi giai đoạn III và IV chiếm đến 88,9%, với giá trị p = 0,673 (>0,05), cho thấy sự liên quan không có ý nghĩa thống kê giữa số triệu chứng và giai đoạn bệnh.
Kết quả này tương tự với 125 bệnh nhân của tác giả Trần Minh Thông
Một số yếu tố liên quan đến bệnh ung thư vòm mũi họng
4.3.1 Tiền sử gia đình mắc bệnh UTVMH
Nghiên cứu của chúng tôi chưa ghi nhận tiền sử gia đình mắc bệnh UTVMH, nhưng theo Ji và cộng sự (2011), tỷ lệ có người thân mắc bệnh trong gia đình là 12,55%, điều này có thể do cỡ mẫu hạn chế hoặc khác biệt về địa lý Y văn ghi nhận nhiều trường hợp ung thư vòm họng trong cùng một gia đình, cho thấy yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong nguy cơ mắc bệnh Khi gia đình có người mắc ung thư UTVMH, nguy cơ phát triển bệnh tăng gấp đôi, đặc biệt nếu bệnh nhân khởi phát sớm dưới 40 tuổi, làm tăng khả năng chẩn đoán sớm và triển khai điều trị hiệu quả.
Trong 36 bệnh nhân được khảo sát, ghi nhận 1 trường hợp mẹ của bệnh nhân có hạch vùng cổ tương tự như bệnh nhân nhưng chưa có điều kiện khám và điều trị Vì thế cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục người dân về các bệnh lý ung thư nói chung và đặc biệt là ung thư vòm họng, tầm soát ung thư vòm mũi họng ở tuyến y tế cơ sở cũng như tuyến trung ương
4.3.2 Thói quen ăn cá muối và thực phẩm lên men thường xuyên của bệnh nhân UTVMH
Thói quen ăn cá muối và các thực phẩm lên men thường xuyên, đặc biệt là khi bệnh nhân ăn ≥3 lần/tuần trong thời gian dài hơn 1 năm, có liên quan đến nguy cơ ung thư Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận có tới 25% bệnh nhân có thói quen ăn cá muối thường xuyên, cho thấy đây là một yếu tố nguy cơ đáng chú ý Trong đó, thức ăn truyền thống ở miền Nam Trung Quốc như cá muối được xác định là tác nhân sinh ung thư, góp phần làm tăng tỷ lệ mắc các bệnh lý ác tính liên quan đến chế độ ăn uống này.
Khả năng gây ung thư của cá muối phụ thuộc vào tuổi tiêu thụ, loại cá và cách chế biến, trong đó trẻ nhỏ tiếp xúc với cá muối có nguy cơ cao hơn Cá nước mặn có khả năng gây hại cao hơn cá nước ngọt Ăn nhiều rau xanh và trái cây tươi giúp giảm nguy cơ ung thư đường tiêu hóa từ 30-50%, nhờ vào các hợp chất chống oxy hóa và thành phần kháng nitrosamin như vitamin C và E Nghiên cứu ghi nhận khoảng 25% bệnh nhân thường xuyên ăn cá muối, trong đó 5,6% ăn thực phẩm lên men thường xuyên và chỉ 2,8% vừa ăn cá muối vừa thực phẩm lên men, do quá trình lên men làm tăng hàm lượng nitrit trong rau, củ, gây phản ứng tạo nitrosamin khi nitrit vào trong môi trường axit của dạ dày.
Nghiên cứu tại Đài Loan cho thấy việc tiêu thụ thực phẩm chứa hàm lượng nitrosamin cao từ thịt, cá và rau quả trong thời thơ ấu làm tăng nguy cơ ung thư vòm họng lên đến 3,9 lần [27] Để giảm thiểu nguy cơ này, nên hạn chế ăn các thực phẩm lên men, món muối chua và thay đổi phương pháp chế biến sang luộc hoặc nấu thay vì chiên hoặc nướng.
4.3.3 Thói quen thuốc lá và uống rượu của bệnh nhân UTVMH
Kết quả từ bảng 3.18 cho thấy, có 13,9% bệnh nhân có thói quen hút thuốc lá và 11,1% có thói quen uống rượu, phản ánh mức độ phổ biến của các yếu tố lối sống này trong nhóm nghiên cứu Đồng thời, nghiên cứu đã so sánh với kết quả của tác giả Trần Minh Thông, trong đó tỷ lệ bệnh nhân uống rượu chiếm tới 24,7%, mặc dù mức ý nghĩa thống kê (p = 0,059) chưa đạt ngưỡng chấp nhận để kết luận chắc chắn.
Khoảng 33,3% bệnh nhân vừa có thói quen hút thuốc lá và uống rượu, phù hợp với kết quả của nghiên cứu của Trần Minh Thông (2011) với tỷ lệ 24% và p = 0,19 (>0,05) Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Trần Đức Thương (2014), nơi tỷ lệ bệnh nhân vừa hút thuốc và uống rượu chiếm 54,1% với p = 0,012 ( 0,05), cho thấy tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật có thể là yếu tố góp phần vào sự phát triển của bệnh.